Darkwater… tên đó đã được đặt cho ngôi nhà vì màu sắc tối tăm của những vũng nước còn đọng lại từ thế kỷ trước. Đất nâu, trời thấp và có khi xám làm cho nước có vẻ gần như đen. Từ khi người ta tắt nước đi, bồn cỏ nghiêng nghiêng đã trở nên màu xanh lá cây lợt, những cái hồ lấp lánh dưới những cây tùng và cây dẻ có chiều hướng chuyển thành màu đá đen khi trời tối
Chiếc cầu treo đã mất, nhưng mặt trước nhà theo kiểu xưa đã bị trầy theo thời gian, những cửa kính hình thoi, và những hàng ống khói với những hình dáng cong queo vẫn còn đó. Một sự sửa chữa đã được làm ở đầu thế kỷ, nhưng người ta vẫn còn giữ lại những ống khói, những bậc thang hình con ốc, những trần nhà bằng gỗ chạm trổ và hành lang nhỏ dành cho những người hát dạo trời Trung cổ xung quanh cái bàn ăn dài.
Có tất cả 20 phòng ngủ, không kể những phòng dành riêng cho đầy tớ dưới nhà. Ngôi nhà và vườn hoa nấp giữa những đồi núi. Đồng hoang chỉ được thấy ở những cửa sổ trên lầu. Gió thổi từ cửa sổ vào nhà tạo nên những tiếng kêu lắc rắc.
Chỉ vào mùa hè chỗ ở mới có vẻ hiền lành. Những hình dáng khắc khổ của những cây dẻ nấp dưới hàng cây xanh rậm, hoa dại màu vàng đong đưa bên bờ hồ và mặt nước in những đám mây chạy trốn. Mặt trời đi ngang qua những cửa kính hình thoi và gió đã mất đi âm thanh ai oán của nó.
Nhưng vào mùa đông thì cảnh tượng lại hoàn toàn khác lạ. Những cây trong sân vườn đã trống trơn và trụi lá. Mây và sương mù như bay trên mặt đất. Ngôi lều kiểu Trung Quốc, cất cùng một lượt bởi cùng một ông Davenport lúc sửa nhà, có vẻ man rợ và kỳ cục với lớp sơn đỏ và vàng đã tróc hết nước sơn và hỏng theo thời gian. Gió đập mạnh vào cửa sổ, những chiếc màn treo nặng nề từ từ cất lên. Củi được đun cả ngày lẫn đem trong lò cao của phòng lớn và lửa cũng được giữ thường trực ở các phòng khác. Nhưng một khi màn các cửa sổ được buông xuống và đèn được thắp lên, các phòng có vẻ ấm cúng đến ngưới yếu bóng vía nhất cũng có thể lầm. Cũng có khi một chị người làm sợ sệt làm đổ nước hay một xô than trong hành lang vì bỗng dưng chị nghe một tiếng kêu hay một bức màn căng lên. Hoặc vì gió đã làm tắt ngọn nến của nó. Amélia lại níu áo Phanny. Phanny còn nhớ đã đi lộn vào một căn phòng hòan toàn lạ có kê một cái giường trên đó có một vật đen nằm ngang. Nàng đã khóc nức nở vì sợ khi một chị giúp việc đã tìm thấy nàng.
- Có một người nằm trên giường! - Phanny nói trong tiếng nấc.
Chị người làm đã đưa cao cây nến của chị. Ngọn nến chập chờn soi rõ chiếc mền và hình dáng dài của một chiếc gối ôm. Giường trốn trơn
- Cô thấy có ai đâu? Phòng này không có ai ở từ nhiều năm nay, từ lúc tôi mới đến làm ở đây. Cô thật đã quá sợ. Nhưng chị giúp việc cũng không lớn hơn Phanny bao nhiêu cũng sợ. Phanny đoán qua sự rung rinh của cây đèn khi chị cầm ở tay. Hai người đã ù chạy trong hành lang và kiếm được đúng lối quẹo vào phòng Phanny, một cái phòng nhỏ gần phòng Amélia và phòng trẻ. Bắt đầu từ lúc đó, Phanny thường nghe những tiếng động kỳ lạ do gió mang tới, tiếng người nói, tiếng cười và có cả tiếng chân đi.
