Cuộc săn người đổi sang chiều hướng khác, về phía Okehampton và Ashburton, dọc theo rừng Somerset. Người ta lục soát những xe lửa đi về Luân Đôn và báo cho các chủ tiệm trong làng biết để canh chừng. Sự vượt ngục của tên tù nhân như một luồng tai họa đến Darkwater. Bà con trong làng, lúc đầu có vẻ không ưa bà già người Hoa bây giờ lại có cảm tình với bà, cũng hơi trễ. Họ đã xếp đặt cho bà được chôn cất trong thánh địa của làng, giữa mộ của ông Doseph Briggs, người kiếm củi đáng kính và bà Martha Turd, một bà già một trăm tuổi đã chết cách đó vài tuần.
Không thể báo cho gia đình bà ở Thượng Hải biết được vì không ai biết địa chỉ. Phải chờ ông Hamish Barlow đến coi ông ta có cho biết được gì không. Phanny có cảm tưởng kỳ lạ là Adam Marsh cũng có thể làm sáng tỏ vấn đề này. Nhưng con người của Adam Marsh cũng còn bí mật như gia đình bà Ching Mei, và sự buồn thảm ở Darkwater khó mà đánh tan được.
Cũng hơi lạ là cái buồn đó lan cả đến Amélia. Cô ta có vẻ bực bội và trầm lặng. Bình thường cô rất ồn ào và nói nhiều. Bà Arabella không thể không để ý đến sự thay đổi ở hai cô gái, và, tuy rằng bà cũng chấp nhận sự thay đổi sự nhạy cảm đó, nhưng kết cuộc nó đã làm bà bực mình.
- Louisa, - có một ngày bà nói, - hai đứa con gái này nó cần uống một liều thuốc “đại hoàn” hoặc thay đổi không khí. Sao con không dẫn chúng đi Luân Đôn một, hai tuần? Mẹ sẽ nói với Edgar, nếu con muốn.
- Cám ơn mẹ, nhưng con cũng có thể nói với chồng con. Dù sao, không cần hỏi ông ấy. Ông đã chấp thuận cho chúng con đi mua sắm ở Plymouth.
- Phanny có được đi Plymouth không? – Bà Arabella hỏi.
- Nếu nó muốn, - thím Louisa trả lời cụt ngủn.
Nhưng Phanny không mong được đi. Nàng không thể bỏ hai đứa bé. Nàng không hiểu tại sao, nhưng nàng có linh cảm rằng thảm kịch xảy ra làm bà Ching Mei chết đi sẽ lan đến chúng nó…
Thím Louisa và Amélia đã đi cùng với ông Trumble trên xe ngựa và chỉ trở về khi trời sắp tối, mang về nào là vải sca thêu, hàng ny lông, vài sọc tơ, cũng như những đồ để kết nón, ruy băng, lông và giấy thắt, và với một áo choàng cổ bằng lông trắng với cái mũ cùng thứ lông cho Amélia. Hai đứa bé cũng không bị bỏ quên. Chú Edgar muốn rằng, chúng phải được ăn mặc cho hợp với hoàn cảnh chúng ở đây: một áo măng tô, một cái nón, quần dài, áo ren và một đôi giày đen có nút cho Nolly. Còn Marcus thì có một bộ đồ lính thủy với một cái nón và một cái còi.
Phanny cũng được một xấp vải soa để may áo dạ vũ. Amélia giải thích, vì cô đã vui vẻ trở lại và nói liên miên:
- Tôi mong rằng chị sẽ thích xấp vải soa này, mẹ và tôi đã tốn nhiều thời giờ để chọn nó. Và lần sau đi Plymouth, chị phải đi theo để đến cô Egham, cô thợ may để cô ấy đo cho chị. Bà Mowatt chắc chắn rằng cô ấy may rất khéo. Cô ấy còn may cho cả bà Bá tước Denvonshire. Sang chứ? Chị có thấy không? Chúng ta sẽ đi Plymouth thường xuyên, và tuy không bằng Luân Đôn, nhưng cũng còn đỡ hơn là ở vùi nơi đây. Cô Egham có cho đem về vài kiểu áo. Chị muốn xem không?
