Sử Ký III. Thế Gia

Lượt đọc: 275 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUYỂN 57 GIÁNG HẦU CHU BỘT THẾ GIA

❊ ❊ ❊

Giáng hầu Chu Bột là người huyện Bái. Tổ tiên là người huyện Khuyên[1], [sau] rời đến huyện Bái. Bột làm nghề đan nong tằm để kiếm sống, từng đi thổi kèn đám ma, là viên quan có sức giương cung mạnh.

Khi Cao tổ làm Bái công, mới nổi dậy, Bột làm Trung quyên, đi theo đánh Hồ Lăng, hạ được Phương Dự. Phương Dự làm phản, giao chiến, đẩy lui quân địch. Đánh huyện Phong. Đánh quân Tần phía đông huyện Đường. Kéo quân về huyện Lưu và huyện Tiêu. Lại tấn công đất Đường, phá được. Xuống Hạ Ấp, xông lên trước. Được tặng tước Ngũ đại phu. Tấn công ấp Mông và huyện Ngu, chiếm được. Đánh quân xa kỵ của Chương Hàm, công lao ít. Bình định đất Ngụy. Đánh Viên Thích, Đông Mân, rồi tiến đến huyện Lật, chiếm được. Tấn công Khiết Tang, xông lên trước. Đánh quân Tần dưới thành A, phá được. Đuổi đến Bộc Dương, hạ được thành Quyên. Tấn công Đô Quan, Định Đào, đánh úp rồi chiếm Uyển Cù, bắt được Huyện lệnh Thiện Phủ. Ban đêm đánh úp chiếm Lâm Tế, tấn công đất Trương, tiến lên phía trước đến đất Khuyên, phá được địch. Đánh quân của Lý Do dưới thành Ung Khâu. Tấn công Khai Phong, quân của Chu Bột đến trước, [tập trung] dưới thành nhiều nhất. Sau, Chương Hàm đánh bại rồi giết Hạng Lương, Bái công cùng Hạng Vũ dẫn quân sang phía đông đến đất Đường. Từ lúc mới nổi lên ở đất Bái đến khi trở về đất Đường là một năm hai tháng. Sở Hoài vương phong Bái công hiệu là An Vũ hầu, làm quận trưởng quận Đường. Bái công phong cho Bột làm Hổ bôn lệnh, lấy thân phận Hổ Môn lệnh theo Bái công bình định đất Ngụy. Tấn công Quận úy Đông Quận ở Thành Vũ, phá được. Đánh quân của Vương Ly, phá được. Tấn công Trường Xã, xông lên trước. Tấn công Dĩnh Dương, Câu Thị, chặn bến Hoàng Hà. Đánh quân của Triệu Phì ở phía bắc đất Thi. Phía nam tấn công Quận thú Nam Dương là Nghĩ, phá được Vũ Quan và Nghiêu Quan. Phá quân Tần ở Lam Điền, kéo đến Hàm Dương, diệt nhà Tần.

Hạng Vũ đến [Hàm Dương], phong Bái công làm Hán vương. Hán vương tặng Bột tước Uy Vũ hầu. Theo vào Hán Trung, phong làm Tướng quân. Về bình định Tam Tần, đến đất Tần, được ban thực ấp ở Hoài Đức. Tấn công Hòe Lý, Hảo Chỉ, công lao lớn nhất. Đánh Triệu Phì và Nội sử Bảo ở Hàm Dương, công lao lớn nhất. Lên phía bắc tấn công đất Tất. Đánh quân của Chương Bình, Diêu Ngang. Sang phía tây bình định đất Khiên. Về, kéo xuống huyện Mi, Tần Dương. Bao vây Chương Hàm ở Phế Khâu. Phá được quân của Huyền thừa huyện Tây. Đánh quân Đạo Ba, phá được. Tấn công Thương Khuê. Sang phía đông giữ Nghiêu Quan. Chuyển sang đánh Hạng Tịch. Tấn công Khúc Nghịch, có công lớn nhất. Trở về giữ kho Ngao Thương, đuổi đánh Hạng Tịch. Sau khi Tịch chết, thừa thế sang phía đông bình định Tứ Thủy và quận Đông Hải ở đất Sở, cả thảy bình định được hai mươi hai huyện. Trở về giữ Lạc Dương, Lịch Dương, Hán vương ban cho cùng Dĩnh Âm hầu đều hưởng thực ấp ở huyện Chung Ly. Lấy thân phận Tướng quân theo Cao đế đánh Yên vương Tang Đồ làm phản, phá được Tang Đồ ở dưới thành Dịch. Tướng tá sĩ tốt [của Chu Bột] phóng ngựa trên đường, lập nhiều chiến công. Được ban tước liệt hầu, chẻ phù tiết phân phong, đời đời không dứt. Hưởng thực ấp tám nghìn một trăm tám mươi hộ ở đất Giáng, hiệu là Giáng hầu.