Nhưng cũng do lỗi bà Arabella bà những chuyện khó tin mà bà hay kể cho các trẻ trước khi chúng đi ngủ. Bà ta bắt đầu bằng một chuyện cổ tích vô tư, và khi chúng đã bị thu hút hoàn toàn, câu chuyện đã khéo léo trở nên rùng rợn. Bề ngoài ôn hòa, điềm tĩnh và mập mạp của bà làm không khí thêm căng thẳng. Riêng đôi mắt bà có một ánh sáng kỳ lạ, đôi mắt một con sói trong cái đầu vô tội của một con cừu.
Rồi Amélia đã khóc ngất lên và người ta phải dỗ cô nàng bằng những trái mứt mận. Phanny không bao giờ khóc. Có một lần, nàng đã bịt cả hai tai lại và bà Arabella đã cười rất khoái chí. Nhưng phần nhiều nàng có vẻ muốn nghe, như bị mê hoặc. Nàng không bao giờ có thể ăn phần mứt mận của mình khi đến đoạn cuối, và bỏ nó vào túi áo để thưởng thức vào lúc yên tĩnh hơn.
George, vì là con trai và lớn nhất, không bao giờ sợ hoặc tinh thần bị giao động. Nhưng, bây giờ, vì sức khỏe yếu đi sau khi bị thương ở đỉnh đầu lúc đi lính, anh hay có những cơn ác mộng, nhưng cũng có khi anh ta la hét vì thấy những quần áo từ trong tủ đi ra một mình giữa đêm khuya.
Bây giờ Geogre đã quá lớn để được an ủi bằng mứt mận. Anh có giữ một chai rượn cô- nhắc thường xuyên bên đầu giường. Đó là cách trị bệnh do bác sĩ khuyên.
Khi ông Edgar được thừa hưởng Darkwater, ba năm sau khi ông lấy vợ, bà Arabella đã đến đó ở. Bà muốn rời cái nhà quá nhỏ mà hai vợ chồng trẻ đã sống lúc trước ở Dorset, và bà đã không muốn con gái bà lấy một thanh niên mà bà cho là quá tầm thường. Bà là con gái của một bá tước, và bà nghĩ rằng Louisa phải kiếm được một ông chồng khá hơn nhiều. Nhưng Louisa không đẹp và, vì chồng bà đã phá tiêu tan tài sản của bà trước khi chết vì rượu, nên những cái may của Louisa để kiếm được một người chồng bị ảnh hưởng rất nhiều. Ở lứa tuổi 23, cô đành an phận chấp nhận Edgar như cái may cuối cùng của cô. Và tuy anh ta ít nói với vẻ bề ngoài ít nổi, anh cũng là một chàng trai dễ thương và vui vẻ, không bê bối như cậu em. Cuối cùng thì anh ta tỏ ra là một mối rất khá vì, khi ông chú của anh ta ở Devon qua đời, để lại cho anh trang trại Darkwater, anh đã trở nên giàu có hơn anh tưởng
Darkwater, ông tuyên bố, không thể vào tay người lạ. Vợ ông làm khó, khi bà thấy Darkwater đầu tiên lúc giữa mùa thu. Bà thấy vẻ bề ngoài tối tăm và hơi dễ sợ. Lá rụng và mây bay thật thấp trên trời. Trong nhà không được giữ gìn chu đáo, vì ở đó một ông gia độc thân ham học sống một mình suốt tám chục năm trời. Louisa không khỏ rùng mình. Có lẽ vì lúc đó bà đang có thai Amélia và việc sinh đẻ của bà lúc nào cũng khó khăn
Nhưng ông Edgar đã không hỏi ý kiến của vợ. Ông là chủ và quyết định là do ông. Ông đã tính từ khi biết tin ông chú ông mất.
Vì thế trước khi Amélia ra đời, cả gia đình đã dọn đến ở Darkwater. Bà Arabella đã theo họ. ‘Đó là một chuyện thường khi người mẹ ở bên con gái mình những lúc tương tự’. Bà nói. Cái nhìn cận thị vô tội của bà không để cho ta thấy những gì bà nghĩ, nhưng thật rõ ràng là khi đi bà đã coi Darkwater như chỗ ở xứng đáng cho một người dòng dõi quý tộc như bà. Và vì bà có dự định ở đó luôn cho đến ngày cuối cùng của cuộc đời.
