Thiệu Công Thích cùng họ với nhà Chu, họ Cơ thị. Chu Vũ vương tiêu diệt vua Trụ, phân phong cho Thiệu công ở Bắc Yên[1].
Vào thời Thành vương, Thiệu công là một trong Tam công[2]: từ đất Thiểm sang phía tây, Thiệu công làm chủ; từ đất Thiểm sang phía đông, Chu công làm chủ. Thành vương vẫn còn thơ dại, Chu công nhiếp chính, đảm đương quốc sự, nắm giữ ngôi vị, Thiệu công nghi ngờ Chu công, [Chu công] bèn viết bài “Quân Thích”[3]. Quân Thích không hài lòng với Chu công. Chu công bèn giải thích rằng: “Thời Thành Thang có Y Doãn, [công đức] cảm động trời cao; thời Thái Mậu thì có người như Y Trắc[4], Thần Hỗ, [công đức] cảm động Thượng đế, Vu Hàm trị lý vương gia; thời Tổ Ất, có người như Vu Hiền[5]; thời Vũ Đinh, có người như Cam Ban: họ phô bày đức nghiệp, bảo vệ sự yên trị của nhà Ân.” Thế rồi Thiệu công [đổi ngờ làm] vui.
Thiệu công trị lý phía tây, dân chúng rất yên vui. Thiệu công tuần hành đến các hương ấp, có cây cam đường, ông ngồi dưới gốc cây xử lý chính sự và việc ngục tụng, việc từ hầu bá đến dân thường đều xử lý thỏa đáng, không ai mất chức nghiệp của mình. Thiệu Công chết đi, người dân nhớ đến chính tích của ông, lưu luyến cây cam đường nên không nỡ chặt, ca vịnh cây đó, làm thành thơ “Cam đường”[6].
Từ Thiệu Công trở xuống chín đời đến Huệ hầu. Yên Huệ hầu [ở ngôi] đúng lúc Chu Lệ vương chạy ra ấp Trệ, là thời kỳ “Cộng hòa”[7].
Huệ hầu chết, con là Hy hầu lên thay. Năm ấy, Chu Tuyên vương mới lên ngôi. Hy hầu năm thứ hai mươi mốt, Trịnh Hoàn công mới được phong ở đất Trịnh. Năm thứ ba mươi sáu, Hy hầu chết, con là Khoảnh hầu lên thay.
Khoảnh hầu năm thứ hai mươi, Chu U vương dâm loạn, bị Khuyển Nhung giết chết. Nước Tần bắt đầu được liệt vào hàng chư hầu.
Năm thứ hai mươi tư, Khoảnh hầu chết, con là Ai hầu lên thay. Ai hầu đến năm thứ hai thì chết, con là Trịnh hầu lên thay. Trịnh hầu đến năm thứ ba mươi sáu thì chết, con là Mậu hầu lên thay.
Mậu hầu năm thứ bảy, tương đương năm Lỗ Ẩn công thứ nhất. Năm thứ mười tám thì Mậu hầu chết, con là Tuyên hầu lên thay. Tuyên hầu đến năm thứ mười ba thì chết, con là Hoàn hầu lên thay. Hoàn hầu đến năm thứ bảy thì chết, con là Trang công lên thay.
Trang công năm thứ mười hai, Tề Hoàn công bắt đầu xưng bá. Năm thứ mười sáu, cùng nước Tống, nước Vệ thảo phạt Chu Huệ vương, Huệ vương chạy ra đất Ôn, lập em Huệ vương là Đồi lên làm Chu vương. Năm thứ mười bảy, nước Trịnh bắt Yên Trọng Phủ rồi đưa Huệ vương về Chu. Năm thứ hai mươi bảy, Sơn Nhung đến xâm phạm nước Yên, Tề Hoàn công cứu nước Yên, sau đó tiến lên phía bắc thảo phạt Sơn Nhung rồi kéo về. Vua Yên đưa tiễn Tề Hoàn công ra khỏi biên cảnh, Hoàn công nhân đó cắt đất chỗ vua Yên đặt chân đến cho nước Yên, khiến nước Yên cùng được triều cống thiên tử như chức phận thời Thành Chu; khiến nước Yên khôi phục pháp độ của Thiệu công. Năm thứ ba mươi ba, [Trang công] chết, con là Tương công lên thay.
