Phá Muôn Trùng Vây

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 5 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 10

❊ ❊ ❊

Chúnq tôi không trở về Os Alta ngay lập tức mà tập trung vào việc vận chuyển hàng hóa khỏi Vực Tối suốt ba ngày sau đó. Cả đoàn cố vớt vát những gì còn sót lại ở doanh trại ở Kribirsk. Phần lớn quân đội đã rút lui ngay khi Vực Tối bắt đầu lan rộng. Một tháp canh mới được dựng lên để quan sát vùng biển đen ở Hư Hải, và chỉ một nhóm thủy thủ gầy giơ xương ở lại để khai thác bến tàu.

Doanh trại tuyệt không bóng dáng Grisha. Sau âm mưu bất thành của Hắc Y và thảm họa Novokribirsk, một làn sóng tẩy chay Grisha đã quét qua Ravka cùng đội ngũ Thượng Quân. Tôi không ngạc nhiên mấy. Một thị trấn biến mất, dân cư thành mồi ngon cho quái vật. Ravka còn lâu mới quên nỗi đau này. Cả tôi cũng vậy.

Vài Grisha đã chạy đến Os Alta để tìm đến sự bảo hộ của Đức vua. Một số khác lẩn trốn. Nikolai ngờ rằng phần lớn họ đã tìm tới Hắc Y và đầu quân cho anh ta. Nhưng nhờ sự giúp đỡ của binh đoàn Tiết Khí Sư dưới trướng Nikolai mà chúng tôi đã đi được hai chuyến qua Vực Tối vào ngày thứ nhất, ba chuyến vào ngày thứ hai, và bốn chuyến vào ngày cuối cùng. Đoàn tàu lướt cát rỗng không hướng về Tây Ravka và trở về với những thùng hàng lớn đựng đầy súng trường Zemeni, đạn dược và mấy khẩu súng tiểu liên giống với loại Nikolai đã dùng trên tàu Chim Ruồi , vài tấn đường và jurda -đều nhờ vào tài buôn lậu của Sturmhond cả.

“Của hối lộ,” Mal nói trong lúc quan sát đoàn binh sĩ hào hứng nhào đến một kiện hàng vừa tháo dỡ trên cảng, họ hú hét và kinh ngạc trước dãy vũ khí lóe sáng lấp lánh.

“Quà tặng,” Nikolai chỉnh lại. “Cậu sẽ thấy đống đạn dược đó có ích thôi, dù mục đích của ta có là gì chăng nữa.” Gã quay sang tôi. “Ta nghĩ chúng ta vẫn còn sức đi thêm một chuyến nữa. Sẵn sàng chứ?”

Tôi không thấy vậy nhưng vẫn gật đầu.

Gã mỉm cười và vỗ lưng tôi. “Ta sẽ ra lệnh cho họ”

Tôi có thể cảm thấy ánh mắt Mal đang dõi theo trong lúc tôi nhìn ra bóng đêm vần vũ của Vực Tối. Sự cố xảy ra trên tàu Chim Ruồi hôm nọ không còn lặp lại nữa. Bất kể ngày hôm đó tôi đã thấy gì - bóng ma, ảo giác, tôi không thể gọi tên nó - chỉ biết nó không còn tái diễn nữa. Dẫu vậy, từng giây phút ở Hư Hải đều khiến tôi rơi vào trạng thái hoảng loạn và e ngại, cố gắng che giấu nỗi sợ của mình.

Nikolai muốn nhân dịp vượt qua Vực Tối mà săn đuổi volcra , nhưng tôi từ chối. Tôi bảo gã mình vẫn còn yếu và không dám chắc năng lực có đủ để bảo đảm an toàn hay không. Nỗi sợ là thật, nhưng còn lại thì không. Quyền năng của tôi mạnh mẽ hơn bao giờ. Nó chảy trong tôi những đợt sóng tinh khiết và rung động, ngày càng lan tỏa cùng sức mạnh từ con hươu đực và vẩy rồng băng. Nhưng tôi không thể chịu đựng những tiếng gào thét ấy nữa. Tôi giữ ánh sáng rộng khắp, nó bao quanh đoàn tàu thành hình vòng cung, và dù lũ volcra đập cánh gào thét thì chúng vẫn giữ khoảng cách.

Lần băng Vực nào Mal cũng đi cùng đoàn, cậu ấy ở ngay cạnh tôi, súng ống luôn sẵn sàng. Tôi biết Mal có thể nhận thấy sự hoang mang của tôi, nhưng cậu ấy không ép tôi phải giải thích. Nói thật thì, cậu ấy chẳng nói gì nhiều kể từ lúc chúng tôi cãi nhau ở trong lều. Tôi sợ rằng một khi bắt đầu nói thì cậu ấy sẽ nói ra những điều tôi không thích nghe. Tôi không thay đổi ý định về chuyện quay về Os Alta, nhưng tôi lo cậu ấy có thể nghĩ ngược lại.

Ngày chúng tôi nhổ trại để quay về thủ phủ, tôi tìm cậu ấy trong đám đông, sợ rằng cậu đã quyết định không xuất hiện. Tôi thầm tạ ơn khi bắt gặp cậu ấy ngồi thẳng lưng im lặng trên yên ngựa chờ gia nhập hàng ngũ kị binh.

