Lúc vừa tiến vào Hư Hải, tôi biết ngay có gì đã thay đổi.
Một cách mau mắn, tôi đứng trụ lại trên boong tàu và giơ tay lên, triệu hồi một vầng sáng bao quanh tàu Chim Ruồi. Dù rất giận Sturmhond nhưng tôi sẽ không cho phép một bầy volcra đánh chìm tàu chỉ để anh ta sáng mắt ra.
Với sức mạnh từ hai bộ khuếch đại, tôi chẳng cần tập trung mấy để kêu gọi ánh sáng. Tôi thận trọng thăm dò giới hạn của chúng, hoàn toàn không nhận ra mối đứt vỡ đã xuất hiện lúc tôi sử dụng sức mạnh lần đầu tiên. Nhưng có gì đó rất lạ. Vực Tối có vẻ hơi khác. Tôi tự nhủ rằng đấy chỉ là tưởng tượng thôi, nhưng dường như bóng tối giờ là một thực thể vật lý. Tôi có thể cảm nhận nó đang di chuyển trên da. Miệng vết thương trên vai tôi bắt đầu ngứa ngáy và nhói lên, giống như đang bồn chồn trỗi dậy.
Tôi đã từng ở Hư Hải hai lần, và lần nào cũng trong vai một người lạ, một kẻ xâm nhập bất hợp pháp trong một thế giới nguy hiểm và kỳ lạ luôn từ chối tiếp nhận tôi. Nhưng giờ đây Vực Tối tựa hồ muốn tìm đến tôi, đón chào tôi. Tôi biết điều này rất vô lý. Vực Tối là một cõi chết hoang vắng, không phải sinh vật sống.
Nó biết mình , tôi nghĩ. Tương đồng kêu gọi tương đồng , thật nhảm nhí làm sao. Tôi cố lay tỉnh đầu óc và đẩy ánh sáng ra xa hơn, để nguồn năng lượng vây tỏa ấm ấp và an toàn xung quanh. Đây mới là tôi. Không phải bóng tối.
“Chúng đang đến,” Mal ở bên cạnh tôi bèn cất tiếng. “Nghe kìa.”
Tôi nghe tiếng gào rú vang vọng giữa Vực Tối lẫn trong gió lùa, rồi tiếng đập cánh đều đều của lũ volcra. Chúng bị mùi con người lôi cuốn và đã nhanh chóng tìm ra chúng tôi.
Cánh của chúng đập vào khoảng không xung quanh vòng ánh sáng tôi kiến tạo, nhồi đẩy bóng tối về phía chúng tôi theo từng đợt sóng. Vì lâu rồi không có ai vượt qua Vực Tối nữa nên chúng đang rất đói mồi. Cơn thèm khát thức ăn làm chúng bạo dạn hơn.
Tôi dang rộng tay, để luồng sáng chói lọi hơn và đuổi đàn volcra đi.
“Không,” Sturmhond nói. “Cô cứ cho chúng lại gần.”
“Cái gì? Tại sao?” Tôi hỏi. Bọn volcra là những con thú săn mồi vô cùng nguy hiểm. Gã ta không thể đùa với chúng được đâu.
“Chúng săn đuổi chúng ta,” gã thuyền trưởng đáp lại, cố tình nói to hơn để mọi người cùng nghe. “Có lẽ đã đến lúc săn ngược lại chúng rồi.”
Một tiếng hú lớn như thường được nghe trong chiến trận vang lên, theo sau là một tràng gào sủa.
“Thu hồi ánh sáng đi,” Sturmhond bảo tôi.
“Anh ta điên rồi,” Tôi nói với Mal. “Bồ mau nói với anh ta điều đó đi.”
Nhưng Mal chần chừ. “Cơ mà...”
“Cơ mà cái gì?” Tôi kinh ngạc vặn hỏi. “Phòng trường hợp bồ đã quên thì, một trong số chúng đã cố nuốt sống bồ đấy!”
Cậu ấy nhún vai, trên môi xuất hiện nụ cười nhăn nhở. “Có lẽ tại vậy mình mới muốn xem mấy khẩu súng kia làm được gì.”
Tôi lắc đầu. Tôi không thích chuyện này. Không một chút nào.
“Chỉ một chút thôi,” Sturmhond nài ép. “Chiều ta đi mà.”
Chiều anh đi. Làm như anh đang hỏi xin thêm miếng bánh ấy.
Thủy thủ đoàn đang chờ. Tolya và Tamar khom người tựa trên nòng súng đương nhô ra của họ. Trông hai anh em cứ như mấy con côn trùng lưng da vậy.
“Được thôi,” tôi đầu hàng. “Nhưng đừng bảo là tôi không cảnh cáo anh đấy.”
Mal nâng súng trường lên vai.
