Sở Nguyên vương Lưu Giao là em út cùng mẹ[1] với Cao tổ, tự là Du.
Cao tổ có bốn anh em, anh cả là Bá, mất sớm. Xưa kia, thuở Cao tổ còn hàn vi, từng lánh nạn, thường hay cùng tân khách qua nhà chị dâu cả ăn uống. Chị dâu ghét em chồng, em chồng cùng khách đến, chị dâu vờ là canh đã hết, dùng muôi cạo vào nồi xoàng xoạc, vì thế tân khách bỏ đi. Thế rồi, [sau khi tân khách đi hết], [Cao tổ] nhìn vào nồi vẫn còn canh, Cao tổ từ đó oán chị dâu. Đến khi Cao tổ làm Hoàng đế, phong cho anh em, riêng con của Bá không được phong. Thái thượng hoàng[2] nói về việc đó, Cao tổ đáp: “Không phải con quên phân phong cho nó, chẳng qua mẹ nó không đáng mặt đàn chị thôi.” Thế rồi phong cho người con của chị dâu cả là Tín làm Canh Hiệt hầu[3]. Còn anh thứ là Trọng được phong ở đất Đại[4].
Cao tổ năm thứ sáu, sau khi bắt được Sở vương Hàn Tín ở đất Trần, bèn phong em là Giao làm Sở vương, đóng đô ở Bành Thành. [Lưu Giao] lên ngôi được hai mươi ba năm thì chết, con là Di vương Dĩnh lên thay. Di vương tại vị bốn năm thì chết, con là Mậu lên thay.
Sở vương Mậu năm thứ hai mươi, mùa đông, mắc tội gian dâm trong khi chịu tang Bạc Thái hậu, bị tước đất phong ở quận Đông Hải. Mùa xuân năm sau, Mậu với Ngô vương[5] cùng tính mưu phản, Quốc tướng của Mậu là Trương Thượng, Thái phó là Triệu Di Ngô can ngăn, không nghe. Rồi Mậu giết Thượng và Di Ngô, dấy binh cùng Ngô vương sang tây tấn công nước Lương, phá Cức Bích. Kéo quân đến phía nam Xương Ấp, giao chiến với tướng Hán là Chu Á Phu. Quân Hán cắt đứt đường vận lương của Ngô-Sở, sĩ tốt đói, Ngô vương tháo chạy, Sở vương Mậu tự sát, quân lính liền hàng Hán.
Nhà Hán sau khi bình định được loạn Ngô-Sở, Hiếu Cảnh đế định cho con của Đức hầu[6] kế thừa tước Ngô vương, cho con của Nguyên vương Lễ kế thừa tước Sở vương. Đậu Thái hậu nói: “Ngô vương là bậc cao niên, nên vì tông thất mà thuận theo pháp độ, làm việc tốt đẹp. Nay lại cầm đầu bảy nước, khiến thiên hạ rối loạn, sao còn cho con cháu kế tục!” Thái hậu không cho lập hậu duệ của Ngô vương, chỉ cho lập hậu duệ Sở vương. Bấy giờ Lễ làm quan Tông chính nhà Hán. Bèn phong Lễ làm Sở vương, phụng thờ tông miếu cho Nguyên vương, đó là Sở Văn vương.
Sở Văn vương lên ngôi được ba năm thì chết, con là An vương Đạo kế vị. An vương tại vị được hai mươi hai năm thì chết, con là Tương vương Chú lên thay. Tương vương tại vị được mười bốn năm thì chết, con là Thuần lên thay. Sở vương Thuần lên ngôi, đến năm Địa Tiết thứ hai[7], hoạn quan dâng thư tố cáo Sở vương mưu phản, Sở vương tự sát, nước phong bị tước, sáp nhập thành quận Bành Thành nhà Hán.