Chúng tôi rời đi trước khi trời sáng, một đoàn diễu hành gồm kị binh và xe ngựa rời khỏi doanh trại hướng về phía đường lớn gọi là Vy. Nikolai đã tìm được một bộ kefta xanh trơn cho tôi, nhưng nó được giấu kỹ trong đống hành lý. Tôi vẫn là một quân nhân bình thường trong đoàn tùy tùng của hoàng tử đến khi gã cho nhiều thuộc hạ đến canh giữ tôi hơn.

Khi ánh dương vừa ló dạng khỏi đường chân trời, tôi chợt nhận ra một tia hy vọng nhấp nháy. Ý nghĩ về việc chiếm ngôi của Hắc Y, tập hợp các Grisha và chỉ huy Hạ Quân vẫn khiến tôi nản lòng hơn bao giờ. Nhưng chí ít tôi đang làm gì đó thay vì chỉ trốn chạy khỏi Hắc Y hoặc chờ anh ta đến bắt mình. Tôi có hai bộ khuếch đại của Morozova, và tôi đang tiến về nơi có khả năng chứa đựng manh mối dẫn đến cái thứ ba. Mal không vui cho lắm, nhưng nhìn nắng sớm dần tỏa rạng trên đầu ngọn cây, tôi tin rằng mình sẽ thuyết phục được cậu ấy.

Tâm trạng vui tươi của tôi chẳng giữ được lâu trong cuộc hành trình qua Kribirsk. Cả đoàn đã băng qua một phố cảng điêu tàn sau cú đắm tàu trước đó, nhưng tôi quá chấn động và xao nhãng để thật sự để tâm đến những thay đổi của thành phố. Nhưng lần này thật khó tránh khỏi.

Vốn dĩ Kribirsk chẳng đẹp đẽ gì cho cam, nhưng đã từng có rất nhiều thương nhân và du khách đi lại trên vỉa hè, chưa kể thuộc hạ của Đức vua và cửu vạn ở bến cảng. Phố xá đông đúc của nó đã từng rất tấp nập với một hàng dài những cửa hiệu bận rộn cho cuộc viễn chinh vào vùng Vực, cùng những quán bar và nhà thổ phục vụ cho binh sĩ trong doanh trại. Nhưng đường phố giờ đây im lặng và trống trải làm sao. Hầu hết nhà trọ và cửa tiệm đã bị niêm phong.

Bí ẩn cuối cùng cũng được tiết lộ khi chúng tôi đến nhà thờ. Tôi nhớ nó là một tòa nhà cỡ nhỏ có mái vòm màu xanh sáng. Bây giờ trên những bức tường trắng chi chít chữ viết, những cái tên viết bằng mực đỏ đã khô thành màu máu, hàng này nối tiếp hàng kia. Rải rác khắp bậc thang là mấy đống hoa úa tàn, tượng cỡ nhỏ, gốc nến cầu nguyện đã tan chảy. Tôi thấy vài chai kvas, một nhúm kẹo, búp bê bị bỏ lại của một đứa trẻ. Đồ cúng người đã khuất.

Tôi đọc lướt qua những cái tên:

Stepan Ruschkin, 57.

Anya Sirenka, 13.

Mikah Lasky, 45.

Rebeka Lasky, 44.

Petyr Ozerov, 22.

Marina Koska, 19.

Valentin Yomki, 72.

Sasha Penkin, 8 tháng

Danh sách cứ tiếp tục. Ngón tay tôi siết chặt dây cương trong khi tim như bị ai bóp nghẹt. Ký ức không dưng lại ùa về: Một bà mẹ ôm con tháo chạy, một người đàn ông lảo đảo bị bóng đêm bắt lấy, ông mở miệng gào thét điên cuồng, một bà lão, hoang mang và sợ hãi, bị nuốt chửng giữa đám đông cuồng loạn. Tôi đã thấy tất cả. Tôi đã biến chúng thành hiện thực.

Họ là cư dân của Novokribirsk, thành phố một thời nằm đối diện Kribirsk phía bên kia Vực Tối. Một thành phố chị em đông họ hàng, bạn bè, thương gia. Những người làm việc ở bến cảng và lái tàu, một số có lẽ đã sống sót qua nhiều chuyến băng Vực. Họ sống trên rìa sự kinh sợ, nghĩ rằng mình được an toàn ở quê nhà, thong dong tản bộ giữa lòng phố cảng. Giờ thì họ đều qua đời vì tôi đã không thể ngăn cản Hắc Y.

Mal cưỡi ngựa chạy đến cạnh tôi.

“Alina,” cậu khẽ nói. “Đi thôi.”

Tôi lắc đầu. Tôi muốn ghi nhớ. Tasha Stol, Andrei Bazin, Shura Rychenko. Càng nhiều càng tốt. Họ đã bị Hắc Y giết hại. Liệu những giấc mơ của anh ta có bị họ ám ảnh như tôi?

“Chúng ta phải ngăn anh ta lại, Mal,” tôi khàn giọng cất tiếng. “Chúng ta phải tìm cách nào đó”

Tôi không biết mình muốn cậu ấy trả lời thế nào, nhưng cậu vẫn giữ im lặng. Tôi không chắc liệu Mal sẽ hứa với tôi điều gì nữa không.

