Sử Ký III. Thế Gia

Lượt đọc: 252 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUYỂN 35 QUẢN, SÁI THẾ GIA

❊ ❊ ❊

Quản Thúc Tiên, Sái Thúc Độ là con của Chu Văn vương, em của Vũ vương. Anh em cùng mẹ với Vũ vương có mười người. Mẹ là Thái Tự, chính phi của Văn vương. Con trưởng [của Thái Tự và Văn vương] là Bá Ấp Khảo, rồi đến Vũ vương Phát, Quản thúc Tiên, Chu công Đán, Sái Thúc Độ, Tào Thúc Chấn Đạc, Thành Thúc Vũ, Hoắc Thúc Xử, Khang thúc Phong, Nhiễm Quý Tải. Nhiễm Quý Tải là con út. Anh em cùng mẹ mười người, nhưng chỉ có Phát và Đán là hiền năng, làm tả hữu phụ bật cho Văn vương, cho nên Văn vương bỏ Bá Ấp Khảo mà lấy Phát làm Thái tử. Đến khi Văn vương băng hà thì Phát lên ngôi, đó là Vũ vương. Bá Ấp Khảo đã chết từ trước đó.

Sau khi Vũ vương đánh thắng vua Trụ nhà Ân, bình định thiên hạ, phân phong cho bề tôi có công và các em. Thế rồi phong cho Thúc Tiên đất Quản, Thúc Độ đất Sài: hai người phụ tá con trai vua Trụ là Vũ Canh Lộc Phủ, cai trị di dân của nhà Ân. Phong cho Thúc Đán đất Lỗ để phò tá nhà Chu, đó là Chu công. Phong cho Thúc Chấn Đạc đất Tào, phong cho Thúc Vũ đất Thành, phong cho Thúc Xử đất Hoắc, Khang thúc Phong và Nhiễm Quý Tải đều còn nhỏ, chưa được phân phong.

Sau khi Vũ vương băng hà, Thành vương còn nhỏ, Chu công Đán nắm đại quyền trong vương thất. Quản thúc, Sái thúc ngờ Chu công sẽ làm những việc gây bất lợi cho Thành vương, bèn xúi Vũ Canh làm loạn. Chu công Đán thừa lệnh Thành vương thảo phạt Vũ Canh, giết Quản thúc, rồi lưu đày Sái thúc, lúc đày đi cho mười cỗ xe, bảy mươi tùy tòng. Rồi chia số dân còn lại của nhà Ân thành hai: thứ nhất, phân phong cho Vi tử Khải đất Tống, để kế tục tế tự nhà Ân; thứ hai, phong cho Khang thúc làm Vệ quân, đó là Vệ Khang thúc. Phong cho Quý Tải đất Nhiễm. Nhiễm Quý và Khang thúc đều có đức hạnh thuần chính, vì thế Chu công cất nhắc Khang thúc làm Tư khấu cho nhà Chu, Nhiễm Quý làm Tư không cho nhà Chu, đặng phò tá Thành vương cai trị, đều có danh tiếng tốt đẹp trong thiên hạ.

Sái Thúc Độ bị lưu đày rồi chết. Con của Độ là Hồ, Hồ bèn thay tính đổi nết, noi theo đức thành người cung thuận thiện lương. Chu công biết chuyện, mới cất nhắc Hồ làm khanh sĩ ở nước Lỗ, nước Lỗ [nhờ thế] yên trị. Thế rồi Chu công nói với Thành vương, lại phong cho Hồ đất Sái, để phụng thờ tế tự Sái thúc, đó là Sái Trọng. Năm người em[1] còn lại đều đến nước phong, không ai làm quan cho thiên tử.

Sái Trọng chết, con là Sái bá Hoang lên thay. Sái bá Hoang chết, con là Cung hầu lên thay. Cung hầu chết, con là Lệ hầu lên thay. Lệ hầu chết, con là Vũ hầu lên thay. Thời Vũ hầu, Chu Lệ vương mất nước, chạy đến đất Trệ, thi hành chính sự [theo thể chế] “Cộng hòa”, chư hầu phần nhiều phản lại nhà Chu.

