Trần Hoàn là con của Trần Lệ công Đà. Khi Hoàn sinh, Thái sử nhà Chu qua nước Trần, Trần Lệ công đề nghị xem bói cho Hoàn, bói được quẻ Quán biến sang quẻ Bĩ: “Quẻ này xem xét sự rạng rỡ của đất nước, tốt trong việc làm tân khách của nhà vua. Theo quẻ bói thì đứa nhỏ này sẽ có nước Trần chăng? Không ở nước Trần mà ở nước khác chăng? Không phải ở bản thân đứa trẻ này mà là ở con cháu đời sau. Nếu ở nước khác, ắt là nước họ Khương. Họ Khương, là hậu duệ của quan Tứ nhạc [đời Đế Nghiêu]. Vật không thể có hai cái cùng lớn, nước Trần suy, con cháu đứa trẻ này sẽ hưng khởi chăng?”
Lệ công là con út của Trần Văn công, mẹ là người con gái nước Sái. Văn công chết, anh của Lệ công là Bão lên ngôi, đó là Hoàn công. Hoàn công với Trần Đà là anh em khác mẹ. Đến khi Hoàn công ốm, người nước Sái vì Đà nên đã giết Hoàn công Bão cùng Thái tử Miễn rồi lập Đà lên ngôi, đó là Lệ công. Sau khi Lệ công lên ngôi, lấy vợ người nước Sái. Người vợ nước Sái thông dâm với người nước Sái, nhiều lần về nước, Lệ công cũng nhiều lần sang nước Sái. Con út của Hoàn công là Lâm oán Lệ công giết cha và anh mình, bèn bảo người nước Sái dụ Lệ công [sang Sái] rồi giết chết. Lâm tự lập làm vua, đó là Trang công. Cho nên Trần Hoàn không được lập, làm đại phu ở nước Trần. Lễ công bị giết vì ra khỏi nước để dâm loạn, cho nên sách Xuân thu viết “Người nước Sái giết Trần Đà”[1], [là nhằm] quy tội cho Trần Đà vậy.
Trang công chết, lập em là Chử Cữu, đó là Tuyên công. Tuyên công năm thứ hai mươi mốt, giết Thái tử Ngự Khấu. Ngự Khấu và Hoàn vốn yêu quý nhau, [Hoàn] sợ họa vào thân, cho nên vội chạy sang Tề. Tề Hoàn công định sai làm quan khanh, Hoàn từ tạ rằng: “Kẻ bề tôi lữ khách may mà không phải gánh vác nặng nề, là nhờ ơn huệ của nhà vua, không dám đảm nhận địa vị cao quý.” Hoàn công sai làm chức Công chính. Tề Ý Trọng muốn gả con gái cho Hoàn, bói quẻ, lời quẻ nói: “Quẻ này là phượng hoàng cùng bay, tiếng hót họa lảnh lót. Là hậu duệ của Hữu Quy, trưởng thành ở nước họ Khương. Năm đời thì thịnh vượng, được liệt vào hàng Chính khanh. Sau tám đời, địa vị to lớn không ai sánh bằng.” Rốt cuộc gả con cho Hoàn. Khi Hoàn chạy sang Tề, Tề Hoàn công lên ngôi được mười bốn năm rồi.
Hoàn chết, thụy là Kính Trọng. Trọng sinh ra Trĩ Mạnh Di. Kính Trọng sang nước Tề, đổi họ Trần thành họ Điền.
Điền Trĩ Mạnh Di sinh ra Mẫn Mạnh Trang, Điền Mẫn Mạnh Trang sinh Văn tử Tu Vô. Điền Văn tử phụng sự Tề Trang công.
Đại phu nước Tấn là Loan Sính làm loạn ở Tấn, rồi chạy sang Tề, Tề Trang công dùng hậu lễ khoản đãi như khách. Yến Anh cùng Điền Văn tử can gián, Trang công không nghe.
Văn tử chết, [Văn tử] sinh được Hoàn tử Vô Vũ. Điền Hoàn tử Vô Vũ có khí lực, phụng sự Tề Trang công, rất được sủng ái.
Vô Vũ chết, [Vô Vũ] sinh được Vũ tử Khai và Hy tử Khất. Điền Hy tử Khất phụng sự Tề Cảnh công, làm quan đại phu, thu thuế khóa của dân thì dùng đấu nhỏ, khi cấp lương cho dân thì dùng đấu lớn, ngầm thi ơn đức với dân, nhưng Cảnh công không ngăn cấm. Do đó họ Điền được lòng dân chúng nước Tề, tông tộc ngày càng mạnh, dân nhớ ơn họ Điền. Yến tử [Anh] nhiều lần can gián Cảnh công, Cảnh công không nghe. Thế rồi Yến tử đi sứ sang nước Tấn, cùng Thúc Hướng nói chuyện riêng rằng: “Chính sự nước Tề rốt cuộc sẽ về tay họ Điền thôi.”
Sau khi Yến Anh chết, họ Phạm và họ Trung Hàng làm phản nước Tấn. Tấn đánh họ Phạm và họ Trung Hàng rất ráo riết, họ Phạm và họ Trung Hàng xin thóc nước Tề. Điền Khất định làm loạn, gây dựng bè đảng ở nước chư hầu, bèn khuyên Cảnh công rằng: “Họ Phạm và họ Trung Hàng nhiều lần có ơn đức với nước Tề, Tề không thể không cứu.” Tề sai Điền Khất cứu họ Phạm và họ Trung Hàng rồi vận chuyển thóc sang cho.
Thái tử của Cảnh Công chết, hậu cung có cung tần được sủng ái là Nhuế tử, sinh con là Thư. Khi Cảnh công ốm, ra lệnh cho Tướng quốc Quốc Huệ tử cùng Cao Chiêu tử đưa con là Thư lên làm Thái tử. Cảnh công chết đi, hai Tướng quốc Cao và Quốc lập Thư, đó là Yến Nhụ tử. Nhưng Điền Khất không hài lòng, muốn lập con khác của Cảnh công là Dương Sinh. Dương Sinh vốn thích Điền Khất. Yến Nhụ tử lên ngôi, Dương Sinh chạy sang nước Lỗ. Điền Khất vờ phụng sự Cao Chiêu tử và Quốc Huệ tử, mỗi khi vào triều đều thay vị trí của Tham thừa, nói rằng: “Ban đầu các đại phu không muốn lập Nhụ tử. Sau khi Nhụ tử lên ngôi, nhà vua phong các ngài làm Tướng quốc, các đại phu đều tự thấy nguy hiểm, âm mưu làm loạn.” Lại lừa các đại phu rằng: “Cao Chiêu tử thật đáng sợ, khi ông ta chưa ra tay thì hãy ra tay trước đi.” Các đại phu nghe theo. Điền Khất, Bão Mục cùng các đại phu phát binh tiến vào cung thất, tấn công Cao Chiêu tử. Chiêu tử nghe tin, bèn cùng Quốc Huệ tử đến cứu nhà vua. Quân của nhà vua thua. Quân Điền Khất truy đuổi Quốc Huệ tử, Huệ tử chạy sang nước Cử, quân Điền Khất bèn quay lại giết Cao Chiêu tử. Yến Ngữ[2] chạy sang nước Lỗ.