Cuối cùng cậu ấy đi tiếp, nhưng tôi ép mình phải đọc hết từng cái tên một, sau đó mới rời đi, thúc ngựa trở về con đường hoang vắng.

Sự sống dường như trở lại với Kribirsk đôi chút trong lúc chúng tôi đi xa vùng Vực hơn. Vài cửa hiệu mở cửa, và vẫn còn những nhà buôn đang rao bán hàng hóa trên phần mở rộng của đường Vy có tên là Phố Hàng Rong. Những chiếc bàn ọp ẹp nối đuôi nhau kéo dài khắp phố, khăn trải bàn là một miếng vải sáng màu, đổ đống trên đó là mớ hàng hóa lộn xộn: Giầy bốt và khăn choàng cầu nguyện, đồ chơi bằng gỗ, mấy con dao tồi tàn bọc bằng bao nhỏ tự may. Nhiều chiếc bàn còn có rác như đá cuội và xương gà vương vãi.

“Provinye osti!” người bán hàng hét lớn. “Autchenye osti!” Xương thật. Xương chính thống.

Trong lúc tôi rướn người cao hơn để nhìn cho rõ thì một ông lão cất tiếng gọi, “Alina!”

Tôi ngạc nhiên ngẩng đầu lên. Ông biết tôi sao?

Nikolai bất thình lình xuất hiện bên cạnh. Gã cho ngựa đến ngay bên cạnh tôi và giật lấy dây cương, kéo thật mạnh để dắt tôi khỏi quầy bán.

“Net, spasibo,” gã nói với ông lão.

“Alina!” người bán hàng la lên. “Autchenye Alina!”

“Gượm đã,” Tôi nói rồi xoay người trên yên ngựa, cố nhìn kĩ khuôn mặt của ông lão hơn. Ông ta đang dọn hàng hóa trên bàn. Dường như ông cảm thấy mất hứng khi biết rằng chúng tôi không có ý định mua bán gì.

“Đợi chút,” tôi khăng khăng. “Ông ta biết tôi.”

“Không hề.”

“Ông ta biết tên tôi,” tôi đáp trả, đoạn tức tối giật lại dây cương.”

“Lão ta chỉ muốn bán di vật cho cô thôi. Xương ngón tay. Của Thánh nữ Alina thực thụ.”

Tôi đông cứng lại, cơn ớn lạnh chạy dọc khắp người. Con ngựa tôi đang cưỡi vẫn vô tư cất bước.

“Alina thực thụ,” tôi lặp lại một cách sững sờ.

Nikolai bối rối trở người. “Có tin đồn cô đã chết trên Vực Tối. Nên đám con buôn đã rao bán bộ phận thân thể cô ở Ravka và Tây Ravka mấy tháng nay. Làm vật may mắn tốt lắm đó.”

“Cái thứ ấy là ngón tay của tôi sao?

“Khớp xương, ngón chân, mảnh xương sườn.”

Tôi thấy buồn nôn. Tôi nhìn xung quanh, cố tìm ra Mal vì cần nhìn thấy ai đó thân thuộc.

“Dĩ nhiên,” Nikolai tiếp tục, “Nếu một nửa trong số chúng là thật thì chắc cô phải có chừng trăm cái chân. Nhưng mê tín cũng là một dạng quyền năng.”

“Niềm tin cũng vậy,” một giọng nói phía sau tôi cất tiếng, và tôi ngạc nhiên khi quay lại và nhìn thấy Tolya, anh ta ngồi trên lưng một con ngựa chiến màu đen, khuôn mặt to bè ủ rũ.

Không thể chịu đựng nổi. Sự lạc quan tôi vừa cảm thấy một giờ trước đã hoàn toàn tan biến. Cảm giác giống như trời vừa sập xuống trên đầu, đóng chặt lại như cái bẫy. Tôi thúc ngựa phi nước kiệu. Tôi vốn dĩ là một kị sĩ tồi, nhưng tôi siết chặt dây cương và chạy không ngừng nghỉ, cho đến khi Kribirsk khuất xa sau lưng và tôi không còn nghe tiếng xương va lạch cạch nữa.

Tối đó chúng tôi nqhỉ lại một nhà trọ trong ngôi làng nhỏ ở Vernost, nơi chúng tôi gặp một nhóm binh sĩ Thượng Quân được trang bị vũ trang hạng nặng. Tôi sớm biết được phần lớn đến từ trung đoàn 22, nơi Nikolai nhập ngũ rồi chuyển sang tham gia chỉ huy chiến dịch miền Bắc. Rõ ràng vị hoàng tử muốn thấy bè bạn vây quanh khi về tới Os Alta. Tôi không trách gã được.

Gã có vẻ thoải mái trước mặt bọn họ và, một lần nữa, tôi nhận ra thái độ của gã đã thay đổi. Gã dễ dàng đổi vai từ một kẻ gian hùng lém lỉnh đến một hoàng tử ngạo mạn, giờ đây gã lại trở thành một chỉ huy đáng mến, một binh sĩ hay cười với đồng đội và biết rõ tên thật của nhau.

