Tổ tiên nước Sở xuất phát từ đế Chuyên Húc Cao Dương. Cao Dương là cháu nội của Hoàng Đế, con của Xương Ý. Cao Dương sinh ra Xứng, Xứng sinh ra Quyển Chương, Quyển Chương sinh Trùng Lê. Trùng Lê làm Hỏa chính[1] cho đế Cốc[2] Cao Tân, rất có công, có thể chiếu sáng cho thiên hạ, đế Cốc ban cho danh hiệu Chúc Dung. Cung Công thị làm loạn, đế Cốc sai Trùng Lê giết Cung Công thị nhưng không diệt hết. Ngày Canh Dần, đế Cốc bèn giết Trùng Lê, rồi lấy người em của Trùng Lê là Ngô Hồi làm người thừa tự cho Trùng Lê, lại giữ chức Hỏa chính, vẫn gọi là Chúc Dung.
Ngô Hồi sinh Lục Chung. Lục Chung sinh được sáu người con, đều do người phải bị nứt bị mổ mà sinh ra. Con trưởng là Côn Ngô; thứ hai là Sâm Hồ; thứ ba là Bành Tổ; thứ tư là Hội Nhân; thứ năm là Tào Tính; thứ sáu là Quý Liên, họ Mị, hậu duệ của ông chính là nước Sở. Côn Ngô thị, thời nhà Hạ từng làm hầu bá, thời vua Kiệt bị Thành Thang diệt. Bành Tổ thị, thời nhà Ân từng làm hầu bá, cuối đời Ân, Bành Tổ thị bị diệt. Quý Liên sinh Phụ Tự, Phụ Tự sinh Huyệt Hùng. Con cháu nửa chừng suy vi, có người ở vùng Trung nguyên, có người ở nước man di, không sao ghi chép được các đời.
Thời Chu Văn vương, con cháu của Quý Liên là Chúc Hùng[3]. Con của Chúc Hùng thờ Văn vương, mất sớm. Con của Chúc Hùng là Hùng Lệ. Hùng Lệ sinh Hùng Cuồng, Hùng Cuồng sinh Hùng Dịch.
Hùng Dịch vào thời Chu Thành vương, Thành vương cất nhắc hậu duệ của các bề tôi cần mẫn có công thời Văn vương và Vũ vương, rồi phong cho Hùng Dịch ở Sở Man, phong tặng ruộng đất cho con trai Hùng Dịch, lấy họ Mị, sống ở Đan Dương. Sở tử Hùng Dịch cùng Lỗ Công Bá Cầm, con của Vệ Khang thúc là Mâu, Tấn hầu Nhiếp, con của Tề Thái công là Lã Cấp đều phụng sự Thành vương.
Hùng Dịch sinh ra Hùng Ngải, Hùng Ngải sinh Hùng Thản, Hùng Thản sinh Hùng Thắng. Hùng Thắng lấy em là Hùng Dương làm người thừa kế. Hùng Dương sinh ra Hùng Cừ.
Hùng Cừ sinh được ba người con trai. Vào thời Chu Di vương, vương thất [nhà Chu] suy vi, chư hầu có nước không vào chầu, thảo phạt lẫn nhau. Hùng Cừ rất được lòng dân ở vùng Trường Giang và Hán Thủy, bèn dấy binh đánh nước Dung và Dương Việt, tiến đến tận đất Ngạc. Hùng Cử nói: “Ta là man di, không dùng tên hiệu, tên thụy của Trung nguyên.” Bèn lập con trưởng là Khang làm Câu Đản vương, con giữa là Hồng làm Ngạc vương, con út là Chấp Tỳ làm Việt Chương Vương, đều ở đất Sở Man phía trên sông Trường Giang. Đến thời Chu Lệ vương, Lệ vương bạo ngược, Hùng Cừ sợ [Lệ vương] sẽ đánh Sở, bèn bỏ vương hiệu.
Sau, người thừa kế là Hùng Vô Khang [con trưởng của Cừ], Vô Khang chết sớm. Hùng Cừ chết, con là Hùng Chí Hồng lên thay. Chí Hồng chết, [do] bị em trai giết rồi tự lập[4], đó là Hùng Diên. Hùng Diên sinh ra Hùng Dũng.
Hùng Dũng năm thứ sáu thì người Chu làm loạn, tấn công Lệ vương, Lệ vương chạy ra đất Trệ. Hùng Dũng năm thứ mười, chết, em là Hùng Nghiêm làm người thừa kế.
Hùng Nghiêm năm thứ mười, chết. Có bốn người con trai, trưởng là Bá Sương, thứ hai là Trọng Tuyết, thứ ba là Thúc Kham, út là Quý Tuẫn. Hùng Nghiêm chết, con trưởng là Bá Sương lên thay, đó là Hùng Sương.
Hùng Sương năm thứ nhất, Chu Tuyên vương mới lên ngôi. Hùng Sương năm thứ sáu, chết, ba em tranh nhau ngôi vị. Trọng Tuyết chết; Thúc Kham ra đất Bộc tránh nạn; còn em út là Quý Tuẫn lên ngôi, đó là Hùng Tuẫn. Hùng Tuẫn năm thứ mười sáu, Trịnh Hoàn công mới được phân phong ở Trịnh. Năm thứ hai mươi hai, Hùng Tuẫn chết, con là Hùng Ngạc lên thay. Hùng Ngạc năm thứ chín, chết, con là Hùng Nghi lên thay, đó là Nhược Ngao.
Nhược Ngao năm thứ hai mươi, Chu U vương bị Khuyển Nhung giết, nhà Chu dời đô sang phía đông, còn Tần Tương công bắt đầu được liệt vào hàng chư hầu.
Năm thứ hai mươi bảy, Nhược Ngao chết, con là Hùng Khảm lên thay, đó là Tiêu Ngao. Tiêu Ngao năm thứ sáu, chết, con là Hùng Thuấn lên thay, đó là Phẫn Mạo. Phẫn Mạo năm thứ mười ba, nước Tấn bắt đầu động loạn, nguyên cớ từ Khúc Ốc. Phẫn Mạo năm thứ mười bảy, chết. Em Phẫn Mạo là Hùng Thông giết con của Phẫn Mạo rồi lên thay, đó là Sở Vũ vương.
Sở Vũ vương năm thứ mười bảy, Khúc Ốc Trang bá nước Tấn giết vua nước mình là Tấn Hiếu hầu. Năm thứ mười chín, em trai Trịnh bá là Đoạn làm loạn. Năm thứ hai mươi mốt, Trịnh xâm chiếm ruộng đất của thiên tử. Năm thứ hai mươi ba, người Vệ giết vua nước mình là Hoàn công. Năm thứ hai mươi chín, người Lỗ giết vua nước mình là Ẩn công. Năm thứ ba mươi mốt, Thái tổ nước Tống là Hoa Đốc giết vua nước mình là Thương công.
Năm thứ ba mươi lăm, Sở đánh nước Tùy. Vua Tùy nói: “Ta không có tội.” Vua Sở nói: “Ta là man di. Nay chư hầu đều làm phản rồi xâm chiếm lẫn nhau, có khi giết nhau. Ta có giáp rách[5], muốn dùng để xem chính sự của Trung Quốc[6], đề nghị tương thất [nhà Chu] tôn tước hiệu cho ta.” Vì thế người Tùy đến Chu, xin tôn danh hiệu cho Sở, vương thất không nghe, về báo lại Sở. Năm thứ ba mươi bảy, Sở Hùng Thông giận nói: “Tổ tiên ta Chúc Hùng, là thầy của Văn Dương, mất sớm. Thành vương cất nhắc tiên công ta, lại ban ruộng đất cho con trai, khiến ra ở đất Sở, man di thảy đều thần phục, thế mà Chu Dương không gia tăng tước vị, ta tự tôn tước vị vậy.” Bèn tự lập làm Vũ vương, kết minh ước cùng người Tày rồi rút về. Sau đó bắt đầu khai mở đất Bộc rồi chiếm lấy.
Năm thứ năm mươi mốt, Chu vương triệu kiến Tùy hầu, trách về việc lập Sở làm vương. Sở giận, cho là Tùy phản bội mình, đánh Tùy. Vũ vương chết trong quân nên quân Sở bãi binh. Con [của Vũ vương] là Văn vương Hùng Ty lên thay, bắt đầu định đô thành Dĩnh.
Văn vương năm thứ hai, thảo phạt nước Thân, quân đi qua nước Đặng, người Đặng nói: “Sở vương dễ bắt”, Đặng hầu không cho. Năm thứ sáu, đánh nước Sái, bắt sống Sái Ai hầu đưa về, rồi lại thả đi. Sở hùng mạnh, lấn hiếp các nước nhỏ ở vùng sông Giang sông Hán, các nước nhỏ đều sợ. Năm thứ mười một, Tề Hoàn công bắt đầu xưng bá, Sở cũng bắt đầu lớn mạnh.
Năm thứ mười hai, đánh nước Đặng, diệt được nước Đặng. Năm thứ mười ba, [Văn vương] chết, con là Hùng Gian lên thay, đó là Trang Ngao. Trang Ngao năm thứ năm, muốn giết người em của mình là Hùng Uẩn, Uẩn chạy sang Tùy, cùng Tùy tập kích giết Trang Ngao rồi lên thay, đó là Thành vương.
Thành vương Uẩn năm thứ nhất, mới lên ngôi, ban bố ơn đức, kết giao với chư hầu từng giao hảo trước đây. Sai người dâng lễ vật cho thiên tử, thiên tử ban thịt tế, nói: “Hãy trấn phục phản loạn Di Việt ở phương nam ngươi, không được xâm phạm vào Trung nguyên.” Bấy giờ đất Sở rộng nghìn dặm.
Năm thứ mười sáu, Tề Hoàn công đem quân xâm lược Sở, kéo đến Hình Sơn. Sở Thành vương sai tướng quân Khuất Hoàn đem quân ngự địch, kết minh ước với Hoàn công. Hoàn công trách Sở nhận ơn huệ nhà Chu không vào triều cống vương thất, Sở đồng ý vào cống, [Tề] bèn rút quân.
Năm thứ mười tám, Thành vương đem quân lên phía bắc đánh nước Hứa, vua Hứa cởi trần tạ tội, bèn thả cho về. Năm thứ hai mươi hai, đánh nước Hoàng. Năm thứ hai mươi sáu, diệt nước Anh.
Năm thứ ba mươi ba, Tống Tương Công muốn chủ trì hội minh, triệu tập Sở. Sở vương giận, nói: “Triệu ta, ta vì danh nghĩa hữu hảo mà đến, rồi nhân đó khiến ông ta chịu nhục.” Bèn đi, đến đất Vu, liền bắt rồi làm nhục Tống Công, sau đó rút về. Năm thứ ba mươi tư, Trịnh Văn công xuống phía nam triều kiến Sở. Sở Thành vương lên phía bắc đánh Tống, đánh bại [Tống] ở sông Hoằng, bắn bị thương Tống Tương công, Tương công bị thương phát bệnh chết.
Năm thứ ba mươi lăm, công tử nước Tấn là Trùng Nhĩ qua nước Sở, Thành vương dùng lễ chư hầu để đãi tiệc, rồi dùng hậu lễ đưa tiễn sang nước Tần.
Năm thứ ba mươi chín, Lỗ Hy công đến xin phát binh để đánh Tề, Sở sai Thân hầu cầm quân đánh Tề, chiếm được ấp Cốc, an trí con của Tề Hoàn công là Ung ở đó. Bảy người con của Tề Hoàn công đều chạy sang Sở, Sở đều phong cho làm Thượng đại phu. Diệt nước Quỳ, vì Quỳ không thờ tự Chúc Dung và Chúc Hùng.
Mùa hạ, đánh Tống, Tống cấp báo với Tấn, Tấn cứu viện Tống, Thành vương bãi binh trở về. Tướng quân Tử Ngọc đề nghị xuất chiến, Thành vương nói: “Trùng Nhi lưu vong ở ngoài lâu ngày, rốt cuộc được trở về nước, trời khai mở cho, không thể chống lại.” Tử Ngọc cố đề nghị, Thành vương bèn giao cho một ít quân đi đánh. Quân Tấn quả nhiên đánh bại Tử Ngọc ở Thành Bộc. Thành vương giận, giết Tử Ngọc.