Lấy thân phận Tướng quân theo Cao đế đi đánh Hàn vương Tín làm phản ở đất Đại, hàng phục được huyện Tỏa Nhân. Đi trước đến Vũ Tuyền, đánh kỵ binh người Hồ, phá được quân Hồ ở phía bắc Vũ Tuyền. Chuyển sang đánh quân của Hàn vương Tín ở Đồng Đề, phá được. Trở về, hàng phục sáu thành ở Thái Nguyên. Đánh kỵ binh người Hồ của Hàn vương Tín dưới thành Tấn Dương, phá được, hạ thành Tấn Dương. Sau, lại đánh quân Hàn vương Tín ở Sa Thạch, phá được, đuổi theo lên phía bắc tám mươi dặm. Trở về tấn công ba thành của Lâu Phiền, thừa thế đánh kỵ binh người Hồ dưới Bình Thành, các tướng lĩnh, sĩ tốt của Chu Bột phóng ngựa trên đường, lập nhiều chiến công. Bột được thăng làm Thái úy.

Tiến đánh Trần Hy, làm cỏ cả Mã ấp. Các tướng sĩ chém được Tướng quân dưới quyền Trần Hy là Thặng Mã Hy. Đánh quân của Hàn vương Tín, Trần Hy, Triệu Lợi ở Lâu Phiền, phá được. Bắt được tướng của Hy là Tống Tối và Quận thú Nhạn Môn là Hỗn. Thừa thế chuyển sang tấn công bắt được Quận thú Vân Trung là Tốc, Thừa tướng là Cơ Tứ, tướng là Huân. Bình định mười bảy huyện ở quận Nhạn Môn, mười hai huyện ở quận Vân Trung. Nhân đó lại đánh quân của Trần Hy ở Linh Khâu, phá được, chém Hy, bắt được Thừa tướng của Hy là Trình Tung, Tướng quân Trần Vũ, Đô úy Cao Tứ. Bình định chín huyện ở Đại Quận.

Yên vương Lư Oản làm phản, Bột lấy thân phận Tướng quốc thay Phàn Khoái cầm quân, đánh hạ huyện Kế, bắt được Đại tướng của Oản là Đế, Thừa tướng là Yển, Quận thú là Hình, Thái úy là Nhược, Ngự sử đại phu là Thi, làm cỏ cả Hồn Đô. Phá quân của Oản ở Thượng Lan, lại đánh phá quân của Oản ở Trở Dương. Đuổi đến Trường Thành, bình định mười hai huyện ở Thượng Cốc, mười sáu huyện ở Hữu Bắc Bình, hai mươi chín huyện ở Liêu Tây và Liêu Đông, hai mươi hai huyện ở Ngư Dương. Công lớn nhất là theo Cao đế bắt được một Tướng quốc, hai Thừa tướng, Tướng quân và quan trật Nhị thiên thạch mỗi hạng ba người; bản thân phá được hai cánh quân, hạ ba thành, bình định năm quận, bảy mươi chín huyện, bắt được một Thừa tướng và một Đại tướng.

Bột là người thẳng thắn, đôn hậu, Cao đế cho là có thể giao phó việc lớn. Bột không thích văn học, mỗi lần triệu các nho sinh, các kẻ sĩ du thuyết đến, Bột ngồi ngoảnh mặt về phía đông mà yêu cầu họ: “Mau nói ta nghe.” Ông ta thẳng thắn và kém phần văn vẻ thế đó.

Sau khi Bột bình định nước Yên trở về, Cao tổ đã băng hà, lấy thân phận liệt hầu thờ Hiếu Huệ đế. Hiếu Huệ đế năm thứ sáu, thiết lập chức Thái úy, phong Bột làm Thái úy. Mười năm sau, Cao hậu băng hà. Lã Lộc lấy thân phận là Triệu vương làm Thượng tướng quân nhà Hán, Lã Sản lấy thân phận là Lã vương làm Tướng quốc nhà Hán, nắm quyền bính triều Hán, muốn gây nguy hại cho họ Lưu. Bột làm Thái úy, không được vào cửa quân doanh. Trần Bình làm Thừa tướng, không được xử lý chính sự. Thế là Bột cùng Bình bàn mưu, rốt cuộc giết những người họ Lã rồi lập Hiếu Văn Hoàng đế. Việc này đã chép trong phần Lã hậu [bản kỷ]Hiếu Văn [đế bản kỷ].