Nhóm binh sĩ ngồi trên chiếc xe ngựa khá xa hoa. Nó được sơn màu xanh Ravka nhạt, một bên hông vẽ hình đôi đại bàng biểu tượng của Đức vua. Nikolai đã đặt làm một phụ kiện trang trí hình mặt trời gắn bên hông còn lại. Xe được kéo bởi một bầy sáu con bạch mã. Tôi đảo mắt khi nhìn cỗ xe hào nhoáng ấy đỗ trong sân của nhà trọ, nó khiến tôi nhớ đến sự phung phí dư thừa của Đại Điện. Hẳn là con nhà tông không giống lông cũng giống cánh.

Tôi những mong sẽ được ăn tối riêng với Mal trong phòng riêng, nhưng Nikolai nhất quyết đòi tất cả phải ăn chung trong phòng sinh hoạt của nhà trọ. Mal im lặng suốt buổi ăn, nhưng Nikolai đã nói thay phần của cả ba.

Trong lúc ăn món đuôi bò hầm, gã bắt đầu liệt kê một danh sách dài vô tận những nơi mình muốn ghé qua trên đường đến Os Alta. Chỉ nghe thôi cũng làm tôi kiệt sức.

“Tôi không biết ‘lấy lòng người dân' lại có nghĩa là gặp mặt từng người một đó,” tôi càu nhàu. “Không phải chúng ta đang gấp à?”

“Ravka cần biết Tiết Dương Sư của họ đã trở về.”

“Cùng vị hoàng tử trẻ con hả?”

“Cả ta nữa. Mấy chuyện ngồi lê đôi mách lúc nào chả hiệu nghiệm hơn thông báo của hoàng gia. Mà nhắc mới nhớ,” gã chợt hạ thấp giọng. “Từ giờ trở đi cô phải hành xử như thể mình bị theo dõi từng phút một.” Gã huơ nĩa qua lại giữa tôi và Mal. “Ta không quan tâm hai người làm gì những lúc riêng tư. Cẩn thận là được rồi.”

Tôi suýt sặc rượu. “Cái gì?” Tôi lắp bắp.

“Cô đính hôn với hoàng tử là một chuyện, nhưng để dân chúng nghĩ cô đang ngủ với một thường dân lại là vấn đề khác.”

“Tôi không - đâu dính dáng gì tới ai chứ!” tôi tức tối thì thầm. Tôi liếc mắt về phía Mal. Cậu ấy đang nghiến răng và khẽ siết chặt con dao trong tay.

“Sức mạnh là đồng minh,” Nikolai bảo. “Nó dính líu đến tất cả mọi người.” Gã nhấp thêm ngụm rượu nữa trong lúc bị tôi nhìn trừng một cách kinh ngạc. “Và cô nên mặc đúng màu của mình đi.”

Tôi lắc đầu, chưng hửng vì chủ đề thay đổi. “Giờ anh còn muốn chọn đồ cho tôi sao?” Tôi đang mặc bộ kefta màu xanh, nhưng rõ ràng Nikolai không hài lòng.

“Nếu cô muốn chỉ huy Hạ Quân và chiếm chỗ Hắc Y thì cô nên nhìn cho ra dáng đã.”

“Tiết Độ Sư mặc màu xanh,” tôi khó chịu độp lại.

“Đừng coi thường sức mạnh hình thức, Alina. Dân chúng thích xem kịch. Hắc Y hiểu điều đó.”

“Tôi sẽ suy nghĩ.”

“Ta đề nghị màu vàng nhé?” Nikolai tiếp lời. “Rất vương giả, rất hợp thời...”

“Rất xác xơ?”

“Vàng và đen là hợp nhất. Tính biểu trưng hoàn hảo và.

“Màu đen thì dẹp,” Mal phản đối. Cậu ấy đứng khỏi bàn và, không nói thêm tiếng nào, biến vào đám đông ầm ĩ trong phòng.

Tôi đặt nĩa xuống. “Tôi không biết anh đang cố ý gây rối hay anh chỉ là thằng khốn nạn nữa.”

Gã hoàng tử ăn thêm một miếng nữa. “Cậu ta không thích màu đen hử?”

“Đấy là màu của người đã cố giết cậu ấy và bắt tôi làm con tin. Kẻ thù truyền kiếp của tôi.”

“Càng thêm lý do để biến màu đấy thành của cô.”

Tôi ngoái cổ ra sau xem Mal đã đi đâu. Tôi thấy cậu ấy ngồi một mình ở quầy bar bên kia cửa ra vào.

“Không,” Tôi nói. “Không đen điếc gì cả”

“Cứ theo ý cô,” Nikolai đáp lời. “Nhưng mau chọn màu cho bản thân và vệ sĩ đi.”

Tôi thở dài. “Tôi cần vệ sĩ đến mức ấy à?”

Nikolai ngả người ra sau ghế và quan sát tôi, khuôn mặt gã chợt chuyển sang nghiêm túc. “Cô có biết cái tên Sturmhond là từ đâu ra không?” gã hỏi.

“Tôi cứ nghĩ nó là một trò đùa, một kiểu chơi chữ từ Sobachka.”