Điền Khất sai người sang Lỗ đón Dương Sinh. Dương Sinh về đến Tề, ẩn trốn ở nhà Điền Khất. [Điền Khất] mời các đại phu đến, nói rằng: “Mẹ Thường này có cá, đậu để dâng tế, xin mời [các đại phu] đến uống rượu.” [Các đại phu] đến uống rượu ở nhà họ Điền. Điền Khất cho Dương Sinh vào trong túi, đặt ở giữa mọi người. Mở túi, cho Dương Sinh ra, nói: “Đây chính là Tề quân vậy.” Các đại phu đều phục xuống bái kiến. Định lập minh ước đưa Dương Sinh lên ngôi, Điền Khất nói dối rằng: “Tôi với Bão Mục bàn mưu cùng lập Dương Sinh rồi.” Bão Mục giận nói: “Các đại phu quên di mệnh của Cảnh công rồi ư?” Các đại phu muốn hối lỗi, Dương Sinh bèn dập đầu nói: “Đáng lập thì lập, không đáng lập thì thôi.” Bão Mục sợ họa vào mình, bèn nói: “Đều là con của Cảnh công, sao lại không được?” Rồi lập Dương Sinh tại nhà của Điền Khất, đó là Điệu công. Bèn phái người đày Yến Nhụ tử ra ấp Thai, rồi giết Nhụ tử Thư. Sau khi Điệu công lên ngôi, Điền Khất làm Tướng quốc, chuyên quyền chính sự nước Tề.
Năm thứ tư, Điền Khất chết, con là Thường lên thay, đó là Điền Thành tử.
Bão Mục có hiềm khích với Tề Điệu công, giết Điệu công. Người Tề cùng lập con Điệu công là Nhâm lên thay, đó là Giản công. Điền Thường Thành tử cùng Giám Chỉ đều làm Tả hữu Tướng quốc, phò tá Giản công. Điền Thường trong lòng muốn hại Giám Chỉ, [song vì] Giám Chỉ được Giản công sủng ái, cân nhắc thấy không thể trừ khử được. Thế là Điền Thường lại thi hành chính sự theo lối của Ly tử, dùng đấu lớn cho vay, dùng đấu nhỏ thu về. Người Tề hát về Điền Thường rằng: “Bà lão hái rau khỉ[3], mang về Điền Thành tử” Đại phu nước Tề vào chầu, Ngự Uởng can Giản công rằng: “Điền Khất và Giám Chỉ không thể cùng dùng, xin nhà vua hãy chọn lựa.”[4] Tề quân không nghe.
Tử Ngã là người trong tông tộc Giám Chỉ, thường có hiềm khích với họ Điền. Bà con xa của họ Điền là Điền Báo phụng sự Tử Ngã, được sủng ái. Tử Ngã nói: “Ta muốn diệt hết dòng đích họ Điền, cho Báo thay giữ tông tộc họ Điền.” Báo nói: “Tôi với họ Điền là nhánh xa rồi.” Không nghe. Thế rồi Báo nói với họ Điền rằng: “Tử Ngã muốn diệt họ Điền, họ Điền không ra tay trước, sẽ gặp tai họa.” Tử Ngã ở trong cung vua, anh em Điền Thường đi bốn xe vào cung vua, muốn giết Tử Ngã. Tử Ngã đóng cổng. Giản Công cùng cung tần đang uống rượu ở Đàn Đài, định đánh Điền Thường. Thái sử Tử Dư nói: “Điền Thường không dám làm loạn, chỉ định trừ hại thôi.” Giản công bèn thôi. Điền Thường ra khỏi cung, nghe nói Giản công giận, sợ bị giết, định chạy khỏi nước. Điền tử Hành nói: “Ngờ vực, đó là giặc của công việc vậy.” Thế là Điền Thường tấn công Tử Ngã. Tử Ngã thống lãnh lực lượng của mình tấn công họ Điền, không thắng nổi, chạy khỏi nước. Bè đảng họ Điền đuổi giết Tử Ngã cùng Giám Chỉ.
Giản công chạy khỏi nước, bè đảng họ Điền đuổi theo bắt được Giản công tại Thư Châu. Giản công nói: “Sớm nghe lời của Ngự Ưởng thì không gặp phải nạn này.” Bè đảng họ Điền sợ Giản công về lại ngôi vị sẽ giết mình, bèn giết Giản công. Giản công ở ngôi được bốn năm thì bị giết. Thế rồi Điền Thường lập em của Giản công là Ngao lên thay, đó là Bình công. Bình công lên ngôi, Điền Thường làm Tướng quốc.
Sau khi Điền Thường giết Giản công, sợ các nước chư hầu cùng giết mình, bèn trả hết các đất đã chiếm của Lỗ và Vệ, phía tây hòa ước với Tấn, Hàn, Ngụy, Triệu; phía nam thông sứ với Ngô và Việt, kiến lập công đức, thi hành ban thưởng, thân với trăm họ, nhờ đó nước Tề ổn định trở lại.
Điền Thường nói với Tề Bình công rằng: “Thi ơn đức là điều người ta mong muốn, nhà vua hãy làm điều đó; giáng hình phạt là điều người ta căm ghét, thần xin làm việc đó.” Thi hành được năm năm, chính sự nước Tề đều rơi vào tay Điền Thường. Thế rồi Điền Thường giết hết các họ Bão, Yến, Giám Chỉ cùng những nhà có thế lực lớn mạnh trong tông thất, rồi cắt nước Tề từ An Bình sang phía đông đến Lang Da, tự lập làm ấp phong của mình. Ấp phong của Điền Thường lớn hơn thực ấp của Bình công.
Điền Thường bèn chọn con gái nước Tề cao từ bảy thước trở lên sung vào hậu cung, hậu cung có đến hàng trăm cung nữ, rồi cho tân khách, xá nhân[5] ra vào hậu cung, không bị cấm đoán. Đến khi Điền Thường chết, có tới hơn bảy mươi người con trai.
Điền Thường chết, con là Tương tử Bàn lên thay, làm Tướng quốc nước Tề. Điền Thường thụy là Thành tử.
