Sử Ký III. Thế Gia

Lượt đọc: 253 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUYỂN 36 TRẦN, KỶ THẾ GIA

❊ ❊ ❊

Hồ công Mãn nước Trần là hậu duệ của đế Thuấn thời Ngu. Xưa kia, khi Thuấn còn là dân thường, được Nghiêu gả hai người con gái cho, sống ở Quy Nhuế, con cháu đời sau nhân đó lấy họ là Quy thị. Sau khi Thuấn băng hà, truyền thiên hạ cho Vũ, rồi con của Thuấn là Thương Quân được phong nước. Thời các vị vua triều Hạ, [hậu duệ của đế Thuấn] có khi không được phong, có khi vẫn được phong[1]. Đến khi Chu Vũ vương diệt vua Trụ nhà Ân, lại tìm kiếm hậu duệ của đế Thuấn, tìm được Quy Mãn, phong cho đất Trần, để phụng thờ việc tế tự đế Thuấn, đó là Hồ công.

Hồ công chết, con là Thân công Tê hầu lên thay. Thân công chết, em trai là Tương công Cao Dương lên thay. Tương công chết, lập con trai của Thân công là Đột lên thay, đó là Hiếu công. Hiếu công chết, con là Thận công Ngữ Nhung lên thay. Thận công tương đương thời Chu Lệ vương. Thận công chết, con là U công Ninh lên thay.

U công năm thứ mười hai, Chu Lệ vương chạy ra đất Trệ. Năm thứ hai mươi ba, U công chết, con là Hy công Hiếu lên thay. Hy công năm thứ sáu, Chu Tuyên vương lên ngôi. Năm thứ ba mươi sáu, Hy công chết, con là Vũ Công Linh lên thay. Vũ công năm thứ mười lăm thì chết, con là Di công Duyệt lên thay. Năm ấy, Chu U vương lên ngôi. Di công năm thứ ba thì chết, em trai là Bình công Nhiếp lên thay. Bình công năm thứ bảy, Chu U vương bị Khuyển Nhung giết, nhà Chu dời sang phía đông. Nước Tần bắt đầu được liệt vào hàng chư hầu.

Năm thứ hai mươi ba, Bình công chết, con là Văn công Ngữ lên thay.

Năm Văn công thứ nhất, lấy người con gái nước Sái, sinh con là Đà. Năm thứ mười, Văn công chết, con trưởng là Hoàn công Bão lên thay.

Hoàn công năm thứ hai mươi ba, Lỗ Ẩn công mới lên ngôi. Năm thứ hai mươi sáu, người Vệ giết vua nước mình là Châu Hu. Năm thứ ba mươi ba, người Lỗ giết vua nước mình là Ẩn công.

Ngày Giáp Tuất, ngày Kỷ Sửu[2] tháng Giêng năm thứ ba mươi tám, Hoàn công Bão chết. Đà là em trai Hoàn công, mẹ Đà là người đàn bà nước Sái, nên người Sái mới vì Đà giết Ngũ Phủ và Thái tử của Hoàn công là Miễn rồi lập Đà[3] lên ngôi, đó là Lệ công. Hoàn công bị bệnh khiến loạn lạc nổi lên, người trong nước chia năm xẻ bảy, nên lại báo tang thêm lần nữa.

Lệ công năm thứ hai, sinh con là Kính Trọng Hoàn. Quan Thái sử nhà Chu qua nước Trần, Trần Lệ công sai [Thái sử] đem Chu Dịch ra bói [cho Kính Trọng Hoàn], được quẻ Quán biến sang quẻ , lời quẻ rằng: “Quẻ này là xem sự rạng rỡ của quốc gia, thuận lợi cho việc làm tân khách của nhà vua. Người này sẽ thay nước Trần rồi có nước chăng? Không ở nơi này thì ở nước khác chăng? Không ở bản thân người này thì ở con cháu chăng? Nếu ở nước khác, ắt là nước họ Khương. Họ Khương là hậu duệ của Thái Nhạc. Vật không thể cả hai cùng lớn, nước Trần suy thì người này sẽ hưng thịnh lên chăng?”