Tương công năm thứ hai mươi sáu, Tấn Văn công hội minh Tiễn Thổ, xưng bá. Năm thứ ba mươi mốt, quân Tần thua trận ở Hào Sơn. Năm thứ ba mươi bảy, Tần Mục công chết. Năm thứ bốn mươi, Tương công chết, Hoàn công lên thay.
Hoàn công đến năm thứ mười sáu thì chết, Tuyên công lên thay. Tuyên công đến năm thứ mười lăm thì chết, Chiêu công lên thay. Chiêu công đến năm thứ mười ba thì chết, Vũ công lên thay. Năm đó nước Tấn diệt ba đại phu họ Khích[8].
Vũ công đến năm thứ mười chín thì chết, Văn công lên thay. Văn công đến năm thứ sáu thì chết, Ý công lên thay. Ý công năm đầu, Thôi Trữ nước Tề giết vua nước mình là Trang công. Năm thứ tư [Vũ công] chết, con là Huệ công lên thay.
Huệ công năm đầu, Cao Chỉ nước Tề chạy sang [nước Yên]. Năm thứ sáu, Huệ công có nhiều sủng thần, Huệ công muốn bãi truất các đại phu để lập sủng thần là Tống, các đại phu cùng giết sủng thần là Tống, Huệ công sợ hãi, chạy sang nước Tề. Năm thứ tư, Cao Yển nước Tề sang nước Tấn, đề nghị cùng thảo phạt nước Yên, để đưa [Huệ công] về nước. Tấn Bình công đồng ý, cùng nước Tề thảo phạt nước Yên, đưa Huệ công về nước. Huệ công đến nước Yên thì chết. Nước Yên lập Điệu Công lên ngôi.
Điệu công đến năm thứ bảy thì chết, Cung công lên thay. Cung công đến năm thứ năm thì chết, Bình công lên thay. Công thất nước Tấn suy yếu, Lục khanh bắt đầu lớn mạnh. Bình công năm thứ mười tám, Ngô vương Hạp Lư đánh phá nước Sở, tiến vào Dĩnh đô. Năm thứ mười chín, [Bình công] chết, Giản công lên thay. Giản công đến năm thứ mười hai thì chết, Hiến công lên thay. Triệu Ưởng nước Tấn bao vây họ Phạm và họ Trung Hàng ở Triều Ca. Hiến công năm thứ mười hai, Điền Thường nước Tề giết vua nước mình là Giản công. Năm thứ mười bốn, Khổng tử chết. Năm thứ hai mươi tám, Hiến công chết, Hiếu công lên thay.
Hiếu công năm thứ mười hai, nước Hàn, nước Ngụy, nước Triệu diệt Trí bá, chia nhau đất của Trí bá, Tam Tấn hùng mạnh.
Năm thứ mười lăm, Hiếu công chết, Thành công lên thay. Thành công đến năm thứ mười sáu thì chết, Mẫn công lên thay. Mẫn công đến năm thứ ba mươi mốt thì chết, Hy công lên thay. Năm ấy, Tam Tấn được liệt vào hàng chư hầu.
Hy công năm thứ ba mươi, đánh bại nước Tề ở Lâm Doanh. Hy công chết, Hoàn công lên thay. Hoàn công đến năm thứ mười một thì chết, Văn công lên thay. Năm ấy, Tần Hiến công chết. Nước Tần ngày càng mạnh.
Văn công năm thứ mười chín, Tề Uy vương chết. Năm thứ hai mươi tám, Tô Tần mới được bái kiến, du thuyết Văn công. Văn công cấp xe ngựa vàng lụa cho [Tô Tần] sang nước Triệu, Triệu Túc hầu trọng dụng Tô Tần. Nhân đó lập ước sáu nước, [Tô Tần] là trưởng tung ước. Tần Huệ vương đem con gái của mình gả cho Thái tử nước Yên.