Vũ hầu chết, con là Di hầu lên thay. Di hầu năm thứ mười một, Chu Tuyên vương lên ngôi. Năm thứ hai mươi tám, Di hầu chết, con là Hy hầu Sở Sự lên thay.

Hy hầu năm thứ ba mươi chín, Chu U vương bị Khuyển Nhung giết, tông thất nhà Chu suy yếu rồi dời sang phía đông. Nước Tần bắt đầu được liệt vào hàng chư hầu.

Năm thứ bốn mươi tám, Hy hầu chết, con là Cung hầu Hưng lên thay. Cung hầu năm thứ hai thì chết, con là Đái hầu lên thay. Đái hầu năm thứ mười thì chết, con là Tuyên hầu Thố Phủ lên thay.

Tuyên hầu năm thứ hai mươi tám, Lỗ Ẩn công mới lên ngôi. Năm thứ ba mươi lăm, Tuyên hầu chết, con là Hoàn hầu Phong Nhân lên thay. Hoàn hầu năm thứ ba, [người] Lỗ giết vua nước mình là Ẩn công. Năm thứ hai mươi, Hoàn hầu chết, em là Ai hầu Hiến Vũ lên thay.

Ai hầu năm thứ mười một, ban trước, Ai hầu lấy vợ nước Trần, Tức hầu cũng lấy vợ nước Trần. Phu nhân của Túc hầu trên đường về, đi qua nước Sái, Sái hầu bất kính. Tức hầu giận, đề nghị Sở Văn vương: “Đến thảo phạt nước tôi, tôi sẽ cầu cứu nước Sái, nước Sái ắt đến, nước Sở nhân đó đánh nước Sái, có thể thu được thắng lợi.” Sở Văn vương nghe theo kế đó, bắt sống được Sái Ai hầu rồi rút về. Ai hầu bị lưu lại nước Sở chín năm, rồi chết ở nước Sở. Ai hầu trước sau tại vị được hai mươi năm thì qua đời. Người Sái lập con của Ai hầu là Hật lên thay, đó là Mậu hầu.

Mậu hầu đem em gái gả cho Tề Hoàn công làm phu nhân. Năm thứ mười tám, Tề Hoàn công cùng phu nhân nước Sái đùa chơi trên thuyền, phu nhân làm thuyền tròng trành, Hoàn công ngăn lại, [phu nhân vẫn] không thôi, Hoàn công tức giận, đưa trả về nước Sái nhưng không tuyệt giao. Sái hầu giận, gả người em gái ấy cho người khác. Tề Hoàn công tức tối, thảo phạt nước Sái; quân Sái tan, liền bắt Mậu hầu làm tù binh, phía nam tiến đến Thiệu Lăng nước Sở. Rồi sau, chư hầu giúp nước Sái tạ lỗi với nước Tề, Tề hầu thả Sái hầu về nước. Năm thứ hai mươi chín, Mậu hầu chết, con là Trang hầu Giáp Ngọ lên thay.

Trang hầu năm thứ ba, Tề Hoàn công chết. Năm thứ mười bốn, Tấn Văn công đánh bại quân Sở ở Thành Bộc. Năm thứ hai mươi, Thái tử nước Sở là Thương Thần giết vua cha là Thành vương rồi lên thay. Năm thứ hai mươi lăm, Tần Mục công chết. Năm thứ ba mươi ba, Sở Trang vương lên ngôi. Năm thứ ba mươi tư, Trang hầu chết, con là Văn hầu Thân lên thay.

Văn hầu năm thứ mười bốn, Sở Trang vương thảo phạt nước Trần, giết Hạ Trưng Thư. Năm thứ mười lăm, nước Sở bao vây nước Trịnh, nước Trịnh đầu hàng, nước Sở giải vây. Năm thứ hai mươi, Văn hầu chết, con là Cảnh hầu Cố lên thay.

