Tề Điệu Huệ vương Lưu Phì là con trưởng trong các con ngành thứ của Cao tổ, mẹ là người phụ nữ bên ngoài, họ Tào[1]. Cao tổ năm thứ sáu, lập Phì làm Tề vương, hưởng thực ấp bảy mươi thành, dân chúng ai nói được phương ngôn nước Tề đều cho quy thuộc Tề vương.
Tề vương là anh của Hiếu Huệ đế. Hiếu Huệ đế năm thứ hai, Tề vương vào triều kiến. Huệ đế cùng Tề vương dự yến, hành lễ như người trong nhà[2]. Lã Thái hậu giận, định giết Tề vương. Tề vương sợ không thoát thân, bèn theo kế của Nội sử là Huân, dâng quận Thành Dương làm ấp thang mộc cho Công chúa Lỗ Nguyên. Lã Thái hậu vui vẻ, [Tề vương] liền được từ biệt trở về nước phong.
Điệu Huệ vương lên ngôi được mười ba năm, chết vào năm Huệ đế thứ sáu. Con là Tương lên thay, đó là Ai vương.
Ai vương năm thứ nhất, Hiếu Huệ đế băng hà, Lã Thái hậu [hạ lệnh] gọi là chế[3], việc trong thiên hạ đều do Cao hậu quyết định. Năm thứ hai, Cao hậu lập con của anh trai là Lịch hầu Lã Thai làm Lã vương, cắt quận Tế Nam của nước Tề làm thực ấp của Lã vương.
Ai vương năm thứ ba, em trai [Ai vương] là Chương vào làm Túc vệ trong triều nhà Hán, Lã Thái hậu phong cho làm Chu Hư hầu, đem con gái Lã Lộc gả cho Chương. Bốn năm sau, phong em Chương là Hưng Cư làm Đông Mâu hầu, đều làm Túc vệ ở Trường An.
Ai vương năm thứ tám, Cao hậu cắt quận Lang Da của nước Tề rồi lập Doanh Lăng hầu Lưu Trạch làm Lang Da vương.
Năm sau, Triệu vương Hữu vào triều kiến, bị giam rồi chết tại chỗ ở[4]. Ba Triệu vương đều bị phế truất[5]. Cao hậu lập người họ Lã làm Tam vương[6], chuyên quyền chính sự.
Chu Hư hầu năm hai mươi tuổi, có khí lực, phẫn uất về việc họ Lưu không được chức quyền. [Chu Hư hầu] từng vào hầu Cao hậu dùng yến, Cao hậu lệnh cho Chu Hư hầu Lưu Chương làm Tửu lại[7]. Chương tự đề nghị rằng: “Thần là con nhà tướng, xin được đem quân pháp để làm tửu lệnh.” Cao hậu nói: “Được.” Rượu ngà ngà, Chương tiến lên mời rượu rồi hát múa [trợ hứng]. Lát sau nói: “Xin hát dâng Thái hậu nghe khúc hát về việc cày ruộng.” Cao hậu xem Chương như trẻ con, cười bảo: “Xét lại, cha ngươi biết việc đồng ruộng, còn người sinh ra đã là vương tử, sao biết việc đồng ruộng?” Chương đáp: “Thần biết.” Thái hậu nói: “Thử hát việc đồng ruộng ta nghe.” Chương hát: “Cày sâu trồng dày, lúa lên lại thưa; không phải đúng giống, phải nhổ phải bừa.” Lã hậu trầm ngâm không nói. Lát sau, trong số người họ Lã có một người uống say, trốn khỏi tiệc rượu, Chương đuổi theo, tuốt kém chém kẻ đó rồi trở lại, báo rằng: “Có một người trốn khỏi cuộc rượu, thần kính cẩn thi hành phép tắc, đã chém y.” Hầu cận bên cạnh Thái hậu đều cả sợ. [Thái hậu] đã đồng ý cho Chương dùng quân pháp, nên không bắt tội được. Nhân đó dùng tiệc rượu. Từ đấy về sau, người họ Lã sợ Chu Hư hầu, ngay các đại thần cũng đều dựa vào Chu Hư hầu, họ Lưu nhờ đó dần mạnh thêm.
