Tôi thích phòng quân sự, dù tên gọi của nó nghe không hay lắm. Người vẽ bản đồ trong tôi không thể cưỡng lại những hình vẽ cổ xưa làm bằng da thuộc được điểm tô bằng nhiều chi tiết kì lạ: ngọn hải đăng mạ vàng ở Os Kervo, những đền thờ trên núi ở Shu, những mỹ nhân ngư bơi quanh bờ biển.
Tôi nhìn những khuôn mặt Grisha đang ngồi quanh bàn, vài người thân thuộc, vài người mới mẻ. Bất kì ai trong số họ có thể là gián điệp cho Hắc Y, Đức Vua, lão Tư Tế. Bất kì ai trong số họ có thể đang tìm cơ hội xóa sổ tôi và chiếm đoạt sức mạnh.
Tolya và Tamar đứng gác bên ngoài, phòng trường hợp rắc rối xảy ra thì họ sẽ xuất hiện ngay sau một tiếng hét, nhưng chính sự hiện diện của Mal đã khiến tôi an lòng. Cậu ấy ngồi bên phải tôi trong trang phục thô ráp, cài áo hình mặt trời đính ngay phía trên tim. Tôi ghét phải nghĩ đến việc cậu ấy sắp rời đi vì chuyến săn, nhưng tôi phải công nhận một sự xao lãng như vậy có thể là điều tốt. Mal rất tự hào với chức vụ quân nhân của mình và, dù đã cố che giấu, tôi biết lối cai trị của Đức vua là gánh nặng cho cậu ấy. Chuyện cậu ấy biết tôi có vấn đề mà không nói ra cũng chẳng giúp được gì thêm.
Sergei ngồi bên phải Mal, hai tay khoanh trước ngực tỏ vẻ giận dỗi. Anh ta không vui khi phải ngồi cạnh một tên lính canh otkazatsya , và còn khó chịu hơn khi tôi khăng khăng đòi một Sáng Chế Gia ngồi ngay bên trái mình, vốn được coi là vị trí danh dự. Cô ấy là người nước Suli tên Paja mà tôi chưa từng gặp qua. Cô ấy có mái tóc tối màu và đôi mắt gần như đen láy, họa tiết thêu màu đỏ trên tay áo kefta màu tím cho thấy cô ấy là một Giả Kim Thuật Gia, vốn là những Sáng Chế Gia chuyên về hóa chất như thuốc nổ và độc dược.
David ngồi ở một góc xa, tay áo được vẽ màu xám tro. Anh ấy chuyên về gia công thủy tinh, thép, gỗ, đá -những thể loại chất rắn. David là một Giả Kim Hợp Gia, và tôi biết anh là người giỏi nhất trong số họ, vì Hắc Y đã chọn anh để tôi luyện chiếc vòng cổ của tôi. Tiếp theo là Fedyor, và Zoya ngồi bên cạnh anh ta, vẫn xinh đẹp như thường lệ trong màu xanh Etherealki.
Ngồi đối diện Zoya là Pavel, Tiết Hỏa Sư da ngăm đã cáu giận phản đối tôi ngày hôm trước. Anh ta có khuôn mặt nhỏ gọn và một cái răng mẻ tạo ra tiếng rít gió khi nói chuyện.
Phần đầu cuộc họp được dùng để bàn về quân số Grisha ở các tiền đồn khác nhau quanh Ravka và những người có thể đang lẩn trốn. Zoya đề nghị gửi sứ giả đi loan tin tôi đã trở về và ban ân xá tội cùng tự do hoàn toàn cho những ai nguyện trung thành với Tiết Dương Sư. Chúng tôi bỏ gần một giờ để tranh cãi điều khoản và cách viết bản ân xá. Tôi biết mình phải đưa nó cho Nikolai để nhận được sự chấp thuận của Đức vua, và tôi muốn tiến hành thật cẩn trọng. Cuối cùng, chúng tôi đồng ý cụm “trung thành với ngai vàng Ravka và Hạ Quân.” Không ai tỏ ra hài lòng với nó, nên tôi đoán tất cả đã lựa chọn đúng.
Fedyor là người nhắc đến lão Tư Tế. “Chuyện lão vẫn còn tự do đến giờ này rất đáng lo ngại.”