“Rồi đây,” Tôi lẩm bẩm. Tôi siết tay lại. vòng tròn ánh sáng bị thu nhỏ dần quanh con thuyền.
Bầy volcra rít lên trong hứng khởi.
“Thu về hết đi!” Sturmhond ra lệnh.
Tôi nghiến răng tức tối rồi làm theo lời gã. Vực Tối chìm trong bóng đêm.
Tôi nghe tiếng vỗ cánh. Bọn volcra đã lao đến.
“Bây giờ, Alina!” Sturmhond hét lên. “Mau vung nó rộng hơn!”
Tôi không kịp nghĩ nữa, chỉ phóng sáng ra thành một đợt sóng cháy bừng. Nó soi rõ khung cảnh rùng rợn xung quanh dưới mặt trời buổi trưa nghiệt ngã và tàn nhẫn. Volcra ở khắp nơi, chúng lơ lửng xung quanh tàu, một bầy xám xịt những thân hình vặn vẹo có cánh, đôi mắt trắng dã vô hồn và hàm răng lởm chởm. Quả nhiên bọn volcra rất giống với lũ nichevoya , nhưng chúng lố bịch và vụng về hơn.
“Bắn!” Sturmhond gào to.
Tolya và Tamar nổ súng. Đấy là thứ âm thanh tôi chưa nghe thấy bao giờ, một tiếng sấm đinh tai nhức óc làm dấy động không khí khiến từng khớp xương trong người tôi muốn vỡ tung.
Đó là một cuộc thảm sátBọn volcra rớt xuống từ phía trên chúng tôi, lồng ngực bị bắn thủng, cánh gãy lìa khỏi thân. Vỏ đạn bắn ra bay về phía boong tàu. Mùi cháy khét của thuốc súng đượm nồng không gian.
Hai trăm vòng một phút. Hóa ra đây là sức mạnh của một binh đoàn hiện đại.
Lũ quái vật không biết chuyện gì đang xảy ra. Chúng lượn vòng và đập tan không khí, liều mạng vì khát máu, đói mồi và sợ hãi, chúng xé xác đồng loại trong cơn hoang mang và mong muốn trốn thoát...Baghra từng bảo tôi rằng tổ tiên của lũ volcra là con người. Tôi thề là mình đã nghe tiếng khóc than của họ.
Tiếng súng dừng lại. Tai tôi ù hết cả. Tôi ngẩng đầu lên và thấy những vệt máu cùng mấy mẩu thịt dính trên buồm. Trán tôi đổ đầy mồ hôi lạnh. Tôi nghĩ chắc mình đổ bệnh mất thôi.
Sự im lặng kéo dài trong giây lát trước khi Tolya ngửa đầu ra sau và tru lên mừng thắng lợi. Những thuyền viên khác cũng nhập bọn, gào rú và sủa tru tréo. Tôi muốn hét bảo bọn họ im đi.
“Ngài nghĩ chúng ta có thể xử thêm một bầy nữa không?” Một Tiết Khí Sư hỏi.
“Có thể,” Sturmhond trả lời. “Nhưng chúng ta nên hướng về phía Đông thôi. Gần sáng rồi, ta không muốn bị phát hiện.”
Đúng, tôi nghĩ. Mau hướng về phía Đông đi. Mau ra khỏi đây. Tay tôi run lẩy bẩy. Vết thương trên vai nóng hổi và đau nhói. Chuyện gì đang xảy ra với tôi vậy? Bọn volcra là quái vật. Chúng có thể xé xác chúng tôi mà chẳng chút bận tâm. Tôi biết thế. Vậy mà tôi vẫn còn nghe rõ tiếng than van của họ.
“Chúng còn nhiều nữa,” Mal chợt nói. “Còn rất nhiều.”
“Sao cậu biết?” Sturmhond hỏi.
“Linh tính mách bảo.”
Sturmhond tỏ ra ngần ngại. Thật khó để đoán được biểu cảm của anh ta dưới cặp kính, cái mũ và cổ áo kéo cao. “Ở đâu?” cuối cùng anh ta mới nói.
“Một chút về phía Bắc,” Mal bảo. “Hướng đó.” Cậu ấy chỉ vào bóng đêm, và tôi rất muốn tát cậu ấy. Có biết bọn volcra ở đâu thì cũng đừng chỉ ra chứ.
Sturmhond thông báo phương hướng. Tim tôi chợt trĩu nặng.
Tàu Chim Ruồi hạ thấp xuống và quay về hướng Mal đang chỉ trong lúc Sturmhond điều chỉnh lại lộ trình. Tôi cố tập trung vào ánh sáng, vào sự hiện diện của sức mạnh để bảo đảm an toàn, cố lờ đi cảm giác bất an trong lòng.