“Không,” gã nói. “Đấy là biệt danh ta giành được. Con thuyền đầu tiên của kẻ thù mà ta bước lên là của một thương gia người Fjerda ngoài khơi Djerholm. Khi ta bảo tên thuyền trưởng mau hạ kiếm xuống, hắn đã cười vào mặt và bảo ta mau chạy về nhà với mẹ đi. Lão nói người Fjerda lấy xương của bọn nhóc Ravka gầy guộc để làm bánh mì.”

“Nên anh đã giết lão?”

“Không. Ta nói đám thuyền trưởng già nua ngu ngốc không xứng làm thức ăn cho người Ravka. Rồi ta chặt ngón tay lão và đem cho chó ăn trong lúc lão đứng nhìn.”

“Anh...làm cái gì?”

Căn phòng chật kín những binh sĩ đang hát hò, la hét và kể chuyện, nhưng tất cả đều biến mất trong lúc tôi sững sờ nhìn Nikolai trong thinh lặng. Như thể tôi đang dõi theo một quá trình biến hóa nữa của gã, như thể chiếc mặt nạ cuốn hút đã hoán chuyển để lộ ra một người đàn ông vô cùng nguy hiểm.

“Cô nghe rồi đấy. Kẻ thù của ta đã hiểu thế nào là tàn ác. Thuộc hạ của ta cũng vậy. Sau đó ta đã uống mừng cùng thủy thủ đoạn và chia nhau chiến lợi phẩm. Rồi ta trở về buồng ngủ, nôn ra hết buổi tối ngon lành mà quản gia đã chuẩn bị mà khóc đến lúc thiếp đi. Nhưng đấy là ngày ta trở thành một thuyền trưởng thực thụ, đấy cũng là ngày Sturmhond ra đời.”

“Vậy mà là ‘cún con’ sao,” tôi nói, cảm thấy phát buồn nôn.

“Khi đó ta chỉ là một thiếu niên cố dẫn đầu đoàn thuộc hạ gồm thuyền viên vô kỷ luật và phường lừa đảo chống lại những kẻ thù lớn tuổi hơn, thông thái hơn, kiên cường hơn. Ta cần bọn họ sợ ta. Tất cả. Nếu không đã có nhiều người chết hơn rồi.”

Tôi đẩy đĩa thức ăn ra xa. “Anh muốn tôi chặt ngón tay của ai đây?”

“Ta muốn cô biết rằng nếu cô muốn làm một chỉ huy, thì đã đến lúc cô bắt đầu suy nghĩ và hành động đúng như vai trò ấy.”

“Điều này tôi đã nghe qua rồi, anh biết đấy, từ Hắc Y và phe phái của anh ta. Phải cay nghiệt. Phải độc ác. Làm vậy sau này mới có thể cứu sống nhiều người.”

“Cô nghĩ ta giống Hắc Y sao?”

Tôi tỉ mẩn dò xét gã - Mái tóc vàng hoàng kim, bộ quân phục sang trọng, đôi mắt nâu quá đỗi tinh ranh.

“Không,” tôi chậm rãi kết luận. “Tôi không nghĩ vậy.” Tôi đứng dậy đến nhập bọn cùng Mal. “Nhưng tôi đã từng nhìn lầm người.”

Hành trình đến Os Alta giống như buổi diễu hành lề mề và rầu rĩ hơn là một cuộc hành quân. Chúng tôi dừng lại ở tất cả thị trấn dọc đường Vy, ở đồn điền, trường học, nhà thờ và nông trại. Chúng tôi chào hỏi những chức sắc địa phương và viếng thăm bệnh viện. Chúng tôi ăn tối cùng cựu binh chiến tranh và cổ vũ dàn hợp xướng của các thiếu nữ.

Không khó để nhận ra dân cư trong làng hầu hết là con nít và người lớn tuổi. Những người khác đã bị bắt vào quân đội Hoàng gia để bán mạng cho những trận chiến vô tận. Nghĩa trang lớn gần bằng diện tích thị trấn.

Nikolai tặng dân chúng những đồng vàng và bao tải đường. Gã nhận những cái bắt tay từ các nhà buôn và nụ hôn từ mấy bà lão nhăn nheo gọi gã là Sobachka, gã chiếm được cảm tình của bất kì ai đến gần trong bán kính gần một mét. Gã chưa bao giờ tỏ ra mệt mỏi hay chán chường. Không cần biết chúng tôi đã đi bao xa, gặp bao người, gã luôn sẵn sàng cho chặng tiếp theo.

Dường như gã biết dân chúng cần gì ở mình, lúc nào nên làm thiếu niên tươi tắn, hoàng tử có tấm lòng vàng, hay người chiến binh rã rời. Tôi đoán đấy là một kỹ năng được tôi luyện khi được sinh ra và lớn lên trong triều đình, nhưng chứng kiến cảnh ấy vẫn khiến tôi khó ở.

Gã đã nói đúng về chuyện diễn kịch. Gã luôn canh giờ sao cho chúng tôi đến nơi vào lúc hoàng hôn hay rạng sáng, hoặc gã sẽ dừng đoàn diễu hành giữa bóng râm nhà thờ hay quảng trường thị trấn - điều kiện rất tốt để khoe khoang Tiết Dương Sư.