Năm thứ bốn mươi sáu, ban đầu, Thành vương định phong Thương Thần làm Thái tử, nói với Lệnh doãn Tử Thượng. Tử Thượng nói: “Nhà vua tuổi còn trẻ, lại sủng ái nhiều cung tần, [lập rồi] phế sẽ sinh loạn. Nước Sở thường lập người nhỏ tuổi làm Thái tử. Hơn nữa Thương Thần mắt ong giọng sói, tàn nhẫn với người khác, không thể lập được.” Thành vương không nghe, vẫn lập Thương Thần. Sau lại muốn lập con là Chức mà phế truất Thái tử Thương Thần. Thương Thần nghe tin, chưa thẩm xét kỹ, báo với thầy dạy là Phan Sùng rằng: “Làm thế nào để biết sự thực?” Sùng đáp: “Thết yến phi tần được nhà vua sủng ái là Giang Mị nhưng không tỏ ra tôn kính.” Thương Thần nghe theo cách đó. Giang Mị giận nói: “Thảo nào nhà vua muốn giết người rồi lập Chức.” Thương Thần báo với Phan Sùng rằng: “Đúng rồi.” Sùng hỏi: “Có thể thờ Chức không?” Đáp: “Không thể.” [Hỏi]: “Có thể trốn đi không?” Đáp: “Không thể.” [Hỏi]: “Có thể làm đại sự không?" Đáp: “Có.” Mùa đông tháng Mười, Thương Thần đem quân hộ vệ trong cung bao vây Thành vương. Thành vương đòi ăn tay gấu rồi chết, [Thương Thần] không nghe. Ngày Đinh Mùi, Thành vương thắt cổ chết. Thương Thần lên thay, đó là Mục vương.
Mục vương lên ngôi, giao Thái tử con mình cho Phan Sùng, sai làm Thái sư, nắm chính sự trong nước. Mục vương năm thứ ba, diệt nước Giang. Năm thứ tư, diệt nước Lục, nước Liệu. Nước Lục và nước Liệu là hậu duệ của Cao Dao[7]. Năm thứ tám, đánh nước Trần. Năm thứ mười hai, [Mục vương] chết, con là Trang vương Lữ lên thay.
Trang vương lên ngôi ba năm, không ban bố hiệu lệnh, ngày đêm vui chơi, lệnh cho người trong nước rằng: “Có kẻ nào dám can gián, giết chết không tha!” Ngũ Cử vào can. Trang vương tay trái ôm cơ thiếp nước Trịnh, tay phải ôm người con gái nước Việt, ngồi giữa chỗ bày chuông trống. Ngũ Cử nói: “Có câu đố xin dâng.” Nói: “Có con chim đậu ở gò, ba năm không bay, không hót, đó là chim gì vậy?” Trang vương đáp: “Ba năm không bay, đã bay sẽ vút lên trời; ba năm không hót, đã hót sẽ khiến người ta kinh ngạc. Cử hãy lui đi, ta biết rồi.” Mấy tháng sau, càng dâm dật hơn. Đại phu Tô Tòng bèn vào can ngăn. Trang vương nói: “Ngươi không nghe lệnh ư?” Đáp rằng: “Thân này bị giết mà khiến vua sáng láng, đó là ý nguyện của thần vậy.” Thế là [Trang vương] bèn bỏ thói đắm chìm vào hưởng lạc, lắng nghe chính sự, giết đến mấy trăm người, tiến dụng mấy trăm người, giao chính sự cho Ngũ Cử, Tô Tòng, người trong nước cả mừng. Năm đó diệt nước Dung. Năm thứ sáu, đánh Tống, thu được năm trăm chiến xa.
Năm thứ tám, đánh Lục Hồn Nhung, kéo đến ấp Lạc, duyệt binh ở ngoài thành nhà Chu [nhằm thị uy]. Chu Định vương sai Vương Tôn Mãn úy lạo Sở vương. Sở vương hỏi đỉnh [của nhà Chu] lớn hay nhỏ, nặng hay nhẹ, [Vương Tôn Mãn] đáp: “Ở đức, không phải ở đỉnh.” Trang vương nói: “Ngài đừng cho cửu đỉnh là khó! Nước Sở chỉ cần bỏ mũi nhọn đầu kiếm kích thôi cũng đủ để đúc cửu đỉnh.” Vương Tôn Mãn nói: “Ôi chao! Nhà vua ngài quên rồi ư? Xưa kia buổi thịnh thời của nhà Ngu nhà Hạ, phương xa đều đến, chín châu cống kim loại, đúc thành đỉnh khắc các vật, trăm vật đều đầy đủ, khiến dân biết vật quỷ thần kỳ dị. Kiệt làm loạn đức, đỉnh dời sang Ân, [nhà Ân] được tế tự sáu trăm năm. Vua Trụ nhà Ân bạo ngược, đỉnh dời sang Chu. Đức mà tốt, sáng, dẫu nhỏ cũng ắt thành nặng; gian tà hỗn loạn, dẫu lớn cũng ắt thành nhẹ. Xưa Thành Thang đặt đỉnh ở Giáp Nhục, xem bói được biết truyền quốc ba mươi đời, kéo dài bảy trăm năm, đó là mệnh trời vậy. Đức nhà Chu tuy suy, nhưng mệnh trời chưa đổi. Đỉnh nặng hay nhẹ, không thể hỏi đến.” Sở vương bèn rút quân về.
Năm thứ chín, phong Nhược Ngao thị làm Tướng quốc. Có người gièm pha với Trang vương, [Nhược Ngao thị] sợ bị giết, quay lại tấn công Trang vương, Trang vương đánh diệt tông tộc của Nhược Ngao thị. Năm thứ mười ba, diệt nước Thư.
Năm thứ mười sáu, đánh nước Trần, giết Hạ Trưng Thư. Trưng Thư giết vua nước mình, cho nên giết y vậy. Sau khi phá Trần, liền đặt thành huyện. Quần thần đều chúc mừng, Thân Thúc Thời đi sứ nước Tề về đến, không chúc mừng. Trang vương hỏi, đáp rằng: “Tục ngữ nói: 'Dắt bò đi tắt qua ruộng người ta, bị chủ ruộng bắt mất bò'. Người dắt bò qua ruộng thì không đúng rồi, nhưng [chủ ruộng vì thế mà] bắt lấy bò chẳng cũng quá đáng sao? Cũng như nhà vua nhân nước Trần có loạn rồi thống lãnh chư hầu tiến đánh, lấy nghĩa mà đánh nhưng lại tham chiếm đất lập thành huyện, vậy thì lấy gì để lại ra hiệu lệnh cho thiên hạ!” Trang vương bèn khôi phục hậu duệ nước Trần.
Mùa xuân năm thứ mười bảy, Sở Trang vương bao vây nước Trịnh, ba tháng thì hạ được Trịnh. Từ Hoàng môn [cổng thành nước Trịnh] tiến vào, Trịnh bá cởi trần dắt dê nghinh đón, nói: “Cô không được trời bảo hộ, không biết phụng sự ngài, ngài giận trong lòng rồi đến tệ ấp, đó là tội của cô vậy. [Cô] đâu dám không nghe lệnh! [Ngài] đày ra Nam Hải, hay đem thân thiếp ban cho chư hầu [cô] cũng nhất nhất tuân lệnh. Nếu ngài không quên các vị Lệ vương, Tuyên vương, Hoàn vương, Vũ vương, không cắt đứt xã tắc của các vị ấy, thì cho [cô] sửa đổi mà thờ ngài, ý nguyện của cô chẳng phải là điều dám trông mong vậy. Xin phô bày gan ruột.” Quần thần nước Sở nói: “Quân vương chớ cho.” Trang vương nói: “Vua nước Trịnh có thể hạ mình như thế, ắt có thể tin dùng dân của mình, sao có thể cắt đứt [việc tế tự của Trịnh] được!” Trang vương tự tay cầm cờ, tả hữu chỉ huy quân đội, dẫn quân rời xa ba mươi dặm rồi hạ trại, chấp nhận cho Trịnh giảng hòa. Phan Uông sang [Trịnh] kết minh ước, Tử Lương[8] sang [Sở] làm con tin. Mùa hạ tháng Sáu, Tấn cứu Trịnh, giao chiến với Sở, [Sở] đại phá quân Tấn trên sông Hà, [quân Sở] bèn kéo đến Hành Ung rồi rút về.
Năm thứ hai mươi, bao vây Tống vì tội giết sứ giả nước Sở. Vây Tống năm tháng, trong thành [nước Tống] hết lương, đổi con cho nhau để làm thịt ăn, bỏ xương người làm củi đốt. Hoa Nguyên nước Tống ra nói sự tình. Trang vương nói: “Quân tử thay!” Bèn bãi binh rút về[9].
Năm thứ hai mươi ba, Trang vương chết, con là Cung vương Thẩm lên thay.
Cung vương năm thứ mười sáu, Tấn phạt Trịnh. Trịnh cấp báo [cho Sở], Cung vương cứu Trịnh. Giao chiến với quân Tấn Yên Lăng, Tấn đánh bại Sở, bắn trúng mắt Cung vương. Cung vương triệu Tướng quân Tử Phản. Tử Phản vốn ham rượu, được thị tòng là Thụ Dương Cốc dâng rượu nên uống say. Cung vương giận, bắn chết Tử Phản, rồi bãi binh rút về.
Năm thứ ba mươi mốt, Cung vương chết, con là Khang vương Chiêu lên thay. Khang vương lên ngôi được mười lăm năm thì chết, con là Vân lên thay, đó là Giáp Ngao.
Các em trai được sủng ái của Khang vương là công tử Vi, Tử Tỷ, Tử Tích, Khí Tật. Giáp Ngao năm thứ ba, phong chú của mình là công tử Vi, em trai Khang vương, làm Lệnh doãn, nắm việc quân đội. Năm thứ tư, Vi đi sứ sang nước Trịnh, trên đường đi nghe tin Sở vướng ốm bèn quay về. Ngày Kỷ Dậu tháng Mười hai, Vi vào thăm bệnh Sở vương, dùng dây thắt cổ giết Sở vương, rồi giết con Sở vương là Mạc và Bình Hạ. Sai sứ báo tang cho Trịnh. Ngũ Cử hỏi: “Ai làm người thừa kế?” Đáp rằng: “Quả đại phu Vi.” Ngũ Cử lại nói: “[Trong số các] con của Cung vương, Vi làm trưởng.” Tử Tỷ chạy sang Tấn, rồi Vi lên ngôi, đó là Linh vương.
Tháng Sáu năm Linh vương thứ ba, Sở sai sứ báo cho Tấn, định hội chư hầu. Chư hầu đều tụ hội theo Sở ở ấp Thân. Ngũ Cử nói: “Xưa kia vua Khải nhà Hạ có yến tiệc ở Quân Đài, Thành Thang nhà Thương có cáo mệnh ở Cảnh Hào, Vũ vương nhà Chu có lời thề ở Minh Tân, Thành vương có cuộc săn ở Kỳ Dương, Khang Dương có triều bái ở Phong Cung, Mục vương có hội minh ở Đồ Sơn, Tề Hoàn công có hội quân ở Thiệu Lăng, Tấn Văn công có minh ước Tiễn Thổ, ngài định làm thế nào?” Linh vương nói: “Theo cách của Hoàn công.” Bấy giờ Tử Sản nước Trịnh có mặt ở đó. Thế rồi Tấn, Tống, Lỗ, Vệ không đến. Linh vương kết minh xong, có vẻ kiêu căng. Ngũ Cử nói: “Vua Kiệt vì hội họp chư hầu ở Hữu Nhưng mà Hữu Mân làm phản. Vua Trụ vì hội họp ở Lê Sơn mà Đông Di làm phản. U vương vì hội minh ở Thái Thất mà Nhung, Địch làm phản. Ngài hãy thận trọng cho đến lúc cuối!”