Năm sau, Cao hậu băng hà. Triệu vương Lã Lộc làm Thượng tướng quân, Lã vương Sản làm Tướng quốc, đều ở trong Trường An, tụ tập quân binh để uy hiếp đại thần, định làm loạn. Chu Hư hầu Chương do vợ là con gái Lã Lộc, biết được mưu kế của họ, bèn sai người ngầm ra báo với anh mình là Tề vương, định báo hạ lệnh phát binh tiến sang phía tây, Chu Hư hầu, Đông Mâu hầu làm nội ứng, để diệt họ Lã, nhân đó lập Tề vương làm Hoàng đế.
Tề vương nghe được kế đó, bèn cùng cậu là Tứ Quân, Lang trung lệnh Chúc Ngọ, Trung úy Ngụy Bột âm mưu phát binh. Quốc tướng nước Tề là Thiệu Bình nghe việc đó, bèn đem quân bao vây vương cung. Ngụy Bột lừa Thiệu Bình rằng: “Đại vương định phát binh, không có hổ phù nhà Hán để khớp với nhau[8]. Còn Quốc tướng ngài bao vây vương cung, vốn cũng là việc tốt. Bột xin vì ngài đem quân bao vây vương cung.” Thiệu Bình tin lời, bèn sai Ngụy Bột đem quân bao vây vương cung. Bột đã cầm quân, sai bao vây phủ Quốc tướng. Thiệu Bình nói: “Ôi chao! Lời Đạo gia nói, 'Đáng chặt không chặt, ngược lại mắc rối' chính là thế này đây.” Bèn tự sát. Thế là Tề vương cho Tứ Quân làm Quốc tướng, Ngụy Bột làm Tướng quân, Chúc Ngọ làm Nội sử, huy động toàn bộ quân đội trong nước. Sai Chúc Ngọ sang đông lừa Lang Da vương rằng: “Họ Lã làm loạn, Tề vương phát binh định sang tây diệt chúng. Tề vương tự cho ở hàng con cái, tuổi còn nhỏ, không quen việc quân đội, xin đem cả nước ủy thác cho đại vương[9]. Đại vương làm Tướng gặp Tề quân từ thời Cao đế, quen việc chiến trận. Tề vương không dám rời quân đội, sai thần mời đại vương hạ cố đến Lâm Truy hội kiến với Tề vương bàn kế, đồng thời đem quân Tề sang tây dẹp loạn ở Quan Trung.” Lang Da vương tin theo, cho là phải, bèn phi ngựa đến gặp Tề vương. Tề vương cùng bọn Ngụy Bột nhân đó giữ Lang Da vương lại, rồi sai Chúc Ngọ phát động toàn bộ quân đội nước Lang Da đồng thời chỉ huy cả quân mình.
Sau khi Lang Da vương Lưu Trạch bị lừa, không về được nước, bèn thuyết phục Tề vương rằng: “Tề Điệu Huệ vương là con trưởng của Cao Hoàng đế, suy từ gốc mà nói, đại vương là cháu trưởng dòng đích của Cao Hoàng đế, đáng được lên ngôi. Nay các đại thần còn do dự chưa quyết, mà Trạch này lại nhiều tuổi nhất trong họ Lưu, các đại thần vốn đợi Trạch để quyết kế sách. Nay đại vương lưu tôi lại không có tác dụng gì, chẳng bằng để tôi vào Quan Trung tính toán mọi việc.” Tề vương cho là phải, bèn chuẩn bị nhiều xe đưa tiễn Lang Da vương.