Năm thứ hai mươi chín, Văn công chết, Thái tử lên ngôi, đó là Dịch vương.
Dịch vương mới lên ngôi, Tề Tuyên vương nhân khi nước Yên có tang liền thảo phạt nước Yên, chiếm mười thành; Tô Tần du thuyết nước Tề, khiến [nước Tề] trả lại mười thành cho nước Yên. Năm thứ mười, Yên quân xưng vương. Tô Tần tư thông với phu nhân của Yên Văn công, sợ bị giết, bèn nói với Dịch vương cho sang làm phản gián ở Tề, muốn làm Tề rối loạn. Dịch vương lên ngôi được mười hai năm thì chết, con là Yên Khoái lên thay.
Sau khi Yên Khoái lên ngôi, người Tề giết Tô Tần. Lúc Tô Tần còn ở nước Yên, có kết thông gia với Tướng quốc Tử Chi[9], còn Tô Đại[10] cũng kết giao với Tử Chi. Đến khi Tô Tần chết, Tề Tuyên vương lại trọng dụng Tô Đại. Yên Khoái năm thứ ba, cùng nước Sở, Tam Tấn tấn công nước Tần, không thắng được phải rút về. Tử Chi làm Tướng quốc nước Yên, quyền cao chức trọng, quyết đoán mọi việc. Tô Đại vì nước Tề nên đi sứ sang nước Yên, Yên vương hỏi rằng: “Tề vương thế nào?” Đáp rằng: “Nhất định không thể xưng bá.” Yên vương hỏi: “Tại sao?” Đáp rằng: “Không tin bề tôi của mình.” Tô Đại muốn [dùng cách đó] khích Yên vương để khiến Tử Chi được trọng vọng. Thế là Yên vương càng tín nhiệm Tử Chi. Nhân đó Tử Chi tặng trăm dật vàng cho Tô Đại, rồi nghe theo chỉ dẫn của Tô Đại.
Lộc Mao Thọ nói với Yên vương rằng: “Chi bằng đem quốc gia nhường cho Tướng quốc Tử Chi. Người ta nói Nghiêu là bậc hiền, là vì đem thiên hạ nhường cho Hứa Do, Hứa Do không nhận, [vua Nghiêu] được tiếng nhường thiên hạ mà thực không hề mất thiên hạ. Nay nhà vua đem đất nước nhường cho Tử Chi, Tử Chi ắt không dám nhận, thế là nhà vua được liệt ngang hàng với vua Nghiêu vậy.” Yên vương nhân đó phó thác quốc gia cho Tử Chi, Tử Chi càng được tôn quý. Có người nói: “Hạ Vũ tiến cử Bá Ích, rồi cho Khải[11] làm chức lại. Khi về già, lại cho là Khải không đủ khả năng đảm nhiệm trọng trách trị thiên hạ, bèn truyền ngôi cho Ích. Thế rồi phải cùng bè đảng tấn công Ích, chiếm đoạt ngôi vị. Thiên hạ nói rằng, danh nghĩa Vũ truyền thiên hạ cho Ích, nhưng thực chất là khiến cho Khải tự cướp lấy. Nay nhà vua nói giao nước cho Tử Chi, nhưng đám quan lại không ai không phải bề tôi của Thái tử, như thế danh nghĩa là giao cho Tử Chi mà thực chất để Thái tử trị lý vậy.” Yên vương nhân đó thu ấn tín của quan lại từ ba trăm thạch trở lên rồi giao cho Tử Chi. Tử Chi quay mặt về phía nam thi hành chính sự của nhà vua, còn Khoái cao tuổi nên không nghe chính sự, nguyện làm bề tôi, việc nước đều do Tử Chi quyết định.