Tháng Bảy, Sở đem quân chư hầu thảo phạt nước Ngô, bao vây Chu Phương. Tháng Tám, hạ được nước Ngô, bỏ tù Khánh Phong, diệt cả gia tộc Khánh Phong. Đem Khánh Phong thị chúng, nói: “Đừng có bắt chước Khánh Phong nước Tề giết vua nước mình rồi khinh khi ấu chúa, bắt ép các đại phu kết minh với mình!” Phong cãi lại: “Chẳng bằng con thứ của Sở Cung Dương là Vi giết vua của mình là con của anh trai là Vân rồi lên làm vua!” Thế là Linh vương sai người vội giết Khánh Phong.
Năm thứ bảy, xây xong đài Chương Hoa, hạ lệnh gom những kẻ lưu vong tập trung vào trong đó.
Năm thứ tám, sai công tử Khí Tật đem quân diệt nước Trần. Năm thứ mười, triệu kiến Sái hầu, chuốc say rồi giết. Sai Khí Tật bình định nước Sái, nhân đó cho [Khí Tật] làm Trần Sái công.
Năm thứ mười một, thảo phạt nước Từ để uy hiếp Ngô. Linh vương đóng quân Càn Khê để đợi tin đánh nước Từ. Linh vương nói: “Tề, Tấn, Lỗ, Vệ, lúc thụ phong đều được nhận bảo vật, riêng nước ta không có. Nay ta sai sứ đến nhà Chu xin đỉnh làm bảo vật phân phong, liệu [nhà Chu] có cho ta không?” Tích Phủ đáp rằng: “Họ sẽ cho quân vương thôi! Xưa, tiên vương ta là Hùng Dịch lánh Kinh Sơn, ngồi xe củi, mặc áo rách, ở nơi có mọc um tùm, vượt núi băng rừng để thờ thiên tử, chỉ có cung gỗ đào tên gỗ táo để cung tiến cho Chu vương. Tề là nước cậu của Thành vương; Tấn cùng Lỗ và Vệ là nước của em cùng mẹ với Chu vương; Sở vì thế không được chia bảo vật, còn các nước khác đều có. Nhà Chu nay cùng bốn nước phụng sự quân vương, ra lệnh là theo, há dám tiếc chiếc đỉnh ư?” Linh vương nói: “Xưa đức hoàng tử bá phụ ta là Côn Ngô từng ở đất Hứa, nay người Trịnh tham đất đó, không chịu giao cho ta, nay ta yêu cầu họ, họ có giao cho ta không?” Đáp rằng: “Nhà Chu còn không tiếc đỉnh, Trịnh sao dám tiếc đất đai?” Linh vương nói: “Xưa chư hầu xa lánh ta mà sợ nước Tấn, nay ta mở rộng thành trì ở đất Trần, Sái và Bất Canh, mỗi nơi đều có nghìn chiến xa, chư hầu có sợ ta không?” Đáp rằng: “Sợ thay!” Linh vương vui vẻ nói: “Tích Phủ khéo nói chuyện ngày xưa thay.”
Mùa xuân năm thứ mười hai, Sở Linh vương vui chơi ở Càn Khê, không sao dứt ra để về được. Người trong nước khổ vì lao dịch. Ban trước, Linh vương hội quân ở ấp Thân, khinh nhục đại phu nước Việt là Thường Thọ Quá, giết đại phu nước Sái là Quán Khởi. Con của Khởi là Tùng trốn đến Ngô, bèn khuyên Ngô vương đánh Sở, kích động đại phu nước Việt là Thường Thọ Quá làm loạn, để làm kế nội gián cho Ngô. Sai người giả mệnh lệnh của công tử Khí Tật triệu hồi công tử Tỷ ở Tấn, đến nước Sái, cùng quân Ngô, Việt định đánh úp nước Sái. Lệnh cho công tử Tỷ đi gặp Khí Tật, cùng kết minh ở đất Đặng. Bèn về nước giết Thái tử của Linh vương là Lộc, lập Tử Tỷ lên làm vương, công tử Tử Tích làm Lệnh doãn, Khí Tật làm Tư mã. Trước tiên trừ diệt người trong vương thất, Quan Tùng theo quan đến Càn Khê, tuyên bố với quân Sở: “Nước có vua mới rồi. Về trước, sẽ khôi phục tước vị, ấp phong, ruộng đất, nhà cửa. Ai về sau sẽ bị lưu đày.” Quân Sở đều tản đi, bỏ Linh vương mà về.
Linh vương nghe tin Thái tử Lộc bị chết, tự nhảy xuống xe rồi nói: “Người ta tiếc xót con mình cũng như ta nay chăng?” Người theo hầu nói: “Còn hơn thế.” Linh vương hỏi: “Ta giết con người ta nhiều rồi, có thể không rơi vào cảnh này?” Quan Hữu doãn[10] nói: “Xin hãy đợi ở ngoài thành để nghe ngóng phản ứng của người trong nước.” Linh vương nói: “Dân chúng tức giận thì không thể chống nổi họ.” Hữu doãn nói: “Tạm thời vào một huyện lớn rồi xin quân của chư hầu [ứng cứu].” Linh vương nói: “Đều phản cả rồi.” Lại nói: “Hãy chạy sang nước chư hầu rồi nghe cách giải quyết của nước lớn.” Linh vương nói: “Phúc lớn không lặp lại, chỉ chuốc nhục mà thôi.” Thế là Linh vương lên thuyền định vào đất Yên. Quan Hữu doãn xét thấy nhà vua không theo kế của mình, sợ chết chung, cũng bỏ vua mà trốn.
Thế là Linh vương một mình bơ vơ trong núi, người dân chốn sơn dã không ai dám cho vua vào nhà. Trên đường đi, Linh vương gặp viên thị tòng cũ[11], bèn bảo: “Hãy xin ăn cho ta, ta đã ba ngày không ăn gì rồi.” Viên thị tòng đó nói: “Tân vương hạ lệnh, ai dám cho ngài ăn hay đi theo ngài thì xử tội đến ba họ, huống nữa cũng chẳng có chỗ để xin ăn.” Linh vương nhân đó gối đầu lên đùi y mà nằm ngủ. Viên thị tòng lại lấy cục đất thay vào rồi trốn đi. Linh vương tỉnh dậy không thấy đâu, lại đói quá không sao đứng dậy nổi. Con của quan doãn Thân Vô Vũ ở đất Vu là Thân Hợi nói: “Cha ta hai lần vi phạm vương mệnh mà nhà vua không giết, ơn gì lớn hơn thế!” Bèn tìm Linh vương, gặp Linh vương bị đói ở Ly Trạch, liền dìu nhà vua về. Ngày Quý Sửu tháng Năm mùa hạ, Linh vương chết ở nhà Thân Hợi, Thân Hợi đem hai con gái chết theo, rồi chôn chung.
Bấy giờ nước Sở tuy đã lập Tỷ làm vương, sợ Linh vương lại về, cũng không nghe tin Linh vương chết, cho nên Quan Tùng nói với vua mới lập là Tỷ rằng: “Không giết Khí Tật, dẫu được nước cũng chuốc họa.” Sở vương nói: “Ta không đang tâm.” Tùng nói: “Người ta sẽ đang tâm với nhà vua.” Sở vương không nghe, [Quan Tùng] liền bỏ đi. Khí Tật trở về. Người trong nước hằng đêm đều kinh sợ, nói: “Linh vương về đấy!” Đêm Ất Mão, Khí Tật sai thuyền phu từ sông Trường Giang chạy lên hô to rằng: “Linh vương về tới rồi!” Người trong nước càng kinh sợ. Lại sai Mạn Thành Nhiên báo với vua mới là Tỷ cùng Lệnh doãn Tử Tích rằng: “Linh vương về tới rồi! Người trong nước sẽ giết ngài, quan Tư mã sắp đến rồi! Ngài sớm tự liệu, đừng để chuốc nhục. Dân chúng nổi giận như nước như lửa, không thể cứu được.” Vua mới cùng Tử Tích bèn tự sát. Ngày Bính Thìn, Khí Tật lên ngôi vương, đổi tên là Hùng Cư, đó là Bình vương.
Bình vương lừa giết hại vua rồi tự lên ngôi, sợ người trong nước và chư hầu phản lại mình, bèn thi ơn cho trăm họ. Khôi phục đất của Trần, Sái rồi lập hậu duệ hai nước làm vua như trước đây, trả lại các đất đã chiếm của Trịnh. Vỗ về người dân trong nước, sửa sang chính giáo. Nước Ngô nhân nước Sở có loạn, bắt năm tướng rồi rút về. Bình vương nói với Quan Tùng: “Ta sẽ thỏa mãn theo ý ngươi muốn.” [Quan Tùng] muốn làm Bốc doãn[12], Bình vương đồng ý.
Ban trước, Cung vương có năm người con trai được yêu quý, không có con đích để lập, bèn hy vọng vào việc tế các thần, xin thần quyết định việc chọn người, [thần chọn ai] sẽ cho người đó làm chủ xã tắc[13], rồi ngầm cùng người thiếp là Ba cơ chôn ngọc bích trong phòng, triệu năm công tử trai giới rồi vào phòng. Khang vương bước qua ngọc bích, Linh vương để khuỷu tay đè lên ngọc bích, Tử Tỷ và Tử Tích đều tránh xa chỗ ngọc bích. Bình vương nhỏ tuổi, được bế lên hành lễ, đứng đè lên dây buộc ngọc. Vì thế Khang vương nhờ lớn tuổi nên được lập, các con khác mất vương vị; công tử Vi làm Linh vương, kết cục bị giết; Tử Tỷ làm vương được hơn chục ngày, Tử Tích không được lập, cũng đều bị giết. Bốn người con đều tuyệt tự. Sau chỉ có Khí Tật lên ngôi, đó là Bình vương, rốt cuộc là người nối tiếp việc tế tự của Sở, đúng như thần đã hiển ứng.
Ban trước, Tử Tỷ từ Tấn trở về, Hàn Tuyên tử hỏi Thúc Hướng rằng: “Tử Tỷ có thành công không?” Đáp rằng: “Không thành công.” Tuyên tử nói: “Chung thù ghét thì cùng kiếm tìm nhau, như thương nhân tranh lợi ngoài chợ, sao lại không thành công?” Đáp rằng: “Không chung niềm hữu hảo thì ai sẽ chung sự thù ghét? Tranh lấy nước có năm điều khó: một là, có sự tôn sủng nhưng không có hiền nhân phò tá; hai là, có hiền nhân nhưng không có chủ lực làm nội ứng ba là, có chủ lực làm nội ứng nhưng không có mưu lược; bốn là, có mưu lược nhưng không có dân chúng; năm là, có dân chúng nhưng không có đức hạnh. Tử Tỷ ở Tấn đã mười ba năm, người theo [Tử Tỷ] ở Tấn và Sở chẳng ai có tiếng tăm, có thể nói không có hiền nhân phụ giúp; gia tộc mất cả, thân thích phản lại, có thể nói không có chủ lực làm nội ứng; không có hiềm oán mà loạn động, có thể gọi là không có mưu lược; cả đời ở nơi đất khách, có thể nói là không có dân; lưu vong bên ngoài mà không ai nhớ đến, có thể gọi là không có đức. Linh vương tàn ngược, rồi chẳng kiêng tránh điều gì, Tử Tỷ muốn vượt qua năm cái khó để giết vua, ai có thể giúp cho thành công được! Người có nước Sở, có lẽ là Khí Tật chăng? Khí Tật cai trị đất Trần và Sái, ngoài Phương Thành đều thuộc ông ta. [Những nơi đó] hà khắc bạo ngược không nảy sinh, trộm cắp luôn ẩn trốn, ham muốn riêng không trái với lợi chung, dân không có bụng oán. Tiên tổ, thần linh phụ trợ ông ta; dân trong nước tin tưởng ông ta. Họ Mị có loạn, ắt con út được lập, là lệ thường của Sở. Về quan chức Tử Tỷ là Hữu doãn, bề mặt sủng quý thì chỉ là con thứ, về thần minh ban mệnh thì lánh xa chỗ có ngọc khuê; dân không nghĩ đến ông ta, lấy gì mà lập?” Tuyên tử hỏi: “Tề Hoàn công, Tấn Văn công chẳng cũng thế ư?” Thúc Hướng đáp: “Tề Hoàn công là con của Vệ cơ, được sự sủng ái của Hy công. Có Bão Thúc Nha, Tân Tu Vô, Thấp Bằng phò trợ; có nước Cử nước Vệ hậu thuẫn từ bên ngoài; có họ Cao họ Quốc làm nội ứng bên trong. Làm việc thiện không ngơi, thi ân huệ không mệt. Có nước chẳng cũng phải lẽ ư? Xưa Văn công ta là con của Hồ Quý cơ, được sự sủng ái của Hiến công. Ham học không biết mệt. Mười bảy tuổi đã có năm hiền sĩ, có đại phu Tử Du, Tử Phạm làm tâm phúc; có Ngụy Xu, Giả Đà làm chân tay; có các nước Tề, Tống, Tần, Sở làm ngoại viện; có các họ Loan, Khích, Hồ, Tiên làm nội ứng. Lưu vong mười chín năm, càng giữ bền chí. Huệ Công, Hoài công vứt bỏ dân, dân theo về với Văn công. Cho nên Văn công được nước chẳng cũng là phải ư? Tử Tỷ không hề thi ơn cho dân, không có ngoại viện, rời Tấn mà Tấn không hộ tống; về Sở thì Sở không đón rước. Dựa vào đâu mà có nước!" Quả nhiên Tử Tỷ không có kết cục tốt đẹp, cuối cùng người lên ngôi là Khí Tật, đúng như lời Thúc Hướng vậy.