Lúc bắt gặp tôi đảo mắt chán nản, gã chỉ nháy mắt và bảo, “Ai cũng tưởng cô chết rồi, cưng ạ. Phải chứng minh cho họ thấy chứ”

Nên tôi đã giữ đúng thỏa thuận và đóng trọn vai của mình. Tôi mỉm cười duyên dáng và triệu hồi ánh sáng chiếu rọi trên trần nhà và gác chuông cũng như sưởi ấm những khuôn mặt đang mê đắm ngạc nhiên. Mọi người khóc lóc thảm thiết. Những bà mẹ đưa con đến cho tôi hôn chúc phúc, mấy cụ già gục đầu lên tay tôi, hai má ướt đẫm nước mắt. Tôi cảm thấy mình là đứa lừa đảo đích thực, và tôi nói tất cả điều này với Nikolai.

“Ý cô là sao?” Gã tỏ vẻ thắc mắc rồi hỏi. “Dân chúng thích cô mà.”

“Ý anh là bọn họ thích chiếc cúp thưởng của anh,” tôi cằn nhằn trong lúc cưỡi ngựa ra khỏi một thị trấn.

“Cô có thắng chiếc cúp nào hả?”

“Chuyện này không vui chút nào đâu,” tôi giận dữ nói thầm với gã. “Anh đã thấy Hắc Y làm được những gì rồi đó. Những người này sẽ gửi con trai và con gái mình đi đấu lại nichevoya , và tôi sẽ không thể cứu họ. Anh đang nói dối họ.”

“Chúng ta đang cho họ hy vọng. Thế còn tốt hơn là không có gì.”

“Anh nói cứ như thể mình đã từng trắng tay ấy,” tôi cãi rồi thúc ngựa chạy đi.

Mùa hè Ravka đang ở thời điểm tuyệt vời nhất, những cánh đồng rực rỡ hai sắc vàng xanh, không gian thơm ngát và dịu ngọt với mùi cỏ khô ấm áp. Mặc Nikolai phản đối, tôi vẫn không chịu ngồi trên xe ngựa thoải mái. Tôi bị ê mông và đau nhức cả đùi khi xuống khỏi yên ngựa vào mỗi tối, nhưng tôi thà cưỡi ngựa để tận hưởng khí trời và có cơ hội tìm gặp Mal hằng ngày. Cậu ấy không nói nhiều nhưng có vẻ đã nguôi giận.

Nikolai đã lan truyền câu chuyện Hắc Y muốn hành hình Mal trên Vực Tối thế nào. Nó đã nhanh chóng giúp cậu ấy đạt được niềm tin của những người trong quân đội, thậm chí có chút ngưỡng mộ như đối với người nổi tiếng. Thi thoảng, cậu ấy đi trinh sát với những người dò đường trong đội, và cậu đang cố dạy Tolya cách đi săn, dù người Grisha to xác ấy không hợp với việc lén lút rình mồi giữa rừng rậm cho lắm.

Trên đường ra khỏi Sala, trong lúc cả đoàn đi ngang qua một dãy cây du màu trắng, Mal chợt hắng giọng và nói, “Mình đang nghĩ...”

Tôi ngồi thẳng dậy và hoàn toàn chú tâm vào cậu ấy. Đây là lần đầu tiên Mal bắt chuyện với tôi kể từ khi rời Kribirsk.

Cậu ấy trở người trên yên, không nhìn vào mắt tôi. “Mình đang nghĩ chúng ta nên chọn ai làm vệ sĩ.”

Tôi cau mày. “Vệ sĩ?”

Cậu ấy đằng hắng. “Cho bồ. Có mấy người dưới quyền Nikolai thấy cũng được, và Tolya với Tamar cũng có khả năng. Họ là người Shu, nhưng vẫn là Grisha, chắc không có vấn đề gì đâu. Và ờcả mình nữa.”

Tôi chưa từng nghĩ mình sẽ thấy Mal đỏ mặt bao giờ.

Tôi toe toét cười. “Ý bồ là bồ muốn làm đội trưởng đội vệ sĩ của mình đó hả?”

Mal liếc sang tôi, môi cong lên thành một nụ cười. “Mình có được đội mũ sang trọng không?”

“Sang trọng nhất,” tôi nói. “Có thể kèm áo choàng nữa.”

“Lông vũ trang trí thì sao?”

“Ồ tất nhiên. Nhiều là đằng khác.”

“Vậy mình đồng ý.”

Tôi muốn dừng cuộc hội thoại ở đó, nhưng lại không thể ngăn mình tò mò. “Mình tưởng...mình tưởng bồ muốn quay về đơn vị cũ để tiếp tục làm người dò đường.”

Mal chăm chú nhìn nút thắt trên dây cương. “Mình không thể quay lại. Mong rằng Nikolai có thể giúp mình không bị treo cổ.”

“Mong rằng?” tôi rít lên.

“Mình đã đào ngũ, Alina. Kể cả Đức vua cũng không thể giúp mình quay lại làm người dò đường.”

Giọng của Mal bình thản, vô lo.

Cậu ấy đã thích nghi , tôi nghĩ. Nhưng tôi biết một phần trong cậu sẽ luôn tiếc nuối cuộc đời mình đáng ra sẽ sống, nếu không có tôi.