Sau khi Văn đế lên ngôi, phong Bột làm Hữu thừa tướng, ban tặng năm nghìn cân vàng, thực ấp vạn hộ. Được hơn tháng, có người nói với Bột rằng: “Ngài đã giết người họ Lã, lập Đại vương lên ngôi[2], oai lừng thiên hạ, mà ngài nhận thưởng hậu hĩnh, ở vị trí cao, được sủng ái, lâu ngày sẽ mang họa vào thân đấy.” Bột sợ, cũng tự thấy nguy hiểm, bèn từ tạ xin trả ấn Thừa tướng. Hoàng thượng đồng ý. Được hơn năm, Thừa tướng Trần Bình chết, hoàng thượng lại phong Bột làm Thừa tướng. Hơn mười tháng sau, hoàng thượng nói: “Trước đây ta hạ chiếu cho liệt hầu về nước phong, có người vẫn chưa đi, Thừa tướng là người ta xem trọng, ông hãy dẫn đầu việc này.” Bèn miễn chức Thừa tướng rồi đến nước phong.

[Đến đất phong] được hơn một năm, mỗi khi Quận thú, Quận úy Hà Đông đến huyện Giang, Giáng hầu Bột tự sợ bị giết, thường mặc giáp, sai gia nhân cầm binh khí để gặp họ. Về sau, có người dâng thư lên hoàng thượng tố cáo Bột định làm phản, [hoàng thượng] giao cho Đình úy xử lý. Đình úy giao việc đó xuống cho Trường An phụ trách, rồi bắt Bột trị tội. Bột sợ, không biết biện bạch thế nào. Ngục lại dần dà xúc phạm, sỉ nhục Bột. Bột đem ngàn vàng luồn lót cho ngục lại, ngục lại bèn viết vào mặt sau tấm thẻ cho bột xem, viết rằng “Có Công chúa làm chứng”. Công chúa, tức con gái của Hiếu Văn đế, con trai cả của Bột là Thắng Chi phụng sự Công chúa[3], cho nên ngục lại xui Bột đưa Công chúa làm chứng. [Khi trước, mỗi lần] Bột được phong tặng thêm, thảy đều cho Bạc Chiêu[4]. Đến khi bị giam cầm nguy cấp, Bạc Chiêu nói với Bạc Thái hậu, Thái hậu cũng cho là không có việc [Bột] làm phản. Văn đế thiết triều, Thái hậu cởi khăn đội đầu ném Văn đế, nói: “Giáng hầu đeo ngọc tỷ của Hoàng đế, thống lãnh binh lính ở Bắc quân, không nhân lúc đó làm phản, nay ở một huyện cỏn con, lại muốn làm phản ư!” Văn đế đã xem lời khai trong ngục của Giáng hầu, bèn tạ lỗi rằng: “Ngục lại đang tra rõ, sắp thả ra.” Thế rồi sai sứ mang phù tiết đến xá miễn cho Giáng hầu, khôi phục tước vị và ấp phong. Sau khi ra khỏi ngục, [Bột] nói: “Ta từng cầm trăm vạn quân, nhưng đâu hay sự tôn quý của lũ ngục lại!”

Giáng hầu lại về nước phong. Năm Hiếu Văn đế thứ mười một, Bột chết, thụy là Vũ hầu. Con là Thắng Chi kế thừa tước hầu. Được sáu năm, phụng sự Công chúa, không hòa thuận với nhau, mắc tội giết người, nước phong bị phế. Tước vị bị tước một năm, Văn đế bèn chọn một người con hiền năng trong các con của Giáng hầu Bột là Á Phu cho làm Quận thú Hà Nội, phong làm Điều hầu, kế tục tước vị của Giáng hầu.