Sau khi Điền Tương tử làm Tướng quốc cho Tề Tuyên công, Tam Tấn giết Trí bá, chia nhau đất đai. Tương tử cho anh em và người trong tông tộc đều làm đại phu các đô ấp trong nước Tề, thông số với Tam Tấn, muốn có cả nước Tề.
Tương tử chết đi, con là Trang tử Bạch lên thay. Điền Trang tử làm Tướng quốc cho Tề Tuyên công. Tuyên công năm thứ bốn mươi ba, đánh Tấn, phá hủy Hoàng Thành, bao vây Dương Hồ. Năm sau, đánh nước Lỗ, thành Cát và An Lăng. Năm sau, chiếm được một thành của nước Lỗ.
Trang tử chết, con là Thái công Hòa lên thay. Điền Thái công làm Tướng quốc cho Tề Tuyên công. Tuyên công năm thứ bốn mươi tám, chiếm ấp Thành của nước Lỗ. Năm sau, Tuyên công cùng người Trịnh hội kiến ở Tây Thành. Đánh nước Vệ, chiếm được Quán Khâu. Tuyên công đến năm thứ năm mươi mốt thì chết, Điền Hội từ Lẫm Khâu làm phản.
Tuyên công chết, con là Khang công Thắc lên thay. Thắc lên ngôi được mười bốn năm, đắm chìm trong tửu sắc, không nghe chính sự. Thái công bèn đày Khang công ra vùng biển, cho một tòa thành làm thực ấp, để phụng thờ việc tế tự tổ tiên. Năm sau, Lỗ đánh bại Tề ở Bình Lục.
Năm thứ ba, Thái công cùng Ngụy Văn hầu hội kiến ở Trạc Trạch, xin làm chư hầu. Ngụy Văn hầu bèn sai sứ nói với thiên tử nhà Chu cùng chư hầu, đề nghị lập Tướng quốc nước Tề là Điền Hòa làm chư hầu. Thiên tử nhà Chu đồng ý. Khang công năm thứ mười chín, Điền Hòa được lập làm Tề hầu, liệt vào tông thất nhà Chu, bắt đầu ghi là năm khởi đầu.
Tề hầu Thái công Hòa ở ngôi được hai năm, Hòa chết, con là Hoàn công Ngọ lên thay. Hoàn công Ngọ năm thứ năm, Tần và Ngụy tấn công Hàn, Hàn cầu cứu nước Tề. Tề Hoàn công triệu đại thần đến bàn rằng: “Cứu viện sớm hay cứu viện muộn thì tốt?” Trâu Kỳ nói: “Chẳng bằng không cứu.” Đoàn Can Bằng nói: “Không cứu, Hàn sẽ bị đè bẹp rồi sáp nhập vào Ngụy, chẳng bằng hãy cứu Hàn.” Điền Thần Tư nói: “Mưu kế của các ngài sai rồi! Tần và Ngụy đánh Hàn thì Sở và Triệu nhất định cứu viện, đó là trời ban nước Yên cho Tề vậy.” Hoàn công nói: “Phải.” Bèn ngầm báo sứ giả nước Hàn là [Tề] sẽ sai quân ứng cứu. Hàn đinh ninh rằng sẽ được Tề cứu viện, nhân đó giao chiến với Tần và Ngụy. Sở và Triệu nghe tin, quả nhiên dấy binh cứu viện nước Hàn. Tề nhân đó khởi binh đánh úp nước Yên, chiếm được Tang Khâu.
Năm thứ sáu, cứu viện nước Vệ. Hoàn công chết, con là Uy vương Nhân Tề lên ngôi. Năm này, Tề Khang công chết, không có người thừa tự, ấp phong đều bị sáp nhập vào họ Điền.
Tề Uy vương năm thứ nhất, Tam Tấn nhân Tề có tang kéo quân tấn công vào Linh Khâu của Tề. Năm thứ ba, Tam Tấn sau khi diệt nước Tấn liền phân chia đất đai của Tấn. Năm thứ sáu, Lỗ đánh Tề, tiến vào Dương Quan. Tấn đánh Tề, kéo đến Bác Lăng. Năm thứ bảy, Vệ đánh Tề, chiếm được Tiết Lăng. Năm thứ chín, Triệu đánh Tề, chiếm được ấp Quyên.
Uy vương từ lúc mới lên ngôi đến nay, không trị lý quốc gia, giao chính sự cho các khanh đại phu, trong vòng chín năm, chư hầu cùng thảo phạt Tề, người trong nước không được yên. Thế là Uy vương triều đại phu ở Tức Mặc đến nói rằng: “Từ khi ông ra ở Tức Mặc, lời hủy báng ông được truyền đến hằng ngày. Nhưng ta sai người đến xem xét Tức Mặc, thấy ruộng đồng được khai khẩn mở mang, dân chúng sung túc, quan lại không có việc tồn đọng, phía đông nhờ thế được yên. Như thế là ông không phụng sự các đại thần tả hữu của ta để cầu được tiếng tốt vậy.” Phong cho đại phu Tức Mặc vạn nhà. Triệu đại phu ấp A đến nói: “Từ khi ông đi giữ ấp A, ngày ngày được nghe tiếng tốt. Nhưng sai sứ đến xem xét ấp A, thấy ruộng đồng không được khai khẩn mở mang, dân chúng nghèo khổ. Ngày trước, Triệu tấn công ấp Quyên, ông không thể ứng cứu. Vệ chiếm được Tiết Lăng, ông cũng không hay biết. Đó là ông dùng lễ vật trọng hậu nhằm luồn lót cho các đại thần tả hữu của ta để được tiếng tốt vậy.” Hôm đó, nấu chết đại phu ấp A, các đại thần tả hữu từng khen ngợi đại phu ấp A cũng bị nấu hết. Rồi dấy binh sang phía tây đánh nước Triệu và nước Vệ, đánh bại quân Ngụy ở Trạc Trạch rồi bao vây Huệ vương. Huệ vương xin hiến ấp Quan để hòa giải, người Triệu trở lại Trường thành cho Tề. Thế là nước Tề rúng sợ, người người không dám che đậy việc sai, đều dốc hết lòng trung thành. Nước Tề cực thịnh trị. Chư hầu nghe tin, không nước nào dám đem quân đánh Tề trong hơn hai mươi năm.