“Lão có liên lạc với cô không?” Pavel hỏi tôi.
“Không.” tôi đáp. Tôi nhìn thấy vẻ hoài nghi trên khuôn mặt anh ta.
“Có người thấy lão ta ở Kerskii và Ryevost,” Fedyor lên tiếng. “Lão đột ngột xuất hiện để truyền đạo, rồi biến mất trước khi quân lính hoàng gia kịp bao vây.”
“Chúng ta phải nghĩ đến chuyện ám sát,” Sergei đề nghị. “Thế lực của lão đang dần lớn mạnh, và lão có thể vẫn còn cấu kết với Hắc Y.”
“Chúng ta phải tìm ra lão trước đã,” Paja nhận định.
Zoza phẩy tay theo lối rất trang nhã. “Để làm gì? Dường như lão vô cùng hứng thú với việc loan tin về Tiết Dương Sư và khẳng định cô ấy là thánh nữ. Cũng đã đến lúc dân chúng biết ơn Grisha rồi.”
“Không phải Grisha,” Pavel phản đối, ngang ngược hất cằm về phía tôi. “Là cô ta kìa.”
Zoya điệu đà nhún một bên vai. “Còn hơn để họ xỉ vả chúng ta là phù thủy và bọn phản bội.”
“Cứ để Đức vua xử lý công việc thấp hèn đó,” Fedyor nói. “Để ngài ấy truy tìm và hành hình lão Tư Tế rồi lãnh nhận cơn cuồng nộ của chúng dân.”
Tôi không thể tin rằng chúng tôi đang bình tĩnh tranh luận về chuyện giết người. Và tôi không chắc mình muốn lão Tư Tế chết. Lão nợ tôi nhiều lời giải thích, nhưng tôi không tin lão vẫn còn qua lại với Hắc Y. Chưa kể, lão đã tặng tôi Istorri Sanktya, và điều đó có nghĩa lão cũng là nguồn tin khả dĩ. Nếu lão bị bắt, tôi chỉ có thể mong Đức vua sẽ giữ lão còn sống đủ lâu để hỏi cung.
“Cô có nghĩ lão tin chuyện đó không?” Zoya hỏi, chăm chú quan sát tôi. “Rằng cô là thánh nữ đã trở về từ cõi chết?”
“Tôi không chắc điều đó sẽ tạo nên khác biệt gì”
“Nó sẽ giúp chúng ta biết lão điên loạn đến đâu.”
“Tôi thà chống lại một kẻ phản bội hơn một lão cuồng tín.” Mal khẽ nói. Đấy là lần đầu tiên cậu ấy phát biểu. “Tôi còn vài người bạn cũ trong Thượng Quân vẫn giữ liên lạc. Có vài tin đồn về binh lính đào ngũ để gia nhập giáo phái của lão, nếu thật sự là vậy, họ chắc sẽ biết lão đang ở đâu.”
Tôi lén liếc sang Zoya. Cô ta đang nhìn Mal chằm chằm với đôi mắt xanh không tưởng ấy. Tựa như cô ta đã dành hơn nửa buổi họp để chớp mắt với cậu. Hoặc có khi tôi chỉ đang tưởng tượng. Cô ta là một Tiết Khí Sư tài ba và, rất có tiềm năng, là một đồng minh vững mạnh. Nhưng cô ta cũng từng là một trong những người Hắc Y yêu thích, và điều đó khiến cô ta khó tin tưởng hơn.
Tôi suýt bật cười. Tôi đang đùa với ai chứ? Tôi thậm chí còn ghét chuyện ngồi chung phòng với cô ta. Cô ta mới trông như thánh nữ. Khung xương mềm mại, mái tóc đen óng, làn da hoàn hảo. Tất cả những gì cô ta cần là một chiếc vòng hào quang. Mal không quan tâm đến cô ta, nhưng cảm giác quặn thắt trong bụng khiến tôi nghĩ rằng cậu ấy đang cố ý làm thế chứ không phải ngẫu nhiên. Tôi biết tôi còn nhiều việc quan trọng để lo hơn là Zoya. Tôi còn một đội quân để chỉ huy và vô số kẻ thù vây quanh mình, nhưng tôi không thể dừng lại được.