- Để khi khác. – Phanny vô tư trả lời.
Nàng công nhận là thím Louisa và Amélia đã làm được nhiều việc về cái áo dạ vũ của nàng. Vải soa màu hồng thẫm, thay vì màu sáng chói, nó sẽ làm nổi bật mớ tóc đen và làn da tươi tắn của nàng…
Marcus thích thú trong bộ quần áo lính thủy của nó.
- Nó có vẻ thích bộ đồ đó lắm. – Phanny nói.
- Nhưng bà Ching Mei sẽ không thích đâu. Bà không muốn chúng em mặc áo quần gì khác ngoài đồ bà may cho chúng em… - Nolly để ý.
Thật đúng! Bà Ching Mei lúc nào cũng có vẻ hãnh diện khi giặt và ủi quần áo cho hai đứa bé, nhưng làm sao giải thích cho một đứa bé quá khôn lanh rằng thời gian không thể ngừng lại, quần áo phải hư mòn, và phải được may qua tay người khác? Rằng bà Ching Mei sẽ không bao giờ trở về… Thật khó tin rằng Nolly mới sáu tuổi, nó có thể đoán được chuyện gì xảy ra và giữ một mình nó biết. Nhưng trên gương mặt nhỏ quá nghiêm nghị có vẻ chấp nhận, và nó không bao giờ khóc. Trái lại, nó có những cơn giận kỳ lạ, như hôm nó không kiếm ra những hòn bi của nó.
- Bi gì? – Phanny kiên nhẫn hỏi. – Dora, em có thấy những hòn bi của cô Nolly không?
- Em chưa bao giờ thấy chúng, thưa cô.
- Nhưng em cũng phải biết là có chứ?
- Ai cũng biết cả, - Nolly vừa nói vừa dậm chân, đôi mắt long lanh giận dữ. – Chúng ở trong cái bao nhỏ mà bà Ching Mei may, và chúng em thường chơi với chúng. Phải không Marcus?
- Gì? – Marcus hỏi.
- Có phải ta hay chơi bi không, đồ ngốc!
- Lâu lắm chúng ta không chơi nữa, - Marcus để ý. – Bi đâu hết rồi?
- Em không hiểu gì cả! Đó là chuyện chị đang nói với chị Phanny.
Sự mất mát những hòn bi, dù cho chúng là thứ gì, không phải là lý do để giải thích nỗi lo sợ trên gương mặt Nolly…
Phanny đã tránh nguy cơ bằng cách đề nghị hai đứa bé đi dạo chơi một vòng.
- Chúng ta ra làng chơi, và chị sẽ chỉ cho các em nhà thờ mà các em sẽ mặc quần áo đẹp đi lễ chủ nhật…
---❊ ❖ ❊---
Buổi chiều đã gần tàn và mặt trời đã ra khỏi những khung cửa kính cao của nhà thờ, chìm trong bóng tối mập mờ. Phanny từ từ đi lên dọc con đường nhỏ giữa hai hàng ghế, hai đứa bé rón rén đi theo.
- Cái gì vậy, chị Phanny? – Marcus chợt hỏi nhỏ.
Phanny quay lại. Marcus đưa ngón tay chỉ cái mộ của ông cố Davenport, người được coi như đã cất Darkwater – ông Hugo Davenport, sinh năm 1521, chết năm 1599 – ông ta nằm đó, thật dài và thật ốm, khắc trong đá trắng, mang giày nhọn, râu quai nón, mũi dài bị mòn vì thời gian. Bà vợ của ông, bà Elisabeth, nằm kế bên ông. Chân họ đặt trên một con chó, con vật trung thành đã không rời họ, lúc chết cũng vậy. Marcus để ý con chó hơn cả.
- Em muốn có nó, - Marcus nói.
- Em không lấy được, nó bị dính ở đó. – Nolly giải thích.
- Đó là đài kỷ niệm, - Phanny cắt nghĩa. – Để người ta luôn luôn nhớ rằng tại đây khi xưa đã sống một ông tên Hugo Davenport và vợ ông – là bà Elisabeth và họ có một con chó trung thành. Em muốn người ta để dưới chân em con gì?