Bình vương năm thứ hai, sai Phí Vô Kỵ sang Tần cưới vợ cho Thái tử Kiến. Người vợ xinh đẹp, đón về, chưa tới nơi, Vô Kỵ về trước, khuyên Bình vương: “Người con gái nước Tần xinh đẹp, ngài hãy cưới làm vợ rồi tìm cô khác cho Thái tử.” Bình vương nghe theo, rốt cuộc cưới người con gái nước Tần, sinh ra Hùng Trần. Lấy vợ khác cho Thái tử. Bấy giờ Ngũ Xa làm Thái phó cho Thái tử, Vô Kỵ làm Thiếu phó. Vô Kỵ không được Thái tử tin yêu, thường nói xấu Thái tử Kiến. Bấy giờ Thái tử Kiến mười lăm tuổi, mẹ là người Sái, không được vua sủng ái, Bình vương ngày càng lạnh nhạt với Kiến.
Năm thứ sáu, sai Thái tử Kiến ra ở Thành Phủ, trấn giữ biên giới. Vô Kỵ lại ngày đêm gièm pha Thái tử Kiến với Bình vương rằng: “Từ khi Vô Kỵ đưa người con gái nước Tần về, Thái tử oán giận, cũng không thể không oán trách nhà vua, nhà vua hãy lưu tâm phòng bị. Hơn nữa Thái tử ở Thành Phủ, nắm riêng binh quyền, ngoại giao với chư hầu, còn muốn kéo quân về.” Bình vương triệu Thái phó cho Thái tử là Ngũ Xa đến trách mắng. Ngũ Xa biết Vô Kỵ gièm pha, bèn nói: “Sao nhà vua lại vì một bề tôi nhỏ mọn mà xa lìa cốt nhục vậy?” Vô Kỵ nói: “Nay không chế phục, sau phải hối hận vậy.” Thế là Bình vương liền bỏ tù Ngũ Xa. Bèn lệnh cho Tư mã Phấn Dương triệu hồi Thái tử Kiến, định giết đi. Thái tử nghe tin, liền trốn sang Tống.
Vô Kỵ nói: “Ngũ Xa có hai người con, không giết chúng đi sẽ là mối họa của Sở vậy. Sao không lấy việc xá miễn cho chúng [làm điều kiện] để triệu chúng, nhất định chúng sẽ đến.” Thế là Bình vương sai sứ nói với Xa: “Gọi được hai con đến thì sống, không thì chết.” Xa nói: “Thượng đến, Tư không đến.” Bình vương hỏi: “Tại sao?” Xa đáp: “Thượng là người liêm chính, sẵn sàng chết vì tiết nghĩa, hiếu thuận mà có lòng nhân, nghe tin triệu đến thì cha được xá tội, nhất định sẽ đến, không sợ phải chết. Tư là người trí mà thích mưu, dũng mà ham công, biết đến sẽ chết, ắt không đến. Mà rồi mối lo của Sở nhất định ở đứa con này.” Thế là Bình vương sai người triệu hai anh em, nói: “Đến, ta xá tội cho cha mày.” Ngũ Thượng bảo Ngũ Tư: “Nghe [đến thì] cha được xá tội mà không đến, đó là bất hiếu; cha bị giết mà không báo thù, đó là vô mưu; xét khả năng để giao việc, đó là sáng suốt. Em hãy đi đi, anh sẽ về chịu chết.” Ngũ Thượng bèn về [Dĩnh đô]. Ngũ Tư giương cung đặt tên, ra gặp sứ giả, nói: “Cha có tội, triệu con đến làm gì?” Định bắn, sứ giả quay đầu chạy, [Ngũ Tư] bèn chạy sang Ngô. Ngũ Xa nghe tin, nói: “Tư trốn, nước Sở nguy thay.” Người Sở bèn giết Ngũ Xa và Thượng.
Năm thứ mười, mẹ Thái Kiến nước Cư Sào, mở cửa cho Ngô. Ngô sai công tử Quang đánh Sở, bèn đánh bại Trần và Sái, bắt mẹ của Thái tử Kiến rồi rút về. Sở sợ, gia cố thành Dĩnh. Ban trước, đám con trẻ hai ấp ở biên giới Ngô và Sở là Ty Lương và Chung Ly tranh nhau lá dâu, hai ấp giận rồi đánh nhau, giết người của ấp Ty Lương. Đại phu Ty Lương giận, đem quân trong ấp tấn công ấp Chung Ly. Sở vương nghe tin nổi giận, phát binh trong nước diệt ấp Ty Lương. Ngô vương nghe tin cả giận, cũng phát binh, sai công tử Quang thông qua gia tộc mẹ Kiến để đánh Sở, rồi diệt ấp Chung Ly và Cư Sào. Sở bèn sợ rồi gia cố thành Dĩnh.
Năm thứ mười ba, Bình vương chết. Tướng quân Tử Thường nói: “Thái tử Trân[14] còn nhỏ, hơn nữa trước đây mẹ [của Thái tử Trân] đáng ra là vợ của Thái tử Kiến.” Định lập Lệnh doãn Tử Tây. Tử Tây là em ngành thứ của Bình vương, là người nghĩa khí. Tử Tây nói: “Nước có phép thường, đổi lập sẽ loạn, ai nói việc đó thì giết.” Bèn lập Thái tử Trân, đó là Chiêu vương.
Chiêu vương năm thứ nhất, dân nước Sở không thích Phí Vô Kỵ, vì đã gièm pha khiến Thái tử Kiến phải bỏ trốn, lại khiến cho con Ngũ Xa cùng Khích Uyển bị giết. Con của Bá Thị, người trong tông tộc Khích Uyển là Phỉ cùng Tử Tư đều chạy sang Ngô, quân Ngô nhiều lần xâm phạm Sở, người Sở rất oán Vô Kỵ. Lệnh doãn nước Sở là Tử Thường giết Vô Kỵ để lấy lòng dân chúng, dân chúng mới vui.
Năm thứ tư, ba công tử[15] nước Ngô chạy sang Sở, Sở phong đất cho họ để chống lại Ngô. Năm thứ năm, Ngô đánh chiếm ấp Lục và ấp Tiềm của Sở. Năm thứ bảy, Sở sai Tử Thường thảo phạt Ngô, Ngô đánh quân Sở đại bại ở Dự Chương.
Mùa đông năm thứ mười, Ngô vương Hạp Lư, Ngũ Tử Tư, Bá Phỉ cùng nước Đường và Sái đánh Sở, Sở đại bại, quân Ngô liền tiến vào Dĩnh đô, làm nhục mộ của Bình vương, là vì Ngũ Tử Tư vậy[16]. Quân Ngô đến, Sở sai Tử Thường đem quân nghênh chiến, bày trận hai bên Hán Thủy. Ngô đánh bại Tử Thường, Tử Thường chạy trốn sang Trịnh. Quân Sở tháo chạy, Ngô thừa thắng đuổi theo, giao chiến năm trận thì đến Dĩnh đô. Ngày Kỷ Mão, Chiêu vương chạy khỏi nước. Ngày Canh Thìn, người Ngô vào thành Dĩnh.
Sở Chiêu vương chạy trốn đến Vân Mộng. Người ở Vân Mộng không biết đó là vua, bắn Chiêu vương bị thương. Chiêu vương chạy đến nước Vân. Em trai của Vân công là Hoài nói: “Bình vương giết cha ta, nay ta giết con ông ấy, chẳng cũng phải lẽ sao?” Vân công ngăn lại, nhưng vẫn sợ em mình sẽ giết Chiêu vương, bèn cùng Chiêu vương chạy sang Tùy. Ngô vương nghe tin Chiêu vương sang đó, liền tiến quân đánh Tùy, nói với người Tùy rằng: “Con cháu nhà Chu được phong ở vùng Giang Hán, bị Sở diệt hết rồi.” Ý muốn giết Chiêu vương. Bề tôi tùy tòng của Chiêu vương là Tử Kỳ bèn giấu Chiêu vương thật kỹ, tự giả làm vua, nói với người Tùy rằng: “Hãy đem ta giao cho Ngô.” Người Tùy bói quẻ về việc giao [Chiêu vương] cho Ngô, được quẻ không tốt, liền tạ lỗi với Ngô vương rằng: “Chiêu vương trốn, không ở Tùy.” Ngô đề nghị cho vào để tự tìm Chiêu vương, người Tùy không nghe, Ngô cũng bãi binh rút về.
Chiêu vương chạy khỏi Dĩnh đô, sai Thân Bão[17] Tư cầu cứu Tần. Tần đem năm trăm chiến xa đến cứu viện Sở, Sở cũng thu thập tàn quân, cùng Tần đánh Ngô. Tháng Sáu năm thứ mười một, đánh bại quân Ngô ở đất Tắc [thuộc nước Sở]. Đúng lúc em trai Ngô vương là Phu Khái thấy quân của Ngô vương thương vong bại trận, bèn trốn về nước, tự lập làm vương. Hạp Lư nghe tin đó, dẫn quân rời Sở, về đánh Phu Khái. Phu Khái thua, chạy sang Sở, Sở phong cho đất Đường Khê, hiệu là Đường Khê thị.
Sở Chiêu vương diệt nước Đường. Tháng Chín, trở về Dĩnh đô. Năm thứ mười hai, Ngô lại đánh Sở, chiếm ấp Bà. Sở lo sợ, bỏ Dĩnh đô, dời lên phía bắc đóng đô ở thành Nhược.
Năm thứ mười sáu, Khổng tử làm Tướng quốc nước Lỗ. Năm thứ hai mươi, Sở diệt nước Đốn và nước Hồ. Năm thứ hai mươi mốt, Ngô vương Hạp Lư thảo phạt nước Việt. Việt vương Câu Tiễn bắn Ngô vương bị thương, rồi chết. Nước Ngô từ đó oán nước Việt nên không sang phía tây đánh Sở nữa.