Sau khi Lang Da vương lên đường, Tề vương liền cất quân sang tây tấn công Tế Nam của Lã Quốc. Thế rồi Tề Ai vương gửi thư cho các vương chư hầu rằng: “Cao đế bình định thiên hạ, phong vương cho con em, Điệu Huệ vương được phong ở Tề. Điệu Huệ vương chết, Huệ đế sai Lưu hầu Trương Lương lập tôi làm Tề vương. Huệ đế băng hà, Cao hậu nắm quyền, tuổi tác đã cao, nghe người họ Lã tự ý phế truất người được Cao đế phong vương, lại giết ba vị Triệu vương, diệt Lương, Yên, Triệu để phong vương cho người họ Lã, chia nước Tề làm bốn phần[10]. Tôi trung can gián, chúa thượng bị mê hoặc nên không nghe. Nay Cao hậu băng hà, Hoàng đế đang còn nhỏ, chưa thể cai trị thiên hạ, vốn cần dựa vào các đại thần và chư hầu. Nay họ Lã lại chuyên quyền, tự lên làm quan cao, tụ tập quân binh ra oai, uy hiếp liệt hầu, trung thần, giả truyền chiếu chỉ ra lệnh cho thiên hạ, tông miếu vì thế mà nguy. Nay quả nhân thống lãnh quân đội vào giết những kẻ không đáng được làm vương.”
Nhà Hán nghe tin Tề đem quân tiến sang phía tây, Tướng quốc Lã Sản bèn sai Đại tướng quân Quán Anh sang phía đông đánh Tề. Quán Anh đến Huỳnh Dương, bèn bàn mưu rằng: “Họ Lã cầm quân đóng ở Quan Trung, muốn gây nguy hại cho họ Lưu rồi tự lập làm Hoàng đế. Nay ta đánh phá Tề rồi về báo, là giúp thêm cho họ Lã vậy.” Bèn cho quân đồn trú lại Huỳnh Dương, sai sứ nói với Tề vương và chư hầu, cùng liên kết với nhau, để đợi họ Lã sinh biến rồi cùng tiêu diệt. Tề vương nghe vậy, bèn tiến sang tây thu lại quận Tế Nam cũ của Tề, cũng đồn quân ở biên giới phía tây nước Tề đợi biến như đã hẹn.
Lã Lộc, Lã Sản định làm loạn ở Quan Trung, Chu Hư hầu cùng bọn Thái úy Chu Bột, Thừa tướng Trần Bình giết chúng. Chu Hư hầu trước tiên chém Lã Sản, thế rồi bọn Thái úy Chu Bột liền giết hết họ Lã. Kế đó, Lang Da vương cũng từ Tề tiến vào Trường An.
Đại thần bàn nghị định lập Tề vương, còn Lang Da vương cùng một số đại thần nói: “Người nhà của mẹ Tề vương là Tứ Quân, độc ác bạo ngược, như con hổ đội mũ vậy. Mới rồi, vì việc họ Lã suýt loạn cả thiên hạ, nay lại lập Tề vương, là chực lặp lại họ Lã vậy. Gia tộc mẹ Đại vương họ Bạc, là bậc quân tử trưởng giả; hơn nữa Đại vương lại là con đẻ của Cao đế, nay vẫn còn, lại lớn tuổi nhất. Đưa con lên ngôi thì thuận lý, đưa người thiện năng lên ngôi thì đại thần yên.” Thế rồi đại thần bèn bàn việc đón lập Đại vương, rồi phái Chu Hư hầu đem việc diệt họ Lã nói với Tề vương, ra lệnh bãi binh.
Quán Anh [đồn quân] ở Huỳnh Dương, nghe tin Ngụy Bột vốn xúi Tề vương mưu phản, sau khi [Bột] diệt được họ Lã, báo Tề vương bãi binh, [Quán Anh] sai sứ triệu Ngụy Bột đến trách hỏi. Ngụy Bột nói: “Nhà bị cháy, há thư thả nói trước với bậc tôn trưởng rồi sau mới chữa cháy ư?” Rồi lùi đứng về phía sau, hai chân lẩy bẩy, sợ không thốt nên lời, rốt cuộc không nói thêm được gì. Tướng quân Quán Anh nhìn chằm chằm rồi bật cười nói: “Người ta bảo Ngụy Bột có dũng khí, chẳng qua chỉ là người tầm thường thôi, đâu có thể làm được trò trống gì!” Bèn bãi chức của Ngụy Bột. Cha của Ngụy Bột nhờ giỏi đánh đàn cầm nên được yết kiến Tần Thủy Hoàng đế. Lúc Ngụy Bột còn ít tuổi, muốn cầu kiến Quốc tướng nước Tề là Tào Tham, nhưng vì nhà nghèo không có gì để tự tiến dẫn, nên thường trời mờ sáng đã một mình đến quét ngoài cổng của Xá nhân phủ Quốc trong nước Tề. Xá nhân của Quốc tướng [thấy sáng ra đã thấy ngoài cổng sạch sẽ] lấy làm lạ, cho là việc kỳ quái, rồi lén rình xem, phát hiện ra Bột. Bột nói: “Xin được gặp Quốc tướng, không có cách nào, cho nên quét tước cho ngài, mong được cầu kiến.” Thế là Xá nhân đưa [Ngụy Bột] vào gặp Tào Tham, nhân đó cho làm Xá nhân. Một lần nhân đánh xe cho Tào Tham, nói chuyện, Tham cho là hiền năng, bèn nói với Tề Điệu Huệ vương. Điệu Huệ vương cho triệu kiến, rồi phong làm Nội sử. Trước kia, Điệu Huệ vương được quyền tự phong chức quan hạng Nhị thiên thạch[11]. Đến khi Điệu Huệ vương chết, Ai vương lên thay, Bột nắm quyền hành, được trọng dụng hơn cả Quốc tướng nước Tề.