Trâu Kỵ tử nhờ giỏi đánh đàn nên được yết kiến Uy vương, Uy vương yêu quý rồi cho ở ngôi nhà bên phải. Không lâu sau, Uy vương đánh đàn, Trâu Kỵ tử đẩy cửa vào nói: “Đánh đàn giỏi thay!” Uy vương bỗng không vui, buông đàn cầm kiếm nói: “Phu tử mới chỉ thấy dáng vẻ, còn chưa suy xét kỹ càng, sao biết là giỏi?” Trâu Kỳ tử đáp: “Xét lẽ, dây lớn tiếng đục mà ôn hòa, tượng trưng cho nhà vua; dây nhỏ âm cao, rõ ràng mà trong trẻo, tượng trưng cho Tướng quốc; kìm dây thật sâu, buông dây nhàn nhã, tượng trưng cho chính lệnh; các thanh âm vang lên hài hòa, dây lớn dây nhỏ hỗ trợ nhau, tiếng vọng trở lại mà không xung đột, tượng trưng cho bốn mùa. Thần qua đó biết là đàn giỏi.” Uy vương nói: “Khéo nói về âm nhạc.” Trâu Kỵ tử thưa: “Đâu chỉ nói về âm nhạc, phàm trị lý quốc gia đến vỗ yên chúng dân đều ở trong đó.” Uy vương lại chợt không vui nói: “Nếu nói về chuẩn tắc của ngũ âm, tin là không ai bằng được phu tử. Còn việc cai trị đất nước, vỗ yên chúng dân sao lại cho là nằm ở chỗ tơ đàn ấy?” Trâu Kỵ tử đáp: “Xét lẽ, dây lớn tiếng đục mà ôn hòa, tượng trưng cho nhà vua; dây nhỏ âm cao, rõ ràng mà trong trẻo, tượng trưng cho Tướng quốc; kìm dây thật sâu, buông dây nhàn nhã, tượng trưng cho chính lệnh; các thanh âm vang lên hài hòa, dây lớn dây nhỏ hỗ trợ cho nhau, tiếng vọng trở lại mà không xung đột, tượng trưng cho bốn mùa. Xét lẽ, trở lại mà không rối loạn, dùng cách đó cai trị thì thịnh vượng, liền mạch mà thông suốt, dùng để bảo tồn nước nguy vong, cho nên nói tiếng đàn điều hòa thì thiên hạ yên trị. Việc cai trị quốc gia và vỗ yên chúng dân, không việc gì không giống như ngũ âm vậy.” Uy vương khen: “Hay.”
Trâu Kỵ tử bái kiến Uy vương, ba tháng sau được nhận ấn tín Tướng quốc. Thuần Vu Khôn bái kiến Trâu Kỵ tử, nói: “Giỏi du thuyết thay! Khôn này có ý ngu muội, xin được giãi bày trước ngài.” Trâu Kỵ tử nói: “Kính cẩn thụ giáo.” Thuần Vu Khôn nói: “Được trọn vẹn thì tất cả đều tốt, không trọn vẹn thì tất cả đều mất.” Trâu Kỷ tử nói: “Kính cẩn nhận lời chỉ giáo, xin kính cẩn ghi khắc trong lòng.” Thuần Vu Khôn nói: “Mỡ lợn bôi trên trục xe gỗ táo là để khiến trục xe được trơn, nhưng không thể quay được nếu tra vào lỗ vuông.” Trâu Kỵ tử nói: “Kính cẩn nhận lời chỉ giáo, xin kính cẩn phụng sự bên cạnh nhà vua.” Thuần Vu Khôn nói: “Dùng keo dán vào cán cung, là khiến nó dính lại, nhưng không thể dán khít liền mãi được.” Trâu Kỵ tử nói: “Kính cẩn nhận lời chỉ giáo, xin kính cẩn thân gần với muôn dân.” Thuần Vu Khôn nói: “Áo hồ cừu tuy rách, nhưng không thể lấy miếng da chó vàng để vá vào.” Trâu Kỵ tử nói: “Kính cẩn nhận lời chỉ giáo, xin kính cần chọn bậc quân tử, không để cho kẻ tiểu nhân xen vào.” Thuần Vu Khôn nói: “Cỗ xe lớn không năng kiểm tra, không thể chở được nặng như thường; đàn cầm đàn sắt không năng điều chỉnh, năm âm không được hài hòa.” Trâu Kỵ tử nói: “Kính cẩn nhận lời chỉ giáo, xin kính cẩn sửa sang pháp luật, đốc sát quan lại gian dối.” Thuần Vu Khôn nói xong, rảo bước ra ngoài, đến cổng, gặp người hầu của Trâu Kỵ tử, bèn nói: “Người này, ta nói với ông ta năm lời vi diệu, ông ta đáp lại nhanh như tiếng vọng, người này không lâu nữa nhất định được phân phong.” Được một năm, [Trâu Kỵ tử] được phong ở Hạ Bi, hiệu là Thành hầu.
Uy vương năm thứ hai mươi ba, cùng Triệu vương hội kiến ở Bình Lục. Năm thứ hai mươi tư, cùng Ngụy vương gặp nhau rồi đi săn ngoài thành. Ngụy vương hỏi: “Đại vương có bảo vật chăng?” Uy vương đáp: “Không có.” Lương vương nói: “Nhỏ như nước của quả nhân, còn có minh châu dài một tấc chiếu sáng trước sau xe, có mười hai cỗ xe, mỗi xe mười viên minh châu, cớ sao nước lớn vạn cỗ xe lại không có vật báu?” Uy vương đáp: “Thứ mà quả nhân cho là báu có khác với nhà vua. Bề tôi của quả nhân có Đàn tử, sai giữ Nam Thành thì người Sở không dám làm cướp sang phía đông xâm chiếm, mười hai nước chư hầu vùng Tứ Thượng đều đến chầu. Bề tôi của quả nhân có Phần tử, sai giữ Cao Đường thì người Triệu không dám sang phía đông đánh cá ở sông Hoàng Hà. Quan lại của quả nhân có Kiềm Phu, sai giữ Từ Châu thì người Yên tế ở cổng phía bắc [để mong Tề bảo hộ], người Triệu tế ở cổng phía tây [để mong Tề ban phúc], cần di chuyển nên thiên chuyển hơn bảy nghìn nhà. Quả nhân có bề tôi là Chủng Thủ, sai phòng bị trộm cướp thì người trên đường không nhặt của rơi. Dùng họ để chiếu sáng nghìn dặm, há chỉ mười hai cỗ xe thôi ư?” Lương Huệ vương thẹn, không vui rồi về.
Năm thứ hai mươi sáu, Ngụy Huệ vương bao vây Hàm Đan, Triệu cầu cứu Tề. Tề Uy vương triệu kiến đại thần đến bàn mưu rằng: “Cứu Triệu hay không cứu Triệu?” Trâu Kỵ tử nói: “Chẳng bằng không cứu.” Đoàn Can Bằng nói: “Không cứu thì bất nghĩa, mà cũng bất lợi.” Uy vương hỏi: “Tại sao?” Đáp rằng: “Nước Ngụy chiếm Hàm Đan, việc ấy có lợi gì với Tề không? Vả lại đi cứu Triệu rồi đóng quân ngoài đồng, như thế Triệu tuy không bị đánh mà Ngụy cũng được bảo toàn. Cho nên chẳng bằng xuống phía nam tấn công Tương Lăng khiến quân Ngụy mỏi mệt, Hàm Đan bị hạ thì cũng lợi dụng được sự mỏi mệt của Ngụy.” Uy vương theo kế đó.
