Tổ tiên nước Ngụy là hậu duệ của Tất công Cao. Tất công Cao cùng họ với nhà Chu[1]. Vũ vương thảo phạt vua Trụ, Cao được phân phong ở đất Tất, thế rồi lấy họ Tất. Hậu duệ bị mất đất phong, trở thành dân thường, có người ở Trung nguyên, có người ở nước Di địch. Con cháu có người là Tất Vạn, phụng sự Tấn Hiến công.
Hiến công năm thứ mười sáu, Triệu Túc điều khiển chiến xa, Tất Vạn hộ vệ bên phải, đi đánh nước Hoắc, Cảnh, Ngụy, diệt các nước đó. [Hiến công] đem đất Cảnh phong cho Triệu Túc, đem đất Ngụy phong cho Tất Vạn, đều làm đại phu. Bốc Yển[2] nói: “Hậu duệ của Tất Vạn nhất định sẽ lớn mạnh. Vạn là số tràn trề, Ngụy là danh lớn vậy. Nhờ thế bắt đầu được thưởng, trời khai mở cho đấy. Thiên tử gọi là triệu dân, chư hầu gọi là vạn dân. Nay mệnh cho danh lớn, để thuận theo số tràn trề, ắt sẽ có dân chúng.” Ban đầu, Tất Vạn bói về việc thờ nước Tấn, được quẻ Truân biến sang quẻ Tỷ. Tân Liệu xem quẻ, nói: “Tốt. Truân thì kiên cố, Tỷ là tiến vào, còn quẻ nào tốt hơn, đời sau ắt sẽ phồn vinh thịnh vượng."
Tất Vạn được phân phong mười một năm thì Tấn Hiến công chết, bốn người con tranh nhau ngôi vị, nước Tấn rối loạn. Còn con cháu Tất Vạn ngày càng lớn mạnh, theo tên của nước được phong, xưng là họ Ngụy. [Tất Vạn] sinh ra Vũ tử. Ngụy Vũ tử đem các con họ Ngụy phụng sự công tử Trùng Nhĩ nước Tấn. Tấn Hiến công năm thứ hai mươi mốt, Vũ tử theo Trùng Nhĩ lưu vong nước ngoài. Năm thứ mười chín trở về, Trùng Nhĩ lên ngôi, đó là Tấn Văn công, rồi lệnh cho Ngụy Vũ tử thừa tập tước phong của họ Ngụy, liệt vào hàng đại phu, trị lý nước Ngụy. [Ngụy Vũ tử] sinh Điệu tử.
Ngụy Điệu tử dời trị sở đến ấp Hoắc. [Ngụy Điệu] tử sinh Ngụy Giáng.
Ngụy Giáng phụng sự Tấn Điệu công. Điệu công năm thứ ba, hội kiến chư hầu. Em của Điệu công là Dương Can dàn quân rối loạn, Ngụy Giáng giết kẻ hầu của Dương Can để hạ nhục. Điệu Công giận nói: “Hội họp chư hầu để được vẻ vang, nay lại hạ nhục em ta!” Định giết Ngụy Giáng. Có người khuyên Điệu công, Điệu công mới thôi. Rốt cuộc giao chính sự cho Ngụy Giáng, sai hòa hiếu với người Nhung, Địch, người Nhung người Địch kết thân và quy phụ. Điệu công năm thứ mười một, Điệu công nói: “Từ khi ta trọng dụng Ngụy Giáng, trong vòng tám năm, chín lần hội họp chư hầu, Nhung, Địch hòa thân, đó là công sức của ông ta vậy.” Ban nhạc cho, từ chối ba lần, rồi sau mới nhận. Dời trị sở đến An Ấp. Ngụy Giáng chết, thụy là Chiêu tử. [Ngụy Giáng] sinh Ngụy Doanh. Doanh sinh Ngụy Hiến tử.
Hiến tử phụng sự Tấn Chiêu công. Sau khi Chiêu công chết, Lục khanh hùng mạnh, tông thất nước Tấn suy yếu.
Tấn Khoảnh công năm thứ mười hai, Hàn Tuyên tử đã già, Ngụy Hiến tử nắm chính sự trong nước. Tông thất nước Tấn là họ Kỳ và họ Dương Thiệt ganh ghét nhau, bị Lục khanh giết, chiếm hết đất phong, lập thành mười huyện, Lục khanh mỗi người đều sai con mình đến làm đại phu ở các huyện đó. Hiến tử cùng Triệu Giản tử[3], Trung Hàng Văn tử[4], Phạm Hiến tử[5] đều làm quan khanh ở nước Tấn.
Mười bốn năm sau Khổng tử làm Tướng quốc nước Lỗ. Bốn năm sau, Triệu Giản tử dùng Tấn Dương để làm loạn, rồi cùng Hàn và Ngụy tấn công họ Phạm và họ Trung Hàng. Ngụy Hiến tử sinh Ngụy Xa. Ngụy Xa và Triệu Uởng cùng đánh họ Phạm và họ Trung Hàng.
Cháu nội Ngụy Xa là Ngụy Hoàn tử, cùng Hàn Khang tử và Triệu Tương tử đánh diệt Trí bá, chia nhau đất đai.
Cháu nội Hoàn tử là Văn hầu Đô. Ngụy Văn hầu năm thứ nhất, là năm Tần Linh công thứ nhất. Cùng thời với Hàn Vũ tử, Triệu Hoàn tử, Chu Uy vương.
Năm thứ sáu, xây thành ở Thiếu Lương. Năm thứ mười ba, sai Tử Kích bao vây đất Phồn và đất Bàng, chuyển dân ở đó đi nơi khác. Năm thứ mười sáu, đánh nước Tần, xây thành ở Lâm Tấn và Nguyên Lý.
Năm thứ mười bảy, đánh Trung Sơn, sai Tử Kích đóng giữ ở đó, Triệu Thương Đường làm phụ tá. Tử Kích gặp thầy của Văn hầu là Điền Tử Phương tại Triều Ca, cho xe tránh đường, không xuống bái kiến. Điền Tử Phương không làm theo lễ. Tử Kích nhân đó hỏi rằng: “Người giàu sang có được kiêu ngạo với người khác không? Kẻ nghèo hèn có được kiêu ngạo với người khác không?” Tử Phương đáp: “Cũng có người nghèo hèn mà kiêu ngạo với người khác vậy. Xét lẽ, chư hầu mà kiêu căng với người thì mất nước, đại phu mà kiêu căng với người thì mất gia ấp. Kẻ nghèo hèn, hành vi không phù hợp, lời nói không được tin dùng thì phải bỏ mà sang nước Sở nước Việt, như là cởi chiếc hài vậy, sao có thể giống người giàu sang được!” Tử Kích không hài lòng, rồi đi. [Quân Ngụy] sang phía tây đánh Tần, đến Trịnh rồi rút về, xây thành ở Lạc Âm và Hợp Dương.