Tôi hít một hơi sâu và cố tập trung. Vẫn chưa đến phần hóc búa nhất của cuộc họp. Vẫn còn vài vấn đề cần được giải quyết, dù tôi chỉ muốn cuộn mình vào một hóc tối tăm im lặng nào đó.
Tôi nhìn quanh bàn và nói, “Các người cần biết chúng ta đang chống lại điều gì.”
Căn phòng trở nên im lặng. Tựa hồ một hồi chuông vừa vang lên, tựa hồ tất cả mọi thứ từ nãy tới giờ chỉ là diễn kịch, và bây giờ cuộc họp mới thật sự bắt đầu.
Từng chút một, tôi thuật lại những gì tôi biết về nichevoya , sức mạnh và kích cỡ, khả năng miễn nhiễm của chúng trước súng đạn gươm đao, và quan trọng nhất, là chúng không sợ ánh nắng mặt trời.
“Nhưng cô đã thoát thân,” Paja ngập ngừng thăm dò, “nên chắc chắn chúng không bất tử”
“Sức mạnh của tôi có thể tiêu diệt chúng. Đó là vết thương duy nhất mà chúng không thể tự chữa lành. Nhưng đấy không phải chuyện dễ. Để làm được điều đó cần Vết Cắt và tôi không chắc mình có thể thi triển được bao nhiêu lần cùng lúc.” Tôi không nhắc đến bộ khuếch đại thứ hai. Dù có nó giúp sức, tôi biết mình sẽ không thể chống chọi sức tấn công của một đoàn quân bóng đêm nguyên vẹn hình hài, và chiếc vòng tay là bí mật tôi muốn giữ, ít nhất là trong lúc này. “Chúng tôi chỉ thoát được vì hoàng tử Nikolai đã đưa cả đoàn ra khỏi phạm vi tấn công của Hắc Y,” tôi tiếp tục. “Hình như chúng phải ở gần chủ nhân của mình mới được.”
“Gần cỡ nào?” Pavel hỏi.
Tôi nhìn Mal.
“Khó nói lắm,” cậu ấy đáp. “Một dặm. Có thể hai.”
“Vậy là sức mạnh của anh ta vẫn có giới hạn,” Fedyor nói với vẻ nhẹ nhõm thấy rõ.
“Tất nhiên rồi.” Tôi mừng vì đã khơi gợi được một chủ đề không quá khốc liệt. “Anh ta sẽ phải tiến vào Ravka với quân đội của mình để tìm đến chúng ta. Nghĩa là chúng ta sẽ được báo trước và càng dễ tấn công anh ta hơn. Anh ta không thể triệu hồi chúng như đã làm với bóng đêm. Hình như phải mất rất nhiều sức.”
“Bởi vì đấy không phải sức mạnh của Grisha,” David nói. “Đấy là merzost.”
Hai chữ Phép thuật và Quái thai trong tiếng Ravka là một. Lý thuyết Grisha cơ bản đã nói rằng sự vật không thể được kiến tạo từ hư không. Nhưng đấy chính là chủ nghĩa của thuật Điều Nhiên. Merzost thì khác, một sai lầm trong quá trình sáng tác ở trung tâm thế giới.
David vân vê đường chỉ sút trên tay áo của mình. “Năng lượng và thực thể ấy phải đến từ một nơi nào đó. Chắc chắn chúng đến từ anh ta.”
“Nhưng làm sao anh ta có thể?” Zoya thắc mắc. “Đã có Grisha nào từng sở hữu sức mạnh này chưa?”
“Câu hỏi đặt ra ở đây là làm thế nào để chống lại chúng,” Fedyor nói.
Buổi họp chuyển sang vấn đề bảo vệ Tiểu Điện và những lợi thế khả dĩ khi giáp mặt với Hắc Y trên chiến trường. Nhưng tôi mải dõi theo David. Khi Zoya hỏi về các Grisha khác, anh ta đã nhìn thẳng vào tôi lần đầu tiên kể từ khi tôi trở về. Chậc, không hẳn là nhìn tôi, mà là chiếc vòng cổ của tôi. Ngay sau đó anh ta đã quay lại nhìn chăm chăm lên bàn, nhưng nói thật thì, trông anh ta thậm chí còn bứt rứt hơn trước đó. Tôi tự hỏi không biết anh ta biết gì về Morozova. Và tôi cũng muốn một câu trả lời cho thắc mắc của Zoya. Tôi không chắc mình có đủ kinh nghiệm hay can đảm để thử sức không, nhưng liệu có cách nào triệu tập một quân đoàn ánh sáng để đối đầu với những chiến binh bóng tối của Hắc Y hay chăng? Có phải đấy là sức mạnh mà ba bộ khuếch đại sẽ trao cho tôi?