Sau đó, Thành hầu Trâu Kỵ và Điền Kỵ bất hòa, Công Tôn Duyệt nói với Thành hầu Kỵ rằng: “Sao ngài không bàn mưu đánh Ngụy, Điền Kỵ ắt sẽ cầm quân. Đánh thắng có công thì trúng mưu của ngài; đánh không thắng thì không chết trước cũng bại sau, vận mệnh đều ở tay ngài.” Thế là Thành hầu nói với Uy vương, sai Điền Kỵ xuống phía nam tấn công Tương Lăng. Tháng Mười, Hàm Đan bị hạ, Tề nhân đó dấy binh đánh Ngụy, đánh quân Ngụy đại bại ở Quế Lăng. Thế rồi Tề thành nước mạnh nhất trong các nước chư hầu, tự xưng vương để hiệu lệnh thiên hạ.
Năm thứ ba mươi ba, giết đại phu Mâu Tân.
Năm thứ ba mươi lăm, Công Tôn Duyệt lại nói với Thành hầu Kỵ rằng: “Sao ngài không sai người đem mười lượng vàng ra xem bói ngoài chợ, nói 'Ta là người của Điền Kỵ. Ta ba lần đánh ba lần thắng, thanh uy vang dội thiên hạ. Muốn làm việc lớn, xem xem tốt hay không?'.” Người đi xem bói đi khỏi, nhân đó [Thành hầu] sai người bắt thầy bói đến khai báo trước mặt Uy vương, Điền Kỵ nghe việc đó, liền thống lãnh đồ đảng đánh úp Lâm Truy, tìm bắt Thành hầu, không thắng, phải tháo chạy.
Năm thứ ba mươi sáu, Uy vương chết, con là Tuyên vương Tích Cương lên thay.
Tuyên vương năm thứ nhất, Tần trọng dụng Thương Ưởng. Nhà Chu tặng danh hiệu “bá” cho Tần Hiếu công.
Năm thứ hai, Ngụy đánh Triệu. Triệu và Hàn kết thân, cùng đánh nước Ngụy. Triệu gặp bất lợi khi giao chiến ở Nam Lương. Tuyên vương triệu Điền Kỵ về khôi phục chức vị cũ. Nước Hàn đề nghị Tề cứu viện. Tuyên vương triều đại thần đến bàn rằng: “Nên cứu viện sớm hay cứu viện muộn?” Trâu Kỵ tử nói: “Chẳng bằng không cứu.” Điền Kỵ nói: “Không cứu thì Hàn bị đè bẹp rồi theo Ngụy, chẳng bằng hãy sớm cứu Hàn.” Tôn tử nói: “Xét lẽ, quân Hàn và Ngụy chưa mỏi mệt mà đã cứu Hàn, thế là ta thay Hàn hứng đỡ sự tấn công của quân Ngụy, ngược lại là nghe theo lệnh của Hàn vậy. Vả lại Ngụy có chí đánh phá Hàn, Hàn thấy mình sẽ bị diệt vong ắt hướng sang phía đông để cầu cứu Tề. Ta nhân đó kết thâm giao với Hàn rồi sau muộn đợi khi quân Ngụy mỏi mệt [ta cứu viện] thì có thể được lợi lớn mà thanh danh cũng thêm cao.” Tuyên vương nói: “Phải.” Bèn ngầm báo với sứ giả nước Hàn rồi cho biết về việc Tề cứu viện. Hàn nhân đó cậy có Tề cứu viện, đánh năm trận đều không thắng, rồi hướng sang phía đông ủy thác đất nước cho Tề. Tề nhân đó dấy binh, sai Điền Kỵ, Điền Anh làm tướng, Tôn tử làm quân sự, đi cứu viện nước Hàn và nước Triệu, tiến đánh quân Ngụy, đại phá quân Ngụy ở Mã Lăng, giết tướng [Ngụy] là Bàng Quyên, bắt sống Thái tử Thân nước Ngụy. Sau đó, vua Tam Tấn đều thông qua Điền Anh để triều kiến Tề vương ở Bác Vọng, kết minh ước rồi rút về.
Năm thứ bảy, hội kiến với Ngụy vương ở phía nam Bình A. Năm sau, lại hội kiến ở ấp Quyên. Ngụy Huệ vương chết. Năm sau, hội kiến với Ngụy Tương vương ở Từ Châu, chư hầu cùng xưng vương. Năm thứ mười, Sở bao vây Từ Châu nước Tề. Năm thứ mười một, cùng Ngụy đánh Triệu, Triệu khơi nước sông Hoàng Hà cho đổ vào quân Tề và Ngụy, các bên bãi binh. Năm thứ mười tám, Tần Huệ vương xưng vương.
Tề Tuyên vương thích những kẻ sĩ du thuyết có tài văn học, như bọn Trâu Diễn, Thuần Vu Khôn, Điền Biền, Tiếp Dư, Thận Đáo, Hoàn Uyên gồm bảy mươi sáu người, đều được tặng phủ đệ, cho làm Thượng đại phu, không trị lý quốc gia mà chuyên bàn nghị chính sự. Vì thế học sĩ Tắc Hạ nước Tề lại hứng khởi, có từ mấy trăm đến hàng nghìn người[6].
Năm thứ mười chín, Tuyên vương chết, con là Mẫn vương Địa lên thay.
Mẫn vương năm thứ nhất, Tần sai Trương Nghi cùng quan chấp chính các nước chư hầu hội kiến ở Khiết Tang. Năm thứ ba, phong Điền Anh đất Tiết. Năm thứ tư, đón vợ ở nước Tần. Năm thứ bảy, cùng Tống đánh Ngụy, đánh bại quân Ngụy ở Quán Trạch.