Năm thứ hai mươi hai, Ngụy, Triệu, Hàn được liệt vào hàng chư hầu.
Năm thứ hai mươi tư, Tần đánh Ngụy, kéo quân đến Dương Hồ.
Năm thứ hai mươi lăm, Tử Kích sinh Tử Oanh.
Văn hầu thụ giáo kinh điển và lục nghệ từ Tử Hạ[6], coi Đoàn Can Mộc[7] như khách, đi qua cổng làng nhà Đoàn Can Mộc, chưa từng không dựa đòn ngang trước xe [khom mình để tỏ sự cung kính] vậy. Tần từng định đánh Ngụy, có người nói: “Vua Ngụy đối đãi với người hiền theo lễ, người trong nước khen là có lòng nhân, trên dưới hòa hợp, chưa thể tính chuyện đánh được.” Vì thế Văn hầu được chư hầu xưng tụng.
Giao cho Tây Môn Báo giữ thành Nghiệp, nhờ thế vùng Hà Nội được tiếng khen là yên trị.
Ngụy Văn hầu hỏi Lý Khắc rằng: “Tiên sinh từng dạy quả nhân rằng: 'Nhà nghèo thì nghĩ đến vợ hiền, nước loạn thì nghĩ đến tướng giỏi.’ Nay xếp đặt [chức Tướng quốc] không phải Thành thì là Hoàng[8], hai người này thế nào?” Lý Khắc đáp: “Thần nghe nói, [người địa vị] thấp hèn không bàn việc của người địa vị cao sang, người quan hệ xa không bàn việc của người thân thích. Thần ngoài cung, không dám tuân mệnh.” Văn hầu nói: “Tiên sinh lâm sự chớ có thoái thác.” Lý Khắc nói: “Vì nhà vua không chú ý quan sát thôi. Ngày thường xem những người họ thân, lúc giàu xem những người họ giao du, lúc hiển đạt xem người nào được họ cất nhắc, lúc cùng quẫn xem những điều họ không làm, lúc nghèo khó xem những thứ gì họ không lấy, xem đủ năm cái đó thì xác định được [ai làm Tướng quốc] rồi, cần gì phải đợi Khắc [nói ra nữa]!” Văn hầu nói: “Xin tiên sinh về phủ, quả nhân đã quyết định chọn ai làm Tướng quốc rồi.” Lý Khắc rảo bước ra ngoài, qua nhà Địch Hoàng. Địch Hoàng hỏi: “Nay nghe nói nhà vua triệu kiến tiên sinh rồi chọn người làm Tướng quốc, rốt cuộc chọn ai?” Lý Khắc đáp: “Ngụy Thành tử làm Tướng quốc.” Địch Hoàng giận biến sắc nói: “Dựa vào những việc tai nghe mắt thấy, tôi nào kém Ngụy Thành tử? Thái thú Tây Hà là do tôi tiến cử. Trong nước, chỗ nhà vua lo là thành Nghiệp, tôi tiến cử Tây Môn Báo. Nhà vua mưu tính định đánh Trung Sơn, tôi tiến cử Nhạc Dương, nhờ đó hạ được Trung Sơn, không chọn được người giữ Trung Sơn, tôi tiến cử tiên sinh. Con của nhà vua không có thầy rèn cặp, tôi tiến cử Khuất hầu Phụ. Tôi nào kém cạnh gì Ngụy Thành tử!” Lý Khắc nói: “Theo lời ngài, ngài tiến cử Khắc này cho vua của ngài, há định kết bè đảng đặng mong làm đại quan ư? Nhà vua hỏi để chọn người làm Tướng quốc, cho 'không phải Thành thì là Hoàng, hai người này thế nào?'. Khắc đáp rằng: 'Vì nhà vua không chú ý quan sát thôi. Ngày thường xem những người họ thân, lúc giàu xem những người họ giao du, lúc hiển đạt xem người nào được họ cất nhắc, lúc cùng quẫn xem những điều họ không làm, lúc nghèo khó xem những thứ gì họ không lấy, xem đủ năm cái đó thì xác định được [ai làm Tướng quốc] rồi, cần gì phải đợi Khắc [nói ra nữa]!' Vì thế nên biết Ngụy Thành tử sẽ làm Tướng quốc. Hơn nữa, ngài sao so được với Ngụy Thành tử? Ngụy Thành tử đem bổng lộc ngàn chung, chín phần cấp cho bên ngoài, chỉ một phần dùng trong nhà, cho nên phía đông có được Bốc tử Hạ, Điện tử Phương, Đoàn Can Mộc. Ba người này đều được nhà vua tôn làm thầy. Năm người do ngài tiến cử, nhà vua đều coi là bề tôi thôi. Ngài sao so được với Ngụy Thành tử?” Địch Hoàng lùi lại vái hai vái nói: “Hoàng là người bỉ lậu, đáp lời thất thố, nguyện suốt đời làm đệ tử của ngài.”
Năm thứ hai mươi sáu, núi Quốc bị lở, chọn dòng Hoàng Hà. Năm thứ ba mươi hai, đánh Trịnh. Xây thành ở Toan Táo. Đánh bại Tần ở thành Chú. Năm thứ ba mươi lăm, Tề đánh chiếm mất Tương Lăng của Ngụy. Năm thứ ba mươi sáu, Tần xâm nhập Âm Tấn của Ngụy.
Năm thứ ba mươi tám, đánh Tần, quân Ngụy bị đánh bại ở Vũ Hạ, [Ngụy] bắt được tướng Tần là Thức. Năm này, Văn hầu chết, Tử Kích lên thay, đó là Vũ hầu.
Ngụy Vũ hầu năm thứ nhất, Triệu Kính hầu mới lên ngôi, công tử Sóc làm loạn, không thắng, chạy sang Ngụy, cùng Ngụy đánh úp Hàm Đan, quân Ngụy thua rồi rút.