Tôi định sẽ nói chuyện riêng với David sau buổi họp, nhưng ngay khi cả giải tán, anh ta đã lao ra khỏi cửa. Bao dự định về việc tìm anh ta ở xưởng làm việc Sáng Chế Gia trưa hôm đó đã bị đống giấy tờ đang chờ tôi xử lý trong phòng đè bẹp. Tôi dành hàng giờ liền chuẩn bị đơn xin ân xá của Grisha và ký vô số văn kiện bảo đảm ngân quỹ và thực phẩm dự trữ cho những tiền đồn mà Hạ Quân muốn tái thiết lập ở biên giới Ravka. Sergei đã cố đảm nhiệm vài nhiệm vụ của Hắc Y, nhưng phần lớn công việc đều bị bỏ dở.
Mọi thứ dường như được viết theo loại văn phong khó hiểu nhất có thể. Chỉ mấy yêu cầu đơn giản mà tôi phải đọc đi đọc lại nhiều lần. Sau khi duyệt qua một xấp nhỏ trong chồng giấy đó, tôi đã muộn bữa tối - bữa ăn đầu tiên của tôi trong hành lang mái vòm. Tôi thích đem khay thức ăn về phòng mình hơn, nhưng việc khẳng định sự hiện diện của tôi ở Tiểu Điện rất quan trọng. Tôi cũng muốn bảo đảm mệnh lệnh của mình được tuân theo, và nhóm Grisha thực sự ngồi chung với nhau.
Tôi ngồi ở bàn của Hắc Y. Vì muốn làm quen với vài Grisha lạ và tránh tạo điều kiện cho họ kéo bè phái, tôi đã quyết định mỗi tối sẽ ngồi ăn cùng những người khác nhau. Đấy là ý kiến hay, nhưng tôi không có được sự hòa đồng của Mal hay sức hấp dẫn của Nikolai. Những cuộc trò chuyện sáo rỗng và gián đoạn với những giây phút im lặng đầy bối rối.
Những bàn ăn khác có vẻ cũng chẳng khá hơn. Các Grisha ngồi chung với nhau thành một mớ hỗn độn những đỏ, tím và xanh, hầu như không nói với nhau tiếng nào. Tiếng khua leng keng của bộ đồ ăn bằng bạc vọng lại trên mái vòm nứt rạn - Nhóm Sáng Chế Gia vẫn chưa bắt đầu sửa chữa.
Tôi không biết mình nên khóc hay cười. Cứ như tôi bắt họ ngồi ăn tối cạnh một con volcra vậy. Ít nhất Sergei và Maria trông khá hài lòng, dù Nadia nom như cô ta chỉ muốn biến luôn vào trong đĩa đựng bơ khi hai người kia cứ ôm ấp và rủ rỉ với nhau ngay bên cạnh. Tôi mừng cho họ. Và có lẽ hơi ghen tị nữa.
Tôi thầm đếm - bốn mươi Grisha, có khi năm mươi, đa số chỉ vừa mới tốt nghiệp. Quân đội gì đâu , tôi thầm nghĩ với tiếng thở dài. Triều đại huy hoàng của tôi chưa gì đã khởi sự tệ hại quá.
Mal đã đồng ý tham dự chuyến đi săn, tôi dậy thật sớm vào sáng hôm sau để tiễn cậu ấy. Tôi dần nhận ra chúng tôi sẽ có ít riêng tư ở Tiểu Điện hơn là ngoài phố xá. Với Tolya và Tamar và nhóm người hầu lúc nào cũng lảng vảng xung quanh, tôi bắt đầu lo rằng có khi chúng tôi sẽ không được ở riêng một phút giây nào nữa.