Năm thứ ba, trong nước đại loạn, trăm họ đau buồn sợ sệt. Tướng quân Thị Bị cùng Thái tử Bình bàn mưu, định tấn công Tử Chi. Các tướng nói với Tề Mẫn vương rằng: “Nhân dịp này tiến sang, ắt phá được nước Yên.” Tề vương nhân đó sai người nói với Thái tử Bình nước Yên rằng: “Quả nhân nghe nói về nghĩa khí của Thái tử, muốn bỏ tư theo công, tô điểm cho nghĩa quân thần, làm sáng địa vị cha con. Nước của quả nhân nhỏ bé, không đủ để trọn trước vẹn sau. Dẫu vậy, cũng chỉ xin nghe theo mệnh lệnh của Thái tử.” Thái tử nhân đó mới muốn tụ tập vây cánh, [ra lệnh cho] tướng quân Thị Bị bao vây vương cung, tấn công Tử Chi, [nhưng] không hạ được. Tướng quân Thị Bị cùng trăm họ quay lại tấn công Thái tử Bình, tướng quân Thị Bị chết, bị đem để thị chúng. Nhân đó chiến loạn liền mấy tháng, người chết mấy vạn, ai nấy thảy đều sợ sệt, trăm họ nhân tâm ly tán. Mạnh Kha nói với Tề vương rằng: “Nay thảo phạt nước Yên, là thời cơ của vua Văn vua Vũ [phạt Trụ] đấy, không thể để lỡ.” Tề vương liền lệnh cho Chương Tử đem quân của năm đô thành[12], lại dựa vào quân ở biên giới phía bắc để sang thảo phạt nước Yên. Quân sĩ nước Yên không chịu đánh, cổng thành cũng không đóng, Yên quân Khoái chết, nước Tề thắng lớn. Tử Chi nước Yên chết, hai năm sau thì người Yên cùng lập Thái tử Bình lên ngôi, đó là Yên Chiêu vương.
Yên Chiêu vương lên ngôi sau khi nước Yên bị đánh phá, mới hạ mình dùng hậu lễ để vời gọi người hiền. [Chiêu vương] nói với Quách Ngỗi rằng: “Nước Tề nhân lúc nước của cô[13] có loạn mà đánh úp phá nước Yên, cô vốn rất biết nước Yên nhỏ bé sức lực yếu ớt, không đủ khả năng báo thù. Thế nhưng thực tâm muốn có được bậc hiền sĩ để chung lo việc nước, đặng rửa mối nhục của tiên vương, đó là tâm nguyện của cô vậy. Tiên sinh thấy ai có tài năng, [cô sẽ] đích thân phụng thờ người đó.” Quách Ngỗi đáp: “Nhà vua nhất định muốn chiêu vời hiền sĩ, trước hết hãy bắt đầu từ Ngỗi. [Ngỗi này còn được trọng dụng], huống chi người hiền năng hơn Ngỗi, [vậy thì họ] há coi ngàn dặm là xa xôi ư?”[14] Thế là Chiêu vương dựng lại cung thư cho Ngỗi, thờ như bậc thầy. Nhạc Nghị từ nước Ngụy sang, Trâu Diễn từ nước Tề tới, Kịch Tân từ nước Triệu qua, kẻ sĩ tranh nhau sang nước Yên. Yên vương điếu viếng người chết, thăm hỏi kẻ côi cút, chung ngọt bùi đắng cay với trăm họ.
Năm thứ hai mươi tám, nước Yên giàu mạnh, sĩ tốt nhàn nhã yên vui, coi đánh trận là việc nhẹ nhàng, thế rồi bèn dùng Nhạc Nghị làm Thượng tướng quân, cùng nước Tần, nước Sở và Tam Tấn hợp mưu để thảo phạt nước Tề. Quân Tề thua trận, Mẫn vương chạy trốn khỏi nước. Riêng quân Yên truy đuổi lên phía bắc, tiến vào tới Lâm Truy, thu hết bảo vật nước Tề, thiêu rụi cung thất, tông miếu. Những thành ấp của nước Tề chưa bị hạ chỉ còn có Liêu, Cử và Tức Mặc, còn lại đều thuộc về nước Yên, cứ thế trong sáu năm liền.