Năm thứ hai, xây thành ở An Ấp và Vương Viên.
Năm thứ bảy, đánh Tề, kéo đến Tang Khâu. Năm thứ chín, quân Địch đánh bại quân Ngụy ở bên sông Khoái. Sai Ngô Khởi đánh Tề, tiến đến Linh Khâu. Tề Uy vương mới lên ngôi.
Năm thứ mười một, cùng Hàn và Triệu chia đất Tấn làm ba phần, diệt hậu duệ nước Tấn.
Năm thứ mười ba, Tần Hiến công đặt huyện Lịch Dương. Năm thứ mười lăm, đánh bại quân Triệu ở Bắc Lân.
Năm thứ mười sáu, đánh Sở, chiếm được Lỗ Dương. Vũ hầu chết, Tử Oanh lên thay, đó là Huệ vương.
Huệ vương năm thứ nhất, trước đây, Ngụy Vũ hầu chết, Tử Oanh cùng Công Trọng Hoãn tranh làm Thái tử. Công Tôn Kỳ từ Tống sang Triệu, từ Triệu sang Hàn, nói với Hàn Ý hầu rằng: “Tử Oanh ở Ngụy tranh làm Thái tử với Công Trọng Hoãn, nhà vua có nghe việc ấy chăng? Nay Tử Oanh được Vương Thác [phụ tá], có đất Thượng Đảng, vốn là một nửa nước rồi. Nhân cơ hội này trừ đi, ắt phá được Ngụy, không thể để lỡ.” Ý hầu mừng, bèn cùng Triệu Thành hầu hợp quân để đánh Ngụy, giao chiến ở Trạc Trạch, họ Ngụy đại bại, vua Ngụy bị bao vây. Triệu hầu nói với Hàn hầu rằng: “Giết vua Ngụy, lập Công Trọng Hoãn, cắt đất rồi lui, ta sẽ được lợi.” Hàn hầu nói: “Không được. Giết vua Ngụy, người ta ắt cho là tàn bạo; cắt đất rồi lui, người ta ắt bảo là tham lam. Chẳng bằng chia đôi nước Ngụy. Ngụy bị chia làm hai, không mạnh bằng Tống và Vệ, thì rốt cuộc chúng ta không còn nỗi lo nước Ngụy nữa.” Triệu hầu không nghe. Hàn hầu không vui, ban đêm đem quân của mình rút về. Huệ vương nhờ đó không bị giết, nước không bị chia, do hai nhà [Triệu và Hàn] mưu tính không giống nhau vậy. Nếu theo mưu kế của một nhà thì Ngụy ắt bị chia cắt rồi. Cho nên nói “Nhà vua chết mà không có con đích [kế thừa], nước có thể bị phá vậy”.
Năm thứ hai, Ngụy đánh bại Hàn ở Mã Lăng, đánh bại Triệu ở ấp Hoài. Năm thứ ba, Tề đánh bại Ngụy ở ấp Quán. Năm thứ năm, [Ngụy] cùng Hàn hội kiến ở Trạch Dương. Xây thành ở Vũ Đổ. Bị Tần đánh bại. Năm thứ sáu, đánh chiếm được Nghi Đài của Tống. Năm thứ chín, đánh bại Hàn ở sông Khoái. Giao chiến với Tần ở Thiếu Lương, Tần bắt sống được tướng Ngụy là Công Tôn Tòa, chiếm được thành Bàng. Tần Hiến công chết, con là Hiếu công lên thay.
Năm thứ mười, đánh chiếm Bì Lao của Triệu. Sao chổi xuất hiện. Năm thứ mười hai, sao rơi giữa ban ngày, phát ra tiếng.
Năm thứ mười bốn, hội kiến với Triệu ở ấp Hạo. Năm thứ mười lăm, vua các nước Lỗ, Vệ, Tống, Trịnh vào triều kiến. Năm thứ mười sáu, hội kiến với Tần Hiếu công tại Đỗ Bình. Xâm chiếm Hoàng Trì của Tống, Tống chiếm lại được.
Năm thứ mười bảy, giao chiến với Tần ở Nguyên Lý, Tần chiếm được Thiếu Lương của Ngụy. [Ngụy] bao vây Hàm Đan nước Triệu. Năm thứ mười tám, hạ được Hàm Đan. Triệu xin Tề cứu, Tề sai Điền Kỳ, Tôn Tẫn giải cứu Triệu, đánh bại quân Ngụy Quế Lăng.
Năm thứ mười chín, chư hầu bao vây Tương Lăng nước Ngụy. Xây Trường thành, dựng quan ải ở Cố Dương.
Năm thứ hai mươi, trả lại Hàm Đan cho Triệu, cùng kết minh trên sông Chương Thủy. Năm thứ hai mươi mốt, hội kiến với Tần ấp Đồng. Triệu Thành hầu chết. Năm thứ hai mươi tám, Tề Uy vương chết. Trung Sơn quân làm Tướng quốc nước Ngụy.
Năm thứ ba mươi, Ngụy đánh Triệu, Triệu cấp báo với Tề. Tề Tuyên vương theo kế của Tôn tử, đánh Ngụy để cứu Triệu. Ngụy bèn huy động lực lượng lớn, sai Bàng Quyên chỉ huy, rồi lệnh cho Thái tử Thân làm Thượng tướng quân. Kéo quân qua Ngoại Hoàng, Từ tử ở Ngoại Hoàng nói với Thái tử rằng: “Tôi có thuật trăm đánh trăm thắng.” Thái tử hỏi: “Có thể được nghe chăng?” Khách đáp: “Vốn muốn dâng lên.” Nói tiếp: “Thái tử đích thân thống lãnh quân đội đánh Tề, đại thắng rồi chiếm đất Cử, giàu chẳng qua chỉ có nước Ngụy, sang chẳng qua chỉ làm vương. Nếu đánh không thắng Tề thì muôn đời không có nước Ngụy. Đó là cái thuật trăm đánh trăm thắng của thần vậy.” Thái tử đáp: “Phải, xin nghe theo lời ông mà rút về.” Khách nói: “Dẫu Thái tử muốn về cũng không được. Lời đó là khuyên Thái tử ra sức tiến đánh, muốn cho nhiều người nhân cơ hội lập công. Thái tử dẫu muốn về, e cũng không thể được.” Thái tử nhân đó muốn rút về, người điều khiển chiến xa nói: “Vừa xuất quân mà lại quay về thì xem như thua trận.” Rốt cuộc Thái tử giao chiến với người Tề, thua trận ở Mã Lăng. Tề bắt sống Thái tử Thân, giết Tướng quân Bàng Quyên, đại phá quân Ngụy.