Chú Edgar đã trở nên một người giàu sang phú quý thật mau chóng. Chuồng ngựa của ông có những con ngựa tốt nhất và trong nhà có nhiều đầy tớ giỏi nhất. Các nông dân đã vui vẻ đón tiếp ông như một ông chủ mới có vẻ biết lo cho đời sống của họ. Cũng như nhà thờ trong làng cũng cần được sửa chữa lại. Và cuộc sống buồn tẻ trong vùng cần có một nguồn sống trẻ trung mới. Bà Arabella cũng bị thu hút bởi vẻ duyên dáng và hoang dại của Darkwater. Sương mù làm bà phấn khởi, bà thích những hình dáng trụi lá của cây cối đong đưa trước gió.
Bà đã dành hai phòng lớn trên lầu riêng cho mình bà sử dụng. Theo thời gian, hai căn phòng như có vẻ hẹp lại vì bà để quá nhiều đồ đạc. Người ta thấy đáng chú ý nhất là một bức tượng bằng đá của mẹ bà, bà bá tước Daleston cao bằng người thường và được khoác bở một cái áo choàng Ai Cập. Trong bóng tối, khi các người giúp việc chưa có thắp đèn lên, bức tượng có hình dáng đáng sợ, như có người trong phòng. Nó còn có vẻ khiếp đảm hơn khi bà choàng lên vai nó một trong những khăn choàng của bà hoặc đội lên đầu nó cái mũ làm vườn của bà.
Người ta còn có thể thấy những bàn nhỏ, những vật trang trí, dưới những bức tranh, nhiều ghế thấp, cả đống vỏ sò ốc và cá khô dưới một cái chuồng bằng thủy tinh, một quả địa cầu lớn mà bà hay chỉ cho các trẻ thấy ranh giới nước Anh, một lồng chim trống không, có vẻ rùng rợn từ khi còn két của bà chết, những màn che với lông lá và dây nhợ nặng nề, những gương soi có khung vàng, những thùng cây đầy các thứ vật kỳ lạ nhất và ở giữ phòng, cái ghế dài mà bà hay nằm để may vá thêu thùa hằng ngày hoặc đọc sách lịch sử. Bà rất thích những câu chuyện lịch sử hay phong tục cổ xưa trong vùng.
Bà cũng thường nằm trên ghế với chú mèo Ludwig trên đùi.
- Các con biết tại sao ta đặt tên nó là Ludwig không? – Bà hỏi các trẻ đang bu quanh bà – Vì khi xưa bà rất yêu một người đàn ông tên đó. Phải, các con có thể mở to mắt ra mà nhìn bà. Đó là một ông hoàng tử người Đức. Ông có râu như vầy… - Bà phùng má lên và vuốt râu tưởng tượng…- Nhưng cha mẹ ông không cho phép ông đáp lại tình yêu của bà. Và, dù sao, bà chỉ mới mười sáu tuổi, còn quá trẻ. Bây giờ, bà chỉ còn có con mèo để yêu thương bà…nếu đứa nào trong các con không yêu bà?
-Ồ, có, thưa bà, con yêu bà, con yêu bà!
Và lúc nào cũng là George, cháu cưng của bà, là bà Arabella thương nhất. Nhưng chỉ có Ludwig, con mèo đen to lớn đó, với vẻ ngạo mạn, mới có quyền được ngồi trên đùi bà và cọ đầu vào người bà. Phanny chắc chắn rằng đó chính là ông hoàng tử Đức đầu thai lên.
Bà Louisa không ngừng nhăn nhó từ khi họ đến Darkwater. Cuối cùng, mặc dù hay khuyên bà nên tiết kiệm nhưng chồng bà cũng tìm cách tặng bà một cái áo choàng bằng lông sang trọng. Và bà Louisa đã khám phá ra là không có gì làm ấm lòng bà bằng một món quà có giá trị. Bà sẽ làm sao cho chồng bà không quên điều đó.