Mùa xuân năm thứ hai mươi bảy, Ngô thảo phạt Trần, Sở Chiêu vương cứu viện, đóng quân ở Thành Phủ. Tháng Mười, Chiêu vương ốm ở trong quân, [trên trời] có mây đỏ như hình con chim bay quanh mặt trời. Chiêu vương hỏi quan Thái sử nhà Chu, Thái sử đáp: “Là điềm hại cho Sở vương, nhưng có thể chuyển sang tướng văn tướng võ.” Các tướng nghe nói vậy, bèn xin lấy thân mình cầu đảo thần linh. Chiêu vương nói: “Tướng văn tướng võ là tay chân của cô, nay chuyển hóa sang họ, sao trừ bỏ hết bệnh nơi thân ta được!” Không nghe. Bói thì [lời quẻ nói] do [thần sông] Hoàng Hà tác quái, các đại phu xin cầu đảo ở Hoàng Hà. Chiêu vương nói: “Từ tiên vương ta được phân phong, điều mong muốn đều không vượt qua khu vực sông Giang sông Hán, nào mắc tội gì với thần sông Hoàng Hà.” [Chiêu vương] ngăn lại không cho. Khổng tử ở nước Trần, nghe nói vậy, bèn bảo: “Sở Chiêu Dương hiểu đạo lớn đấy. Ông ta không mất nước, đúng lắm thay!”
Chiêu vương ốm nặng, bèn triệu các công tử và đại phu đến nói: “Cô bất tài, lại làm nhục đến quân đội nước Sở, nay được trọn tuổi trời ban, là may mắn của cô vậy.” Nhường cho em là công tử Thân làm vương. [Thân] không nhận. Lại nhường ngôi cho em thứ là công tử Kết, [Kết] cũng không nhận. Bèn lại nhường cho em thứ là công tử Lư, nhường đến năm lần, sau [Lư] mới chịu nhận. Sắp giao chiến [với quân Ngô], ngày Canh Dần, Chiêu vương chết ở trong quân. Tử Lư nói: “Nhà vua bệnh nặng, bỏ con mà nhường ngôi cho bề tôi, thần sở dĩ đồng ý với nhà vua, là để nhà vua yên lòng vậy. Nay quân vương đã mất, thần há dám quên tâm ý của nhà vua ư?” Bèn bàn tính cùng Tử Tây, Tử Kỳ, phục quân chẹn đường, đón con của người con gái nước Việt [thiếp của Chiêu vương] là Chương về lên ngôi, đó là Huệ vương. Rồi sau bãi binh rút về, mai táng Chiêu vương.
Huệ vương năm thứ hai, Tử Tây triệu con trai Thái tử Kiến của Bình vương trước đây là Thắng ở Ngô, cho làm đại phu ấp Sào, hiệu là Bạch công. Bạch công thích việc binh nhưng lại khiêm hạ với kẻ sĩ, muốn báo thù. Năm thứ sáu, Bạch công đề nghị Lệnh doãn Tử Tây phát binh đánh Trịnh. Trước đây, cha Bạch công là Kiến lưu vong ở Trịnh, bị Trịnh giết, Bạch công chạy sang Ngô, được Tử Tây triệu về, vì thế oán Trịnh, muốn tiến đánh Trịnh. Tử Tây đồng ý nhưng chưa phát binh. Năm thứ tám, Tấn phạt Trịnh, Trịnh cấp báo với Sở, Sở sai Tử Tây cứu Trịnh, [Tử Tây] nhận hối lộ [của Trịnh] rồi rút về. Bạch công Thắng tức giận, bèn cùng bọn dũng sĩ cảm tử là Thạch Khất tập kích giết Lệnh doãn Tử Tây và Tử Kỳ ngay tại triều, nhân đó uy hiếp Huệ vương, an trí ở phủ Cao, định giết Huệ vương. Tùy tòng của Huệ vương là Khuất Cố cõng Huệ vương chạy đến cung của Chiêu vương phu nhân [tức mẹ của Huệ vương]. Bạch công tự lập làm vương. Hơn tháng, đúng lúc Diệp công đến cứu Sở, đồ đảng của Sở Huệ vương cùng [Diệp công] tấn công Bạch công, giết chết. Huệ công bèn trở lại ngôi vị. Cũng năm đó, diệt nước Trần rồi lập thành một huyện của Sở.
Năm thứ mười ba, Ngô vương Phù Sai hùng mạnh, lấn lướt nước Tề và Tấn, đến thảo phạt Sở. Năm thứ mười sáu, nước Việt diệt nước Ngô. Năm thứ bốn mươi hai, Sở diệt nước Sái. Năm thứ bốn mươi tư, Sở diệt nước Kỷ. Giảng hòa với Tần. Bấy giờ nước Việt đã diệt Ngô nhưng không thể chinh phục vùng phía bắc Sông Giang sông Hoài; Sở sang xâm chiếm phía đông, mở rộng đất đến Tứ Thượng.
Năm thứ năm mươi bảy, Huệ vương chết, con là Giản vương Trọng lên thay.
Giản vương năm thứ nhất, lên phía bắc đánh diệt nước Cử. Năm thứ tám, Ngụy Văn hầu, Hàn Vũ tử, Triệu Hoàn tử bắt đầu được liệt vào hàng chư hầu.
Năm thứ hai mươi tư, Giản vương chết, con là Thanh vương Đương lên thay. Thanh vương năm thứ sáu, Thanh vương bị bọn trộm cắp giết, con là Điệu vương Hùng Nghi lên thay. Điệu vương năm thứ hai, Tam Tấn đến đánh Sở, kéo tới Thặng Khâu rồi rút về. Năm thứ tư, Sở thảo phạt Chu. Trịnh giết Tử Dương. Năm thứ chín, thảo phạt Hàn, chiếm Phụ Thử. Năm thứ mười một, Tam Tấn đánh Sở, đánh bại quân Sở ở Đại Lương, Du Quan. Sở hối lộ nhiều của cho Tần để giảng hòa. Năm thứ hai mươi mốt, Điệu vương chết, con là Túc vương Tang lên thay.
Túc vương năm thứ tư, Thục đánh Sở, chiếm đất Tư Phương. Bấy giờ Sở xây dựng Hãn Quan để chống quân Thục. Năm thứ mười, Ngụy chiếm Lỗ Dương của Sở. Năm thứ mười một, Túc vương chết, không có con trai, lập người em là Hùng Lương Phu lên thay, đó là Tuyên vương.
Tuyên Vương năm thứ sáu, thiên tử nhà Chu chúc mừng Tần Hiến công. Tần bắt đầu hùng cường trở lại, còn Tam Tấn ngày càng lớn mạnh, Ngụy Huệ vương và Tề Uy vương càng mạnh hơn. Năm thứ ba mươi, Tần phong cho Vệ Ưởng ấp Thương, xuống phía nam xâm chiếm Sở. Năm này, Tuyên vương chết, con là Uy vương Hùng Thương lên thay.
Uy vương năm thứ sáu, Chu Hiển vương đem thịt tế Văn vương, Vũ vương ban cho Tần Huệ vương.
Năm thứ bảy, cha của Mạnh Thường quân nước Tề là Điền Anh dối gạt Sở, Sở Uy vương bèn thảo phạt Tề, đánh bại quân Tề ở Từ Châu, rồi lệnh cho Tề phải đuổi Điền Anh. Điền Anh lo sợ, Trương Sửu và nói với Sở vương rằng: “Sở dĩ đại vương chiến thắng ở Từ Châu là vì không dùng Điện Phán tử. Phán tử có công với nước, trăm họ đều theo ông ta. Anh tử không dùng ông ta mà trọng dụng Thân Kỷ. Thân Kỷ không được đại thần ủng hộ, trăm họ không theo, cho nên đại vương đánh thắng được Tề. Nay đại vương đuổi Anh tử, Anh tử bị đuổi, Phán tử ắt được dùng. [Tề sẽ lại] luyện sĩ tốt để giao chiến với đại vương, nhất định không có lợi cho đại vương.” Sở vương nhân đó không đuổi [Điền Anh] nữa.
Năm thứ mười một, Uy vương chết, con là Hoài vương Hùng Hòe lên thay. Nước Ngụy nghe tin Sở có tang, liền thảo phạt Sở, chiếm lấy Hình Sơn.
Hoài vương năm thứ nhất, Trương Nghi bắt đầu phò tá Tần Huệ vương. Năm thứ tư, Tần Huệ vương mới xưng vương.
Năm thứ sáu, Sở sai Trụ quốc Chiêu Dương đem quân tấn công nước Ngụy, phá quân Ngụy ở Tương Lăng, chiếm được tám ấp. Lại chuyển quân sang đánh Tề, Tề vương lo sợ. Đúng lúc Trần Chẩn thay mặt Tần đi sứ sang Tề, Tề vương hỏi: “Phải làm thế nào?” Trần Chẩn đáp: “Đại vương chớ lo, xin hãy ra lệnh bãi binh.” Liền đến gặp Chiêu Dương trong quân, nói: “Xin được nghe phép tắc nước Sở, người phá quân chém tướng thì được tặng thưởng gì để khiến họ hiển quý?” Chiêu Dương đáp: “Thăng quan làm Thượng trụ quốc, phong tước được cầm ngọc khuê.” Trần Chẩn hỏi: “Còn phong tặng gì tôn quý hơn thế không?” Chiêu Dương đáp: “Lệnh doãn.” Trần Chẩn nói: “Nay ngài đã là Lệnh doãn, thế là đứng đầu trong nước. Thần xin được thí dụ. Có người nọ tặng môn khách của mình một cốc rượu, môn khách cùng bảo nhau: 'Mấy người uống một cốc, không đủ cho tất cả, xin vạch xuống đất vẽ hình con rắn, ai vẽ xong trước người đó được uống cả.' Một người nói: 'Tôi vẽ xong trước.' rồi nâng chén lên, lại nói: 'Tôi còn vẽ chân cho nó.' Đến khi vẽ xong chân cho rắn, người vẽ xong sau đã cướp lấy chén rượu mà uống, nói: 'Rắn vốn không chân, nay vẽ chân cho nó, vậy không phải là rắn nữa.' Nay ngài phụ tá Sở đánh Ngụy, phá quân giết tướng, công nào hơn thế, đã đến đỉnh điểm không thể thêm nữa. Nay lại chuyển quân sang đánh Tề, đánh thắng Tề thì quan tước cũng không tăng thêm; đánh không thắng thì thân bị chết, tước bị đoạt, tổn hại cho Sở, đó là cách vẽ chân cho rắn vậy. Chẳng bằng dẫn quân về để tạo ân đức với Tề, đó là thuật giữ sự viên mãn vậy.” Chiêu Dương nói: “Phải.” Bèn dẫn quân về.
Yên quân và Hàn quân mới xưng vương. Tần sai Trương Nghi hội hợp với Sở, Tề, Ngụy, kết minh ở Khiết Tang.
Năm thứ mười một, Tô Tần hợp tung với sáu nước ở Sơn Đông cùng tấn công nước Tần, Sở Hoài vương làm trưởng hợp tung. Đến ải Hàm Cốc, Tần đem quân ra đánh sáu nước, quân sáu nước đều lui rồi rút về, riêng Tề rút sau cùng. Năm thứ mười hai, Tề Mẫn vương đánh bại quân Triệu và Ngụy, Tần cũng đánh bại quân Hàn, cùng nước Tề tranh vị trí trưởng hợp tung.