Cậu ấy hất đầu về phía tấm lưng của Nikolai khuất sau hàng kị binh. “Và không đời nào mình để bồ một mình với hoàng tử trong mơ đâu.”

“Ra bồ không tin mình có thể chống lại sức hấp dẫn của anh ta?”

“Mình thậm chí còn không tin bản thân nữa là. Mình chưa bao giờ thấy ai giỏi lấy lòng đám đông như anh ta.

Mình chắc đến đá cuội và cây cối cũng sẽ thề thốt trung thành với Nikolai.”

Tôi bật cười rồi ngả người ra sau, để ánh nắng chiếu qua những tàng cây sưởi ấm thân thể. Tôi chạm vào chiếc vòng làm từ vảy rồng biển được giấu an toàn trong tay áo. Tạm thời tôi muốn giữ kín bí mật về bộ khuếch đại thứ hai. Đoàn Grisha của Nikolai đã thề giữ im lặng, và tôi chỉ có thể mong họ sẽ giữ đúng lời.

Tôi nghĩ đến Hỏa Điểu. Phần nào đó trong tôi vẫn chưa tin nó có thật. Nó sẽ giống với hình vẽ trong cuốn sách đỏ, với lông vũ nhuộm hai màu trắng vàng? Hay đuôi cánh của nó sẽ phát lửa? Và loài ác thú nào sẽ khấc nỏ rồi bắn hạ nó?

Tôi đã từ chối lấy mạng con hươu đực, và biết bao người đã bỏ mạng vì nó - những dân làng Novokribirsk, những Grisha và binh lính tôi bỏ lại trên thuyền của Hắc Y. Tôi nghĩ đến những bức tường nhà thờ cao vời bị lấp đầy những cái tên người chết.

Con hươu đực Morozova. Hải Long. Hỏa Điểu. Những huyền thoại bằng xương bằng thịt xuất hiện chỉ để chết trước mặt tôi. Tôi nhớ hai mang phập phồng của con rồng biển, những hơi thở cuối cùng mỏng manh tựa sợi chỉ. Nó đã hấp hối, và tôi vẫn chần chừ.

Tôi không muốn trở thành kẻ sát nhân. Nhưng từ bi hẳn không phải là món quà Tiết Dương Sư có thể sở hữu. Tôi lắc đầu. Trước tiên phải tìm ra Hỏa Điểu cái đã. Cho đến lúc đó, tất cả hy vọng của chúng tôi đặt trên vai một gã hoàng tử không đáng tin.

Ngày tiếp theo, đoàn người hành hương đầu tiên xuất hiện. Họ trông như những dân làng bình thường, đứng bên đường chờ đoàn diễu hành hoàng gia đi ngang, nhưng họ đeo băng tay và cầm theo băng rôn có vẽ hình mặt trời mọc. Cả người dơ bẩn vì nhiều ngày đi đường, họ mang theo những túi xách và bao tải nhét đầy đồ dùng cá nhân, và khi bắt gặp tôi trong bộ kefta màu xanh, dây chuyền làm từ sừng con hươu đực đeo trên cổ, họ lao đến trước ngựa tôi đang cưỡi, lẩm bẩm Sankta, Sankta và cố túm lấy tay hoặc vạt áo của tôi. Đôi khi họ quỳ sụp xuống, và tôi phải cẩn thận không để ngựa đạp lên một trong số họ.

Tôi cứ tưởng mình đã quen với mọi thể loại chú ý, kể cả việc bị cào cấu bởi người lạ, nhưng lần này thì khác. Tôi không thích được gọi là “Thánh.”, và ánh nhìn thèm thuồng trên mặt họ làm tôi thấy bất an.

Càng đi sâu vào nội địa Ravka đám đông càng nhiều hơn. Họ đến từ nhiều nơi, từ nhiều thành phố, thị trấn, cảng biển. Họ họp lại ở quảng trường và ven góc đường Vy, đàn ông và phụ nữ, người già và trẻ con, một số đi chân đất, số còn lại cưỡi lừa hoặc chen chúc trên xe thồ. Tôi đi đến đâu họ kêu gào đến đó.

Thi thoảng tôi là Thánh nữ Alina, không thì Alina Công Bằng hoặc Ánh Sáng hoặc Nhân Từ. Con gái của Keramzin, họ hét lớn, Con gái của Ravka. Con gái của Vực Tối. Rebe Dva Stolba, Con gái Cối xay gió, họ gọi tôi theo tên của thung lũng có khu dân cư vô danh tôi đã được sinh ra. Tôi nhớ mang máng về đống hoang tàn đã tạo nên cái tên của thung lũng ấy, một thời là hai cối xay gió bằng đá bên vệ đường bụi bặm. Lão Tư Tế hẳn đã rất bận rộn đào bới quá khứ của tôi, sàng lọc từ tro tàn nên câu chuyện một vị Thánh.

Sự mong đợi của đoàn hành hương làm tôi sợ hãi. Theo như những gì họ nói thì, tôi đến để giải phóng Ravka khỏi kẻ thù, khỏi Vực Tối, khỏi Hắc Y, khỏi nghèo khó, khỏi đói khát, khỏi đau chân và muỗi mòng và bất kì thứ gì đang làm phiền họ. Họ van xin tôi chúc phúc và chữa lành, nhưng tôi chỉ có thể triệu hồi ánh sáng, vung vẩy một chút, để họ chạm vào tay. Tất cả đều là một phần trong vở kịch của Nikolai.