Sau khi Tề vương bãi binh, Đại vương về lên ngôi, đó là Hiếu Văn đế.
Hiếu Văn đế năm thứ nhất, đem tất cả các vùng của Tề bị cắt thời Cao hậu là Thành Dương, Lang Da và quận Tế Nam trả cho Tề, rồi đổi phong cho Lang Da vương làm vương ở nước Yên, phong thêm cho Chu Hư hầu, Đông Mâu hầu mỗi người hai nghìn hộ.
Năm đó, Tề Ai vương chết, Thái tử Tắc lên thay, đó là Văn vương.
Tề Văn vương năm thứ nhất, nhà Hán lấy quận Thành Dương nước Tề rồi trao lập Chu Hư hầu làm Thành Dương Vương, lấy quận Tế Bắc nước Tề rồi trao lập Đông Mâu hầu làm Tế Bắc vương.
Năm thứ hai, Tế Bắc vương làm phản, bị nhà Hán giết, đất phong bị sáp nhập vào nhà Hán.
Hai năm sau, Hiếu Văn đế phong hết cho các con của Tề Điệu Huệ vương là bọn Bất Quân gồm bảy người, đều thành liệt hầu. Tề Văn vương tại vị được mười bốn năm thì chết, không có con, nước phong bị bãi bỏ, đất nhập vào nhà Hán.
Một năm sau, Hiếu Văn đế cho các con của Điệu Huệ vương đã được phong phân chia nước Tề làm vương, Tề Hiếu vương Tướng Lư là con của Điệu Huệ vương, nguyên là Dương Hư hầu, lúc này được phong làm Tề vương. Các quận khác của Tề trước đây phân phong cho các con của Điệu Huệ vương giờ đây đều đổi thành vương: con là Chí được phong Tế Bắc vương, con là Tích Quang làm Tế Nam vương, con là Hiền làm Truy Xuyên vương, con là Ngang làm Giao Tây vương, con là Hùng Cừ làm Giao Đông vương, cùng Thành Cao [vương] và Tề [vương], cả thảy bảy vị vương.
Tề Hiếu vương năm thứ mười một, Ngô vương Lưu Tỵ, Sở vương Lưu Mậu làm phản, dấy binh kéo sang phía tây, báo cho chư hầu rằng “sẽ diệt tặc thần nhà Hán là Triều Thố để giữ yên tông miếu”. Giao Tây vương, Giao Đông vương, Truy Xuyên vương, Tế Nam vương đều tự ý phát binh hưởng ứng Ngô vương và Sở vương. [Họ] muốn liên kết với Tề, nhưng Tề Hiếu vương hồ nghi, giữ vững thành không theo, quân ba nước[12] cùng bao vây Tề. Tề vương sai Lộ Trung đại phu[13] báo với thiên tử. Thiên tử lại lệnh cho Lộ Trung đại phu trở về báo với Tề vương rằng: “Khéo giữ cho chắc, quân ta nay phá được Ngô-Sở rồi.” Lộ Trung đại phu về tới, quân ba nước bao vây Lâm Truy mấy vòng, không vào được thành. Tướng ba nước ép Lộ Trung đại phu phải lập thề, nói: “Ngươi hãy nói ngược lại là nhà Hán đã bị đánh bại, Tề mau đầu hàng ba nước, nếu không sẽ bị làm cỏ.” Sau khi Lộ Trung đại phu đồng ý, đến dưới chân thành, trông thấy Tề vương, nói: “Nhà Hán đã phát động trăm vạn quân, sai Thái úy Chu Á Phu đánh phá Ngô-Sở, đang dẫn quân cứu Tề, Tề nhất định phải giữ vững, không được hàng!” Tướng ba nước giết Lộ Trung đại phu.