Năm thứ ba mươi mốt, Tần, Triệu và Tề cùng tấn công nước Ngụy, tướng Tần là Thương quân lừa Tướng quân của Ngụy là công tử Ngang rồi đánh úp cướp lấy quân, phá được quân Ngụy. Tần trọng dụng Thương quân, đất phía đông của họ đến sông Hoàng Hà, còn Tề và Triệu nhiều lần phá quân Ngụy, An Ấp [nước Ngụy] lại ở gần Tần, thế là bèn dời đô về Đại Lương. Lấy công tử Hách làm Thái tử.
Năm thứ ba mươi ba, Tần Hiếu công chết, Thương quân trốn khỏi Tần về nước Ngụy, Ngụy giận, không cho vào. Năm thứ ba mươi lăm, hội kiến với Tề Tuyên vương ở phía nam Bình A.
Huệ vương nhiều lần thất bại trong quân sự, cho nên dùng lễ tiết khiêm cung, lễ vật trọng hậu để chiêu mộ người hiền. Trâu Diễn, Thuần Vu Khôn, Mạnh Kha[9] đều đến Đại Lương. Lương Huệ vương hỏi: “Quả nhân kém cỏi, quân đội ba lần bị bẻ gãy ở bên ngoài, Thái tử bị bắt làm tù binh, Thượng tướng bị chết, đất nước trống không, khiến tông miếu xã tắc của tiên vương phải hổ nhục, quả nhân rất xấu hổ về những việc đó. Cụ không quản ngàn dặm đường xa, nhọc mình hạ cố đến sân đình tệ ấp, có điều gì làm lợi cho nước ta chăng?” Mạnh Kha đáp: “Nhà vua không thể nói về lợi như thế. Xét lẽ, nhà vua muốn lợi thì đại phu cũng muốn lợi, đại phu muốn lợi thì dân chúng cũng muốn lợi, trên dưới tranh lợi thì nước nguy mất. Người làm vua, thi hành nhân nghĩa mà thôi, sao phải nói đến lợi!”[10]
Năm thứ ba mươi sáu, lại hội kiến với Tề vương ở ấp Quyên. Năm này, Huệ vương chết, con là Tương vương lên thay.
Tương vương năm thứ nhất, hội kiến với chư hầu tại Từ Châu, cùng xưng vương. Truy tôn cha là Huệ vương làm vương.
Năm thứ năm, Tần đánh bại bốn vạn năm nghìn quân của Long Giả nước Ngụy ở Điêu Âm, bao vây ấp Tiêu và Khúc Ốc nước Ngụy. Nước Ngụy cắt đất Hà Tây cho Tần.
Năm thứ sáu, hội kiến với Tần ở ấp Ứng. Tần chiếm được Phần Âm, Bì Thị và ấp Tiêu của Ngụy. Ngụy đánh Sở, đánh bại quân Sở ở Hình Sơn. Năm thứ bảy, Ngụy nhập hết Thượng Quận vào Tần. Tần hạ được ấp Bồ Dương của Ngụy. Năm thứ tám, Tần trả lại ấp Tiêu và Khúc Ốc cho Ngụy.
Năm thứ mười hai, Sở đánh bại quân Ngụy ở Tương Lăng. Đại thần chấp chính của chư hầu hội kiến với Tướng quốc Trương Nghi nước Tần tại Khiết Tang. Năm thứ mười ba, Trương Nghi làm Tướng quốc nước Ngụy. Nước Ngụy có người con gái biến thành con trai. Tần chiếm Khúc Ốc và Bình Chu của Ngụy.
Năm thứ mười sáu, Tương vương chết, con là Ai vương lên thay. Trương Nghi lại về Tần.
Ai vương năm thứ nhất, năm nước cùng đánh Tần[11], không thắng rồi rút.
Năm thứ hai, Tề đánh bại Ngụy ở Quan Tân. Năm thứ năm, Tần sai Sư Lý tử đánh chiếm được Khúc Ốc của Ngụy, đuổi Tê thủ[12] Ngạn Môn. Năm thứ sáu, Tần đến [Ngụy] lập công tử Chính làm Thái tử. Hội kiến với Tần ở Lâm Tấn. Năm thứ bảy, tấn công Tề. Cùng Tần đánh Yên.
Năm thứ tám, đánh Vệ, hạ được hai thành. Vệ quân lo lắng việc đó. Như Nhĩ yết kiến Vệ quân, nói: “Xin khiến Ngụy bãi binh, rồi miễn chức của Thành Lăng quân được chăng?” Vệ quân nói: “Nếu tiên sinh quả có thể làm được, cô xin đời đời đem nước Vệ phụng sự tiên sinh.” Như Nhĩ bái kiến Thành Lăng quân, nói: “Trước đây, Ngụy đánh Triệu, cắt đứt Dương Trường, hạ Yên Dự, ước định phân cắt Triệu, chia Triệu làm hai phần, sở dĩ Triệu chưa diệt vong, vì Ngụy làm chủ hợp tung. Nay Vệ sắp diệt vong, sẽ hướng sang phía tây để phụng sự nước Tần. So với việc nhờ Tần để giải cứu Vệ, chẳng bằng Ngụy giải cứu cho Vệ, Vệ ắt mãi mãi cảm kích ân đức của Ngụy.” Thành Lăng quân nói: “Phải.” Như Nhĩ yết kiến Ngụy vương, nói: “Thần từng bái kiến vua Vệ. Vệ vốn là chi riêng của vương thất nhà Chu, tuy xưng nước nhỏ nhưng nhiều vật báu. Nay Vệ nguy nan cận kề mà không chịu đưa ra của báu, vì trong lòng họ cho là đánh Vệ hay giải cứu Vệ đều không phải do đại vương làm chủ, cho nên của báu dẫu có đem ra cũng nhất định không dâng cho đại vương. Thần trộm tính là, trước hãy giải cứu Vệ thì sau ắt nhận được của báu của Vệ vậy.” Như Nhĩ ra khỏi cung, Thành Lăng quân vào cung, đem lời Như Nhĩ nói với Ngụy vương. Ngụy vương nghe lời Như Nhĩ, bèn bãi binh, bãi miễn Thành Long quân, suốt đời không gặp lại nữa.