Nhưng đoàn hành hương không chỉ đến để gặp mà còn đi theo tôi. Họ bám đuôi đoàn diễu hành hoàng gia, và đội ngũ rách nát ngày càng tăng lên. Họ theo chúng tôi từ thị trấn này sang thị trấn khác, cắm trại ở những cánh đồng bỏ hoang, tổ chức cầu nguyện thâu đêm cho sự an toàn của tôi và thời khắc cứu rỗi ở Ravka. Họ sắp sửa đông hơn quân đội của Nikolai.

“Đây là lỗi của lão Tư Tế,” tôi phàn nàn với Tamar vào đêm nọ trong lúc ăn tối.

Chúng tôi nghỉ lại ở một nhà trọ bên đường lớn. Tôi có thể nhìn thấy ánh lửa nấu nướng của đoàn hành hương qua cửa sổ, nghe họ hát những bài của thường dân.

“Những người này nên ở nhà, làm ruộng và chăm con, chứ không phải đi theo một vị thánh giả tạo.”

Tamar đẩy một miếng khoai tây chín rục quanh đĩa và bảo, “Mẹ tôi bảo rằng năng lực của Grisha là một món quà thiêng liêng.”

“Và cô tin lời bà?”

“Tôi không có câu trả lời nào khá hơn.”

Tôi đặt nĩa xuống. “Tamar, chúng ta không có món quà thiêng liêng nào cả. Năng lực của Grisha là bẩm sinh, như kiểu chân to hoặc hát hay ấy.”

“Đấy là đức tin của nước Shu. Rằng nó là một thực thể vật lý, chôn sâu trong tim phổi, một thực thể có thể được tách biệt và cắt lìa.” Cô ấy nhìn về phía chỗ cắm trại của đoàn hành hương ngoài cửa sổ. “Tôi không nghĩ những người đó sẽ tán thành đâu.”

“Đừng bảo rằng cô cũng tin tôi là một vị thánh đấy nhé”

“Cô là ai không quan trọng. Quan trọng là cô có thể làm gì.”

Tamar...

“Những người đó nghĩ cô có thể cứu Ravka,” cô ấy nói. “Và rõ ràng là cô cũng vậy, nếu không cô đã chẳng chấp nhận về Os Alta.”

“Tôi về Os Alta để xây dựng lại Hạ Quân.”

“Và tìm bộ khuếch đại thứ ba?”

Tôi suýt đánh rơi nĩa. “Cô nói khẽ thôi,” tôi lắp bắp.

“Chúng tôi đã thấy Istorii Sanktya.

Vậy ra Sturmond đã không giữ bí mật về cuốn sách. “Còn ai biết nữa?” Tôi hỏi, cố bình tĩnh lại.

“Chúng tôi sẽ không kể cho ai đâu, Alina. Chúng tôi biết đâu là nguy hiểm mà.” Đáy ly ẩm ướt của Tamar để dấu lại trên mặt bàn. Cô ấy lấy tay miết theo nó và bảo, “Cô biết đấy, có vài người tin rằng những vị thánh đầu tiên đều là Grisha.”

Tôi nhăn mặt. “Người nào?”

Tamar nhún vai. “Đủ đông để thủ lĩnh của họ bị rứt quyền hoạt động tôn giáo. Một vài người còn bị hỏa thiêu.”

“Tôi chưa bao giờ nghe đến.”

“Chuyện lâu lắm rồi. Tôi không hiểu sao giả thuyết đó lại làm người ta tức giận đến vậy. Dù các vị thánh có là Grisha thì cũng không có nghĩa những chuyện họ làm không còn màu nhiệm nữa.”

Tôi vặn vẹo trên ghế. “Tôi không muốn làm thánh, Tamar. Tôi không cố cứu thế giới gì cả. Tôi chỉ muốn tìm cách đánh bại Hắc y.”

“Tái xây dựng Hạ Quân. Đánh bại Hắc Y. Tiêu diệt vùng Vực. Giải phóng Ravka. Cô muốn gọi là gì cũng được, nhưng tất cả đều nghe như chuyện cứu rỗi thế giới.”

Chà, nếu theo lời cô ấy nói thì đứng là có hơi tham vọng thật. Tôi nhấp một ngụm rượu. Nó chua hơn so với loại ủ lâu năm trên tàu Volkvolny.

“Mal sẽ yêu cầu cô và Tolya trở thành vệ sĩ của tôi.”

Gương mặt của Tamar vỡ ra thành một nụ cười xinh đẹp. “Thiệt hả?”

“Đằng nào bây giờ cô cũng đang làm việc đó rồi. Nhưng nếu cô sắp bảo vệ tôi 24/7 thì cô cần hứa với tôi điều này.”

“Gì cũng được,” cô ấy hào hứng đáp lại.

“Đừng nói chuyện thánh thần nữa.”

HÁ MUÔN TRÙNG VÂY Nguyên tác: Siege and Storm ebook©MotSAch TVE-4u©vctvegroup —★— Nhà xuất bản: Trẻ - 2014
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.