Năm thứ mười sáu, Tần định đánh Tề, nhưng Sở và Tề vốn thân cận nhau, Tần Huệ vương lo lắng về việc đó, bèn tuyên bố bãi chức Tướng quốc của Trương Nghi, sai Trương Nghi xuống phía nam yết kiến Sở vương, nói với Sở vương rằng: “Người mà quân vương tệ ấp hết sức yêu quý không ai hơn đại vương, người khiến Nghi hết mực cam tâm tình nguyện dẫu làm đứa ở để canh gác cửa cũng không ai hơn đại vương. Người mà quân vương tệ ấp cực ghét không ai hơn Tề vương, người khiến Nghi cực ghét cũng không ai hơn Tề vương. Nhưng đại vương hòa hảo với Tề vương, nên đại vương tệ ấp không được thờ đại vương, khiến Nghi cũng không được làm đứa ở cạnh cửa [cho đại vương] vậy. Xin đại vương hãy vì Nghi đóng cửa quan rồi tuyệt giao với Tề, nay sai sứ theo Nghi sang tây lấy đất Thương Ư rộng sáu trăm dặm vuông vốn là đất Tần chia cho Sở, như thế Tề sẽ suy yếu. Như thế là phía bắc làm Tề suy yếu, phía tây có ơn đức với Tần, lại có riêng đất Thương để thêm giàu, ấy là một kế mà được liền ba mối lợi vậy.” Hoài vương cả mừng, bèn trao ấn tín Tướng quốc cho Trương Nghi, ngay hôm đó bày tiệc rượu, tuyên bố “Ta lại có đất Thương Ư của ta rồi”. Quần thần đều chúc mừng, chỉ riêng Trần Chẩn chia buồn. Hoài vương hỏi: “Tại sao?” Trần Chẩn đáp: “Tần sở dĩ coi trọng đại vương là do đại vương có Tề vậy. Nay đất chưa chắc được lại đi tuyệt giao với Tề trước, là khiến Sở đơn độc. Xét lẽ, cớ gì Tần lại coi trọng một nước đơn độc, nhất định sẽ khinh Sở thôi. Vả lại nếu Tần giao đất trước, Sở tuyệt giao với Tề sau, thì kế của Tần không thi hành được. Tuyệt giao với Tề trước rồi đòi đất sau, thì ắt bị Trương Nghi lừa dối. Bị Trương Nghi lừa, đại vương ắt oán Trương Nghi. Oán Trương Nghi thì phía tây dấy lên mối lo từ Tần, phía bắc tuyệt giao với Tề. Tây dấy lên mối lo từ Tần, bắc tuyệt giao với Tề thì quân hai nước ắt kéo đến. Thần vì thế mà chia buồn.” Sở vương không nghe, nhân đó sai một tướng quân sang phía tây nhận đất phong.
Trương Nghi về đến Tần, vờ say rượu ngã xuống xe, thác bệnh ba tháng không ra ngoài, [nước Sở] không đòi được đất. Sở vương nói: “Nghi cho rằng ta tuyệt giao với Tề còn chưa đủ chăng?” Bèn sai dũng sĩ là Tống Di lên phía bắc nhục mạ Tề vương. Tề vương cả giận, bẻ phù tiết của Sở rồi liên kết với Tần. Tần và Tề liên kết, Trương Nghi bèn dậy vào chầu, nói với tướng quân nước Sở rằng: “Sao ngài không nhận đất? Từ đây đến đây, đông sang tây rộng sáu dặm.” Tướng quân nước Sở nói: “Tôi vâng lệnh đi nhận sáu trăm dặm đất, không nghe nói chỉ sáu dặm.” [Tướng quân nước Sở] liền về báo lại Hoài vương. Hoài vương cả giận, dấy binh định đánh Tần. Trần Chẩn lại nói: “Đánh Tần không phải kế hay. Chẳng bằng nhân đó hối lộ Tần một đô ấp lớn, cùng Tần đánh Tề, đó là ta mất cho Tần mà lấy bồi thường từ Tề, nước ta vẫn có thể bảo toàn. Nay đại vương đã tuyệt giao với Tề lại trách Tần lừa dối, là khiến Tần và Tề liên kết mà kéo quân thiên hạ đến, nước ta ắt bị tổn thương lớn vậy.” Sở vương không nghe, bèn tuyệt giao với Tần, phát binh sang tây đánh Tần. Tần cũng phát binh đánh lại.
Mùa xuân năm thứ mười bảy, giao chiến với Tần ở Đan Dương, Tần đánh quân Sở đại bại, chém tám vạn giáp sĩ, bắt sống bọn Đại tướng quân nước Sở là Khuất Cái cùng Tỳ tướng quân Phùng Hầu Sửu hơn bảy mươi người, rồi chiếm quận Hán Trung. Sở Hoài vương cả giận, bèn huy động hết quân trong nước lại tập kích Tần, giao chiến ở Lam Điền, quân Sở đại bại. Các nước Hàn, Ngụy nghe tin Sở nguy khốn, bèn xuống phía nam đánh úp nước Sở, kéo đến đất Đặng. Sở vương nghe tin, bèn dẫn quân về.
Năm thứ mười tám, Tần sai sứ sang giao ước quan hệ hữu hảo lại với Sở, chia một nửa Hán Trung để giảng hòa với Sở. Sở vương nói: “Xin lấy Trương Nghi, không cần được đất.” Trương Nghi nghe vậy, bèn xin sang Sở. Tần vương hỏi: “Sở muốn có ông thì mới cam tâm, phải làm thế nào?” Trương Nghi đáp: “Thần thân thiết với hầu cận của Sở vương là Cận Thượng, Cận Thượng lại được phụng sự sủng cơ của Sở vương là Trịnh Tụ, Tụ nói gì [Sở vương] cũng nghe. Vả lại chuyến đi sứ lần trước Nghi bội ước không giao Thương Ư cho Sở, nay Tần và Sở đại chiến, Sở căm ghét thần, nếu thần không đích thân gặp mặt tạ tội, Sở sẽ không bỏ qua. Hơn nữa có đại vương, Sở không dám bắt Nghi. Nếu giết Nghi mà lợi cho nước [Tần] thì đó là tâm nguyện của thần vậy.” Nghi liền đi sứ sang Sở.
Tới nơi, Hoài vương không tiếp kiến, nhân đó bỏ tù Trương Nghi, định giết đi. Nghi ngầm liên lạc với Cận Thượng, Cận Thượng vì Nghi xin Hoài vương rằng: “Bắt giữ Trương Nghi, Tần vương ắt nổi giận. Thiên hạ thấy Sở không giao hảo với Tần, ắt coi thường đại vương.” [Cận Thượng] lại nói với phu nhân Trịnh Tụ rằng: “Tần vương rất sủng tín Trương Nghi, nhưng đại vương lại định giết đi, nay [Tần] định đem đất sáu huyện ở Thượng Dung hối lộ Sở, đem mỹ nhân dâng Sở vương, đem các cung nữ giỏi hát trong cung dâng [Sở vương] làm thị nữ. Sở vương coi trọng đất đai, mỹ nhân nước Tần ắt được tôn quý, còn phu nhân nhất định bị ghẻ lạnh. Chẳng bằng phu nhân hãy nói thả Trương Nghi ra.” Rốt cuộc Trịnh Tụ đem việc Trương Nghi nói với Sở vương, rồi thả Trương Nghi. Nghi ra khỏi ngục, Hoài vương nhân đó đãi ngộ tốt với Nghi, Nghi liền thuyết phục Sở vương phản lại tung ước rồi kết thân với Tần, ước định hôn nhân. Trương Nghi đi rồi, Khuất Nguyên đi sứ Tề về, nói với Sở vương rằng: “Sao không giết Trương Nghi?” Hoài vương hối hận, sai người đuổi bắt Nghi nhưng không kịp. Năm này, Tần Huệ vương chết.
Năm thứ hai mươi, Tề Mẫn vương muốn làm trưởng hợp tung, ghét nước Sở vì liên kết với nước Tần, bèn sai sứ đem thư trách Sở vương rằng: “Quả nhân lo Sở không còn coi trọng thanh danh tôn quý của mình nữa. Nay Tần Huệ vương đã chết, Vũ vương lên thay, Trương Nghi chạy sang Ngụy, Sư Lý Tật và Công Tôn Diễn được dùng, trong khi đó Sở lại thờ Tần. Xét lẽ, Sư Lý Tật vốn thân với Hàn, còn Công Tôn Diễn thân với Ngụy; Sở nhất định thờ Tần, [khi ấy] Hàn và Nguy lo lắng, ắt thông qua hai người họ để cầu liên kết với Tần, vậy thì Yên và Triệu cũng sẽ thờ Tần. Bốn nước tranh nhau thờ Tần, thì Sở sẽ thành quận huyện thôi. Đại vương sao không cùng quả nhân hợp sức thu phục Hàn, Ngụy, Yên, Triệu, cùng họ hợp tung để tôn Chu thất, đặng án binh cho dân nghỉ, hiệu lệnh thiên hạ? [Như thế thì] không ai dám không vui vẻ nghe theo, danh tiếng đại vương sẽ được vẻ vang. Đại vương thống lãnh chư hầu cùng thảo phạt, Tần ắt bị phá. Đại cương chiếm các đất Vũ Quan, Thục, Hán, có riêng sự giàu có của vùng Ngô, Việt, lại chiếm được nguồn lợi Trường Giang, đông hải; Hàn và Ngụy cắt đất Thượng Đảng [cho Sở,] phía tây [Sở] sát Hàm Cốc thì Sở sẽ hùng mạnh gấp trăm gấp vạn lần. Huống nữa đại vương bị Trương Nghi lừa dối, mất đất Hán Trung, quân bị áp chế ở Lam Điền, thiên hạ không ai không giận thay cho đại vương. Nay lại muốn thờ Tần trước! Xin đại vương hãy tính cho kỹ.”
Sở vương vốn đã định hòa hảo với Tần, nhưng nhận được thư của Tề vương, do dự chưa quyết, giao xuống quần thần thương nghị. Quần thần có người nói nên hòa hiếu với Tần, có người nói nên nghe theo Tề. Chiêu Thư nói: “Đại vương dẫu chiếm được đất của nước Việt ở phía đông cũng không đủ để xóa nỗi hổ thẹn; nhất định phải lấy được đất từ Tần, về sau mới đủ để xóa được nỗi nhục với chư hầu. Chẳng bằng đại vương hãy kết thâm giao với Hàn và Tề, khiến Sư Lý Tật được trọng dụng, như thế đại vương sẽ nhận được sự coi trọng của Hàn và Tề, nhờ sự ủng hộ của họ để đòi đất [của Tần]. Tần phá Nghi Dương của Hàn mà Hàn lại phụng sự Tần, là vì mồ mả tiên vương [nước Hàn] ở Bình Dương, mà đất Vũ Toại của Tần lại cách đó bảy mươi dặm, cho nên Hàn rất sợ Tần. Nếu không làm thế, Tần đánh Tam Xuyên, Triệu đánh Thượng Đảng, Sở đánh vùng phía ngoài Hoàng Hà, Hàn ắt diệt vong. Sở có cứu Hàn, cũng không thể khiến Hàn không diệt vong, vậy thì bảo tồn Hàn chính là Sở vậy. Hàn đã có được Vũ Toại của Tần, lấy núi non và sông Hoàng Hà làm biên ải, nước được báo ơn đức trọng hậu không nước nào bằng Sở, thần cho là Hàn vương ắt thờ đại vương. Sở dĩ Tề tin tưởng Hàn, vì công tử nước Hàn là Muội làm Tướng quốc nước Tề. Hàn đã có được Vũ Toại từ Tần, đại vương càng quan hệ tốt với họ, khiến Tề và Hàn coi trọng Sư Lý Tật, khi Tật được Tề và Hàn coi trọng, chủ của ông ta không dám vứt bỏ Tật. Nay lại thêm được ủng hộ của Sở, Sư Lý tử ắt nói với Tần trả lại đất đã xâm chiếm của Sở vậy.” Thế là Hoài vương đồng ý, rốt cuộc không liên kết với Tần, mà liên kết với Tề để thân cận với Hàn.
Năm thứ hai mươi tư, [Sở] bội ước với Tề để liên kết với Tần. Tần Chiêu vương mới lên ngôi, bèn hối lộ trọng hậu nước Sở. Sở sang [Tần] đón vợ. Năm thứ hai mươi lăm, Hoài vương sang kết minh với Tần Chiêu vương, giao ước tại Hoàng Cức. Tần trả lại Thương Dung cho Sở. Năm thứ hai mươi sáu, Tề, Hàn, Ngụy lấy lý do Sở phản bội tung ước với họ để liên kết với Tần, ba nước cùng thảo phạt Sở. Sở sai Thái tử sang làm con tin ở Tần để xin [Tần] cứu viện. Tần bèn sai Khách khanh là Thông cầm quân cứu Sở, ba nước bèn thu quân về.