Năm thứ chín, [Ngụy] hội kiến với Tần vương ở Lâm Tấn. Trương Nghi, Ngụy Chương đều trở về Ngụy. Tướng quốc nước Ngụy là Điền Nhu chết, nước Sở e ngại Trương Nghi, Tê thủ, Tiết công[13]. Tướng quốc nước Sở là Chiêu Ngư bảo Tô Đại rằng: “Điền Nhu chết, ta sợ Trương Nghi, Tê thủ, Tiết công có một người sẽ làm Tướng quốc nước Ngụy.” Đại nói: “Vậy muốn ai làm Tướng quốc thì có lợi cho ngài?” Chiêu Ngư đáp: “Tôi muốn Thái tử đích thân làm Tướng quốc.” Đại nói: “Xin vì ngài mà lên phía bắc, nhất định khiến Thái tử làm Tướng quốc.” Chiêu Ngư hỏi: “Làm thế nào?” Đáp rằng: “[Nếu] ngài là Lương Vương, Đại xin thuyết phục ngài.” Chiêu Ngư hỏi: “Thuyết phục thế nào?" Đáp rằng: “[Sẽ nói]: Đại cũng từ Sở tới, Chiêu Ngư rất lo, nói: 'Điền Nhu chết, ta sợ Trương Nghi, Tê thủ, Tiết công có một người sẽ làm Tướng quốc nước Ngụy.' Đại nói: 'Lương vương là bậc minh chúa hiền đức, nhất định không cho Trương Nghi làm Tướng quốc. Trương Nghi làm Tướng quốc ắt giúp Tần mà không giúp Ngụy. Tê thủ làm Tướng quốc ắt giúp Hàn mà không giúp Ngụy. Tiết công làm Tướng quốc ắt giúp Tề mà không giúp Ngụy. Lương vương là bậc minh chúa hiền đức, nhất định thấy chỗ bất lợi đó vậy.' Lương vương hỏi: 'Vậy thì quả nhân chọn ai là Tướng quốc?' Đại đáp: 'Chẳng ai bằng Thái tử làm Tướng quốc. Thái tử đích thân làm Tướng quốc, ba người kia đều cho là Thái tử không thể làm Tướng quốc mãi, đều ra sức để đất nước họ phụng sự Ngụy, muốn nhờ đó có được ấn tín Thừa tướng vậy. Nhờ sự hùng cường của Ngụy, rồi lại được ba nước vạn cỗ xe phụ giúp, Ngụy ắt được yên. Cho nên nói chẳng ai bằng Thái tử làm Tướng quốc'.” Bèn lên phía bắc yết kiến Lương vương, đem những lời ấy nói với Lương vương. Thái tử quả nhiên làm Tướng quốc nước Ngụy.
Năm thứ mười, Trương Nghi chết. Năm thứ mười một, hội kiến với Tần Vũ vương ở ấp Ứng. Năm thứ mười hai, Thái tử sang triều kiến Tần vương. Tần kéo đến đánh Bì Thị nước Ngụy, chưa hạ được thì giải vây. Năm thứ mười bốn, Tần sai người đưa Vũ Vương hậu về [Ngụy]. Năm thứ mười sáu, Tần hạ được Bồ Bản, Dương Tấn và Phong Lăng nước Ngụy. Năm thứ mười bảy, hội kiến với Tần ở Lâm Tấn. Tần trả lại Bồ Bản cho Ngụy. Năm thứ mười tám, cùng Tần đánh Sở. Năm thứ hai mươi mốt, cùng Tề, Hàn đánh bại quân Tần ở Hàm Cốc.
Năm thứ hai mươi ba, Tần lại trả Hà Ngoại cùng Phong Lăng cho Ngụy để giảng hòa. Ai vương chết, con là Chiêu vương lên thay.
Chiêu vương năm thứ nhất, Tần hạ được Tương Thành nước Ngụy. Năm thứ hai, giao chiến với Tần, quân Ngụy bất lợi. Năm thứ ba, giúp Hàn đánh Tần, tướng Tần là Bạch Khởi đánh bại hai mươi tư vạn quân Ngụy ở Y Khuyết. Năm thứ sáu, Ngụy cắt bốn trăm dặm vuông đất ở Hà Đông cho Tần. Mang Mão nhờ gian dối nên được trọng dụng. Năm thứ bảy, Tần hạ được sáu mươi mốt thành lớn nhỏ của Ngụy. Năm thứ tám, Tần Chiêu vương xưng là Tây đế, Tề Mẫn vương xưng là Đông đế, được hơn tháng, đều bỏ đế hiệu, xưng vương như trước. Năm thứ chín, Tần hạ các thành Tân Viên, Khúc Dương của Ngụy.
Năm thứ mười, Tề diệt Tống, Tống vương chết ở ấp Ôn nước Ngụy. Năm thứ mười hai, cùng Tần, Triệu, Hàn, Yên đánh Tề, đánh bại quân Tề ở phía tây ấp Tế, Mẫn vương chạy khỏi nước. Riêng quân Yên tiến vào Lâm Truy. Hội kiến với Tần vương ở Tây Chu.
Năm thứ mười ba, Tần hạ được An Thành nước Ngụy. Quân Tần kéo đến Đại Lương, rồi rút. Năm thứ mười tám, Tần hạ thành Dĩnh, Sở vương dời đô đến đất Trần.
Năm thứ mười chín, Chiêu vương chết, con là An Ly vương lên thay.
An Ly vương năm thứ nhất, Tần hạ được hai thành của Ngụy. Năm thứ hai, lại hạ được hai thành của Ngụy, kéo quân đến dưới thành Đại Lương, quân Hàn đến cứu, cắt ấp Ôn cho Tần để cầu hòa. Năm thứ ba, Tần hạ được bốn thành của Ngụy, chém bốn vạn thủ cấp. Năm thứ tư, Tần đánh phá Ngụy cùng Hàn và Triệu, giết mười lăm vạn người, đuổi tướng Ngụy là Mang Mão phải bỏ chạy. Tướng Ngụy là Đoàn Can tử đề nghị cắt Nam Dương cho Tần để giảng hòa. Tô Đại nói với Ngụy vương rằng: “Người muốn được ấn tín là Đoàn Can tử, kẻ muốn được đất là Tần. Nay đại vương khiến kẻ muốn được đất khống chế ấn tín, khiến kẻ muốn được ấn tín khống chế đất đai, đất Ngụy chưa hết thì chưa chịu thôi. Hơn nữa, đem đất thờ Tần, cũng giống ôm củi đi cứu hỏa, củi chưa hết thì lửa chưa chịu tắt.” Ngụy vương nói: “Cái đó hẳn rồi. Thế nhưng, việc đã bắt đầu thi hành, không thể sửa được.” Đại đáp: “Riêng đại vương không thấy nguyên nhân người chơi trò bác hý coi trọng hình chim kiêu [trên quân cờ][14], tiện thì ăn quân, không tiện thì thôi. Nay đại vương nói việc đã bắt đầu thi hành, không thể sửa được, sao đại vương dùng trí lại không bằng [người chơi đánh bạc] dùng hình chim kiêu vậy?”