Triệu vương Lưu Toại, cha là con giữa của Cao tổ, tên là Hữu, thụy là U. U vương chết vì lo buồn, nên gọi là “U”. Cao hậu[8] phong cho Lã Lộc làm Triệu vương, một năm sau thì Cao hậu băng hà. Đại thần giết người họ Lã cùng bọn Lã Lộc, rồi lập con U vương là Toại làm Triệu vương.
Hiếu Văn đế lên ngôi được hai năm, lập em của Toại là Bích Cường, lấy đất quận Hà Gian nước Triệu phong cho làm Hà Gian vương, đó là Văn vương. [Hà Gian vương Bích Cường] tại vị được mười ba năm thì chết, con là Ai vương Phúc lên thay. [Ai vương Phúc tại vị] được một năm thì chết, không có con, tuyệt hậu, nước phong bị phế, sáp nhập vào nhà Hán.
Toại làm Triệu vương được hai mươi sáu năm, thời Hiếu Cảnh đế, do Triều Thố gièm pha, [Triệu vương] bị tước mất quận Thường Sơn. Ngô-Sở làm phản, Triệu vương bèn cùng họ hợp mưu dấy binh. Quốc tướng [của Triệu vương] là Kiến Đức, Nội sử là Vương Hãn can ngăn, không nghe. Toại thiêu chết Kiến Đức và Vương Hãn, phát binh đóng đồn ở biên giới phía tây [nước Triệu], định đợi quân Ngô rồi cùng sang tây. Sai sứ đi Hung Nô ở phía bắc, cùng liên kết để tấn công nhà Hán. Nhà Hán sai Khúc Chu hầu là Lịch Ký tấn công, Triệu vương bèn rút về, giữ thành Hàm Đan, cự với quân Hán bảy tháng. Ngô-Sở thua trận ở nước Lương, không thể sang tây. Hung Nô nghe tin, cũng ngừng tiến quân, không chịu vào biên giới nhà Hán. Loan Bố phá Tề trở về, bèn hợp quân [với Lịch Ký] dẫn nước xối vào đô thành nước Triệu. Thành nước Triệu bị sụt lở, Triệu vương tự sát, quân ở Hàm Đan đầu hàng. Triệu U vương tuyệt hậu.
Thái sử công bàn rằng: Nước sắp hưng thịnh, ắt có điềm lành, quân tử được trọng dụng thì tiểu nhân bị đẩy lui. Nước sắp diệt vong, người hiền thoái ẩn, loạn thần hiển quý. Giả sử Sở vương Mậu không hành hình Thân công, mà theo lời ông ta, Triệu vương biết trọng dụng Phòng Dự tiên sinh, há có âm mưu soán đoạt, rồi bị thiên hạ giết ư? Ôi hiền nhân, ôi hiền nhân! Không phải người có đức tốt, sao có thể trọng dụng được họ? Nhất là, “An hay nguy là do chính lệnh ban bố ra, còn hay mất là do việc trọng dụng [hiền tài]”, lời ấy thực xác đáng thay!
[1] Sách ẩn chú: Hán thư viết rằng cùng cha khác mẹ.
[2] Thái thượng hoàng: chỉ cha đẻ của Lưu Bang.
[3] Canh hiệt: nghĩa là canh hết, để nhắc lại thái độ ứng xử của chị dâu cả với mình khi trước.
[4] Anh thứ của Cao tổ Lưu Bang tên là Hỷ, tự là Trọng, Con là Lưu Tỵ sau được đổi phong làm Ngô vương.
[5] Ngô vương: tức Lưu Tỵ, con anh thứ của Lưu Bang.
[6] Đức hầu: tên là Lý Quảng, em trai Ngô vương Lưu Tỵ.
[7] Địa Tiết: niên hiệu thời Hán Tuyên đế. Năm Địa Tiết thứ hai, tức năm 68 trước Công nguyên.
[8] Cao hậu: tức Lã hậu (cũng phiên là Lữ hậu), chính hậu của Hán Cao tổ Lưu Bang, mẹ của Hán Huệ đế.