Lệ công lấy người con gái nước Sái, người con gái nước Sái dâm loạn với người Sái, Lệ công [cũng] nhiều lần sang Sái để dâm ô. Năm thứ bảy, ba người em trai của Thái tử của Hoàn công là Miễn, [Miễn] bị Lệ công giết trước đây, trưởng là Dược, giữa là Lâm, út là Chử Cữu, cùng lệnh cho người Sái dùng gái đẹp du Lệ công sang, sau đó cùng người Sái giết Lệ công, rồi lập Dược lên thay, đó là Lợi công. Lợi công là con của Hoàn công. Lợi công lên ngôi được năm tháng thì chết, lập người em giữa là Lâm lên thay, đó là Trang công. Trang công năm thứ bảy thì chết, người em út là Chử Cữu lên thay, đó là Tuyên công.

Tuyên công năm thứ ba, Sở Vũ vương chết, nước Sở bắt đầu hùng mạnh. Năm thứ mười bảy, Chu Huệ vương lấy người con gái nước Trần làm vương hậu.

Năm thứ hai mươi mốt, sau khi Tuyên công có người phi tần được sủng ái sinh được con là Khoản, muốn lập Khoản, bèn giết Thái tử là Ngự Khấu. Ngự Khấu vốn yêu quý con của Lệ công là Hoàn, Hoàn sợ họa đến thân, bèn chạy sang nước Tề. Tề Hoàn công muốn cho Trần Hoàn làm quan khanh, Hoàn nói: “Kẻ bề tôi lữ khách, may được miễn còng lưng gánh nặng, là nhờ ơn huệ của nhà vua, không dám với nhận địa vị cao quý.” Hoàn công cho làm quan Công chính[4]. Ý Trọng nước Tề muốn gả con cho Kính Trọng nước Trần, bèn xem bói, quẻ bói rằng: “Quẻ này nói việc chim phượng và chim hoàng cùng bay, hót họa réo rắt. Người này là hậu duệ của Hữu Quy, trưởng thành ở nước họ Khương. Năm đời sẽ hưng thịnh, liệt vào hàng Chính khanh. Sau tám đời thì không ai mạnh bằng.”

Năm thứ ba mươi bảy, Tề Hoàn công thảo phạt nước Sái, nước Sái thua; [Tề Hoàn công] tiến xuống phía nam xâm lược nước Sở, đến Thiệu Lăng, trở về qua nước Trần. Đại phu nước Trần là Viên Đào Đồ ghét việc quân Tề qua nước Trần, mới lừa khiến quân Tề ra theo đường phía đông. Đường phía đông khó đi, Hoàn công tức giận, bắt Viên Đào Đồ nước Trần. Năm này, Tấn Hiến công giết Thái tử của mình là Thân Sinh.

Năm thứ bốn mươi lăm, Tuyên công chết, con là Khoản lên thay, đó là Mục công. Mục công năm thứ năm, Tề Hoàn công chết. Năm thứ mười sáu, Tấn Văn công đánh bại quân Sở ở Thành Bộc. Năm đó, Mục công chết, con là Cung công Sóc lên thay. Cung công năm thứ sáu, Thái tử nước Sở là Thương Thần giết vua cha là Thành vương rồi lên thay, đó là Mục vương. Năm thứ mười một, Tần Mục công chết. Năm thứ mười tám, Cung công chết, con là Linh công Bình Quốc lên thay.

Năm Linh công thứ nhất, Sở Trang vương lên ngôi. Năm thứ sáu, nước Sở thảo phạt nước Trần. Năm thứ mười, nước Trần và nước Sở giảng hòa.