Năm Cảnh hầu thứ nhất, Sở Trang vương chết. Năm thứ bốn mươi chín, Cảnh hầu cưới vợ là người con gái nước Sở cho Thái tử Ban, rồi Cảnh hầu tư thông với người con gái ấy. Thái tử giết Cảnh hầu, tự lập làm vua, đó là Linh hầu.

Linh hầu năm thứ hai, công tử nước Sở là Vi giết vua nước mình là Giáp Ngao rồi tự lập làm vua, đó là Linh vương. Năm thứ chín, Tư đồ nước Trần là Chiêu giết vua nước mình là Ai công. Nước Sở sai công tử Khí Tật diệt nước Trần rồi chiếm lấy nước. Năm thứ mười hai, Sở Linh vương nhân cơ hội [Sái] Linh hầu giết cha, bèn dụ gái Linh hầu đến đất Thân, cho giáp sĩ mai phục sau đó mời Sái Linh hầu uống rượu, chuốc say rồi giết chết, kế đó giết bảy mươi sĩ tốt của Linh hầu. Hạ lệnh cho công tử Khí Tật bao vây nước Sái. Tháng Mười một, [nước Sở] diệt nước Sái, cho Khí Tật làm Sái công.

Ba năm sau khi nước Sở diệt nước Sái, công tử Khí Tật nước Sở giết vua nước mình là Linh vương rồi lên thay, đó là Bình vương. Bình vương liền tìm con út của Sái Cảnh hầu là Lư, rồi đưa Lư lên ngôi, đó là Bình hầu. Năm ấy, nước Sở cũng khôi phục lại nước Trần. Sở Bình vương mới lên ngôi, muốn kết thân với chư hầu, cho nên khôi phục rồi lập hậu duệ của Trần và Sái.

Bình hầu năm thứ chín thì chết, cháu nội của Linh hầu Ban là Đông Quốc tấn công con trai của Bình hầu rồi tự lên thay, đó là Điệu hầu. Cha của Điệu hầu là Ẩn Thái tử Hữu. Ẩn Thái tử Hữu là Thái tử của Linh hầu, sau khi Bình hầu lên ngôi liền giết Ẩn Thái tử, cho nên khi Bình hầu chết đi, con của Ẩn Thái tử là Đông Quốc mới tấn công con của Bình hầu để lên thay, đó là Điệu hầu. Điệu hầu năm thứ ba thì chết, em trai là Chiêu hậu Thân lên thay.

Chiêu hầu năm thứ mười, triều kiến Sở Chiêu vương, đem hai chiếc áo cừu đẹp, dâng một chiếc cho Chiêu vương còn một chiếc mình mặc. Tướng quốc nước Sở là Tử Thường muốn có chiếc áo đó, [Chiêu hầu] không cho. Tử Thường sàm báng Sái hầu, khiến Sái hầu bị giữ lại ở nước Sở ba năm. Sái hầu biết việc đó, bèn dâng áo cừu của mình cho Tử Thường; [sau khi] Tử Thường nhận áo, bèn nói [với Sở vương] cho Sái hầu về. Sái hầu về rồi sang nước Tấn, xin được cùng nước Tấn thảo phạt nước Sở.