Năm thứ chín, Tần hạ được ấp Hoài của Ngụy. Năm thứ mười, Thái tử nước Tần làm con tin ở nước ngoài chết ở Ngụy. Năm thứ mười một, Tần hạ Thê Khâu của Ngụy.
Tần Chiêu vương hỏi tả hữu rằng: “Hiện nay Hàn và Ngụy có mạnh hơn so với trước đây không?” Đáp rằng: “Không mạnh bằng trước đây.” Tần vương hỏi: “Hiện nay Như Nhĩ và Ngụy Tề so với Mạnh Thường và Mang Mão, ai giỏi hơn?” Đáp rằng: “Không bằng [Mạnh Thường và Mang Mão].” Tần vương nói: “Dựa vào sự hiền năng của Mạnh Thường, Mang Mão, thống lãnh Hàn và Ngụy hùng mạnh để tấn công Tần, còn không làm gì được quả nhân. Nay dựa vào những kẻ kém cỏi như Như Nhĩ và Ngụy Tề thống lãnh quân đội của Hàn và Ngụy suy yếu để tấn công Tần, chúng không làm được gì quả nhân lại càng rõ.” Tả hữu đều nói: “Đúng quá.” Trung Kỳ dựa đàn đáp rằng: “Đại vương tính việc thiên hạ sai rồi. Khi Lục khanh nắm quyền nước Tấn, Trí bá mạnh nhất, diệt họ Phạm và họ Trung Hàng, lại thống lãnh quân Hàn và Ngụy bao vây Triệu Tương tử ở Tấn Dương, khơi nước Tấn Thủy để nhấn chìm thành Tấn Dương, chỉ chỗ nào trong thành cao ba bản mới không bị lụt. Trí bá chỉ huy quân khơi dòng, Ngụy Hoàn tử điều khiển chiến xa, Hàn Khang tử làm Tham thừa. Trí bá nói: 'Ban đầu ta không biết nước sông có thể diệt nước người, nay mới biết điều đó.' Phần Thủy có thể nhấn chìm An Ấp, Giáng Thủy có thể xối vào Bình Dương. Ngụy Hoàn tử hích tay Hàn Khang tử, Hàn Khang tử giẫm chân Ngụy Hoàn tử, hích tay giẫm chân làm ám hiệu trên xe mà đất của Trí bá bị chia, thân chết nước mất, bị thiên hạ chê cười. Nay quân Tần tuy hùng mạnh, cũng không thể hơn Trí bá; Hàn và Ngụy dẫu yếu, vẫn giỏi hơn kẻ dưới thành Tấn Dương kia. Lúc họ đang giẫm chân hích tay, xin đại vương chớ coi thường!” Thế là Tần vương sợ.
Tề và Sở hẹn nhau rồi cùng tấn công Ngụy, Ngụy sai người cầu cứu nước Tần, sứ giả liên tục được phái đi, mà quân cứu viện của Tần không đến. Nước Ngụy có người tên là Đường Thư, đã hơn chín mươi tuổi, nói với Ngụy vương rằng: “Lão thần xin sang tây du thuyết Tần vương, khiến họ đem quân đến trước khi thần về.” Ngụy vương vái hai vái, bèn đóng xe phái đi. Đường Thư đến, vào yết kiến Tần vương. Tần vương nói: “Cụ tuổi cao mắt mờ lại từ xa đến đây, vất vả quá! Xét lẽ, nước Ngụy đến cầu cứu ta nhiều lần, quả nhân biết sự nguy cấp của Ngụy rồi.” Đường Thư đáp rằng: “Đại vương đã biết sự nguy cấp của Ngụy vậy mà không phát binh cứu viện, thần trộm cho bề tôi dâng kế sách này là kẻ bất tài. Ngụy là nước vạn cỗ xe, nhưng sở dĩ quay mặt về tây thờ Tần, xưng là phên giậu phía đông, nhận mũ đai, xuân thu cung hiến lễ phẩm, vì cho rằng sự hùng cường của Tần đủ để liên kết. Nay quân Tề và Sở hợp nhau ở ngoài thành nước Ngụy mà quân cứu viện của Tần không xuất phát, lại còn cho là chưa nguy cấp. Giả sử quá cấp bách thì Ngụy đã cắt đất rồi hợp tung, đại vương còn cứu gì nữa? Nhất định phải đợi Ngụy nguy cấp mới cứu, đó là để mất Ngụy phên giậu phía đông mà làm mạnh cho hai nước địch Tề, Sở, vậy thì đại vương được lợi gì?" Thế là Tần Chiêu vương vội phát binh cứu viện Ngụy. Nước Ngụy lại được yên.
Nước Triệu sai người nói với Ngụy vương rằng: “Hãy giết Phạm Tòa cho tôi, tôi xin hiến bảy mươi dặm đất.” Ngụy vương nói: “Được.” Sai quan lại bắt Phạm Tòa, bao vây nhưng chưa giết. Tòa nhân đó lên mái nhà, ngồi trên nóc, nói với sứ giả rằng: “Việc giết Tòa để trao đổi, chẳng bằng để Tòa sống mà trao đổi. Nếu Tòa chết rồi mà Triệu không cắt đất cho nhà vua thì nhà vua phải làm sao? Cho nên chẳng bằng trước tiên định việc cắt đất rồi sau hãy giết Tòa.” Ngụy vương nói: “Phải.” Tòa nhân đó dâng thư lên Tín Lăng quân rằng: “Tòa vốn là Tướng quốc bị miễn chức của Ngụy, nước Triệu dùng đất để giết Tòa mà Ngụy vương nghe theo, nếu Tần hùng mạnh cũng muốn theo cách đó với Triệu thì ngài làm thế nào?” Tín Lăng quân nói với Ngụy vương, rồi Ngụy vương thả Phạm Tòa.