Sturmhond đưa chúng tôi xuống thấp hơn. Ánh sáng của tôi lấp lánh trên dải cát không màu của vùng Vực và chạm lên hình dáng mờ ảo của một con thuyền bị đắm.
Cơn chấn động chạy dọc người tôi lúc cả đoàn tiến lại gần hơn. Con thuyền đã bị gãy đôi. Một cột buồm của nó bị chẻ thành hai khúc, và tôi có thể nhận ra chút tàn dư của ba cánh buồm đen rách tơi tả. Mal đã dẫn chúng tôi đến xác con thuyền của Hắc Y.
Chút bình tĩnh tôi còn giữ được ngay lập tức tan biến.
Tàu Chim Ruồi hạ xuống thấp hơn. Bóng của nó lướt qua boong tàu vỡ nát.
Tôi cảm thấy nhẹ lòng chút ít. Tuy hơi vô lý nhưng tôi tưởng sẽ thấy xác của những Grisha mình đã bỏ lại nằm la liệt trên boong, xương cốt của phái viên hoàng gia và đoàn đại sứ nước ngoài chất thành một đống trong góc. Nhưng dĩ nhiên trên tàu không còn gì cả, tất cả đã làm mồi cho bọn volcra , xương của họ nằm rải rác trên nền đất cằn cỗi nơi Vực Tối.
Tàu Chim Ruồi nghiêng sang phải. Ánh sáng của tôi đâm xuyên qua đáy sâu âm u dưới thân tàu gãy đổ. Tiếng thét bắt đầu.
“Quỷ tha ma bắt,” Mal chửi thề và nâng súng lên.
Ba con volcra lớn cúi người dưới thân tàu, chúng giang rộng cánh và quay lưng về phía chúng tôi. Nhưng thứ đang được chúng dùng thân mình bảo vệ mới khiến cả người tôi run lên trong tột cùng sợ hãi: một biển đầy những thân hình vặn vẹo và quằn quại, đôi cánh tay tí hon óng ánh, tấm lưng bé nhỏ bị xẻ đôi lộ cặp cánh chưa thành hình. Chúng rên rỉ và than khóc ỉ ôi, trườn bò lên người nhau để tránh khỏi ánh sáng.
Chúng tôi đã phát hiện một ổ volcra.
Cả đoàn đều im lặng. Không còn tiếng gào rú hay tru tréo nào nữa.
Sturmhond nghiêng tàu xuống thấp hơn nữa. Rồi gã la lên, “Tolya, Tamar, grenatki”
Cặp sinh đôi lôi hai viên đạn cối bọc sắt ra và nâng chúng lên thành lan can.
Một đợt sóng kinh sợ tràn qua người tôi. Chúng là volcra , tôi tự nhắc mình. Nhìn chúng đi. Chúng là lũ quái vật.
“Tiết Khí Sư, theo lệnh ta,” Sturmhond nói một cách dứt khoát. “Châm ngòi!” Gã hét, rồi thì “Pháo thủ, thả đạn!”
Ngay khi đạn cối được thả xuống, Sturmhond gầm lên, “Ngay bây giờ!” rồi bẻ lái về bên phải.
Đoàn Tiết Khí Sư đồng loạt giơ tay, và thuyền Chim Ruồi vọt lên không trung.
Một giây im lặng trôi ra, rồi một tiếng “Bùm.” điếc tai vang vọng bên dưới. Sức nóng và áp lực từ vụ nổ tạo thành luồng gió mạnh ập lên tàu Chim Ruồi.
“Giữ thăng bằng!” Sturmhond rống to.
Con thuyền bay lao xuống vun vút, nó chao đảo dưới đôi cánh vải như một con lắc đu đưa. Mal đặt tay lên hai bên người tôi, dùng thân mình che chắn trong lúc tôi cố giữ thăng bằng và ngăn ánh sáng khỏi tắt xung quanh.
Cuối cùng, thuyền thôi nghiêng ngả và uốn mình theo một đường cong trơn tru, theo dấu vòng tròn lớn đang lơ lửng trên xác tàu bị cháy.
Tôi run như cầy sấy. Không gian nồng mùi thịt khét. Hai lá phổi nóng bừng và từng hơi thở như thiêu đốt. Thuộc hạ của Sturmhond lại hò hét và gào rú lần nữa. Mal cũng tham gia, cậu giơ súng lên không trung để ăn mừng chiến thắng. Hơn cả những tiếng la hứng khởi ấy, tôi có thể nghe thấy tiếng thét của bầy volcra, như những con người bất lực, tiếng khóc than ai oán của những người mẹ mất con.
Tôi nhắm mắt lại. Đó là tất cả những gì tôi có thể làm để khỏi bịt chặt tai và ngã khuỵu xuống sàn.
“Đủ rồi,” tôi thì thầm. Không ai nghe thấy cả. “Làm ơn,” tôi khàn giọng. “Mal...”