Mùa xuân năm thứ mười ba, cùng với Vệ Linh công hội minh Thiệu Lăng. Sái hầu ngầm xin Đại phu Tranh Hoằng nhà Chu cho [nước Sái] xếp trước nước Vệ; Vệ công sai Sử Ngư nói về công đức của [tổ của nước Vệ là] Khang thúc, nước Vệ liền được xếp trước. Mùa hạ, vì nước Tấn diệt nước Thẩm, Sở vương tức giận, tấn công nước Sái. Sái Chiêu hầu sai con trai mình sang nước Ngô làm con tin, để cùng nhau thảo phạt nước Sở. Mùa đông, cùng với Ngô vương Hạp Lư đánh phá nước Sở, tiến vào Dĩnh đô. Nước Sái oán Tử Thường, Tử Thường sợ, bèn chạy sang nước Trịnh. Năm thứ mười bốn, quân Ngô rời khỏi [Dĩnh đô], Sở Chiêu vương về nước. Năm thứ mười sáu, Lệnh doãn nước Sở vì dân khóc lóc [thỉnh cầu Sở vương] để mưu tính báo phục nước Sái, Sái Chiêu hầu sợ. Năm thứ hai mươi sáu, Khổng tử đến nước Sái. Sở Chiêu vương thảo phạt nước Sái, nước Sái sợ, cấp báo với nước Ngô. Nước Ngô cho rằng nước Sái xa xôi, bèn giao ước nước Sái chuyển đến gần nước Ngô để tiện bề ứng cứu; Chiêu hầu ngầm đồng ý, không bàn với các đại phu. Người Ngô đến cứu nước Sái, nhân đó chuyển đô thành nước Sái đến Châu Lai. Năm thứ hai mươi tám, Chiêu hầu định vào triều kiến nước Ngô, các đại phu sợ lại bị thiên chuyển, bèn sai đạo tặc là Lợi giết Chiêu hầu; xong việc liền giết Lợi để xóa tội, rồi lập con Chiêu hầu là Sóc lên thay, đó là Thành hầu.

Thành hầu năm thứ tư, nước Tống diệt nước Tào. Năm thứ mười, Điền Thường nước Tề giết vua nước mình là Giản công. Năm thứ mười ba, nước Sở diệt nước Trần. Năm thứ mười chín, Thành hầu chết, con là Thanh hầu Sản lên thay. Thanh hầu năm thứ mười lăm thì chết, con là Nguyên hầu lên thay. Nguyên hầu năm thứ sáu thì chết, con là Hầu Tề lên thay.

Hầu Tề năm thứ tư, Sở Huệ vương diệt nước Sái, Sái hầu Tề chạy trốn, nước Sái bèn dứt việc tế tự. [Nước Sái bị] diệt sau nước Trần ba mươi ba năm.

Hậu duệ của Bá Ấp Khảo không biết được phong ở đâu. Hậu duệ của Vũ vương Cơ Phát là nhà Chu, đã nói ở phần Bản kỷ. Quản thúc Tiên làm loạn bị giết, không có hậu duệ. Hậu duệ của Chu công Cơ Đán là nước Lỗ, đã nói ở phần Thế gia. Hậu duệ của Sái Thúc Độ là nước Sái, có nói trong phần Thế gia. Hậu duệ của Tào thúc Chấn Đạc là nước Tào, có nói trong phần Thế gia. Hậu duệ của Thành Thúc Vũ không thấy ghi chép lại. Hậu duệ của Hoắc Thúc Xử là nước Hoắc, [nước Hoắc] bị diệt thời Tấn Hiến công. Hậu duệ của Khang thúc Phong là nước Vệ, có nói trong phần Thế gia. Hậu duệ của Nhiễm Quý Tải không thấy ghi chép lại.

Thái sử công bàn rằng: Quản, Sái làm loạn, không đáng để chép. Nhưng Chu Vũ vương băng hà, Thành vương còn nhỏ, thiên hạ vốn ngờ, do các em cùng mẹ là Thành thúc, Nhiễm Quý mười người phò tá, nhờ đó chư hầu rốt cuộc suy tôn Chu vương làm tông chủ, cho nên phụ chép vào phần Thế gia.

Tào Thúc Chấn Đạc là em Chu Vũ vương. Sau khi Vũ vương diệt vua Trụ nhà Ân, phân phong đất Tào cho Thúc Chấn Đạc.

Thúc Chấn Đạc chết, con là Thái bá Tỳ lên thay. Thái bá chết, con là Trọng quận Bình lên thay. Trọng quân Bình chết, con là Cung bá Hầu lên thay. Cung bá Hầu chết, con là Hiếu bá Vân lên thay. Hiếu bá Vân chết, con là Di bá Hỷ lên thay.