Ngụy vương vì được Tần cứu viện nên muốn thân với Tần rồi đánh Hàn để lấy lại đất cũ. Vô Kỵ nói với Ngụy vương rằng:
“Tần và Nhung, Địch phong tục giống nhau, có dạ hùm sói, tham lam hám lợi, không thủ tín, không biết lễ nghĩa đức hạnh. Nếu có lợi thì chẳng màng anh em thân thích, như cầm thú vậy, đó là điều thiên hạ đều biết, không hề có sự thi ơn tích đức. Cho nên mẹ là Thái hậu vì lo buồn mà chết; cậu là Nhương hầu, công lao không ai lớn bằng, rốt cuộc bị xua đuổi; hai người em vô tội đều bị tước mất nước phong. Tần đối với thân thích còn thế, huống chi với nước cừu thù? Nay đại vương với Tần cùng đánh Hàn thì càng tiến gần đến tai họa nước Tần, thần rất nghi hoặc việc đó. Đại vương không biết đó là không sáng suốt, quần thần không ai tâu trình đó là bất trung.
Nay nước Hàn cậy một người phụ nữ phụng sự một vị chúa thơ trẻ, trong có đại loạn, ngoài giao chiến với quân binh Tần, Ngụy hùng mạnh, đại vương cho là không bị diệt ư? Nước Hàn diệt vong, Tần có đất Trịnh, gần với Đại Lương, đại vương cho là sẽ được yên ư? Đại vương muốn có đất cũ, nay trông cậy vào sự thân thiết với Tần hùng mạnh, đại vương cho là có lợi chăng?
Tần không phải nước ưa bình an vô sự, sau khi Hàn diệt vong ắt sẽ lại gây chuyện, gây chuyện ắt phải nhắm vào chỗ dễ dàng và có lợi, nhắm vào chỗ dễ dàng và có lợi nhất định không đánh Sở và Triệu. Tại sao thế? Xét lẽ, vượt núi băng sông Hà, cắt đứt Thượng Đảng nước Hàn rồi tấn công Triệu hùng mạnh, đó là giẫm vào vết xe thất bại Yên Dự, nhất định Tần không làm thế. Nếu theo đường Hà Nội, quay lưng vào thành Nghiệp và Triều Ca, chặn dòng sông Chương sông Phủ, cùng quân Triệu khơi nước vào ngoại thành Hàm Đan, đó là họa của Trí bá, Tần cũng không dám. Đánh Sở, theo đường Thiệp Cốc, đi ba nghìn dặm, rồi tấn công cửa ải Manh Ách, đường đi quá xa, chỗ đánh quá khó, Tần cũng không làm đâu. Nếu theo đường Hà Ngoại, quay lưng vào Đại Lương, bên phải có Thượng Sái, Thiệu Lăng, khơi nước sông vào ngoài thành Trần để giao chiến với Sở, Tần cũng không dám. Cho nên nói Tần nhất định không đánh Sở và Triệu, lại cũng không tấn công Vệ và Tề.
Xét lẽ, sau khi nước Hàn diệt vong, ngày xuất quân, ngoài Ngụy thì không đánh vào đâu khác. Tần vốn có ấp Hoài, ấp Mao, Hình Khâu, xây thành ở Quỷ Tân để áp sát Hà Nội, ấp Cung và ấp Cấp ở Hà Nội ắt nguy; có đất Trịnh, được Viên Ung, khơi nước Huỳnh Trạch nhấn chìm Đại Lương, Đại Lương ắt bị diệt vong. Sứ thần của đại vương sai đi mắc sai lầm, nói xấu An Lăng thị với vua Tần, Tần muốn giết An Lăng thị lâu rồi. Diệp Dương và Côn Dương nước Tần đều gần Vũ Dương, nghe sứ giả nói xấu An Lăng thị, sẽ nghe theo rồi diệt An Lăng thị, vòng qua phía bắc Vũ Dương, từ phía đông áp sát ấp Hứa, Nam Quốc của Ngụy ắt nguy, nước Ngụy không nguy hại ư?
Xét lẽ, giận Hàn, không thích An Lăng thị là phải; không lo Tần, không tiếc Nam Quốc là sai vậy. Một ngày kia, Tần ở khu vực nước Tấn tại Hà Tây, cách Đại Lương nghìn dặm, có Hoàng Hà và núi cao ngăn trở, có nước Chu và nước Hàn ở giữa. Từ khi dụng binh ở Lâm Hướng đến nay, Tần bảy lần đánh Ngụy, năm lần vào trong Phố Điền của Ngụy, thành ấp biên cương đều bị đánh hạ, Văn Đài bị đổ, Thùy Đô bị thiêu, cây rừng bị đốn, hươu nai chết hết, còn đất nước liên tục bị bao vây. Lại ruổi dài lên phía bắc Đại Lương, phía đông đến ngoài ấp Đào thành Vệ, phía bắc lên đất Giám ở Đông Bình. Đất đai bị mất vì Tần có núi nam núi bắc, Hà Ngoại, Hà Nội, mấy chục huyện lớn, mấy trăm đô ấp lớn. Tần bèn ở đất Tấn tại Hà Tây, cách Đại Lương nghìn dặm mà tai hại đến như thế đấy. Huống chi để Tần diệt Hàn, có đất Trịnh, không bị Hoàng Hà và núi cao ngáng trở, không còn bị ngăn cách bởi nước Chu nước Hàn, cách Đại Lương trăm dặm, họa ắt từ đó mà ra.
Ngày nọ, hợp tung bất thành, Sở và Ngụy nghi ngờ nhau còn Hàn thì không được tham gia. Nay Hàn ba năm bị chiến tranh, Tần muốn Hàn phải khuất phục rồi giảng hòa, Hàn biết làm thế sẽ diệt vong nên không nghe, gửi con tin sang Triệu, đề nghị vì thiên hạ chư hầu liên kết lại, Sở và Triệu ắt tập hợp quân binh, đều biết ham muốn của Tần là vô cùng, không thôn tính hết các nước trong thiên hạ rồi khiến bốn bể thành bề tôi, nhất định không thôi. Vì thế thần xin đem việc hợp tung để nói với đại vương, đại vương hãy kíp tiếp nhận minh ước của Sở và Triệu, rồi tiếp nhận con tin của Hàn để bảo tồn Hàn, đòi lại đất cũ đã mất, Hàn nhất định sẽ dốc sức. Như thế sĩ dân không phải vất vả mà lấy lại được đất cũ, công lao lớn hơn nhiều việc cùng Tần đánh Hàn, mà lại không chịu cái họa ở gần Tần hùng mạnh.