“Cô đã thành sát nhân rồi đấy, Alina.”
Giọng nói lạnh lùng đó. Mắt tôi chợt mở bừng.
Hắc Y đứng trước mặt, bộ kefta màu đen bay phần phật trên boong thuyền Chim Ruồi. Tôi thở dốc và lùi lại, hốt hoảng nhìn xung quanh, nhưng không ai để ý hết. Họ còn đang la ó và hú hét trong lúc nhìn xuống đám lửa bên dưới.
“Đừng lo,” Hắc Y dịu dàng nói. “Rồi cô sẽ quen thôi. Đây, để ta cho cô thấy.”
Anh ta lôi một con dao trong tay áo kefta ra, và trước khi tôi kịp đánh động thì anh ta đã phóng nó về phía tôi. Tôi giơ hai tay lên để tự vệ, từ cổ họng phát ra tiếng thét xé tai. Âm thanh tan biến, và con thuyền bị bóng tối nhấn chìm. Tôi khuỵu gối xuống, nằm co ro trên boong chờ cảm giác nhức nhối khi bị thép Grisha đâm phải.
Nhưng nó không tới. Mọi người xung quanh tôi đang la ó trong màn đêm. Sturmhond hét gọi tên tôi. Tôi nghe tiếng rít của một con volcra vọng lại. Gần quá. Nó ở gần quá.
Ai đó khóc rống lên, và con thuyền nghiêng hẳn về một bên. Tôi nghe tiếng giày bốt nện thình thịch trên sàn trong lúc thủy thủ đoàn chật vật cố đứng vững.
“Alina!” Lần này là tiếng của Mal.
Tôi nhận ra cậu ấy đang dò dẫm tìm đến tôi trong bóng tối. Chút nhận thức đã trở về, tôi liền triệu hồi một tầng ánh sáng chói lòa khác.
Lũ volcra đã lao xuống tấn công bèn rú lên và quay lại với màn đêm đen đặc, nhưng một Tiết Khí Sư đã nằm trên sàn, cánh tay gần như đứt lìa khỏi khớp khiến máu chảy lênh láng, cánh buồm phía trên anh ta bay phấp phới một cách vô dụng. Thuyền Chim Ruồi chao đảo rồi nghiêng hẳn về mạn phải, nhanh chóng đánh mất độ cao đang giữ vững.
“Tamar, giúp cậu ta đi!” Sturmhond ra lệnh. Nhưng Tolya và Tamar từ sớm đã nhoài người về phía người Tiết Khí Sư bị thương ở bên kia thân tàu rồi.
Tiết Khí Sư còn lại giơ hẳn hai tay lên, khuôn mặt cứng ngắc vì căng thẳng trong lúc cô cố triệu hồi một luồng gió đủ mạnh để giữ chúng tôi bay cao. Con thuyền nhấp nhô và rung rinh. Sturmhond giữ chặt bánh lái, gào thét ra lệnh thuyền viên sửa lại buồm.
Tim tôi đập liên hồi. Tôi điên cuồng nhìn quanh con thuyền, tâm trí bị giằng xé giữa khiếp sợ và mơ hồ. Tôi đã nhìn thấy Hắc Y. Tôi đã nhìn thấy anh ta.
“Bồ có sao không?” Mal đứng bên cạnh tôi hỏi. “Có bị thương ở đâu không?”
Tôi không thể nhìn thẳng cậu ấy. Cả người tôi run cầm cập đến nỗi tôi sợ thân thể sẽ đứt lìa. Tôi tập trung toàn bộ sức lực để giữ cho ánh sáng tiếp tục tỏa rạng quanh con thuyền.
“Cô ấy có bị thương không?” Sturmhond hét to.
“Mau đưa chúng tôi ra khỏi đây đi!” Mal đáp.
“Này, không phải ta đang làm thế sao?” Sturmhond độp lại.
Lũ volcra rít lên, chúng xoay tít người, đập cánh lên vòng ánh sáng. Tôi tự hỏi tuy là quái vật nhưng chúng có biết trả thù hay không. Thuyền Chim Ruồi rung chuyển. Tôi nhìn xuống và thấy dải cát xám dồn đống lên gần chạm tới đáy thuyền.
Rồi thốt nhiên chúng tôi đã thoát khỏi bóng tối, đâm xuyên qua làn đêm đen cuối cùng ở Vực để lao về phía ánh sáng xanh biếc của buổi sớm bình minh.
Đất liền lờ mờ hiện ra ngay sát bên dưới một cách nguy hiểm.
“Tắt lửa!” Sturmhond ra lệnh.
Tôi buông tay xuống và nắm chặt lan can buồng lái. Tôi có thể thấy con đường trải dài, ánh đèn thị trấn nhạt nhòa nơi xa, và ở đó, bên dưới triền đồi thấp trũng, là mặt hồ xanh nhỏ hẹp đương phản chiếu nắng sáng rạng ngời.