Năm thứ mười hai, đánh Ngụy. Sở bao vây Ung Thị [nước Tề], Tần đánh bại [tướng Sở là] Khuất Cái. Tô Đại nói với Điền Chẩn: “Tôi mong được bái kiến ngài, đặng làm cho công việc thực hoàn mỹ, khiến Sở làm lợi cho ngài, thành sự là phúc, không thành cũng là phúc. Nay tôi đứng ở cổng, có người khách nói Ngụy vương bảo với Hàn Phùng và Trương Nghi rằng: 'Chử Táo sắp bị hạ, quân Tề lại tiến đến, các ông đến cứu quả nhân thì ổn thỏa; không cứu quả nhân thì quả nhân không thể chống đỡ được.' Đó chỉ là những lời màu mè thôi. Quân Tần và Hàn không sang phía đông [để cứu Ngụy], hơn chục hôm thì Ngụy sẽ thay đổi thái độ với Hàn mà theo Tần, Tần theo kế của Trương Nghi, bắt tay [với Hàn, Ngụy] mà phụng sự Tề và Sở, thế thì việc của ngài sẽ thành.” Điền Chẩn nói: “Làm thế nào để [Tần và Hàn] không sang phía đông?” Tô Đại đáp: “Hàn Phùng muốn xin đem quân đi cứu Ngụy, ắt không nói với Hàn vương rằng: 'Phùng chỉ vì muốn cứu Ngụy', mà nhất định nói 'Phùng sẽ đem quân Tần và Hàn sang đông đẩy lùi quân Tề và quân Tống, Phùng nhân đó thống lãnh quân ba nước, thừa cơ Khuất Cái mỏi mệt, tiến xuống phía nam cắt chiếm đất của Sở, ắt thu lại được hết các đất cũ.' Trương Nghi xin đi cứu Ngụy ắt không nói với Tần vương rằng 'Nghi chỉ vì muốn cứu Ngụy', mà nhất định nói 'Nghi sẽ đem quân Tần và Hàn sang phía đông cự nhau với Tề và Tống, Nghi sẽ đem quân ba nước, thừa cơ Khuất Cái mỏi mệt, xuống phía nam cắt lấy đất của Sở, danh nghĩa bảo tồn nước sắp diệt vong, kỳ thực là đánh Tam Xuyên rồi về, đó là nghiệp vương vậy.' Ngài khiến Sở vương trả lại đất cho Hàn, khiến Tần đứng ra giảng hòa, nói với Tần Vương rằng: 'Xin trả lại đất cho Hàn, còn đại vương thi ân ở Tam Xuyên, quân Hàn không cần phát động mà vẫn thu được đất từ Sở.' Hàn Phùng đem quân sang phía đông sẽ nói với Tần thế nào? Nói rằng 'Quân Tần không cần phát động mà có được Tam Xuyên, đánh Sở và Hàn để khiến Ngụy khốn quẫn, nước Ngụy không dám sang đông, đó là cách cô lập Tề vậy.' Trương Nghi đem quân sang phía đông sẽ nói thế nào? Nói rằng 'Tần và Hàn muốn có đất mà lại án binh bất động, uy thanh vang động ở Ngụy, điều mong muốn của Ngụy là không mất sự chi viện của Tề và Sở'. Nước Ngụy thay đổi thái độ với Tần và Hàn chuyển sang phụng sự Tề và Sở, Sở vương muốn Ngụy quy phụ, lại không phải trả đất cho Hàn, ngài khiến quân của Tần và Hàn không phải phát động mà được đất, tạo ân đức lớn lao [với Tần và Hàn]. Tần vương và Hàn vương bị Hàn Phùng và Trương Nghi bức bách rồi đem quân sang đông để hàng phục Ngụy, ngài luôn thắng thế để đòi hỏi ở Tần và Hàn, thế thì ngài được tiếng tốt còn Trương Nghi phải chịu tiếng xấu."
Năm thứ mười ba, Tần Huệ vương chết. Năm thứ hai mươi ba, cùng quân Tần đánh bại quân Sở ở Trùng Khâu. Năm thứ hai mươi tư, Tần sai Kinh Dương quân sang Tề làm con tin. Năm thứ hai mươi lăm, [nước Tề] cho Kinh Dương quan về Tần. Mạnh Thường quân Tiết Văn sang Tần, liền được làm Tướng quốc nước Tần. Văn trốn khỏi Tần. Năm thứ hai mươi sáu, Tề cùng Hàn và Ngụy đánh Tần, đến đóng quân ở Hàm Cốc. Năm thứ hai mươi tám, Tần trả lại vùng đất phía ngoài sông Hoàng Hà cho Hàn để giảng hòa, bãi binh. Năm thứ hai mươi chín, Triệu giết Chủ phụ của mình. Tề giúp Triệu diệt nước Trung Sơn.
Năm thứ ba mươi sáu, Tề Mẫn vương làm Đông đế, Tần Chiêu vương làm Tây đế. Tô Đại từ Yên sang Tề, bái kiến Tề vương tại cổng phía đông Chương Hoa. Tề vương nói: “Ôi, ngài đến đây thực tốt quá! Tần sai Ngụy Nhiễm đến dâng đế hiệu, ngài thấy thế nào?" Đáp rằng: “Đại vương thình lình hỏi thần, điều đáng lo vốn xuất phát từ những việc nhỏ, xin đại vương tiếp nhận nhưng chớ chuẩn bị xưng đế. Tần xưng đế mà thiên hạ chấp nhận, rồi đại vương mới xưng đế, thế cũng không muộn. Hơn nữa nhường Tần xưng đế, cũng không có tổn hại gì. Tần xưng đế mà thiên hạ ghét việc đó, đại vương nhân đó không xưng đế, để thu phục thiên hạ, đó là thu được vốn liếng to lớn vậy. Hơn nữa thiên hạ có hai đế, đại vương cho là thiên hạ vì thế sẽ đề cao nước Tề chăng? Hay đề cao nước Tần?” Tề vương đáp: “Đề cao nước Tần.” Tô Đại hỏi: “Bỏ đế hiệu, thiên hạ yêu quý nước Tề chăng? Hay là yêu quý nước Tần?” Tề vương đáp: “Yêu Tề mà ghét Tần.” Tô Đại hỏi: “Hai nước xưng đế rồi hẹn nhau đánh Triệu, việc đó so với việc đánh Kiệt Tống[7] đằng nào lợi hơn?” Tề vương đáp: “Đánh Kiệt Tống lợi hơn.” Tô Đại đáp: “Xét lẽ, kết minh ước thì ngang hàng, nhưng cùng Tần xưng đế thì thiên hạ chỉ đề cao Tần mà coi thường Tề, bỏ đế hiệu thì thiên hạ yêu Tề mà ghét Tần, đánh Triệu không lợi bằng đánh Kiệt Tống, vì thế xin đại vương tỏ rõ việc bỏ đế hiệu để thu phục thiên hạ, bội ước với Tần, không tranh hơn thua, rồi đại vương thừa cơ tấn công Tống. Nếu chiếm được Tống, đất Dương Địa của Vệ sẽ lâm nguy; chiếm được phía tây sông Tế, các nước phía đông đất A của Triệu sẽ lâm nguy; có được phía bắc sông Hoài, các nước phía đông nước Sở sẽ lâm nguy; có được ấp Đào và Bình Lục, cánh cổng của đất Lương [nước Ngụy] không thể mở. Bỏ đế hiệu rồi tấn công Kiệt Tống, khiến nước thêm trọng mà danh thêm cao, Yên và Sở hình thành xu thế phải quy phục, thiên hạ chẳng ai dám không nghe, đó là sự nghiệp của Thang Vũ vậy. Danh nghĩa là tôn kính Tần, mà sau đó khiến thiên hạ ghét Tần, cái đó gọi là thấp biến thành cao. Xin đại vương hãy suy xét kỹ càng.” Thế là Tề bỏ đế hiệu, trở về xưng vương như trước, Tần cũng bỏ đế hiệu.