Khi Phanny - một đứa bé còn nhỏ dại và khó khăn đến – bà Louisa đã chấp nhận rằng một miếng mề đay nhận hột xoàn mới làm bà chịu đựng được sự hiện diện của đứa trẻ mới đến. Năm tháng trôi qua, nhiều biến động khác đã được bù đắp bằng những món quà khác: những vật nhỏ, một cái nón mới, vải vóc may áo. Ông Edgar Davenport là một ông chồng rộng rãi. Hay đúng hơn, ông muốn được yên thân.
Không cần phải nói là bà Louisa đang tính cái giá mà bà sẽ ra khi chấp nhận những đứa trẻ mồ côi từ Thượng Hải đến. Giá này e sẽ hơi cao, vì tình hình đã trở nên quá lố bịch, cứ tưởng như tất cả họ hàng ông Edgar cứ chết như ruồi để con họ lại cho ông nuôi. Chấp nhận ba đứa bé nghèo khổ trong một đời chồng là một chuyện không có gì là thú vị cả. Nhưng vì lo lắng sức khoẻ của George, và việc bước vào đời lần đầu tiên của Amélia, nên trong tim bà Louisa Davenport không còn chỗ và thời giờ cho những đứa trẻ xa lạ đó.
---❊ ❖ ❊---
George đã chờ nàng chỗ quẹo cầu thang sau khi Phanny thay quần áo trở xuống. Anh ta nhào về phía nàng và nắm lấy tay cô gái. Nàng giật mình. Nàng không thấy anh ta trong bóng tối. Anh ta đưa tay nàng lên môi và hôn nó say đắm. Phanny tìm cách rút tay về, nhưng chỉ rút ra được khi anh thả nó ra. Anh ta nắm thật chặt.
- Tôi muốn George đừng làm như vậy nữa. Thật là bậy, và tôi không thích.
- Bậy sao? – Anh ta lắp bắp vì mất trớn.
George rất đẹp trai, người cao, vai rộng. Khi đi lính, anh có dáng người rất oai trong bộ quân phục. Nhưng bây giờ, tuy anh không bị tật gì, thân thể cao lớn của anh có vẻ hơi khập khiễng, ánh mắt anh từ trạng thái lưỡng lự và đau đớn trở nên cuồng nhiệt khác thường. Những hành động của anh người ta không đoán trước được. Có khi anh sai tên bồi đem ngựa ra cho anh cưỡi chạy ra đồi giữa đêm khuya, hoặc anh vừa đi trong các hành lang vừa gọi mọi người, hầu có ai để nói chuyện.
Các bác sĩ đồng ý, là anh cần phải dưỡng bệnh một thời gian dài. Sau đó anh có thể sống một cuộc sống bình thường, không làm cho anh mệt nhọc. Binh nghiệp của anh đã chấm dứt, nhưng không có gì cản trở anh lấy vợ.
- George! - Mẹ anh gắt gỏng gọi anh dưới cầu thang. Bà kêu Georgo nhưng sự bực tức là dành cho Phanny. Bà tức vì sự gắn bó của con trai bà với Phanny, và cho rằng chính Phanny là thủ phạm. Khi người ta muốn, thật dễ dàng để làm tan sự nhiệt tình của một chàng trai. Phải tưởng rằng Phanny không muốn như vậy, vì dù sao, George cũng là một mối tốt.
- George! Tomkin đã chờ con với ngựa nửa tiếng đồng hồ rồi. Nó bảo là con đã dặn lúc mười một giờ. Đừng để con vật chờ lâu tội nghiệp.
- Ồ, trời ơi! Con quên… - George lắp bắp trả lời. – Thôi, chào Phanny. Chúc cô đi vui vẻ. Đừng đi lâu quá, mọi người sẽ nhớ cô.
Vậy mà có lẽ là lần cuối cùng nàng thấy mặt anh ta! Ý nghĩ đó thoáng qua trong đầu nàng và nàng quên đi thái độ của George vừa rồi để chỉ nghĩ nàng đã coi anh ta từ xưa đến giờ như một người anh.
- Chào George, - nàng thân mến nói. – Anh ráng giữ mình nhé.
George sung sướng đưa tay ra chào. Mẹ anh ta bực mình nói:
- Cháu chỉ đi có hai ngày thôi, Phanny, thím thấy không có gì có thể xảy ra cho Goerge , hay bất cứ ai trong nhà này trong thời gian đó.