Di bá năm thứ hai mươi ba, Chu Lệ vương chạy ra đất Trệ.

[Di bá Hỉ] năm thứ ba mươi thì chết, em là U bá Cường lên thay. U bá năm thứ chín, em là Tô giết U bá rồi lên thay, đó là Đái bá. Năm Đái bá thứ nhất, Chu Tuyên vương đã lên ngôi được ba năm. Năm thứ ba mươi, Đái bá chết, con là Huệ bá Hủy lên thay.

Huệ bá năm thứ hai mươi lăm, Chu U vương bị Khuyển Nhung giết, nhân đó [nhà Chu] dời sang phía đông, [từ đó] ngày càng suy vi, chư hầu phản lại. Nước Tần bắt đầu được liệt vào hàng chư hầu.

Năm thứ ba mươi sáu, Huệ bá chết, con là Thạch Phủ lên thay, [Thạch Phủ] bị em trai là Vũ giết rồi lên thay, đó là Mục Công. Mục công năm thứ ba thì chết, con là Hoàn công Chung Sinh lên thay.

Hoàn công năm thứ ba mươi lăm, Lỗ Ẩn công lên ngôi. Năm thứ bốn mươi lăm, người Lỗ giết vua nước mình là Ẩn công. Năm thứ bốn mươi sáu, Hoa Phủ Đốc ở nước Tống giết vua nước mình là Thương công và Đại phu Khổng Phủ. Năm thứ năm mươi lăm, Hoàn công chết, con là Trang công Diệc Cô lên thay.

Trang công năm thứ hai mươi ba, Tề Hoàn công bắt đầu xưng bá. Năm thứ ba mươi mốt, Trang công chết, con là Hy công Di lên thay. Hy công năm thứ chín thì chết, con là Chiêu công Ban lên thay. Chiêu công năm thứ sáu, Tề Hoàn công đánh bại nước Sái, rồi tiến đến Thiệu Lăng nước Sở. Năm thứ chín, Chiêu công chết, con là Cung công Tương lên thay.

Cung công năm thứ mười sáu, trước đây, công tử nước Tấn là Trùng Nhĩ lưu vong qua nước Tào, Tào quân vô lễ, muốn xem xương sườn nối liền của Trùng Nhĩ[2]. Hy Phụ Ky can ngăn, [Tào quân] không nghe, [Hy Phụ Ky] ngầm giao hảo với Trùng Nhĩ. Năm thứ hai mươi mốt, Tấn Văn Công Trùng Nhĩ thảo phạt nước Tào, bắt sống Cung công đưa về nước Tấn, sai quân không được xâm phạm làng thuộc tông tộc Hy Phụ Ky. Có người nói với Tấn Văn công rằng: “Trước đây Tề Hoàn công hội họp chư hầu, khôi phục nước cho người khác họ; nay nhà vua bỏ tù Tào quân, diệt người cùng họ, biết lấy gì để hiệu lệnh chư hầu?” Tấn Văn công bèn cho Cung công về nước.

Năm thứ hai mươi lăm, Tấn Văn Công chết. Năm thứ ba mươi lăm, Cung công chết, con là Văn công Thọ lên thay. Văn công năm thứ hai mươi ba thì chết, con là Tuyên công Cường lên thay. Tuyên công năm thứ mười bảy thì chết, em trai là Thành công Phụ Sô lên thay.

Thành công năm thứ ba, Tấn Lệ công thảo phạt nước Tào, bắt sống Thành công đưa về nước Tấn, sau lại thả. Năm thứ năm, Loan Thư, Trung Hàng Yển nước Tấn sai Trình Hoạt giết vua nước mình là Lệ công. Năm thứ hai mươi ba, Thành công chết, con là Vũ công Thắng lên thay. Vũ công năm thứ hai mươi sáu, công tử nước Sở là Khí Tật giết vua nước mình là Linh vương rồi lên thay. Năm thứ hai mươi bảy, Vũ công chết, con là Bình công Tư lên thay. Bình công năm thứ tư thì chết, con là Điệu Công Ngọ lên thay. Năm đó, các nước Tống, Vệ, Trần, Trịnh đều bị hỏa tai.