Năm thứ ba mươi tám, [Tề] đánh Tống. Tần Chiêu vương giận nói: “Ta yêu nước Tống giống như yêu Tân Thành và Dương Tấn. Hàn Nhiếp là bạn của ta, thế mà [Tề lại] đánh nước ta yêu quý là cớ làm sao?” Tô Đại vì nước Tề nói với Tần vương rằng: “Hàn Nhiếp đánh nước Tống là vì đại vương vậy. Tề mạnh, lại có nước Tống phụ giúp, Sở và Ngụy ắt sợ, sợ thì nhất định hướng sang phía tây để phụng sự nước Tần, thế thì đại vương không cần phiền một sĩ, không tổn thương một tốt, chẳng cần giao chiến và được cắt An Ấp, đó là Hàn Nhiếp cầu đảo cho đại vương vậy.” Tần vương nói: “Ta e Tề khó đoán biết, thoắt lúc hợp tung, thoắt lại liên hoành, phải giải thích [việc đó] ra sao?” Tô Đại đáp: “Mệnh lệnh của các nước trong thiên hạ, nước Tề có thể biết không? Tề sở dĩ đánh Tống, vì Tề biết rằng [Tống] phụng sự Tần là muốn dựa vào nước có vạn cỗ xe làm hậu thuẫn, không hướng sang tây để phụng sự Tần thì Tống không thể yên trị. Những kẻ sĩ du thuyết bạc đầu ở Trung nguyên đều dồn hết trí tuệ đặng ly gián quan hệ giữa Tề và Tần, những kẻ rong xe ruổi ngựa sang tây không người nào nói tốt cho Tề, còn những kẻ rong xe ruổi ngựa sang đông, không người nào nói tốt cho Tần. Tại sao vậy? Vì đều không muốn Tề và Tần liên kết với nhau. Tại sao Tấn và Sở sáng suốt còn Tề và Tần lại ngu tối thế! Tấn và Sở liên kết với nhau ắt sẽ tính chuyện đánh Tề và Tần, Tề và Tần liên kết với nhau ắt sẽ tính chuyện đánh Tấn và Sở, xin đại vương hãy dựa vào đó để quyết định.” Tần vương nói: “Phải.” Thế rồi Tề liền đánh Tống, Tống quân chạy khỏi nước, chết ở thành Ôn. Tề xuống phía nam cắt đất phía bắc sông Hoài của Sở, phía tây xâm chiếm Tam Tấn, định thôn tính luôn vương thất nhà Chu, để làm thiên tử. Vua các nước chư hầu ở phía trên sông Tứ là Trâu và Lỗ đều phải xưng thần, các chư hầu khác thảy đều kinh sợ.
Năm thứ ba mươi chín, Tần tiến đánh Tề, hạ được chín thành ấp.
Năm thứ bốn mươi, Yên, Tần, Sở, Tam Tấn bàn mưu với nhau, mỗi nước đều đem quân tinh nhuệ tham gia đánh Tề, đánh bại quân Tề ở phía tây sông Tế. Quân Tề vương bị đánh tan, phải rút lui. Tướng nước Yên là Nhạc Nghị liền tiến quân vào Lâm Truy, thu hết bảo vật của Tề. Tề Mẫn vương chạy khỏi nước, sang nước Vệ. Vệ quân lánh khỏi cung cho vua Tề ở đó, xưng thần rồi dùng chung vật dụng. [Nhưng] Mẫn vương không khiêm tốn, bị người nước Vệ xâm hại. Mẫn vương bỏ đi, chạy sang nước Trâu nước Lỗ, [vẫn] có vẻ kiêu căng, vua các nước Trâu và Lỗ không cho vào, bèn chạy sang nước Cử. Sở sai Náo Xỉ cầm quân sang cứu Tề, nhân đó làm Tướng quốc cho Tề Mẫn vương. Náo Xỉ liền giết Mẫn vương rồi cùng nước Yên chia nhau đất đai nước Tề và những bảo vật cướp được.
Tề Mẫn vương bị giết, con là Pháp Chương thay tên đổi họ làm gia bộc của Thái sử Kiểu nước Cử. Con gái của Thái sử Kiểu lấy làm lạ về tướng mạo của Pháp Chương, cho là không phải người thường, thương xót rồi thường lấy trộm quần áo thức ăn mang cho, rồi tư thông với Pháp Chương. Sau khi Náo Xỉ rời nước Cử, người nước Cử cùng các bề tôi lưu vong của Tề tụ tập nhau để tìm con của Mẫn vương, định lập làm vua. Pháp Chương sợ họ giết mình, lâu sau mới dám thú thực “ta là con Mẫn vương đây”. Thế là người nước Cử cùng lập Pháp Chương, đó là Tương vương. Cho giữ thành Cử rồi bố cáo cho người nước Tề rằng: “Quốc Vương đã lên ngôi ở đất Cử.”
Sau khi Tương vương lên ngôi, lập con gái của Thái sử làm Vương hậu, đó là Quân Vương hậu, sinh ra Kiến. Thái sử Kiểu nói: “Con gái không nhờ mai mối mà tự lấy chồng, không phải dòng giống nhà ta, làm ta ô danh với đời.” Suốt đời không gặp mặt Quân Vương hậu. Quân Vương hậu là người hiền thục, không vì cha không nhìn mặt mà lỗi đạo làm con.
Tương vương ở nước Cử được năm năm, Điền Đan dựa vào lực lượng ở Tức Mặc đánh phá được quân Yên, đón Tương vương từ đất Cử về Lâm Truy. Các đất cũ của Tề thảy đều trở về Tề. Tề phong Điền Đan làm An Bình quân.
Năm thứ mười bốn, Tần đánh đất Cường Thọ của Tề. Năm thứ mười chín, Tương vương chết, con là Kiến lên thay.