Xét lẽ, bảo tồn Hàn, giữ yên Ngụy mà được lợi cho thiên hạ, đó cũng chính là thiên thời của đại vương. Khai thông đường Thượng Đảng của Hàn đến ấp Cung ấp Ninh, khiến có đường ra An Thành, ra vào phải nộp thuế, thế là Ngụy dùng Thượng Đảng của Hàn để làm vật bảo đảm. Nay những thuế khóa đó cũng đủ để làm giàu cho nước. Hàn ắt cảm ơn đức của Ngụy, yêu Ngụy, trọng Ngụy, nể sợ Ngụy, Hàn nhất định không dám phản Ngụy, như thế Hàn chính là huyện của Ngụy vậy. Ngụy được Hàn, coi đó như huyện của mình, thì Vệ, Đại Lương, Hà Ngoại ắt được yên ổn. Nay không bảo tồn Hàn thì Đông Chu, Tây Chu và An Lăng ắt nguy; Sở và Triệu bị đại phá, Vệ và Tề rất sợ hãi, không lâu nữa thiên hạ sẽ hướng về tây mà rong ruổi vào chầu Tần rồi xưng thần.”
Năm thứ hai mươi, Tần bao vây Hàm Đan, Tín Lăng quân Vô Kỵ lừa đoạt quân của Tướng quân Tấn Bỉ để giải cứu Triệu, Triệu được bảo toàn. Vô Kỵ nhân đó ở lại Triệu. Năm thứ hai mươi sáu, Tần Chiêu vương chết.
Năm thứ ba mươi, Vô Kỵ trở về Ngụy, thống lĩnh quân năm nước tấn công Tần, đánh bại quân Tần ở Hà Ngoại, đuổi Mông Ngao chạy. Thái tử nước Ngụy là Tăng làm con tin ở Tần, Tần giận, định bỏ tù Thái tử Tăng. Có người vì Tăng nói với Tần vương rằng: “Công Tôn Hỷ từng nói với Tướng quốc nước Ngụy rằng 'Xin kíp đem quân Ngụy đánh Tần, Tần vương giận, ắt bỏ tù Tăng. Ngụy vương cũng sẽ giận, tấn công Tần, Tần ắt làm thương hại đến Thái tử.' Nay đại vương bỏ tù Tăng, là trúng kế của Hỷ rồi. Cho nên chẳng bằng tôn quý Tăng rồi liên kết với Ngụy, để khiến Tề và Hàn nghi hoặc.” Tần bèn thôi không bỏ tù Tăng.
Năm thứ ba mươi mốt, Tần vương là chính mới lên ngôi.
Năm thứ ba mươi tư, An Ly vương chết, Thái tử Tăng lên thay, đó là Cảnh Mẫn vương. Tín Lăng quân Vô Kỵ chết.
Cảnh Mẫn vương năm thứ nhất, Tần hạ được hai mươi thành của Ngụy, lập làm Đông Quận của Tần. Năm thứ hai, Tần hạ được Triều Ca của Ngụy. Nước Vệ dời đến Dã Vương. Năm thứ ba, Tần hạ được ấp Cấp của Ngụy. Năm thứ năm, Tần hạ được ấp Viên, Bồ Dương, ấp Diễn của Ngụy. Năm thứ mười lăm, Cảnh Mẫn vương chết, con là Ngụy vương Giả lên thay.
Ngụy vương Giả năm thứ nhất, Thái tử nước Yên là Đan sai Kinh Kha hành thích Tần vương, Tần vương phát giác việc đó.
Năm thứ ba, quân Tần khơi nước trút vào Đại Lương, bắt sống Ngụy vương Giả, rồi diệt nước Ngụy, lập thành quận huyện.
Thái sử công bàn rằng: Ta đến gò Đại Lương xưa, người ở gò ấy nói: “Tần đánh phá Đại Lương, dẫn nước Hà Câu cho xối vào Đại Lương, ba tháng thì thành lở, Ngụy vương xin hàng, bèn diệt nước Ngụy.” Người bàn luận đều nói vì Ngụy không dùng Tín Lăng quân, khiến nước suy yếu đến nỗi bị diệt vong, ta không cho là thế. Trời đang lệnh cho Tần bình định thiên hạ, sự nghiệp chưa thành, Ngụy dẫu được sự phò giúp của A hành[15], cũng có ích gì?
[1] Tất công là một trong các con của Văn vương nhà Chu, họ Cơ.
[2] Bốc Yển: tức đại phu Quách Yển nước Tấn, phụ trách việc coi bói.
[3] Triệu Giản tử: tức Triệu Ưởng.
[4] Trung Hàng Văn tử: tức Tuân Dần.
[5] Phạm Hiến tử: tức Phạm Cát Xạ.
[6] Ý nói học Lục kinh (Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu) và Lục nghệ (Lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số) từ Tử Hạ, cao đồ của Khổng tử.
[7] Đoàn Can Mộc: tên thật là Lý Khắc, từng cầu học ở Tử Hạ.
[8] Ngụy Thành tử và Địch Hoàng.
[9] Mạnh Kha: tức Mạnh tử, hậu nhân tôn làm Á thánh của đạo Nho.
[10] Đoạn vấn đáp này sau được ghi lại trong sách Mạnh tử song câu chữ có xuất nhập đôi chút.
[11] Gồm: Hàn, Ngụy, Sở, Triệu và Yên.
[12] Tê thủ: là chức quan, ở đây chỉ Công Tôn Diễn.
[13] Tiết công: chỉ Điền Văn.
[14] Bác hý: một trò chơi thời cổ, đã thất truyền.
[15] A hành: chỉ các bậc đại quan chấp chính thời cổ. Thời nhà Thương, do đại thần Y Doãn nắm giữ, người thời Thương dùng chức A hành để chỉ Y Doãn. Ở đây ý nói dầu có những bề tội giỏi giang như ở Y Doãn phụ tá cũng không vãn hồi được cục diện diệt vong của nước Ngụy.