Khi Điều hầu Á Phu chưa được phong hầu, còn làm Quận thú Hà Nội, Hứa Phụ xem tướng cho Á Phu, bảo rằng: “Ba năm nữa ngài được phong hầu. Được phong hầu tám năm thì làm tướng võ tướng văn, nắm quyền bính quốc gia, quyền cao chức trọng, trong các bề tôi không có người thứ hai [được như ngài]. Chín năm sau thì ngài chết đói.” Á Phu cười nói: “Anh tôi đã kế thừa tước hầu của cha, như có mất đi thì con sẽ thay, đâu đến lượt Á Phu này? Mà nếu đã hiển quý như ông nói, sao lại bảo sẽ chết đói? Xin chỉ tôi rõ.” Hứa Phụ trỏ vào miệng Á Phu nói: “Có vết dọc vào trong miệng, đó là tướng chết đói vậy.” Được ba năm, người anh của Á Phu là Giáng hầu Thắng Chi có tội, Hiếu Văn đế chọn con hiền năng của Giáng hầu, thảy đều tiến cử Á Phu, bèn phong Á Phu làm Điều hầu, kế tục tước phong của Giáng hầu.

Sáu năm sau khi Văn đế lên ngôi, Hung Nô đem đại quân vào biên giới. Bèn phong quan Tông chính Lưu Lễ làm Tướng quân, đóng quân ở Bá Thượng; Chúc Tư hầu Từ Lệ làm Tướng quân, đóng quân ở Các Môn; phong Quận thú Hà Nội là Á Phu làm Tướng quân, đóng quân ở Tế Liễu, để phòng bị giặc Hồ. Hoàng thượng đích thân úy lạo quân đội. Đến quân doanh ở Bá Thượng cho tới Cức Môn, cưỡi ngựa phóng thẳng vào, các tướng cùng quan lại cấp dưới đều cưỡi ngựa đưa đón. Thế rồi đến quân doanh Tế Liễu, quan binh trong quân mặc giáp, cầm binh khí sắc nhọn, giương cung kéo nỏ sẵn sàng. Đội dẫn đầu của thiên tử đến nơi, không được vào. Đội dẫn đầu nói: “Thiên tử sắp đến!” Đô úy giữ cửa quân nói: “Tướng quân lệnh rằng trong quân nghe lệnh Tướng quân, không nghe chiếu của thiên tử.” Lát sau, hoàng thượng đến, cũng không được vào. Thế là hoàng thượng bèn sai sứ cầm phù tiết đến hạ chiếu cho Tướng quân rằng: “Ta muốn vào úy lạo quân đội.” Á Phu bèn truyền lời mở cổng quân doanh. Quan binh giữ cửa quân doanh bảo với ngựa xe tùy tòng hoàng thượng rằng: “Tướng quân quy định, trong quân không được phóng ngựa.” Thế là thiên tử bèn cầm cương đi từ từ. Đến đại doanh, tướng quân Á Phu cầm binh khí vái nói: “Tướng sĩ mặc giáp trụ thì không lạy, xin dùng nghi lễ trong quân để tham kiến.” Thiên tử liền thay đổi, sắc mặt trở nên trang trọng, dựa vào đòn ngang trước xe [để tỏ ý kính cẩn]. Sai người truyền rằng: “Hoàng đế kính ý úy lạo Tướng quân.” Lễ úy lạo xong xuôi rồi ra đi. Ra khỏi cửa quân doanh, quần thần đều kinh ngạc. Văn đế nói: “Ôi chao, đây mới là Tướng quân đích thực! Bữa trước ở quân doanh Bá Thượng và Các Môn, như trò đùa trẻ con thôi, tướng hai chỗ ấy dễ bị đánh úp rồi bị bắt làm tù binh vậy. Còn như Á Phu, có thể phạm vào được ư!” Tấm tắc khen ngợi hồi lâu. Hơn tháng sau, ba cánh quân đều bãi bỏ. Bèn phong Á Phu làm Trung úy.

Lúc Hiếu Văn đế sắp băng hà, răn Thái tử rằng: “Nếu có việc nguy cấp, Chu Á Phu đích thực có thể giao làm Tướng quân.” Văn đế băng hà, [Hiếu Cảnh đế] phong Á Phu làm Xa kỵ tướng quân.

Hiếu Cảnh đế năm thứ ba, Ngô, Sở làm phản. Á Phu lấy thân phận Trung úy làm Thái úy sang phía đông đánh Ngô, Sở. Nhân đó đích thân thỉnh cầu hoàng thượng rằng: “Quân Sở hung mãnh nhanh nhẹn, khó có thể tranh hơn. Xin đem nước Lương giao cho chúng, cắt đứt đường tải lương, mới khống chế được.” Hoàng thượng đồng ý.