Chiêu vương năm thứ ba mươi ba thì chết, con là Huệ vương lên thay.
Lúc Huệ vương còn là Thái tử, đã có hiềm khích với Nhạc Nghị; đến khi lên ngôi, nghi ngờ Nhạc Nghị, sai Kỵ Kiếp làm tướng thay [Nhạc Nghị]. Nhạc Nghị trốn sang nước Triệu. Điền Đan nước Tề dựa vào Tức Mặc đánh bại quân Yên, Kỵ Kiếp chết, quân Yên kéo về, nước Tề thu lại được hết thành trì cũ của mình. [Tề] Mẫn vương chết ở ấp Cử, bèn lập người con làm Tương vương.
Huệ vương năm thứ bảy thì chết. Nước Hàn, nước Ngụy, nước Sở cùng thảo phạt nước Yên. Yên Vũ Thành vương lên ngôi.
Vũ Thành vương năm thứ bảy, Điền Đan nước Tề thảo phạt nước Yên, hạ được Trung Dương. Năm thứ mười ba, nước Tần đánh bại hơn bốn mươi vạn quân Triệu ở Trường Bình. Năm thứ mười bốn, Vũ Thành vương chết, con là Hiếu vương lên thay.
Hiếu vương năm đầu, quân Tần đang bao vây Hàm Đan, giải vây rút về. [Hiếu vương] năm thứ ba thì chết, con là Kim vương[15] Hỷ lên ngôi.
Kim vương Hỷ năm thứ tư, Tần Chiêu vương chết. Yên vương sai Tướng quốc Lật Phúc kết ước hòa hiếu với nước Triệu, dùng năm trăm dật vàng bày tiệc chúc rượu Triệu vương. [Lật Phúc] về báo Yên vương rằng: “Quân của Triệu vương, người khỏe mạnh đều chết ở Trường Bình, con côi của họ chưa lớn, có thể thảo phạt được.” Yên vương triệu Xương Quốc quân Nhạc Can[16] đến hỏi về việc phạt Triệu. [Nhạc Can] đáp rằng: “Triệu là nước bốn phía phải đối diện với chiến tranh[17], dân nước đó quen việc binh đao, không thể thảo phạt được.” Yên vương nói: “Ta lấy năm chọi một.” Đáp rằng: “Không được.” Yên vương tức giận, quần thần đều cho là có thể đánh được. Rốt cuộc phái hai đạo quân[18], hai nghìn cỗ chiến xa, Lật Phúc làm tướng, rồi tấn công đất Hạo, Khanh Tần tấn công đất Đại. Chỉ mình Đại phu Tướng Cừ nói với Yên vương rằng: “Cùng với người ta thông quan ải, lập giao ước, đem năm trăm dật vàng chúc rượu vua của họ, sứ giả về báo liền trở mặt tấn công, điềm không tốt lành, quân sẽ không thành công.” Yên vương không nghe, đích thân dẫn một cánh quân khác đi theo. Tướng Cừ kéo dây thao đỏ [buộc ấn tín] của Yên vương lại nói: “Đại vương quyết không được qua đó, có qua cũng không thể thành công.” Yên vương giơ chân đá [Tướng Cừ]. Tướng Cừ khóc nói: “Thần không vì bản thân, chỉ vì đại vương thôi!” Quân Yên đến Tống Tử, nước Triệu sai Liêm Pha làm Tướng quân, đánh úp phá được Lật Phúc tại đất Hạo. Nhạc Thừa phá được Khanh Tần ở đất Đại. Nhạc Can chạy sang nước Triệu. Liêm Pha truy kích hơn năm trăm dặm, bao vây nước Yên. Người Yên xin hòa, người Triệu không cho, khăng khăng đòi Tướng Cừ ra khu xử mới cho hòa. Nước Yên phong Tướng Cừ làm Tướng quốc để ra nghị hòa. Nước Triệu nghe theo Tướng Cừ, giải vây nước Yên.