- Khi ta sẽ chết à? – Nolly lắp bắp, sửng sốt vì ý nghĩ đó không thể có đối với một đứa bé sáu tuổi như nó.
- Chị thích một con chim bồ câu, - Phanny nói.
- Và em một con công! – Marcus la lên.
- Còn em, Nolly?
Nolly ngước chiếc cằm nhỏ bướng bỉnh lên.
- Nhưng em đâu có chết!
Có ai vừa mở cửa nhà thờ. Cánh cửa kêu cọt kẹt, và một tia nắng rọi dưới nền đá lót. Rồi cánh cửa lại đóng lại nhẹ nhàng và Phanny thấy một người đàn ông đang đứng gần cửa. Gương mặt ông ta còn trong bóng tối, nhưng trông dáng dấp ông ta có gì quen thuộc… Tại sao ông ta lại đứng ở đó như hy vọng ràng sẽ không bị thấy?
Marcus kêu lên một tiếng nhỏ trong khi Phanny nắm chặt lấy bàn tay bé nhỏ của nó.
- Chị Phanny, - Nolly thỏ thẻ, - có một ông đang nhìn chúng ta.
Phanny bước nhanh tới, hai đứa bé hai bên. Nàng hy vọng đến tới cửa trước khi những tiếng đập của tim nàng làm nàng không nói được nên lời… Nàng nhất định… Vâng, nàng đã chắc chắn… Nàng đưa tay ra thật duyên dáng và thoải mái:
- Ông Marsh đây mà! Cuối cùng ông cũng đến Darkwater?
Nàng tưởng đã nhớ mỗi nét trên gương mặt ông ta, nhưng nàng thấy rằng nàng đã quên vẻ cứng rắn của chiếc cằm, vẻ kỳ lạ của đôi mắt khi ông ta thôi nhìn nàng để quay về phía hai đứa bé với vẻ bất ngờ, lý thú. Và một câu hỏi thoáng trong đầu Phanny: Ông ta đã đến đây từ khi nào mà không ai biết?
- Cô Davenport! – Ông ta nắm mạnh tay nàng – Và cô Oliver! Và cậu Marcus! Tôi hy vọng sẽ gặp hai cô và cậu ở đây. Hình như tôi cũng đã thấy hai cô và cậu vào nhà thờ.
- Chúng cháu đang nhìn người đàn bà chết. – Marcus giải thích.
- Người đàn bà chết? – Ông Marsh lập lại, trong khi Phanny ra dấu cho ông ta hiểu đừng nói đến tên bà Ching Mei, nếu có ai đó đã cho ông ta biết chuyện ấy.
- Phải, cái bà trên cái hộp đàng kia. Bà ấy có con chó, bà đạp dưới chân.
- Bà ấy không có đạp, Marcus – Nolly trách thằng em. – Bà ấy chỉ đặt chân lên. Và, nó cũng muốn như vậy. Đó là một con chó trung thành. Chú muốn coi nó không, chú Marsh?
- Rất muốn.
Nhóm người lại trở về phía mộ ông và Davenport và, trong khi hai đứa bé chạy trước, Phanny giải thích thật mau, giọng thấp xuống, với nước mắt đọng trên mi.
- Bà Ching Mei! Tôi không biết ông có nhớ bà ấy không, đã chết…
- Tôi biết. Người ta đã cho tôi biết ngoài làng.
Bàn tay ông ta vừa đụng tay nàng thì hai đứa bé đã gợi sự chú ý của họ. Nhưng cử chỉ đó đã an ủi nàng đến tận đáy lòng và, hơn bao giờ hết, nàng không kềm được không khóc.
- Chú Marsh, chú có đến thăm chúng cháu không? – Nolly đã lấy vẻ đàng hoàng và lễ phép khi hỏi câu đó. – Bà Ching Mei đã bỏ đi, làm chúng cháu rất buồn, nhưng chúng cháu được quần áo mới và rất nhiều đồ chơi.
Ông Marsh nghiêng mình.
- Tôi hy vọng như vậy, cô Nolly. Tôi đã nghĩ từ hôm chúng ta tạm biệt nhau ở Luân Đôn. Đó là một ngẫu nhiên lý thú, phải không cô Davenport, vì nó đã làm cho tôi có thể giúp hai du khách nhỏ bé này mới đặt chân lên một xứ xa lạ.