Năm thứ hai mươi bảy, có đại phu nước Tần ngầm đấu với Thái tử nước Sở, Thái tử nước Sở giết người đó rồi trốn về. Năm thứ hai mươi tám, Tần bèn cùng Tề, Hàn, Ngụy tấn công sở, giết tướng Sở là Đường Muội, chiếm Trùng Khâu của Sở rồi về. Năm thứ hai mươi chín, Tần lại tấn công Sở, cả phá Sở, quân Sở chết hai vạn, tướng quân Cảnh Khuyết bị giết. Hoài vương lo sợ, bèn sai Thái tử sang làm con tin ở Tề để cầu hòa. Năm thứ ba mươi, Tần lại thảo phạt Sở, chiếm được tám thành. Tần Chiêu vương gửi thư cho Sở vương rằng: “Ban trước quả nhân và quân vương kết làm anh em, lập minh ước ở Hoàng Cức, Thái tử sang làm con tin, rất vui vẻ. Thái tử lăng nhục rồi giết trọng thần của quả nhân, không hề tạ lỗi mà trốn về, quả nhân thực không kìm được tức giận, sai quân xâm phạm biên cảnh của quân vương. Nay nghe tin quân vương sai Thái tử sang Tề làm con tin để cầu hòa. Quả nhân với Sở biên cảnh liền nhau, cho nên kết làm thông gia, thân thiết với nhau từ lâu. Mà nay quan hệ giữa Tần và Sở không tốt, thì chẳng lấy gì hiệu lệnh chư hầu. Quả nhân muốn cùng quân vương hội kiến ở Vũ Quan, gặp mặt giao ước với nhau, kết minh rồi về, đó là ý nguyện của quả nhân. Dám xin được nghe ý của quân vương.” Sở Hoài vương nhận được thư của Tần vương, lo lắng về việc đó. Muốn đi, sợ bị lừa; không đi, sợ Tần giận. Chiêu Thư nói: “Nhà vua chớ đi, hãy phát binh tự phòng giữ. Tần là hùm sói, không thể tin được, có lòng thôn tính chư hầu.” Con của Hoài vương là Tử Lan khuyên Sở vương nên đi, nói: “Sao có thể cự tuyệt lòng tốt của Tần!” Thế là [Sở vương] đến hội kiến với Tần Chiêu vương. Chiêu vương dối lừa, sai một tướng quân phục binh ở Vũ Quan, giả hiệu là Tần vương. Sở vương đến, [quân Tần] liền đóng cửa Vũ Quan rồi đưa về phía tây đến Hàm Dương, triều bái ở Chương Đài như các phiên thần, không được dùng lễ ngang hàng. Sở Hoài vương cả giận, hối hận vì không nghe lời Chiêu Thư. Tần nhân đó giữ Sở vương lại, đòi cắt đất quận Vu và Kiềm Trung. Sở vương muốn kết minh ước, Tần muốn được đất trước. Sở vương giận nói: “Tần đã lừa ta lại ép ta phải cắt đất!” [Hoài vương] không chịu cắt đất cho Tần. Tần nhân đó giữ Hoài vương lại.
Đại thần nước Sở lo lắng về việc đó, bèn cùng bàn mưu với nhau: “Vua ta bị giữ lại Tần không về được, [Tần] cốt đòi cắt đất, còn Thái tử đang làm con tin ở Tề, Tề và Tần hợp mưu, sẽ không còn nước Sở nữa.” Bèn định lập con của Hoài vương ở trong nước lên thay. Chiêu Thư nói: “Nhà vua cùng Thái tử đều bị nguy khốn ở chư hầu, mà nay lại trái lệnh vua lập con thứ lên thay, không nên.” Bèn sai người và đi báo tang với Tề, Tề Mẫn vương nói với Tướng quốc [nước Tề] rằng: “Chẳng bằng giữ Thái tử lại để đòi đất Hoài Bắc của Sở.” Tướng quốc nói: “Không thể, nếu Dĩnh đô lại lập vua mới, thế thì ta ôm con tin suông mà mang tiếng làm việc bất nghĩa với thiên hạ.” Có người nói: “Không phải thế. Nếu Dĩnh đô lại lập vua mới, nhân đó ta ngã giá với vua mới rằng cắt cho ta đất đai phía đông nước Sở, ta sẽ vì nhà vua giết Thái tử cho, nếu không, sẽ gộp ba nước chung nhau cùng lập Thái tử. Thế thì đất đai phía đông, ta ắt có thể được.” Cuối cùng Tề vương theo kế của Tướng quốc rồi đưa Thái tử về nước. Thái tử Hoành đến Sở, được lập làm vương, đó là Khoảnh Tương vương. [Sở] bèn báo với Tần rằng: “Nhờ sự linh thiêng của thần xã tắc, nước [Sở] đã có vua.”
Khoảnh Tương vương Hoành năm thứ nhất, Tần giữ Hoài vương nhưng không được đất, Sở lập vua mới để đối phó với Tần, Tần Chiêu vương giận, phát binh ra Vũ Quan tấn công Sở, quân Sở đại bại, chém được năm vạn thủ cấp, chiếm mười lăm thành ở ấp Tích rồi rút. Năm thứ hai, Sở Hoài vương trốn về, Tần phát hiện được, chặn đường nước Sở, Hoài vương sợ hãi, bèn theo đường nhỏ chạy sang Triệu để xin đi đường [nước Triệu] về nước. Triệu Chủ Phụ ở đất Đại, con là Huệ vương mới lên ngôi, thi hành vương chính, sợ [nước Tần], không dám cho Sở vương vào. Sở vương định chạy sang Ngụy, Tần đuổi sát đến, bèn cùng sứ Tần về lại Tần. Hoài vương liền phát bệnh. Khoảnh Tương vương năm thứ ba, Hoài vương chết ở Tần, Tần đưa về táng ở Sở. Người Sở đều thương xót Hoài vương, đau buồn như mất người thân thích. Chư hầu vì thế cho Tần là lật lọng. Tần và Sở tuyệt giao.
Năm thứ sáu, Tần sại Bạch Khởi thảo phạt đất Y Khuyết của Hàn, thắng lớn, chém được hai mươi tư vạn thủ cấp. Tần bèn gửi thư cho Sở vương rằng: “Sở phản bội Tần, Tần sẽ thống lãnh chư hầu thảo phạt Sở, quyết một phen thắng bại. Xin ngài hãy chỉnh đốn sĩ tốt, để đánh một trận thống khoái.” Sở Khoảnh Tương vương lo sợ, bèn tính kế lại giảng hòa với Tần. Năm thứ bảy, Sở đón vợ ở Tần, Tần và Sở lại giảng hòa.
Năm thứ mười một, Tề và Tần đều tự xưng đế; được hơn một tháng, lại bỏ đế hiệu xưng vương như cũ.
Năm thứ mười bốn, Sở Khoảnh Tương vương cùng Tần Chiêu vương hội kiến ở đất Uyển để nghị hòa kết thân. Năm thứ mười lăm, Sở vương cùng Tần, Tam Tấn, Yên cùng đánh Tề, chiếm được Hoài Bắc. Năm thứ mười sáu, cùng Tần Chiêu vương hội kiến ở đất Yên. Mùa thu năm ấy, lại cùng Tần vương hội kiến đất Nhưỡng.
Năm thứ mười tám, có người nước Sở thích dùng cung yếu, dây nhỏ bắn chim nhạn bay về, Khoảnh Tương vương nghe vậy bèn triệu đến hỏi. Đáp rằng: “Sở thích của tiểu thần là bắn nhạn nhỏ, bắt chim nhỏ[18], bắn mũi tên nhỏ, đâu đủ để thưa với đại vương. Huống chi với sự rộng lớn của Sở, dựa vào sự hiền năng của đại vương, thứ cần bắn đâu phải loại chim nhỏ này. Xưa, Tam vương bắn lấy đạo đức, Ngũ bá bắn lấy sự quy phụ của các nước. Cho nên Tần, Ngụy, Yên, Triệu giống con nhạn nhỏ; Tề, Lỗ, Hàn, Vệ giống chim le nhỏ đầu xanh; các nước Trâu, Bí, Đàm, Bi, giống như chim nhỏ vậy. Ngoài ra thì không đáng để bắn. Thấy sáu đôi chim[19], đại vương dùng cách nào để bắt? Đại vương sao không dùng thánh nhân làm cung, dùng dũng sĩ làm dây, nhân thời cơ giương cung bắn chúng? Như thế có thể bắt được sáu đôi chim này bỏ vào túi chở về. Niềm vui đó không phải niềm vui một sớm một chiều, thứ thu được thực không phải chỉ là con le con nhạn. Đại vương buổi sáng giương cung bắn lấy phía nam Đại Lương của Ngụy, bắn thương cánh tay phải của Ngụy, làm ảnh hưởng trực tiếp đến Hàn, thì đường giao thông của Trung nguyên bị chặn, quận Thượng Sái sẽ tan vỡ. Quay về bắn phía đông thành Ngữ, chặt đứt cánh tay trái của Ngụy rồi bên ngoài đánh vào Định Đào, thì phía đông nước Ngụy phải bỏ, mà hai quận Đại Tống và Phương Dự có thể đoạt được. Hơn nữa, Ngụy đứt hai tay, sẽ phải nghiêng ngả; đánh thẳng vào nước Đàm, có thể chiếm được Đại Lương. Đại cương thu dây cung ở Lan Đài, cho ngựa uống nước ở Tây Hà, bình định Đại Lương của Ngụy, đó là niềm vui của lần bắn thứ nhất. Việc bắn cung nếu đại vương yêu thích mà không chán, thì đem cung báu ra, thay bằng mũi tên đầu chế bằng đá và buộc dây mới, bắn chim lớn mỏ dài ở Đông hải, dùng Trường thành bao quanh để phòng ngự, buổi sáng bắn Đông Cử, chiều tối bắn Bái Khâu, đêm bắn thêm Tức Mặc, quay lại chiếm Ngọ Đạo, thì thu được phía đông Trường thành và mạn bắc Thái Sơn. Phía tây biên giới liền với Triệu còn phía bắc đến tận Yên, ba nước Sở, Triệu, Yên giương cánh lên thì hợp tung, không cần phải đợi đến khi kết minh đã có thể thành toàn. Phía bắc phóng tầm mắt ra đất Liêu Đông của Yên còn phía nam lên cao trông ra Cối Kê của Việt, đó là niềm vui của lần bắn thứ hai. Còn mười hai nước chư hầu Tứ Thượng[20], tay trái khua một cái, tay phải phất một cái, một sớm có thể thu phục hết thảy. Nay Tần phá Hàn vì cho Hàn là mối lo lâu dài, chiếm được các thành mà không dám giữ; đánh Ngụy nhưng không thủ thắng, đánh Triệu nhưng trái lại chuốc nguy, vậy thì dùng lực của Tần và Ngụy tiêu hao rồi, các đất cũ như Hán Trung, Tích, Ly của Sở có thể thu lại được. Đại vương đem cung báu, dùng mũi tên đầu bằng đá và buộc dây cung mới, vượt ải Mãnh, rồi đợi Tần mỏi mệt, như thế có thể chiếm được Sơn Đông và Hà Nội rồi thành một dải vậy. Úy lạo dân chúng, cho sĩ tốt nghỉ, ngoảnh mặt về nam mà xưng vương. Cho nên nói Tần là chim lớn, lưng cõng đất liền, đứng quay nhìn về phía đông, cánh tay trái khống chế phía tây nam nước Triệu, cánh tay phải khống chế đất Yên Dĩnh của Sở, đánh trực diện vào Hàn, Ngụy, cúi đầu nhắm vào Trung nguyên, ở chỗ thuận tiện, địa thế có lợi, tung cánh bay lên, vuông ba nghìn dặm, vậy thì với Tần không thể một mình dẫn dụ rồi bắn hạ trong một đêm được vậy.” Muốn chọc giận Tương vương, cho nên đáp bằng những lời ấy. Tương vương nhân đó triệu vào nói chuyện, bèn nói tiếp: “Xét lẽ, tiên vương bị Tần lừa dối rồi chết nơi đất khách bên ngoài, oán nào lớn hơn thế. Nay kẻ thất phu oán hận còn báo thù cả nước vạn cỗ xe, Bạch công, Tử Tư là vậy. Nay đất của Sở vuông năm nghìn dặm, giáp binh trăm vạn, đủ để rong ruổi chiến trường Trung nguyên, mà lại ngồi chịu nguy khốn, thần trộm cho [kế sách của] đại vương không khả thủ vậy.” Thế là Khoảnh Tương vương sai sứ đến chư hầu, kết lại hợp tung, muốn để đánh Tần. Tần hay tin, phát binh đến thảo phạt Sở.