Đêm trước đó tôi nằm thức trắng trên giường của Hắc Y, nhớ đến cách Mal đã hôn tôi ở dinh thự ngoại ô hôm nọ, tự hỏi không biết mình có nghe tiếng gõ cửa của cậu ấy không. Tôi thậm chí còn cân nhắc đến chuyện băng qua phòng sinh hoạt chung và gõ cửa buồng ngủ của vệ sĩ, nhưng tôi không biết ai đang trực tối, và chỉ nghĩ đến Tolya hay Tamar ra mở cửa là tôi đã rùng mình vì xấu hổ rồi. Cuối cùng, bao mệt nhọc trong ngày hẳn đã quyết định giúp tôi, vì điều tiếp theo tôi biết là, trời đã sáng.
Khi tôi đến chỗ đài phun nước hình hai con chim đại bàng, lối đi dẫn tới cổng cung điện đã đông nghẹt người và ngựa: Vasily và những người bạn quý tộc của anh ta trong trang phục cưỡi ngựa cầu kì, binh lính Thượng Quân với bộ đồng phục sắc sảo, và phía sau bọn họ, một quân đoàn người hầu mặc trang phục trắng và vàng.
Tôi thấy Mal đang kiểm tra yên ngựa gần một nhóm người dò đường của hoàng tộc. Cậu ấy rất dễ nhận ra nhờ vào áo vải thường dân. Cậu ấy có một cây cung mới coóng trên lưng và một bao đựng tên màu xanh nhạt và vàng của Đức vua Ravka. Buổi săn theo nghi lễ Ravka cấm dùng súng, nhưng tôi nhận ra vài người hầu đeo súng trường sau lưng, phòng trường hợp những con thú hoang quá nguy hiểm đối với chủ nhân quyền quý của họ.
“Phô trương khá đấy,” tôi đến đứng cạnh cậu và hỏi. “Cần bao nhiêu người mới có thể bắn hạ vài con lợn rừng nhỉ?”
Mal khịt mũi. “Đây đã là gì. Một nhóm người hầu khác đã đi trước lúc trời sáng để dựng trại. Thánh thần không cho phép một vị hoàng tử Ravka phải chờ để uống trà nóng.”
Tiếng tù và vang lên và đoàn kị sĩ đứng vào hàng ngũ trong tiếng móng ngựa gõ lóc cóc và bàn đạp lanh canh trên yên. Mal lắc đầu và thít chặt đai ngựa. “Cầu cho mấy con lợn rừng đó bị điếc thì may ra...” cậu càu nhàu.
Tôi nhìn những bộ đồng phục lấp lánh và giày bốt bóng loáng xung quanh. “Có lẽ mình nên cho bồ mặc bộ nào đó...rực rỡ hơn.”
“Phải có lý do nên chim công mới không phải là loài săn mồi đấy.” Cậu ấy nhăn nhở cười. Đấy là một nụ cười dễ chịu, cởi mở, nụ cười đầu tiên tôi nhìn thấy sau một thời gian dài.
Cậu ấy hạnh phúc vì được tham gia, tôi vỡ lẽ. Cậu ấy cằn nhằn suốt, nhưng cậu ấy thích nó. Tôi cố không để tâm quá mức.
“Và bồ giống một con diều hâu lớn màu nâu?” tôi hỏi.
“Chính xác.”
“Hay là con bồ câu quá cỡ?”
“Quyết định là diều hâu đi.”
Những người khác đang leo lên yên, thúc ngựa đến gia nhập đoàn binh sĩ còn lại trong lúc hướng về phía con đường lát sỏi.
“Đi thôi, Oretsev,” một người dò đường tóc hung cất tiếng gọi.
Bỗng nhiên tôi cảm thấy bối rối, nhận thức rõ được đám đông vây xung quanh và ánh nhìn soi mói của họ. Có vẻ như tôi đã vi phạm một điều luật nào đó chỉ bằng việc đến chào tạm biệt thế này.
“Chà,” tôi nói, vỗ hông con ngựa của cậu ấy. “Đi vui nhé. Cố đừng bắn ai đấy.”
“Hiểu rồi. Mà khoan, đừng bắn ai?”
Tôi mỉm cười, tự thấy có chút khiên cưỡng.
Chúng tôi đứng đó thêm một lúc. Thinh lặng kéo dài giữa cả hai. Tôi muốn vòng tay ôm lấy cậu ấy, vùi mặt vào cổ cậu, và bắt cậu hứa là sẽ an toàn. Nhưng tôi đã không làm thế.