Lúc Tề mới bị bao vây nguy cấp, [Tề vương] ngầm thông mưu với ba nước, minh ước chưa thành, đến khi nghe tin Lộ Trung đại phu từ Hán về, vui mừng, các đại thần lại khuyên Tề vương không hàng ba nước. Không lâu sau, tướng nhà Hán là bọn Loan Bố, Bình Dương hầu đem quân đến Tề, đánh phá được quân ba nước, giải vây cho Tề. Thế rồi lại nghe nói trước đó Tề cùng ba nước thông mưu với nhau, định chuyển quân quay sang thảo phạt Tề. Tề Hiếu vương sợ, liền uống thuốc độc tự sát. Cảnh đế hay tin, cho rằng [ý định của] Tề vương ban đầu là tốt, vì bị bức ép mới có mưu tính, không có tội, bèn lập Thái tử của Hiếu vương là Thọ làm Tề vương, đó là Ý vương, kế tục dòng dõi nước Tề. Còn Giao Tây vương, Giao Đông vương, Tế Nam vương, Truy Xuyên vương đều bị giết, đất sáp nhập vào nhà Hán. Đổi phong Tế Bắc vương thành Truy Xuyên vương.Tề Ý vương tại vị được hai mươi hai năm thì chết, con là Thứ Cảnh lên thay, đó là Lệ vương.
Tề Lệ vương, mẹ là Kỷ Thái hậu. Thái hậu lấy con gái của em trai họ Ký gả cho Lệ vương làm Vương hậu. Lệ vương không yêu người con gái họ Kỷ. Thái hậu muốn gia tộc mình thêm sủng quý, sai con gái lớn của mình là Kỷ Ông chúa[14] vào vương cung, chỉnh đốn hậu cung, không cho phi tần khác được gần gũi Lệ vương, muốn khiến người con gái họ Kỷ được sủng ái. Lệ vương nhân đó thông gian với chị gái mình là Kỷ Ông chúa.
Nước Tề có viên hoạn quan là Từ Giáp, vào cung hầu hạ Hoàng thái hậu nhà Hán. Hoàng Thái hậu có con gái yêu là Tu Thành quân, Tu Thành quân không phải họ Lưu, Thái hậu thương quý nàng. Tu Thành quân có con gái tên là Nga, Thái hậu định gả nàng cho vua chư hầu, hoạn quan Từ Giáp bèn xin đi sứ sang Tề, nhất định khiến Tề vương dâng thư xin lấy Nga. Hoàng Thái hậu mừng, sai Giáp sang Tề. Bấy giờ Chủ Phụ Yển người Tề biết Giáp đi sứ sang Tề vì việc cưới Vương hậu, cũng nhân đó nói với Giáp: “Việc xong, xin hãy nói con gái Yển muốn được sung vào hậu cung của Tề vương.” Sau khi Giáp đến Tề, việc ấy lộ ra. Kỷ Thái hậu cả giận, nói: “Quốc vương đã có Vương hậu, hậu cung cũng đã đông đủ. Huống nữa, Giáp là kẻ nghèo hèn ở Tề, lúc nguy khốn mới được làm hoạn quan, vào phụng sự nhà Hán, không được tích sự gì, lại muốn làm loạn vương gia ta ư! Còn Chủ Phụ Yển là thá gì chứ? Lại muốn đem con gái sung vào hậu cung!” Từ Giáp quẫn quá, về báo với Hoàng Thái hậu rằng: “Tề vương đã đồng ý lấy Nga, nhưng có một việc xấu, sợ lại giống như Yên vương.” Yên vương thông gian với các con gái của mình và cưỡng đoạt vợ của em trai, mới bị khép tội chết, nước bị diệt vong, cho nên [Từ Giáp] đem việc ấy để cảnh tỉnh Thái hậu. Thái hậu nói: “Không nói lại chuyện gả con ta sang Tề nữa.” Việc dẫn đến tai thiên tử. Chủ Phụ Yển do đó cũng có khúc mắc với Tề.