Năm thứ sáu, nước Tần diệt Đông Chu, đặt thành quận Tam Xuyên. Năm thứ bảy, nước Tần đánh hạ ba mươi bảy thành ở Du Thứ của nước Triệu, nước Tần đặt làm quận Đại Nguyên. Năm thứ chín, Tần vương Chính mới lên ngôi. Năm thứ mười, nước Triệu sai Liêm Pha làm tướng tấn công Phồn Dương, hạ được Phồn Dương. Hiếu Thành vương nước Triệu chết, Điệu Tương vương lên thay. [Điệu Tương vương] sai Nhạc Thừa thay Liêm Pha, Liêm Pha không nghe, bèn tấn công Nhạc Thừa, Nhạc Thừa bỏ chạy, Liêm Pha cũng chạy sang Đại Lương. Năm thứ mười hai, nước Triệu sai Lý Mục tấn công nước Yên, hạ được đất Vũ Toại và Phương Thành. Kịch Tân vốn ở nước Triệu, thân thiết với Bàng Huyên, sau đó trốn chạy sang nước Yên. Nước Yên thấy nước Triệu nhiều lần bị khốn đốn bởi quân Tần, còn Liêm Pha đã bỏ đi, [Điệu Tương vương lại] lệnh Bàng Huyên làm tướng, [nước Yên] muốn nhân lúc nước Triệu mỏi mệt mà tấn công. [Yên vương] hỏi Kịch Tân, Tân đáp: “Bàng Huyên dễ đối phó thôi.” Nước Yên sai Kịch Tân làm tướng đánh nước Triệu, nước Triệu sai Bàng Huyên đánh lại quân Yên, bắt được hai vạn quân Yên, giết chết Kịch Tân. Nước Tần hạ được hai mươi thành của nước Ngụy, đặt làm Đông Quận. Năm thứ mười chín, nước Tần hạ được chín thành ở đất Nghiệp của nước Triệu. Triệu Điệu Tương vương chết. Năm thứ hai mươi ba, Thái tử Đan làm con tin ở nước Tần, trốn về nước Yên. Năm thứ hai mươi lăm, nước Tần bắt sống Hàn vương An, diệt nước Hàn, lập thành quận Dĩnh Xuyên. Năm thứ hai mươi bảy, nước Tần bắt sống Triệu vương Thiên, diệt nước Triệu. Công tử nước Triệu là Gia tự lập làm Đại vương.
Nước Yên thấy nước Tần sắp diệt sáu nước, quân Tần áp sát Dịch Thủy, họa sắp đến nước Yên. Thái tử Đan ngầm nuôi hai mươi tráng sĩ, sai Kinh Kha dâng địa đồ Đốc Cang[19] sang nước Tần, nhân đó bất ngờ hành thích Tần vương. Tần vương biết âm mưu đó, giết Kha, sai Tướng quân Vương Tiễn đánh nước Yên. Năm thứ hai mươi chín, nước Tần đánh hạ thành Kế của nước Yên, Yên vương bỏ trốn, rời đến sống tại Liêu Đông, chém Thái tử Đan rồi dâng đầu cho nước Tần. Năm thứ ba mươi, nước Tần diệt nước Ngụy.
Năm thứ ba mươi ba, nước Tần đánh hạ Liêu Đông, bắt sống Yên vương Hỉ, rốt cục diệt nước Yên. Năm đó, tướng Tần là Vương Bôn[20] cũng bắt sống được Đại vương Gia.
Thái sử công bàn rằng: Thiệu Công Thích khá gọi là người có đức nhân đấy! Cây cam đường mà người ta còn nhớ đến, huống chi là người ư? Nước Yên phía ngoài kề sát người Man Lạc[21], trong thì xen với nước Tề nước Tấn, ở khoảng gập ghềnh hiểm trở giữa các nước mạnh, là nước rất đỗi nhỏ yếu, mấy lần tưởng chừng bị diệt rồi. Nhưng xã tắc được hưởng huyết thực tám chín trăm năm, là nước duy nhất bị diệt sau các nước chư hầu họ Cơ, há không phải là nhờ huấn nghiệp của Thiệu công ư!