“Xa một chút nữa!” Sturmhond la to.
Người Tiết Khí Sư gắng gượng thổn thức, hai cánh tay run bần bật. Cánh buồm hạ xuống. Thuyền Chim Ruồi tiếp tục rơi. Những nhánh cây sượt ngang thân thuyền khi chúng tôi lướt trên chúng.
“Mau cúi xuống và bám cho chặt đấy!” Sturmhond lại hét. Mal và tôi ngồi chồm hổm trong buồng lái, nắm chặt tay nhau và áp sát chân về một bên. Con thuyền nhỏ kêu lạch cạch rồi giật mạnh.
“Không được rồi,” Tôi thều thào.
Cậu không nói gì, chỉ siết tay tôi chặt hơn.
“Chuẩn bị!” Sturmhond thông báo.
Vào giây cuối cùng, gã chui vào buồng lái và chen chúc giữa đám người. Gã chỉ kịp nói, “Âm cúng ghê đó,” trước khi thuyền hạ cánh với cú xóc nảy tan xương.
Mal và tôi bị hất về phía trước buồng lái trong lúc thuyền đổ ầm trên mặt đất, mọi thứ va đập vào nhau, thân thuyền vỡ ra từng mảnh. Có một tiếng “Tõm.” thật lớn, và đột nhiên chúng tôi đang bơi giữa hồ. Tôi nghe được âm thanh răng rắc và biết ngay một trong hai bên thân tàu đã gãy nát. Chúng tôi cứ nhấp nhô liên tục trên mặt nước rồi, một cách kì diệu, dừng lại bất thình lình.
Tôi cố xác định phương hướng. Tôi đang nằm ngửa, thân thể áp sát một bên buồng lái. Người nào đó đang thở dốc ngay bên cạnh.
Tôi cẩn thận trở người. Tôi đã bị đập mạnh vào đầu và hai tay đều có vết cắt, nhưng có vẻ như tôi vẫn còn nguyên vẹn.
Nước đang tràn vào sàn buồng lái. Tôi nghe tiếng tát nước, tiếng mọi người gọi nhau.
“Mal?” Tôi đánh liều lên tiếng bằng giọng the thé run rẩy.
“Mình ổn,” cậu ấy trả lời. Cậu ấy đang ở đâu đó bên trái tôi. “Chúng mình phải rời khỏi đây ngay.”
Tôi liếc nhìn xung quanh, nhưng không thấy Sturmhond đâu cả.
Con thuyền bắt đầu nghiêng đi một cách đáng báo động trong lúc chúng tôi trèo khỏi buồng lái. Chúng tôi nghe tiếng cọt kẹt, và một cây cột ngã xuống, đổ ập lên mặt hồ bên dưới sức nặng của cánh buồm.
Chúng tôi nhảy xuống nước, đạp chân thật mạnh để khỏi bị nhấn chìm cùng con thuyền.
Một thủy thủ bị kẹt trong đống dây thừng. Mal lặn xuống để giải thoát anh ta, và tôi gần như bật khóc sung sướng khi cả hai người cùng trồi khỏi mặt hồ.
Tôi thấy Tolya và Tamar đang bơi lại, theo sau là những thủy thủ khác. Tolya ôm lấy Tiết Khí Sư bị trọng thương. Sturmhond bơi đằng sau, đỡ bên tay gã là một người thủy thủ bị bất tỉnh. Chúng tôi hướng về phía bờ.
Toàn thân tôi nhức mỏi và bầm tím, trang phục ướt đẫm càng làm chân tay tôi thêm nặng nề, nhưng cuối cùng cả đoàn đã đến được vùng nước nông. Chúng tôi nhấc mình lên khỏi mặt nước, ì ạch lội qua đám lau sậy nhớt bùn, rồi nằm phịch xuống bãi đất cong cong hình lưỡi liềm.
Tôi nằm thở dốc, lắng nghe những âm thanh buổi sớm nghe sao bình thường đến lạ: Dế kêu rin rít trong cỏ, chim hót véo von trong rừng, những chú ếch cất giọng ồm ộp trầm thấp. Tolya đang chăm sóc người Tiết Khí Sư bị thương, hướng dẫn anh co duỗi ngón tay và gập cùi chỏ lại. Tôi nghe tiếng Sturmhond lội vào bờ và để Tamar khám cho người thủy thủ cuối cùng.
“Cậu ta không còn thở,” Sturmhond nói, “Ta cũng không thấy mạch đập đâu hết.”