Sau khi Thái úy hội quân ở Huỳnh Dương, quân Ngô đang tấn công nước Lương, nước Lương nguy cấp, xin cứu viện. Thái úy dẫn quân sang phía đông bắc, tiến nhanh đến Xương Ấp, lũy cao hào sâu phòng thủ. Nước Lương hằng ngày sai sứ xin Thái úy [cứu viện], Thái úy tiện bề phòng giữ, không chịu đi cứu. Lương dâng thư nói với Cảnh đế, Cảnh đế sai sứ mang chiếu hạ lệnh cứu viện nước Lương, Thái úy không vững chiếu, giữ vững phòng lũy không ra, rồi sai quân khinh kỵ là bọn Cung Cao hầu chặn đường tiếp lương phía sau quân Ngô, Sở. Quân Ngô thiếu lương, đói, nhiều lần muốn khiêu chiến, rốt cuộc [Thái úy] vẫn không ra đánh. Ban đêm, quân doanh có động, trong quân đánh nhau náo loạn, kéo đến dưới trướng Thái úy. Thái úy rốt cuộc vẫn không dậy. Lát sau, lại yên. Sau đó, quân Ngô kéo đến góc phía đông nam phòng lũy, Thái úy sai phòng bị mạn tây bắc. Thế rồi tinh binh [nước Ngô] quả nhiên phóng đến góc tây bắc, không phạm vào được. Quân Ngô bị đói, bèn dẫn binh rút đi. Thái úy đem tinh binh đuổi đánh, cả phá được. Ngô vương Tỵ bỏ quân đội, cùng mấy nghìn tráng sĩ chạy trốn, chạy đến giữ ở Đan Đồ, Giang Nam, Quân Hán thừa thắng, bèn bắt sống hết, hàng phục quân Ngô, treo thưởng ngàn vàng cho ai chém được Ngô vương. Hơn tháng sau, người nước Việt chém được đầu Ngô vương đem đến trình báo. Cả thảy hai bên đánh, giữ trong ba tháng, rồi Ngô, Sở bị dẹp tan. Bấy giờ các tướng mới cho mưu kế của Thái úy là đúng đắn. Từ đó Lương Hiếu vương nảy sinh hiềm khích với Thái úy.

Trở về, lại giữ chức Thái úy. Năm năm sau, thăng làm Thừa tướng, Cảnh đế rất coi trọng ông. Cảnh đế phế truất Lật Thái tử, Thừa tướng cố can ngăn, không được. Cảnh đế từ đấy xa lánh Á Phu. Còn Lương Hiếu vương mỗi khi vào triều, thường nói với Thái hậu về khuyết điểm của Điều hầu.

Đậu Thái hậu nói: “Anh của Hoàng hậu là Vương Tín đáng được phong hầu.” Cảnh đế nhún nhường rằng: “Ban trước, Nam Bì hầu, Chương Vũ hầu không được tiên đế phong hầu, đến khi thần lên ngôi mới phong hầu cho họ. Tín vẫn chưa nên phong.” Đậu Thái hậu nói: “Mỗi bậc nhân chủ đều theo thời mà hành sự. Đậu Trưởng quân lúc còn sống, rốt cuộc không được phong hầu, sau khi chết con là Bành Tổ lại được phong hầu. Ta rất hối hận về việc đó. Hoàng đế hãy sớm phong hầu cho Tín!” Cảnh đế nói: “Xin được bàn việc này với Thừa tướng.” Nghị bàn với Thừa tướng, Á Phu nói: “Cao Hoàng đế quy định 'Không phải người họ Lưu không được phong vương, không phải người có công không được phong hầu. Không theo quy định, thiên hạ cùng đánh kẻ đó'. Nay Tín tuy là anh của Hoàng hậu, nhưng không có công, phong hầu cho Tín là không đúng quy định.” Cảnh đế không nói gì rồi dừng việc đó.

Về sau, [thuộc hạ của] vua Hung Nô là bọn Duy Từ Lô năm người đến hàng, Cảnh đế định phong hầu cho họ để khuyến khích người sau. Thừa tướng Á Phu nói: “Họ phản bội chúa mình theo hàng bệ hạ, bệ hạ phong hầu cho họ, thì dựa vào đâu đòi hỏi bề tôi phải giữ tiết nghĩa?” Cảnh đế nói: “Lời bàn của Thừa tướng không dùng được.” Bèn phong tước hầu cho cả bọn Duy Từ Lô. Á Phu nhân đó thác bệnh. Trong ba năm thời Cảnh đế, [Á Phu] vì đau ốm nên miễn chức Thừa tướng.