Tề vương Kiến lên ngôi được sáu năm, Tần đánh Triệu, Tề và Sở cứu nước Triệu. Tần tính kế rằng: “Tề và Sở cứu Triệu, họ thân nhau thì ta lui binh, không thân nhau thì ta tấn công Triệu.” Nước Triệu hết lương, xin thóc nước Tề, nước Tề không cho. Chu tử[8] nói: “Chẳng bằng cho họ để đẩy lui quân Tần, không cho thì quân Tần không lui, đó là trúng kế của Tần, theo đó kế sách của Tề và Sở là sai lầm. Hơn nữa, Triệu đối với Tề và Sở là bình phong che chắn, giống như môi với răng, môi hở thì răng lạnh. Nếu nay Triệu bị diệt vong, mai họa sẽ lan đến Tề và Sở. Huống nữa việc cứu Triệu giống như cầm hũ rò mà trút vào chảo rang vậy[9]. Xét lẽ, cứu Triệu là nghĩa cử cao đẹp; đẩy lui quân Tần là hiển dương thanh danh. Vì nghĩa mà cứu nước sắp diệt vong, ra uy đẩy lui quân Tần mạnh, không coi trọng việc đó mà lại tiếc thóc, là kế sách sai lầm cho quốc gia vậy.” Tề vương không nghe. Tần phá hơn bốn mươi vạn quân Triệu ở Trường Bình, rồi bao vây Hàm Đan.
Năm thứ mười sáu, Tần diệt nhà Chu. Quân Vương hậu chết.
Năm thứ hai mươi ba, Tần lập ra Đông Quận. Năm thứ hai mươi tám, Tề vương vào triều kiến nước Tần, Tần vương Chính bày tiệc rượu ở Hàm Dương. Năm thứ ba mươi lăm, Tần diệt nước Hàn. Năm thứ ba mươi bảy, Tần diệt nước Triệu. Năm thứ ba mươi tám, nước Yên sai Kinh Kha hành thích Tần vương, Tần vương phát giác được, giết Kha. Năm sau, Tần đánh phá nước Yên, Yên vương chạy trốn ra Liêu Đông. Năm sau, Tần diệt nước Ngụy, quân Tần đóng Lịch Hạ. Năm thứ bốn mươi hai, Tần diệt nước Sở. Năm sau, bắt sống Đại vương là Gia, diệt Yên vương là Hỉ.
Năm thứ bốn mươi tư, quân Tần tấn công nước Tề. Tề vương nghe theo kế của Tướng quốc Hậu Thắng, không giao chiến, đem quân hàng Tần. Tần bắt sống Tề vương Kiến, đày ra ấp Cung. Bèn diệt Tề, lập thành quận. Thiên hạ thảy đều bị Tần thôn tính, Tần vương Chính xưng hiệu là Hoàng đế. Ban trước, Quân Vương hậu là người hiền thục, thờ Tần rất kính cẩn, thủ tín với chư hầu, Tề lại là nước ở trên biển phía đông, Tần ngày đêm tấn công Tam Tấn, Yên và Sở, năm nước đều tự lo cứu mình [trước sự tấn công của quân] Tần, cho nên Tề vương Kiến lên ngôi hơn bốn mươi năm mà không bị chiến tranh. Quân Vương hậu chết, Hậu Thắng làm Tướng quốc nước Tề, nhận nhiều vàng của gián điệp nước Tần, nhiều lần sai tân khách sang Tần, Tần lại tặng nhiều vàng, khách đều làm gián điệp cho Tần, khuyên Tề bỏ hợp tung, triều kiến nước Tần, không lo sửa sang quân bị, không giúp năm nước đánh Tần, vì thế Tần diệt được năm nước. Sau khi năm nước đã bị diệt vong, cuối cùng quân Tần tiến vào Lâm Truy, dân chúng không ai dám phản kháng. Tề vương Kiến đầu hàng, bị đày ra ấp Cung. Vì thế người Tề oán Kiến đã không sớm cùng chư hầu hợp tung đánh Tần, nghe theo gian thần và tân khách để đến nỗi nước bị diệt vong, họ hát rằng: “Tùng ư, bách ư? Kiến ở ấp Cung là do khách ư?” Là do ghét [Tề vương] Kiến nghe lời tân khách mà không thẩm xét kỹ càng vậy.
Thái sử công bàn rằng: Đại để Khổng tử khi tuổi cao thích đọc Dịch. Cái thuật của Dịch u minh thâm viễn, không phải bậc thông hiểu về việc người, có tài năng quảng bác thì ai có thể dụng tâm vào được! Cho nên quan Thái sử nhà Chu xem bói cho Điền Kinh Trọng Hoàn, xem đến tận mười đời sau; đến khi Hoàn chạy sang Tề, Ý Trọng xem bói cho Hoàn cũng nói như thế. Sở dĩ Điền Khất cùng Điền Thường giết liên tiếp hai vua, chuyên quyền chính sự nước Tề, không hẳn do sự thế dần xui nên, đại để là do tuân theo điềm báo từ trước vậy.
[1] Ý nói Kinh Xuân Thu của Khổng tử coi trọng sự chính danh, cho nên Trần Đà làm vua nước Trần, tức Trần Lệ công, nhưng do ra khỏi nước, sang nước Sái dâm loạn nên Khổng tử cho ông không đáng là vua, do vậy chép thẳng tên là “Trần Đà” mà không chép là "Trần Lệ công”.
[2] Yến Ngữ: Con của Yến Anh.
[3] Rau khỉ: một loại rau đắng.
[4] Ý nói không thể cho hai người đồng thời làm Tướng quốc.
[5] Xá nhân: chỉ chung môn khách hoặc hầu cận của vua chư hầu hoặc các bậc quan chức cao cấp.
[6] Tắc Hạ: tức học cung Tắc Hạ, một trung tâm học thuật được dựng lập tại Tắc Hạ, gần đô thành Lâm Truy nước Tề (nay thuộc tỉnh Sơn Đông), bắt đầu xây dựng từ thời Tề Hoàn công. Đến thời Tề Tuyên công, mở rộng quy mô, với các danh sĩ trong thiên hạ thuộc nhiều học phái tư tưởng khác nhau như Nho gia, Đạo gia, Pháp gia, Danh gia, Binh gia, Nông gia, Âm dương gia... đến giảng thuật, biện luận.
[7] Kiệt Tống: nghĩa là nước Tống của vua Kiệt. Vua Kiệt là một ông vua tàn bạo cuối thời Ân-Thương. Cuối thời Chiến quốc, Tống Khang vương Đại Yển cầm quyền, nước Tống hùng mạnh, diệt nước Đằng, nước Tiết, phía đông đánh chiếm đất của nước Tề, phía nam đánh chiếm đất nước Sở, phía tây đánh bại nước Ngụy. Sau đó, Đái Yển dựa vào sức mạnh quân sự, trở nên kiêu căng, bạo ngược, bị chư hầu ví như vua Kiệt, nên gọi nước Tống là Kiệt Tống.
[8] Mưu thần của nước Tề.
[9] Ý nói sự tình nguy cấp, phải tiếp cứu ngay.