- Có thể có bất cứ chuyện gì sẽ xảy ra bất cứ lúc nào – Bà Arabella nói vào, vừa đi ra khỏi phòng bà. – Hình như mẹ nghe con chim hồi tối …
Có một lần, khi nàng chưa đến mười tuổi, Phanny cũng có nghe tiếng con chim. Nàng đã đứng chết trân cả mấy tiếng đồng hồ sau khi tiếng kêu đã dứt. Con chim đó hình như bị kẹt trong một ống khói, theo người ta truyền lại, đó là một con chim màu trắng, tuy rằng ngày nó rớt xuống lò sưởi, mình dính đầy bồ hóng. Có thể đó là một con chim vọ, hoặc một con chim bồ câu. Hay theo người ta tưởng tượng, một con cò trắng mà đôi chân dài, bị mắc bẫy không thể thoát được. Đó là lý do vì sao có tiếng quật cánh và có tiếng kêu lớn như vậy. Ngày con chim mắc bẫy lại trùng hợp với cái chết của cô chủ trẻ ở Darkwater. Khi con chim bị rớt xuống lò sưởi, thì gương mặt người đàn bà trẻ trắng bệch, cũng rớt xuống chiếc gối.
Thời gian trôi qua, con chim bị tù túng đó cũng vẫn tiếp tục kêu một đôi lần. Và mỗi lần nó kêu là một điều xấu.
- Hồi tối có một cơn giông, mẹ à, - thím Louisa nói – Đó là những gì mẹ nghe thấy.
- Đó là do con tưởng tượng, - bà Arabella nói bằng giọng sầu thảm. – Nhưng con nhớ không, lần cuối cùng mà mẹ nghe nó, chúng ta nhận được tin của George sau đó…
Thím Louisa chặc lưỡi và bực mình nói:
- Trời ơi, mẹ! Thật là may vì chúng con không có óc tưởng tượng như mẹ, nếu con tin những lời tiên đoán xấu của mẹ, thì con đã chết vì sợ từ lâu rồi! Nhưng coi chừng các bục cấp, mẹ đi đâu vậy?
Bà già kéo áo lên và nhìn xuống cầu thang với đôi mắt cận thị của bà:
- Mẹ xuống từ giã Phanny, lẽ tự nhiên, tại sao mẹ không có quyền chia tay với nó chứ?
- Trước là George rồi bây giờ đến mẹ. Làm như Phanny nó đi lâu không trở về nữa!
Bà Arabella đã đến gần Phanny. Bà thở hổn hển, vừa nhét vào tay Phanny một gói nhỏ.
- Đây là những trái mứt mận, con gái yêu quý, để ăn lúc đi đường. Con nên dành một vài trái để dỗ hai đứa bé.
- Cám ơn bà, con xin cảm ơn bà nhiều. – Phanny nghe mắt nàng cay cay. Nhưng bà Arabella quá cận thị nên không thấy nàng khóc. Dù sao, bà cũng quay đi và bắt đầu leo lên bục cấp. Người bà thấp và mập với chiếc áo phồng to của bà, người ta không thể vượt qua mặt bà khi bà leo lên cầu thang.
Phanny không mong muốn bà quá tử tế với nàng như vậy. Sau Amélia nhờ nàng mua ruy băng rồi đến George năn nỉ nàng đừng đi lâu, bây giờ lại đến bà Arabella cho nàng quả để ăn lúc đi đường… Nhưng tất cả những chuyện đó không thể lay chuyển quyết định của nàng. Nàng sẽ không trở về Darkwater. Không bao giờ…
Bà Hannah đã xuất hiện với hành lý và chú Edgar đã nhanh nhẹn vào báo cho biết xe đã đến.
- À, như vậy phải tốt không? – Ông ta lên khi thấy Phanny mặc quần áo đẹp, cái áo choàng lông, đôi giày bóng loáng dưới cái áo soa, cái nón có dây buộc bằng nhung, tất cả đều biểu hiện một cô gái sang trọng – Con phải tỏ ra xứng đáng, con nhé, nếu không sẽ có người lợi dụng con… Bà Hannah!