Ông ta phải hiểu rằng nàng đã biết từ lúc đó, rằng ông ta không phải là nhân viên của Công ty Hàng hải, và ông ta phải giải thích cho nàng biết điều đó. Nhưng sự việc đã đến quá trễ. Tại sao ông ta không nói cho nàng biết ngay và tránh cho nàng không phải khó chịu khi trao tiền cho ông ta? Ý nghĩ đó làm Phanny đỏ mặt vì tức giận.
- Ông thật quá tử tế, ông Marsh – nàng xẵng giọng, - Nhưng việc đó đã làm chúng tôi thắc mắc, chú tôi và tôi. Ông có thể cho chúng tôi biết danh tánh ông sớm hơn một chút!
- Danh tánh tôi? – Ông ta cười nói như vậy. Vẻ ngạo mạn mà nàng tưởng đã đọc trong ánh mắt ông ta khi nãy đã biến thành nét tinh nghịch. – Tôi là ai? Có lẽ là một du khách đang đi tìm một mái nhà… Giống như Nolly và Marcus. Có lẽ vì thế mà tôi có cảm tình với chúng. Tôi thành thật xin lỗi đã làm cô hiểu lầm. Tôi sẽ mạn phép đến tạ lỗi với chú cô một ngày gần đây.
- Một ngày gần đây? – Phanny lập lại thật nhanh, tức mình vì đã lộ trong giọng nói của mình một tia hy vọng.
- Tôi đã nói với cô rằng tôi rất thích đồng hoang. Tôi định ở đây vài tuần nữa. Và có lẽ sẽ ở lâu hơn, nếu tôi kiếm được một căn nhà như ý muốn.
- Ông… ông sẽ sống ở đây?
- Tôi vừa nói với cô, cô Phanny, rằng tôi là một du khách đang tìm một tổ ấm. Tôi đã đi quá nhiều khi còn trẻ, nhưng bây giờ tôi muốn ở một chỗ. Có thể chú cô sẽ giúp tôi được việc này. Cô thấy, tôi có thể đến thăm ông ta chiều mai không?
- Tôi nghĩ rằng… vâng, tôi chắc rằng được lắm. – Phanny cảm thấy nàng hành động như một cô học trò, còn hơn Amélin nữa – chú sẽ rất vui vì sẽ không còn thắc mắc về ông nữa.
“Và cô nữa!” ánh mắt ông ta nhìn nàng như hỏi câu đó.
- Và bây giờ, tôi có thể đưa cô và hai đứa bé về một đoạn đường không? – Ông ta đề nghị.
- Ồ, không nên, tôi xin ông… Tôi nghĩ rằng ông nên đến… thăm chúng tôi cho đúng lễ…
- Tùy cô, cô Phanny. Chúng ta sẽ gặp lại nhau, lẽ dĩ nhiên. Và, chúng ta sẽ nói chuyện…
Chắc ông ta muốn nói đến cái chết của bà Ching Mei. Tất nhiên, ông ta muốn biết chuyện đó, vì ông ta rất chú tâm đến bà ta đến độ nói chuyện với bà bằng tiếng nói của xứ bà. Nhưng có phải là sự ngẫu nhiên khi ông ta đến ngay sau cái chết của bà không?
Chỉ sau khi giao hai đứa bé cho Dora và lên phòng riêng để thay quần áo xuống ăn cơm, nàng mới để ý đến cách ăn mặc của mình, chiếc áo bằng vải của nàng bị vá hai chỗ, áo choàng khoác trên vai là chiếc áo cũ nhất của nàng và nàng đội một cái khăn cũ trên đầu. Nàng không có vẻ gì là một cô gái nhà giàu cả. Lần này, người ta có thể lầm nàng là một cô đầy tớ. Khi nhìn thấy đôi má hồng của nàng trong gương Phanny mỉm cười vui sướng. Điều đó đã giúp nàng không phải khó chịu để giải thích cho ông Marsh hoàn cảnh của mình. Bây giờ chắc ông ta cũng thắc mắc nhiều về nàng cũng như nàng đã thắc mắc về ông ta!...