Điệu công năm thứ tám, Tống Cảnh công lên ngôi. Năm thứ chín, Điệu công sang triều kiến nước Tống, bị nước Tống cầm tù; nước Tào lập người em [của Điệu công] là Dã, đó là Thanh công. Điệu công chết ở nước Tống, được đưa về táng.

Thanh công năm thứ năm, em trai của Bình công là Thông giết Thanh công rồi lên làm vua, đó là Ẩn công. Ẩn công năm thứ tư, em trai của Thanh công là Lộ giết Ẩn công rồi lên thay, đó là Tĩnh công. Tĩnh công năm thứ tư thì chết, con trai là Bá Dương lên thay.

Bá Dương năm thứ ba, có người trong nước mơ thấy chư vị quân tử đứng ở đàn tế thần xã, bàn mưu muốn diệt nước Tào; Tào Thúc Chấn Đạc ngăn họ lại, đề nghị đợi Công Tôn Cường chấp chính, họ đồng ý. Đến sáng, người nằm mộng tìm khắp nước Tào, không có ai là Công Tôn Cường. Người nằm mộng mới răn con mình rằng: “Sau khi ta chết, con mà nghe Công Tôn Cường chấp chính, nhất định phải bỏ nước Tào, chớ để mắc vào tai họa của nước Tào.” Đến khi Bá Dương lên ngôi, thích việc săn bắn. Năm thứ sáu, một người ở vùng thôn dã nước Tào tên là Công Tôn Cường cũng thích săn bắn, bắt được chim nhạn trắng rồi dâng lên Bá Dương, còn nói về thuyết săn bắn, nhân đó [Bá Dương] hỏi về chính sự. Bá Dương rất thích Công Tôn Cường, Công Tôn Cường liền được sủng ái, cho làm chức Ty thành[3] để tham dự chính sự. Con của người nằm mộng nọ bèn trốn khỏi nước Tào.

Công Tôn Cường nói về việc xưng bá để thuyết phục Tào bá. Năm thứ mười bốn, Tào bá nghe theo, bèn quay lưng với nước Tấn, xâm phạm đến nước Tống. Tống Cảnh công liền thảo phạt nước Tào, người Tấn không cứu viện. Năm thứ mười lăm, nước Tống diệt nước Tào, bắt Tào Bá Dương cùng Công Tôn Cường đưa về rồi giết chết. Nước Tào dứt việc tế tự.

Thái sử công bàn rằng: Ta tìm hiểu về việc Tào Cung công không nghe lời can gián của Hy Phụ Ky, cho ba trăm mỹ nữ được ngồi xe mui cao buông màn dành cho đại phu, đủ biết không chuộng việc lập đức. Đến việc Chấn Đạc thác mộng, há không phải muốn kéo dài thêm việc tế tự của nước Tào ư? Cớ sao Công Tôn Cường không sửa sang chính sự, để đến nỗi việc thờ tự Thúc Chấn Đạc dứt mất?

[1] Nguyên văn là "Ngũ thúc”: Quản thúc, Sái thúc, Thành thúc, Tào thúc, Hoắc thúc.

[2] Tương truyền hai bên xương sườn của Trùng Nhĩ liền thành một khối, người xưa quan niệm người có xương sườn như vậy là bậc thánh nhân. Theo Tả truyện, năm Hy Công thứ hai mươi ba, Trùng Nhĩ sang nước Tào, "Tào Cung công nghe nói xương sườn của ông liền một khối, muốn Trùng Nhĩ cởi trần để xem”, cho nên ở đây Tư Mã Thiên nói là vua nước Tào vô lễ.

[3] Vào thời Xuân Thu, do kiêng tránh tên của Tống Vũ công (tên thật là Tư Không) nên mới đổi tên chức Tư không thành Ty thành (cũng có thể đọc là Tư thành).

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.