Chủ Phụ Yển đang được thiên tử sủng ái, nắm chính sự, nhân đó nói: “Lâm Truy nước Tề có mười vạn hộ, thuế chợ ngàn vàng, dân chúng đông đúc giàu có, lớn hơn Trường An, nếu không phải em ruột con yêu của thiên tử thì không thể được phong vương ở đó. Nay Tề vương với hoàng tộc ngày càng xa cách.” Bèn thủng thẳng nói: “Thời Lã Thái hậu, Tề định làm phản, thời Ngô-Sở [làm phản], Hiếu vương suýt làm loạn. Nay nghe nói Tề vương thông dâm với chị gái.” Thế rồi thiên tử bèn phòng Chủ Phụ Yển làm Quốc tướng nước Tề, để chấn chỉnh việc đó. Sau khi Chủ Phụ Yển đến Tề, bèn kíp thẩm tra hoạn quan trong hậu cung Tề vương đã giúp Tề vương thông gian với chị gái là [Kỷ] Ông chúa, bắt khai báo và đưa bằng chứng, đều liên quan đến Tề vương. Tề vương tuổi còn trẻ, sợ phạm tội lớn bị quan lại bắt giết, bèn uống thuốc độc tự sát, tuyệt tự. [Tề vương] không người nối dõi.
Bấy giờ Triệu vương sợ Chủ Phụ Yển một lần đi mà phế bỏ Tề, lo rằng Chủ Phụ Yển dần làm xa cách tình cốt nhục [họ Lưu], bèn dâng thư nói Yển nhận vàng [hối lộ] và những sai lầm lớn nhỏ khác. Không lâu sau thiên tử bỏ tù Yển. Công Tôn Hoằng nói: “Tề vương vì lo lắng mà chết, không người nối dõi, nước bị nhập vào nhà Hán, không giết Yển thì không thỏa được nỗi oán hận của thiên hạ.” Bèn giết Yển.
Tề Lệ vương tại vị được năm năm thì chết, không người nối dõi, nước sáp nhập vào nhà Hán.
Hậu duệ của Tề Điệu Huệ vương còn hai nước là Thành Dương và Truy Xuyên. Đất Truy Xuyên giáp giới với Tề. Thiên tử vì thương xót nước Tề, nên cắt hết đất khu lăng mộ của Điệu Huệ vương ở trong quận cho đến vùng xung quanh phía đông Lâm Truy cho Lâm Truy vương, để phụng thờ tế tự Điệu Huệ vương.
Thành Dương Cảnh vương Chương là con Tề Điệu Huệ vương, khi Chu Hư hầu cùng đại thần diệt họ Lã, Chương đích thân chém Tướng quốc Lã vương Sản tại cung Vị Vương trước tiên. Sau khi Hiếu Văn đế lên ngôi, phong thêm cho Chương hai nghìn hộ, tặng nghìn cân vàng. Hiếu Văn đế năm thứ hai, lấy quận Thành Dương của Tề phong cho Chương làm Thành Dương Vương. Lưu Chương tại vị được hai năm thì chết, con là Hỷ lên thay, đó là Cung vương.
Cung vương năm thứ tám, đổi phong thành Hoài Nam vương. Bốn năm sau, lại phong vương ở đất Thành Dương. Trước sau cả thảy ba mươi ba năm thì chết, con là Diên lên thay, đó là Khoảnh vương.
Khoảnh vương tại vị được hai mươi sáu năm thì chết, con là Nghĩa lên thay, đó là Kính vương. Kính vương tại vị được chín năm thì chết, con là Vũ lên thay, đó là Huệ vương. Huệ vương tại vị được mười một năm thì chết, con là Thuận lên thay, đó là Hoang vương. Hoang vương tại vị được bốn mươi sáu năm thì chết, con là Khôi lên thay, đó là Đái vương. Đái vương tại vị được tám năm thì chết, con là Cảnh lên thay, đến năm Kiến Thủy thứ ba[15], mười lăm tuổi, chết.