Tôi cố gượng dậy. Mặt trời đang ló dạng và sưởi ấm phía sau lưng, từng tia nắng lướt trên mặt hồ và những tán cây. Tamar ấn mạnh tay lên ngực người thủy thủ, dùng sức mạnh của mình để ép nước khỏi phổi và thổi sự sống trở lại trái tim của anh ta. Khoảnh khắc như kéo dài vô tận khi người thủy thủ vẫn tiếp tục nằm bất động trên cát. Rồi anh ta thở dốc. Mắt anh ta mở to, và anh ta khạc hết nước ra áo.
Tôi cất tiếng thở phào. Một người nữa đã không phải chết vì tôi.
Một thủy thủ khác đang ôm chặt bên hông, kiểm tra xem mình có bị gãy cái xương sườn nào không. Trên trán Mal là một vết thương dài và sâu trông rất kinh khủng. Nhưng mọi người đều có mặt. Chúng tôi đã vượt qua.
Sturmhond lội ra hồ lần nữa. Anh ta ra đến khoảng nước dâng tới đầu gối, lặng lẽ ngắm nhìn mặt nước bằng phẳng, áo măng tô trải rộng nhấp nhô ở phía sau. Không một dấu vết nào của thuyền Chim Ruồi còn sót lại ngoại trừ một đám đất văng tung tóe dọc bờ hồ.
Người Tiết Khí Sư không bị thương quay sang tôi. “Hồi nãy cô bị gì vậy?” cô ta quát. “Suýt nữa Kovu đã bị giết rồi. Cả chúng tôi nữa!”
“Tôi không biết,” tôi cúi gục trên đầu gối và nói.
Mal vòng tay ôm lấy tôi, nhưng tôi không muốn được an ủi. Tôi cần một lời giải thích cho những gì mình đã thấy.
“Cô không biết?” cô ta nghi ngờ bắt bẻ.
“Tôi không biết,” tôi lặp lại, cảm thấy ngạc nhiên trước vẻ giận dữ trong câu nói. “Tôi đâu có muốn bị đẩy vào Vực Tối. Tôi đâu phải là người gây chuyện với bọn volcra. Sao cô không hỏi thuyền trưởng của mình xem anh ta bị gì đi?”
“Cô ấy đúng đấy.” Sturmhond cắt ngang, gã lết khỏi mặt hồ và tiến về phía chúng tôi trong lúc cởi bỏ găng tay ướt mèm của mình. “Ta nên cảnh báo cẩn thận hơn, và ta không nên truy đuổi tổ volcra ấy.”
Không hiểu sao tôi lại tức giận hơn khi nghe anh ta đồng tình với mình. Rồi Sturmhond tháo mũ và kính mắt xuống, và cơn thịnh nộ của tôi biến mất, thay vào đó là ngạc nhiên tột độ.
Mal đứng lên ngay lập tức. “Cái quái gì vậy?” cậu ấy nói, giọng điệu trầm thấp và đe dọa.
Tôi cứng đơ người, cơn đau và sự kiệt quệ bị cảnh tượng quỷ dị trước mắt làm lu mờ. Tôi không biết mình đang nhìn cái gì, nhưng tôi mừng vì Mal cũng thấy nó. Sau những gì đã xảy ra trên Vực Tối tôi đã không dám tin vào chính bản thân nữa.
Sturmhond thở dài và đưa tay vuốt mặt - khuôn mặt của một người lạ.
Cằm của gã không còn nhọn hoắt nữa. Sống mũi vẫn hơi gãy, nhưng không đến mức gồ lên rõ rệt nhưng trước đó. Tóc gã màu vàng đậm thay vì nâu đỏ và được cắt ngắn theo kiểu quân đội, và đôi mắt đục ngầu sắc xanh quái dị kia giờ sáng trong màu hạt dẻ. Gã trông khác hẳn, những vẫn là Sturmhond mà không nhầm đi đâu được.
Và gã rất đẹp trai , tôi thảng thốt nhận ra với nỗi uất ức tột cùng.
Chỉ có Mal và tôi là hai người nhìn gã chằm chằm. Không ai trong số những thuộc hạ của Sturmhond tỏ ra ngạc nhiên cả.
“Anh sở hữu một Sáng Chế Gia,” Tôi buột miệng.
Sturmhond nhăn mặt.
“Tôi không phải Sáng Chế Gia,” Tolya tức tối phủ nhận.
“Không, Tolya, tài năng của anh nằm ở chỗ khác,” Sturmhond lên tiếng an ủi. “Hầu hết ở lãnh vực chém giết và cắt xén trứ danh cơ.”
“Sao anh phải làm thế này?” Tôi hỏi, cố gắng làm quen với việc nghe giọng của Sturmhond phát ra từ miệng một người khác.
“Tốt hơn hết là Hắc Y không thể nhận ra ta. Tuy chúng ta chưa gặp lại nhau từ năm ta 14 tuổi đến giờ, nhưng ta không dám mạo hiểm đánh cược đâu.”