Bà giúp việc bước tới trong bộ quần áo đơn sơ
- Dạ, thưa ông…
- Tôi hy vọng bà sẽ coi chừng cô Phanny, đừng để cô ấy làm gì quá đáng.
Môi bà Hannah mím lại. Ông chủ cũng phải biết rằng cô Phanny hay có những hành động bất ngờ. Nhưng bây giờ phải công nhận rằng nàng có vẻ là một thiếu nữ con nhà đàng hoàng nhất. Riêng bà, bà mong cho mau xong chuyến đi dễ sợ đó trên chiếc xe lửa chạy nhanh và đầy khói, và với những sự nguy hiểm đang chờ họ ở Luân Đôn, để được trở về nhà, trong sự yên tĩnh và đầm ấm của Darkwater.
- Phanny, Phanny! – Amélia chạy bay xuống cầu thang. - Tiền để mua ruy băng đây. Ba đã cho tôi. Chị nhớ nó bằng soa có sọc tơ nhé. Và, nếu không kiếm được đúng màu, chị lựa cho màu nào gần nhất nhé.
Hai má của Amélia hồng lên như ruy băng cô nhờ Phanny mua. Đó là một cô bé dễ thương nhưng hơi ngốc… Phanny miễn cưỡng đưa tay ra nhận tiền. Bà Hannah sẽ đem ruy băng về cho cô ta. Chú Edgar cười dễ dãi:
- Thiệt, con gái!
Thím Louisa mắng:
- Con và những cái tầm phào của con! Mẹ hy vọng rằng con cũng chú tâm đến những sách vở đàng hoàng mà cô Pheguson dạy con mỗi ngày… Thôi, Phanny. Ông Trumble sẽ không chờ được lâu hơn nữa.
Darkwater… Trong khi chiếc xe chạy xuống con đường nhỏ quanh co, Phanny vẫn dựa đầu ở cửa xe để đem đi hình ảnh cuối cùng. Mặt trời đã ra khỏi những đám mây, và ngôi nhà hiện ra như nàng thích nhất với những màu sắc ấm áp, những cửa sổ in nắng và khói toả ra từ những ống khói trạm trổ. Người ta có thể nói đó là một vật quý giá đặt trong một cái hộp có lót bằng những đồi cỏ êm ái. Màu sắc đỏ chót của những cây sơn lựu mọc hai bên đường nhỏ dẫn đến hồ nước. Những bồn cỏ như nhung – hai con công trống và mái phùng lông múa rối gần vườn hoa. Chim quạ kêu trong những cây du thụ đong đưa trong gió.
Phanny lấy khăn ra lau mắt, nàng không muốn bà Hannah thấy nàng khóc. Chính bà Hannah lúc trước hay kể cho các đứa trẻ nghe – và bà Arabella cũng chăm chú theo dõi - chuyện con chim trong ống khói. Bà biết được do bà gác dan cũ ở Darkwater đã làm việc ở đây bốn mươi năm kể lại.
Nhưng đó chỉ là một truyện cổ tích. Không ai tin nó lắm, luôn cả bà Arabella tuy rằng bà hay có nhiều ý kiến về nó.
Cũng có thể đó là một con chim từ trong một ống khói rớt xuống, một con én hay một con sáo. Nhưng không phải con chim màu trắng ác hại đó đã đem hung tin.
Tuy nhiên, có khi Phanny tự ví mình như con chim đó. Như nó, nàng cũng bị tù túng vì nghèo, mồ côi, không có khả năng sống một cuộc sống tự do và độc lập, vì một cô gái không nơi nương tựa không có chỗ đứng trên đời này.
Vì vậy nàng đã tính chuyện thoát thân. Trước khi như con chim, nàng sẽ chết ngộp trong cái không khí tù túng đó.
Hôm nay, nàng mến Darkwater. Nếu đó chỉ là một buổi sáng tối tăm và sầu thảm với những đám mây thấp và gió rền rĩ… Nhưng mặt trời sáng chói và nàng cảm thấy nàng và ngôi nhà màu hồng núp dưới ngọn đồi chỉ là một. Nàng đã sống ở đó không phải chỉ mười bảy năm, mà đã lâu rồi, từ mấy thế kỷ … Nàng sẽ thiếu Darkwater , như nàng đã bỏ lại một phần tim nàng ở đó.