Nét cười muộn phiền hiện trên môi cậu ấy. Cậu cúi chào.
“Moi soverenyi,” cậu ấy nói. Tim tôi quặn đau trong lồng ngực.
Cậu ấy trèo lên yên và thúc ngựa về phía trước, mất hút giữa biển người đang trôi về phía cánh cổng vàng.
Tôi cuốc bộ về Tiểu Điện với tâm trạng nặng nề.
Trời vẫn còn sớm, nhưng ngày đã bắt đầu chuyển ấm. Khi tôi đi khỏi đường hầm rừng cây thì Tamar đã đứng chờ sẵn.
“Cậu ta sẽ về sớm thôi,” cô ấy an ủi. “Không cần rầu rĩ vậy đâu.”
“Tôi biết,” tôi đáp lại, cảm thấy thật ngu ngốc. Tôi cố bật cười trong lúc băng qua bãi cỏ đến chuồng ngựa. “Ở Keramzin, tôi có một con búp bê làm từ vớ cũ để nói chuyện với nó mỗi khi cậu ấy đi săn. Có lẽ nó sẽ giúp tôi thấy khá hơn.”
“Cô đúng là kì lạ”
“Cô không biết đâu. Đồ chơi của cô và Tolya là gì?”
“Đầu lâu của kẻ thù.”
Tôi thấy tia sáng lóe lên trong mắt cô ấy, và chúng tôi cùng phá ra cười.
Ở phòng tập huấn, Tamar và tôi được gặp Botkin, giáo viên bộ môn thực chiến cho Grisha. Người lính đánh thuê kì cựu có cảm tình với Tamar ngay lập tức, và họ liến thoắng với nhau bằng tiếng Shu đến gần mười phút trước khi tôi có thể đặt vấn đề huấn luyện các Sáng Chế Gia.
“Botkin có thể dạy bất kì ai chiến đấu,” ông nói với trọng âm đặc sệt của mình. Nguồn sáng lờ mờ khiến vết sẹo to dày trên cổ ông nổi bật. “Ta đã dạy cô nhóc chiến đấu mà, phải không?”
“Vâng,” tôi đồng ý, nhăn mặt nhớ lại những buổi tập nghiêm ngặt và những trận đòn nhừ tử đã lãnh nhận từ ông.
“Nhưng cô nhóc không còn nhỏ nữa rồi,” ông nói, ngắm nhìn màu vàng trên bộ kefta của tôi. “Cô đã trở về tập luyện với Botkin. Lớn hay nhỏ cũng sẽ bị ta đánh như nhau.”
“Thầy thật công bằng,” tôi nói, và giục Tamar rời khỏi chuồng ngựa trước khi Botkin quyết định cho tôi thấy ông ấy công bằng thế nào.
Tôi đi thẳng từ chuồng ngựa đến một buổi họp quân sự khác, rồi tôi chỉ có đủ giờ chải lại tóc tai và vuốt thẳng kefta trước khi trở về Đại Điện để nhập bọn cùng Nikolai trong lúc các quân sư của Đức vua tóm tắt tình hình phòng vệ của Os Alta cho gã.
Tôi có cảm tưởng mình là một đứa trẻ đang xen vào chuyện người lớn. Các quân sư đã nói rõ họ cảm thấy thật phí thời gian. Nhưng Nikolai vẫn không hề nao núng.
Gã cẩn thận hỏi han về lực lượng vũ trang, những phân đội kị binh đóng quân quanh tường thành. Chẳng mấy chốc nhóm quân sư đã trút bỏ lễ nghi và hào hứng bàn chuyện, họ hỏi gã về các vũ khí được gã đem về từ Vực Tối cũng như cách tốt nhất để cải thiện chúng.
Gã bảo tôi tả sơ qua bọn nichevoya để tăng sức thuyết phục về việc trang bị vũ khí mới cho quân đoàn Grisha. Nhóm quân sư vẫn còn nghi ngờ Hạ Quân, nhưng trông Nikolai chẳng lo lắng tí gì trên đường về Tiểu Điện.
“Từ từ họ sẽ hiểu ra thôi,” gã nói. “Đấy là lý do cô cần ở đây, để bảo đảm và giúp họ hiểu rằng Hắc Y không đơn giản như những kẻ thù khác.”