“Anh là ai?” Mal hung hăng gặng hỏi.
“Câu hỏi đó phức tạp quá.”
“Thật ra nó khá đơn giản thẳng thừng đấy chứ,” tôi đứng bật dậy và nói. “Nhưng cần được trả lời thật lòng. Vốn là điều mà anh không có khả năng thực hiện.”
“Ô, ta làm được đấy chứ,” Sturmhond vừa nói vừa giũ nước khỏi giày bốt. “Có điều không giỏi lắm thôi.”
“Sturmhond,” Mal gầm gừ và tiến về phía gã. “Anh có đúng mười giây để giải thích, không thì Tolya phải tạo cho anh một khuôn mặt mới đấy.”
Rồi Tamar đứng thẳng dậy. “Có người tới.”
Tất cả đều im bặt và dỏng tai lắng nghe. Âm thanh phát ra từ rừng cây bao quanh hồ: tiếng vó ngựa - cả một đàn đông đúc, tiếng gãy đổ và xào xạc của những ngọn cây khi đoàn hành quân băng ngang rừng để tiến về phía chúng tôi.
Sturmhond rên rỉ. “Ta biết ngay là sẽ bị phát hiện mà. Chúng ta phí thời gian quá lâu ở Vực Tối.” Đoạn gã thở dài rầu rĩ. “Một con thuyền tan xác và thủy thủ đoàn ướt như chuột lột. Kịch bản không phải như thế này.”
Tôi rất muốn hỏi vậy kịch bản phải như thế nào, nhưng không còn thời gian nữa.
Cây cối tách sang hai bên, và một nhóm kỵ binh tập kích quay bãi biển. Mười...hai mươi...ba mươi binh sĩ của Thượng Quân. Lính của đức vua được trang bị vũ khí nặng nề. Bọn họ đến từ đâu vậy?
Sau cuộc thảm sát bầy volcra và cú đắm thuyền, tôi cứ nghĩ mình chẳng biết sợ nữa, nhưng tôi đã lầm. Nỗi kinh khiếp chạy học khắp người khi tôi nhớ lại những gì Mal đã nói về chuyện đào ngũ. Chúng tôi sẽ bị bắt giữ như những kẻ phản bội ư? Đầu ngón tay tôi run lên. Tôi không muốn trở thành tù nhân một lần nữa.
“Bình tĩnh đi, Tiết Dương Sư,” gã thuyền trưởng thì thầm. “Để ta xử lý vụ này cho.”
“Vì anh đã xử lý mấy vụ trước đó rất tốt hả, Sturmhond?”
“Cô đừng gọi ta bằng cái tên ấy trong một thời gian thì tốt hơn.”
“Tại sao?” Tôi vọt miệng hỏi.
“Tại vì đấy không phải tên ta.”
Đoàn kỵ binh chạy nước kiệu rồi dừng trước mặt chúng tôi, súng trường và kiếm lưỡi cong của họ lấp lánh trong nắng sớm. Một đội trưởng trẻ tuổi tuốt kiếm ra. “Nhân danh Đức Vua Ravka, mau bỏ vũ khí xuống.”
Sturmhond bước lên phía trước, đứng chặn giữa kẻ thù và thủy thủ đoàn bị thương của mình. Gã giơ tay tỏ ý đầu hàng. “Vũ khí của chúng tôi đang ở dưới đáy sông. Chúng tôi vô hại.”
Dựa trên những gì tôi biết về Sturmhond và cặp sinh đôi thì, tôi nghi ngờ câu nói đó.
“Mau khai tên và mục đích ngươi đến đây,” người đội trưởng ra lệnh.
Một cách chậm rãi, Sturmhond cởi bỏ áo măng tô ướt sũng của mình ra và đưa nó cho Tolya.
Sự huyên náo bất thường bắt đầu lan rộng trong hàng ngũ quân sĩ. Sturmhond mặc binh phục Ravka. Dù nó đã ướt nhẹp nhưng chất vải xanh màu oliu cùng dãy nút bằng đồng chỉ có trong Thượng Quân thì không thể nào lầm được - hay hình thêu hai con đại bàng bằng vàng cho thấy cấp bậc chỉ huy cũng vậy. Gã thuyền trưởng đang định chơi trò gì đây?
Một lão binh vượt lên hàng ngũ, xoay ngựa vòng lại để giáp mặt với Sturmhond. Tôi giật mình nhận ra ông chính là đại tá Raeveksy, chỉ huy doanh trại quân đội ở Kribirsk. Chúng tôi hạ cánh ở gần thị trấn thế ư? Có phải đấy là lý do đoàn kỵ binh đến được đây nhanh như thế?
“Mau giải thích đi, cậu nhóc!” Đại tá ra lệnh. “Hãy khai tên và mục đích của ngươi đến đây trước khi ta lột bỏ bộ quân phục ấy và treo ngươi lên cây cao!”