Sở muốn liên kết với Tề và Hàn để đánh Tần, thừa cơ mưu đồ nhà Chu. Chu vương Noản sai Vũ công nói với Tướng quốc nước Sở là Chiêu tử rằng: “Ba nước dùng binh phân cắt đất ngoại vi của nhà Chu để tiện vận lương, rồi đem các đồ báu xuống phía nam để tôn phụng Sở, tôi cho là không đúng. Xét lẽ, giết tông chủ được mọi người suy tôn, biến vua đời đời kế thừa thành bề tôi[21], nước lớn không thân; cậy đông hiếp ít, nước nhỏ không theo. Nước lớn không thân, nước nhỏ không theo thì không thể được cả danh và thực. Không được danh và thực thì không thể động binh, tổn thương dân chúng. Xét lẽ, mang tiếng là mưu đồ nhà Chu thì chẳng lấy gì để hiệu triệu chư hầu vậy.” Chiêu tử đáp: “Mưu đồ nhà Chu thì không có, nhưng với nhà Chu sao lại không thể mưu đồ?” Đáp rằng: “Quân không đông gấp năm lần thì không tấn công, không đông gấp mười lần thì không vây thành. Xét, một nước Chu bằng hai mươi nước Tấn[22], đó là điều ngài đã biết. Nước Hàn từng đem hai mươi vạn quân đánh Tấn, bị hạ nhục dưới chân thành nước Tấn, sĩ tốt tinh nhuệ bị chết, các sĩ tốt khác bị thương, mà không hạ được Tấn. Ngài không có quân đội gấp trăm nước Hàn để bao vây Chu, đó là điều thiên hạ đều biết. Phàm kết oán với hai Chu [Đông Chu và Tây Chu] sẽ chặn lòng quy phụ của Trâu, Lỗ, tuyệt giao với Tề, thì thanh danh [của Sở] trong thiên hạ sẽ mất, cách làm đó thật nguy hiểm. Phàm khiến hai Chu nguy hiểm để hậu đãi Tam Xuyên thì phía ngoài Phương Thành [của Sở] ắt bị Hàn làm suy yếu. Tại sao biết được điều đó? Đất của Tây Chu, cắt chỗ dài bù chỗ ngắn, không quá trăm dặm. Danh nghĩa là tông chủ được thiên hạ tôn phù, nhưng cắt đất nhà Chu không đủ để mở rộng đất nước ngài, được dân nhà Chu cũng không đủ làm mạnh thêm quân binh ngài. Tuy không đánh nhà Chu, vẫn mang tiếng giết vua. Vậy nên vị vua hiếu sự, bề tôi hiếu chiến, phát đi hiệu lệnh, sử dụng quân đội, chưa từng không có đầu có cuối với nhà Chu. Ấy là vì sao? Là vì thấy đồ tế khí vẫn ở nhà Chu, muốn tế khí được đưa đến chỗ mình thì phải quên tội làm loạn giết vua. Nay Hàn đem đồ tế khí đến cho Sở, tôi e thiên hạ vì đồ tế khí mà coi Sở như cừu địch. Tôi xin thí dụ. Phàm thịt hổ tanh, có vuốt nanh để phòng thân, thế mà người ta còn tấn công nó. Giả sử con nai trong chằm dùng da hổ khoác lên, người ta tấn công nó ắt hơn vạn lần đánh hổ. Chia đất của Sở đủ để làm giàu cho nước mình; danh nghĩa khiển trách Sở đủ để đề cao chủ mình. Nay ngài muốn diệt tông chủ chung của thiên hạ, chiếm đồ tế khí thời Tam đại truyền lại, nuốt gọn cửu đỉnh để tôn chúa mình lên cao hơn đời, chẳng tham thì là gì? Chu thư viết: 'Muốn hưng khởi thì đừng ra tay trước [để làm loạn]', cho nên đồ tế khi về phương nam thì quân binh cũng kéo đến vậy.” Thế là Sở bãi bỏ kế hoạch.
Năm thứ mười chín, Tần đánh Sở, quân Sở thua, phải cắt Thượng Dung và phía bắc Hán Thủy cho Tần. Năm thứ hai mươi, tướng Tần là Bạch Khởi đánh hạ Tây Lăng của Sở. Năm thứ hai mươi mốt, tướng Tần là Bạch Khởi hạ được Dĩnh đô của Sở, đốt mộ tiên vương nước Sở ở Di Lăng. Quân Sở Tương vương tan tác, không tái chiến được, bèn rút về phía đông bắc giữ Trần Thành. Năm thứ hai mươi hai, Tần lại hạ được quận Vu và Kiềm Trung của Sở.
Năm thứ hai mươi ba, Tương vương bèn thu thập quân sĩ ở khu vực phía đông, được hơn mười vạn, lại sang phía tây lấy được mười lăm ấp ven sông Trường Giang từng bị Tần xâm chiếm rồi lập thành quận, chống lại quân Tần. Năm thứ hai mươi bảy, sai ba vạn người giúp Tam Tấn đánh Yên. Lại giảng hòa với Tần, rồi đưa Thái tử sang Tần làm con tin. Sở sai quan Tả đồ sang Tần hầu Thái tử.
Năm thứ ba mươi sáu, Khoảnh Tương vương ốm, Thái tử trốn về. Mùa thu, Khoảnh Tương vương chết, Thái tử Hùng Nguyên lên thay, đó là Khảo Liệt vương. Khảo Liệt vương phong Tả đồ làm Lệnh doãn, phong cho đất Ngô, hiệu là Xuân Thân quân.
Khảo Liệt vương năm thứ nhất, nạp ấp Châu cho Tần để cầu hòa. Lúc này Sở ngày càng yếu.
Năm thứ sáu, Tần bao vây Hàm Đan, Triệu cấp báo với Sở, Sở sai Tướng quân Cảnh Dương đến cứu Triệu. Năm thứ bảy, tiến đến Tân Trung. Quân Tần rút. Năm thứ mười hai, Tần Chiêu vương chết, Sở vương sai Xuân Thân quân sang Tần điếu viếng. Năm thứ mười sáu, Trang Tương vương nước Tần chết, Tần Vương Triệu Chính lên thay. Năm thứ hai mươi hai, Sở cùng chư hầu đánh Tần, bất lợi rồi rút quân. Sở dời đô sang Thọ Xuân ở phía đông, gọi là Dĩnh đô.
Năm thứ hai mươi lăm, Khảo Liệt vương chết, con là U vương Hãn lên thay. Lý Viên giết Xuân Thân quân. U vương năm thứ ba, Tần và Ngụy đánh Sở. Tướng quốc nước Tần là Lã Bất Vi chết. Năm thứ chín, Tần diệt Hàn. Năm thứ mười, U vương chết, em cùng mẹ là Do lên thay, đó là Ai vương. Ai vương lên ngôi được hơn hai tháng, đồ đảng của anh thứ Ai vương là bọn Phụ Sô tập kích giết Ai vương rồi lập Phụ Sô lên làm vương. Vào năm này, Tần bắt sống Triệu vương Thiên.
Sở vương Phụ Sô năm thứ nhất, Thái tử Đan nước Yên sai Kinh Kha hành thích Tần vương. Năm thứ hai, Tần sai Tướng quân đánh Sở, đại phá quân Sở, [Sở] mất hơn chục thành. Năm thứ ba, Tần diệt Ngụy. Năm thứ tư, tướng Tần là Vương Tiễn phá quân Sở ở đất Kỳ, rồi giết Tướng quân Hạng Yên.
Năm thứ năm, tướng Tần là Vương Tiễn, Mông Vũ phá được nước Sở, bắt Sở vương Phụ Sô làm tù binh, diệt Sở, đổi thành quận.
Thái sử công bàn rằng: Sở Linh vương đang hội chư hầu ở ấp Thân liền giết Khánh Phong nước Tề, dựng đài Chương Hoa, lúc đòi cửu đỉnh của nhà Chu, có ý coi rẻ thiên hạ, đến khi chết đói ở nhà Thân Hợi, bị thiên hạ chê cười. Không tu dưỡng tiết tháo và đức hạnh, buồn thay! Quyền thế đối với con người ta, không thận trọng được ư? Khí Tật nhân loạn mà lên ngôi, sủng ái người con gái nước Tần quá độ, suýt nữa lại mất nước!
[1] Hỏa chính: thần lửa trong truyền thuyết dân gian, cũng được hiểu như chức quan phụ trách về lửa.
[2] Cũng được phiên là Khốc.
[3] Cũng được phiên là Dục Hùng.
[4] Có thuyết cho rằng do Hùng Vô Khang, con trưởng của Hùng Cừ là người kế tục, mất sớm, nên Hùng Cừ định truyền cho người con thứ hai là Hùng Chí, do Hùng Chí mắc ác tật, nên không được làm người kế tục, bị chuyển ra ở đất Quỳ, làm phụ dung cho nước Sở, sau vương mệnh cho là Quỳ tử. Ở đây lại cho rằng Hùng Chí bị Hùng Diên là em trai giết đi, đoạt ngôi.
[5] Giáp rách: cách nói khiêm xưng về quân đội của mình, ý nói mình có quân đội.
[6] Trung quốc: cũng như cách nói “Trung nguyên”, chỉ các nước ở trung tâm. Sở ở phía nam, cho là mình ở chốn man di, nên gọi các nước ở trung tâm là “chính sự của Trung quốc”.
[7] Cao Dao: hiền thần thời Nghiêu Thuấn.
[8] Em của vua nước Trịnh.
[9] Nguyên nhân rút quân còn vì quân lương của Sở cũng chỉ đủ dùng trong đội ba ngày, không thể không rút.
[10] Hữu doãn: chức quan khanh ở nước Sở, thấp hơn chức Lệnh doãn.
[11] Nguyên là “Quyên nhân”, cũng như chức Trung quyên, là quan thị tòng nhà vua.
[12] Chức quan giúp việc cho người bói toán. Đương thời, sự bói toán bằng mai rùa và xương thú có vị trí đặc biệt quan trọng, mỗi khi tiến hành các sự kiện trọng đại, người ta đều bói trước để xem sự mách bảo của quỷ thần.
[13] Ý nói muốn hỏi ý quỷ thần để quyết định việc lập Thái tử.
[14] Trân: Có chỗ ghi là Chẩn.
[15] Sách ẩn chú: Chỉ có hai công tử là công tử Yểm Dư chạy sang đất Từ và Công tử Chúc Dung chạy sang ấp Chung Ly.
[16] Chỉ việc nước Ngô vì báo thù cho Ngũ Tử Tư nên đào mộ Bình vương, rồi Ngũ Tử Tư lấy roi đánh vào thây.
[17] Có khi phiên là Bao.
[18] Nguyên là “long”, một loại chim nhỏ. Có sách cho là một loài “dã điểu".
[19] Sáu đôi: mười hai con, chỉ mười hai nước, sẽ nói ở đoạn dưới.
[20] Chỉ các nước ở vùng phía bắc Sông Tử.
[21] Ý nói Hoàng đế nhà Chu.
[22] Chu đất nhỏ, song danh nghĩa là nước của thiên tử, được các nước chư hầu tôn phò, nên nói một nước Chu bằng hai mươi nước Tấn.