“Anh nghĩ họ không biết sao?” Tôi ngờ vực gặng hỏi.
“Họ không muốn biết thì đúng hơn. Nếu họ có thể duy trì đức tin về chuyện thỏa hiệp hay bắt giữ Hắc Y thì họ sẽ không phải đối mặt với thực tại phũ phàng.”
“Cũng khó trách họ,” tôi rầu rĩ tán thành. Thảo luận về binh đoàn, tường thành và cảnh báo nguy cơ thì tốt đấy, nhưng tôi không nghĩ chúng sẽ tạo nên khác biệt gì khi chống lại quân đội bóng đêm của Hắc Y.
Sau khi bước ra khỏi đường hầm, Nikolai nói, “Đi cùng ta tới bờ hồ nhé?”
Tôi ngần ngại.
“Ta hứa sẽ không quỳ xuống và bắt đầu sáng tác tình ca để khen ngợi vẻ đẹp của cô đâu. Ta chỉ muốn cho cô thấy một thứ.”
Hai má tôi đỏ bừng, và Nikolai cười toe.
“Cô nên hỏi xem các Corporarlki có thể làm gì cho khuôn mặt xấu hổ đó không nhé,” gã nói, rồi men theo rìa Tiểu Điện ra bờ hồ.
Tôi rất muốn đi theo chỉ để nhân dịp xô anh ta xuống nước. Mặc dù... liệuTâm Y có thể sửa được cố tật hay đỏ mặt của tôi không? Tôi lắc đầu nguầy nguậy để xua tan ý nghĩ nực cười đó. Ngày tôi yêu cầu một Tâm Y giúp tôi làm thế cũng là ngày tôi phải rời khỏi Tiểu Điện vì bị chê cười.
Nikolai dừng lại ở lối đi lát sỏi, nửa đường đến bờ hồ, và tôi đến đứng cùng gã. Gã chỉ về phía một bãi biển ngoài xa, cách trường một khoảng ngắn. “Ta muốn xây một bến tàu ở đó,” gã bảo.
“Tại sao?”
“Để ta đóng lại thuyền Chim Ruồi”
“Anh đúng là không thể ở yên được nhỉ? Không phải anh ôm đồm nhiều việc quá rồi sao?”
Gã nheo mắt nhìn mặt hồ lấp lánh. “Alina, ta mong chúng ta có thể tìm ra cách đánh bại Hắc Y. Nhưng nếu thất bại, chúng ta cần đưa cô trốn thoát.”
Tôi nhìn gã chằm chằm. “Còn những Grisha khác?”
“Ta không thể làm gì cho họ”
Tôi không thể tin vào những gì gã đang đề nghị. “Tôi sẽ không chạy trốn.”
“Ta linh cảm là cô sẽ nói thế mà,” gã đáp lại cùng tiếng thở dài.
“Còn anh?” Tôi phát cáu. “Anh sẽ bay mất và để chúng tôi đối mặt với Hắc Y ư?”
“Nào nào,” gã đấu dịu. “Cô biết ta luôn muốn tổ chức lễ tang như một anh hùng mà.” Gã quay lại nhìn bờ hồ. “Ta sẵn lòng chết vì chiến đấu, nhưng ta không muốn phụ vương và mẫu hậu bị Hắc Y hành hạ. Cô sẽ đưa ta hai Tiết Khí Sư để huấn luyện chứ?”
“Họ không phải món quà, Nikolai,” Tôi nói, nhớ đến cách Hắc Y đã tặng Genya cho Hoàng Hậu. “Nhưng tôi sẽ tìm người tình nguyện. Chỉ cần đừng nói cho họ lý do. Tôi không muốn làm những người khác mất nhuệ khí. “Và điều cuối cùng,” tôi nói. “Tôi muốn anh tha cho Baghra. Bà ấy không cần phải đối mặt với Hắc Y lần nữa. Bà chịu đựng đủ rồi.”
“Dĩ nhiên,” gã nói, rồi thêm vào, “Ta vẫn tin rằng chhúng ta sẽ thắng, Alina.”
Mừng là vẫn có người nghĩ vậy, tôi u sầu thầm nghĩ, rồi quay trở vào bên trong.