Một thời gian sau, Cảnh đế triệu kiến Điều hầu vào cung cấm, ban ăn. [Cảnh đế] chỉ đặt một tảng thịt lớn, không có đồ để cắt, lại cũng không bày đũa. Điều hầu trong dạ bất bình, quay lại bảo viên phụ trách tiệc rượu lấy đũa. Cảnh đế nhìn rồi cười hỏi: “Thế này với ông vẫn chưa đủ ư?” Điều hầu bỏ mũ tạ lỗi. Hoàng thượng đứng lên, Điều hầu nhân đó rảo bước ra ngoài. Cảnh để đưa mắt nhìn theo, nói: “Kẻ ấm ức như thế không phải bề tôi của bậc thiếu chủ!”

Không lâu sau, con của Điều hầu mua cho cha năm trăm bộ giáp và lá chắn ở chỗ quan phụ trách chế tạo đồ dùng cho triều đình, để dùng vào việc tuẫn táng. Người được thuê chở các đồ ấy rất vất vả, lại không được đưa tiền công. Người làm thuê biết con của Điều hầu mua trộm các đồ dùng dành cho thiên tử, giận rồi dâng thư tố cáo con trai Á Phu, việc liên lụy đến Điều hầu. Thư được gửi lên hoàng thượng, hoàng thượng giao việc đó cho các viên lại xử lý. Quan lại chiếu theo thư tố cáo, xét hỏi Điều hầu, Điều hầu không trả lời. Cảnh đế mắng Điều hầu rằng: “Ta không dùng [ngươi].” Bèn hạ chỉ giao xuống cho Đình úy. Đình úy xét hỏi: “Quân hầu định làm phản ư?” Á Phu đáp: “Đồ tôi mua là để tuẫn táng, sao nói là phản được?” Đình úy nói: “Dẫu trên mặt đất Quân hầu không phản, nhưng cũng muốn làm phản dưới âm ty thôi.” Đình úy bức bách Á Phu ngày một gắt gao. Ban đầu, Đình úy bắt Điều hầu, Điều hầu định tự sát, phu nhân ngăn lại, vì thế không chết, rồi bị đưa vào ngục của Đình úy. Nhân đó năm ngày không ăn, nôn ra máu mà chết. Nước phong bị phế.

Đứt quãng một năm, Cảnh đế bèn đổi phong cho con khác của Giáng hầu Bột là Kiên làm Bình Khúc hầu, kế thừa tước hầu của Giáng hầu. Được mười chín năm thì chết, thụy là Cung hầu. Con là Kiến Đức kế tục tước hầu, được mười ba năm, làm Thái phó cho Thái tử. Do dâng vàng cung phụng việc cúng tế ở Thái miếu không tốt, đến năm Nguyên Đỉnh thứ năm, bị phán tội, nước phong bị phế.

Điều hậu quả nhiên chết đói. Sau khi chết, Cảnh đế bèn phong Vương Tín làm Cái hầu.

Thái sử công bàn rằng: Giáng hầu Chu Bột ban đầu lúc còn mặc áo vải, là người quê mùa chất phác, tài năng không hơn người thường. Đến khi theo Cao tổ bình định thiên hạ, ở vị trí tướng võ tướng văn, những người họ Lã định làm loạn, Bột gánh vác nguy nan của quốc gia, khôi phục rường mối chính thống. Dẫu Y Doãn, Chu công, nào có hơn gì! Á Phu dụng binh, giữ sự uy nghi, trịnh trọng, giữ bền chắc, dẫu Nhương Tư cũng đâu hơn được! Tự thỏa mãn với mình mà không học[5], giữ khí tiết mà không biết nhún thuận, rốt cuộc lâm vào cảnh khốn cùng. Đáng buồn thay!

[1] Huyện Khuyên thuộc quận Huỳnh Dương.

[2] Đại vương: tức Lưu Hằng, được phong vương ở đất Đại, lên ngôi Hoàng đế nhà Hán, đó là Hán Văn đế.

[3] Phụng sự Công chúa: uyển ngữ, thực ra con trai Giáng hầu là Thắng Chi lấy Công chúa.

[4] Bạc Chiêu: em trai Bạc Thái hậu, cậu của Hán Văn đế.

[5] Có lẽ ý nói không học theo cổ nhân để biết cách quyền biến.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.