Sturmhond trông chẳng chút nao núng. Nhưng giọng điệu của gã lúc trả lời mang theo thứ khí chất uy nghiêm mà tôi chưa nghe qua bao giờ. “Ta là Nikolai Lantsov, Thiếu Tá của Trung Đoàn Hai Mươi Hai, Binh Sĩ của Đội Quân Hoàng Gia, Đại Công Tước Udova, và Nhị Hoàng Tử của Hoàng đế Alexander Đệ Tam vô cùng tôn quý, người cai trị ngai vàng Song Bằng, cầu Ngài vạn tuế và vương triều vĩnh cửu.”
Tôi há hốc mồm. Một đợt sóng kinh ngạc lan truyền nhanh chóng trong hàng ngũ quân binh. Tôi không biết gã điên này đang nghĩ đến trò đùa nào, nhưng Raevsky trông chả hứng thú chút nào. Ông nhảy khỏi ngựa và quăng dây cương cho một người lính gần đó.
“Nghe cho rõ đây, tên nhóc vô lễ,” ông nói, tay đã đặt lên chuôi kiếm, khuôn mặt già nua rúm ró vì giận dữ trong lúc tiến đến trước mặt Sturmhond. “Nikolai Lantsov phục vụ dưới quyền ta ở biên giới phía bắc và...
Giọng của ông nhỏ dần. Ông đương kề sát mặt với gã thuyền trưởng, nhưng Sturmhond không hề chớp mắt. Đại tá há miệng ra, rồi ngậm lại. Ông lùi một bước và cẩn trọng quan sát từng đường nét trên mặt Sturmhond. Biểu cảm của ông thay đổi dần, từ cau có đến kinh ngạc đến thứ gì giống như sự vỡ lẽ.
Một cách đột ngột, ông quỳ xuống một bên gối và cúi đầu.
“Xin ngài thứ lỗi, moi tsarevich ,” ông nói, mắt nhìn chằm chằm xuống mặt đất bên dưới. “Mừng ngài trở về.”
Các binh sĩ nhìn nhau hoang mang.
Sturmhond quay sang liếc họ với ánh mắt lạnh lùng tỏ ý chờ đợi. Uy quyền toát ra từ người gã. Dường như có một nhịp đập nào đó đang lặng lẽ truyền qua hàng ngũ quân lính. Rồi, theo từng lượt một, họ xuống khỏi ngựa và quỳ gối cúi đầu chào.
Ôi lạy chúa tôi.
“Mấy người giỡn hay thiệt vậy nè,” Mal lầm bầm.
Tôi đã từng săn một con hươu thần thoại. Tôi đã đeo vảy của rồng băng trên cổ tay. Tôi đã thấy bóng tối nhấn chìm toàn bộ thành phố. Nhưng đây là điều lạ lùng nhất tôi từng được chứng kiến. Đây ắt phải là một mánh lới nữa của Sturmhond, một trò lừa có thể khiến tất cả chúng tôi mất mạng.
Tôi nhìn gã thuyền trưởng chòng chọc. Có thật là thế không? Tôi chẳng thể động não được. Tôi quá kiệt sức, quá mệt mỏi bởi nỗi sợ và kinh hoàng. Tôi cố lùng sục trong trí nhớ về chút thông tin mình biết về hai người con trai của đức vua Ravka. Tôi đã gặp qua đại hoàng tử ở Tiểu Điện, nhưng em trai anh ta đã mấy năm rồi không xuất hiện trong triều đình. Nhị hoàng tử được cho là đang theo học một nhà làm súng hay nghiên cứu kỹ thuật đóng thuyền ở đâu đó.
Hoặc anh ta đã làm cả hai.
Tôi thấy chóng mặt. Sobachka , Genya đã gọi nhị hoàng tử như thế. Cún con. Anh ta kiên quyết thực hiện nghĩa vụ quân sự trong bộ binh.
Sturmhond. Storm hound. Con Sói của Biển.
Sobachka. Không thể nào. Không thể nào đâu.
“Đứng dậy,” Sturmhond - hay hoàng tử gì đó - ra lệnh. Thái độ của anh ta dường như đã thay đổi.
Quân lính liền tuân theo và đứng chờ lệnh.
“Ta đã lâu không về nhà,” gã thuyền trưởng cất giọng oanh oanh. “Nhưng lần này ta mang theo chiến lợi phẩm.”
Gã bước sang một bên, rồi giơ tay ra hướng về phía tôi. Mọi người đều quay lại, chờ đợi, nôn nóng.
“Những người anh em,” gã nói, “Ta đã đưa Tiết Dương Sư trở lại Ravka.”
Tôi không kiềm được nữa. Tôi quay sang đấm thẳng vào mặt gã.