Tế Bắc vương Hưng Cư là con của Tề Điệu Huệ vương, với thân phận là Đông Mâu hầu giúp các đại thần diệt họ Lã, có chút công lao. Đến khi Văn đế từ nước Đại về kinh, Hưng Cư nói: “Xin cùng Thái bộc [Hạ hầu] Anh vào thanh lý trong cung.” Phế Thiếu đế, cùng các đại thần tôn lập Hiếu Văn đế lên ngôi.
Hiếu Văn đến năm thứ hai, lấy quận Tế Bắc của Tề phong cho Hưng Cư làm Tế Bắc vương, cùng Thành Dương vương đều được lập. [Hưng Cư được] lập làm Tế Bắc vương được hai năm, làm phản. Trước đây, khi các đại thần tru diệt họ Lã, Chu Hư hầu có công lớn nhất, [triều đình nhà Hán] đồng ý đem hết đất Triệu phong vương cho Chu Hư hầu, đem hết đất Lương phong vương cho Đông Mâu hầu. Đến khi Hiếu Văn đế lên ngôi, nghe nói rằng ban trước Chu Hư hầu và Đông Mâu hầu định lập Tề vương [lên ngôi Hoàng đế], cho nên truất bỏ công lao của họ. Đến năm [Văn đế] thứ hai, phong vương cho các con, bèn cắt hai quận của Tề để phong vương cho Chương và Hưng Cư. Chương và Hưng Cư tự cho là bị tước mất chức tước [đã hứa trước đây], đoạt mất công lao. Chương chết, còn Hưng Cư nghe nói Hung Nô huy động đại quân xâm phạm nhà Hán, nhà Hán nhiều lần phát binh, sai Thừa tướng Quán Anh đi đánh, Văn đế đích thân đến Thái Nguyên, cho là thiên tử đã đích thân đi đánh Hung Nô, bèn phát binh làm phản ở Tế Bắc. Thiên tử nghe tin, lệnh cho Thừa tướng ngừng lại, triệu hồi quân đã phái đi, đều về Trường An. Sai Cức Bồ hầu Sài tướng quân đánh phá, bắt sống Tế Bắc vương, Tế Bắc vương tự sát, đất phong bị sáp nhập vào nhà Hán, lập thành quận.
Mười ba năm sau, Văn đế năm thứ mười sáu, lại phong con Tề Điệu Huệ vương là An Đô hầu Lưu Chí làm Tế Bắc vương. Mười một năm sau, khi Ngô-Sở làm phản, Chí giữ vững thành trì, không hợp mưu cùng chư hầu. Sau khi Ngô-Sở được bình định, đổi phong cho Chí làm Truy Xuyên vương.
Tế Nam vương Bích Quang là con trai Tề Điệu Huệ vương, từ tước Lực hầu, đến năm Hiếu Văn đế thứ mười sáu, được phong làm Tế Nam vương. Sau mười một năm, cùng Ngô - Sở làm phản. Nhà Hán đánh phá được, giết Bích Quang, lấy đất Tế Nam lập thành quận, sáp nhập vào Hán.
Truy Xuyên vương Hiền là con của Tề Điệu Huệ vương, từ tước Vũ Thành hầu, đến năm Văn đế thứ mười sáu, được phong làm Truy Xuyên vương. Sau mười một năm, cùng Ngô-Sở làm phản, nhà Hán đánh phá được, giết Hiền.
Thiên tử nhân đó đổi phong cho Tế Bắc vương Lưu Chí làm Truy Xuyên vương. Chí cũng là con của Tề Điệu Huệ vương, từ tước An Đô hầu được phong làm Tế Bắc vương. Truy Xuyên vương làm phản, không người nối dõi, bèn đổi phong Tế Bắc vương thành Truy Xuyên vương. Trước sau tại vị được ba mươi lăm năm thì chết, thụy là Ý vương. Con là Kiến lên thay, đó là Tĩnh vương. Tại vị hai mươi năm thì chết, con là Di lên thay, đó là Khoảnh vương. Tại vị được ba mươi sáu năm thì chết, con là Chung Cổ lên thay, đó là Tư vương. Tại vị được hai mươi tám năm thì chết, con là Thượng lên thay, đó là Hiếu vương. Tại vị được năm năm thì chết, con là Hoành lên thay, đến năm thứ ba niên hiệu Kiến Thủy, mười một tuổi, chết.