[1] Bắc Yên: tức nước Yên, do bấy giờ ở phía nam có nước Yên của họ Cật, nên gọi là Nam Yên và Bắc Yên để phân biệt.
[2] Tam công: ba chức quan có vị trí lớn nhất trong triều, dưới triều Chu, đó là các quan: Thái sư, Thái phó, Thái bảo. Đương thời, Thiệu Công làm Thái bảo.
[3] Sau thành một thiên trong Kinh Thư. Quân Thích: tên của Thiệu công. Quân là cách gọi tôn xưng người khác.
[4] Y Trắc là con của Y Doãn.
[5] Vu Hiền là con của Vu Hàm.
[6] Sau thành một bài trong phần Thiệu Nam của Kinh Thi.
[7] Chỉ giai đoạn Chu Lệ vương chạy ra ấp Trệ, Chu Định công và Thiệu Mục công cùng nắm chính sự.
[8] Chỉ ba đại phu, quyền thần của nước Tấn thời Tấn Cảnh công là Khích Kỹ, Khích Xu và Khích Chí. Ba đại phu đều xa xỉ vô độ, kết oán với nhiều người, đến thời Tấn Lệ công, đều bị sủng thần của Lệ công là Trường Ngư Kiểu giết chết.
[9] Trong quyển 69 "Tô Tần liệt truyện” sách Sử ký thì chép Tướng quốc Tử Chi kết thông gia với Tô Đại (?).
[10] Em trai Tô Tần.
[11] Khải: con trai của Hạ Vũ. Sau chữ “Khải” này và chữ “Khải” ở đầu câu sau đều có thêm chữ “nhân”. “Khải nhân”, có nhiều cách giải thích, hoặc hiểu là bề tôi thân tín của Khải, hoặc hiểu là người của Khải, đều không thực hợp nghĩa. Chiến quốc sách và Hàn Phi tử đều không có chữ “nhân”.
[12] Nguyên văn là “Ngũ đô chi binh”. Sách ẩn chú Ngũ đô là chỉ nước Tề. Lâm Truy là một trong Ngũ đô.
[13] Cô: vua tự xưng mình là “cô”.
[14] Ý nói trước tiên trọng dụng Quách Ngỗi, những người hiền năng hơn thấy vậy sẽ cho rằng đến Quách Ngỗi tài năng kém hơn mình mà còn được trọng dụng như vậy, nếu mình đến nước Yên tất còn được trọng đãi hơn nữa, họ sẽ không quản ngàn dặm xa xôi mà đến nước Yên.
[15] Kim vương: Sách ẩn chú Kim vương giống như Kim thượng. Trong thiên “Xưng vị” sách Sử thông của Lưu Trị Cơ, có chép: "Nếu các chư hầu từ thời Chiến quốc trở về trước không có thụy hiệu, thì đều gọi là Kim thượng”. Yên vương Hỷ chết đi không có thuy hiệu nên mới gọi như vậy.
[16] Nhạc Can là con trai của Nhạc Nghị.
[17] Nước Triệu, phía đông giáp Yên, tây giáp biên giới nước Tần, nam gần Hàn, Ngụy, bắc nối liền với Hồ, Bách, cho nên thường bị nguy cơ chiến tranh đe dọa từ mọi phía.
[18] Có bản ghi ba đạo quân.
[19] Đất Đốc Cang ở phía đông nước Yên, đất đai màu mỡ, cho nên vẽ địa đồ chi tiết để dâng lên.
[20] Vương Bôn là con trai của Vương Tiễn.
[21] Man Lạc: chỉ các tộc thiểu số ở phía đông bắc Trung Quốc bấy giờ.