Giao Tây vương Lưu Ngang là con của Tề Điệu Huệ vương, từ tước Xương Bình hầu, đến năm Văn đế thứ mười sáu, được phong làm Giao Tây vương. Sau mười một năm, cùng Ngô-Sở làm phản. Nhà Hán đánh phá được, giết Ngang, đất phong bị sáp nhập vào nhà Hán, thành quận Giao Tây.
Giao Đông vương Hùng Cừ là con của Tề Điệu Huệ vương, từ tước Bạch Thạch hầu, đến năm Văn đế thứ mười sáu, được phong làm Giao Đông vương. Sau mười một năm, cùng Ngô-Sở làm phản, nhà Hán đánh phá được, giết Hùng Cừ, nước phong sáp nhập vào nhà Hán, thành quận Giao Đông.
Thái sử công bàn rằng: Nước lớn trong số chư hầu không nước nào hơn Tề Điệu Huệ vương. Vì thiên hạ mới yên định, con em [họ Lưu] ít, [thiên tử] cảm khái về việc Tần không phân phong cho ai tấc đất nào, cho nên phong rộng cho người cùng họ, để thỏa lòng muôn dân. Sau bị phân cắt, vốn có lý của nó vậy.
[1] Ý nói mẹ của Lưu Phì không phải vợ chính thức của Hán Cao tổ.
[2] Ý nói hành lễ với nhau như chỗ anh em trong nhà, không phải theo lễ vua tôi.
[3] Chế: chiếu lệnh của Hoàng đế, ý nói Lã Thái hậu nắm giữ quyền hành như thiên tử nhà Hán.
[4] Chỗ ở: nguyên là “để”, là chỗ ở dành cho chư hầu trong thời gian vào chầu thiên tử.
[5] Ba Triệu vương: chỉ Lưu Như Ý, Lưu Hữu và Lưu Khôi, đều từng được phong làm Triệu vương. Như Ý bị Lã hậu dùng thuốc độc giết chết, Lưu Hữu bị giam cầm chết tại chỗ ở, Lưu Khôi lo sợ, phẫn uất tự sát.
[6] Tam vương: chỉ việc Lã hậu phong người họ Lã làm Yên vương - Lã Thông, Triệu vương - Lã Lộc, Lương Vương - Lã Sản.
[7] Tửu lại: chỉ người giám sát thi hành tửu lệnh trong các cuộc yến ẩm thời xưa.
[8] Hổ phù là tín vật để điều binh thời cổ. Thông thường, triều đình trung ương đúc hổ phù bằng đồng, mặt trên khắc chữ, chia làm hai phần, một phần giữ ở triều đình, một phần giao cho tướng lĩnh hoặc quan lại địa phương, khi có việc cần điều động quân đội, triều đình phái người mang một nửa hổ phù đến, khớp với hổ phù tại địa phương, khớp nhau mới có thể điều động.
[9] Lang Da vương Lưu Trạch cùng hàng với Cao tổ Lưu Bang.
[10] Dưới thời Cao hậu nắm quyền, nước Tề bị chia làm bốn, gồm: Lang Da, Tế Nam, Thành Dương và Tề.
[11] Hưởng trật hai nghìn thạch, tương đương với chức Quận thú trở xuống.
[12] Chỉ Giao Tây, Truy Xuyên và Tế Nam.
[13] Tức Trung đại phu họ Lộ, không biết tên là gì, cho nên chỉ ghi là “Lộ Trung đại phu”.
[14] Con gái của các vua chư hầu gọi là Ông chúa, gọi theo họ mẹ, cho nên gọi là Kỷ Ông chúa.
[15] Tức năm 30 trước Công nguyên. Kiến Thủy là niên hiệu của Hán Thành đế.