Năm thứ mười bốn, Linh công cùng đại phu Khổng Ninh, Nghi Hành Phủ đầu tư thông với Hạ cơ[5], mặc áo lót của Hạ cơ để đùa vui trong triều. Tiết Dã can [Linh công] rằng: “Vua tôi dâm loạn, dân biết noi ai?” Linh công đem việc đó nói với hai người kia, hai người xin giết Tiết Dã, Linh công không cấm cản, họ bèn giết Tiết Dã. Năm thứ mười lăm, Linh công cùng hai người uống rượu ở nhà họ Hạ. Linh công đùa hai người rằng: “Trưng Thư giống các ngươi.” Hai vị đại phu nói: “Cũng giống nhà vua.” Trưng Thư tức giận. Linh công uống xong đi ra, Trưng Thư cho quân cung nỏ mai phục ở cửa chuồng ngựa bắn chết Linh công. Khổng Ninh và Nghi Hành Phủ đều trốn sang nước Sở, Thái tử của Linh công là Ngọ chạy sang nước Tấn. Trưng Thư tự lập làm Trần hầu. Trưng Thư vốn là đại phu nước Trần. Hạ cơ là vợ của Ngự thúc, mẹ của Thư vậy.

Mùa đông năm Thành công thứ nhất, Sở Trang vương vì việc Hạ Trưng Thư giết Linh công, liền thống lãnh chư hầu thảo phạt nước Trần. Báo cho người nước Trần rằng: “Đừng sợ, ta chỉ giết Trưng Thư thôi.” Sau khi giết được Trưng Thư, nhân đó biến Trần thành một huyện [của nước Sở] rồi chiếm lấy, quần thần thảy đều chúc mừng. Riêng Thân Thúc Thời đi sứ sang nước Tề trở về là không chúc mừng. Trang vương hỏi nguyên do, [Thúc Thời] đáp rằng: “Tục ngữ có nói, dắt bò qua ruộng nhà người, chủ ruộng sẽ đoạt mất bò. Đi qua ruộng là có tội rồi, nhưng đoạt bò người ta, chẳng cũng quá đáng sao? Nay đại vương cho Trưng Thư là giặc giết vua, cho nên trưng dụng quân chư hầu, lấy danh nghĩa để thảo phạt y, xong rồi còn chiếm nước Trần, để được lợi về đất đai, vậy thì sau này lấy gì để hiệu lệnh thiên hạ! Vì thế nên [thần] không chúc mừng.” Trang vương nói: “Phải lắm.” Bèn đón Thái tử của Trần Linh công là Ngọ ở nước Tấn trở về rồi lập làm vua, khôi phục ngôi vua cho nước Trần như trước, đó là Thành công. Khổng tử đọc sử, đến đoạn nước Sở khôi phục nước Trần, bèn nói rằng: “Hiền thay Sở Trang vương! Xem nhẹ nước nghìn cỗ xe mà coi trọng một lời nói.”

Năm thứ [hai mươi] tám, Sở Trang vương chết. Năm thứ hai mươi chín, nước Trần phản bội minh ước với nước Sở. Năm thứ ba mươi, Sở Cung công thảo phạt nước Trần. Năm này, Thành công chết, con là Ai công Nhược lên thay. Nước Sở lấy cớ nước Trần có tang, bãi binh rút về.

Ai công năm thứ ba, nước Sở bao vây nước Trần, rồi lại giải vây. Năm thứ hai mươi tám, công tử nước Sở là Vi giết vua nước mình là Giáp Ngao rồi tự lập làm vua, đó là Linh vương.

Năm thứ ba mươi tư, trước đây, Ai công lấy vợ người nước Trịnh, Trưởng cơ sinh Điệu Thái tử Sư, Thiếu cơ sinh ra Yển[6]. [Ai công có] hai người thiếp được sủng ái, thiếp lớn sinh ra Lưu, thiếp nhỏ sinh ra Thắng. Lưu được Ai công yêu quý, Ai công gửi gắm Lưu cho em trai [của người thiếp lớn] là Tư đồ Chiêu. Ai công ốm, tháng Ba, Chiêu giết Điệu Thái tử, lập Lưu làm Thái tử. Ai công nổi giận, định giết Chiêu, Chiêu bèn phát binh vây giữ Ai công, Ai công treo cổ tự sát. Rốt cuộc Chiêu lập Lưu làm Trần quân. Tháng Tư, nước Trần sai sứ giả sang nước Sở. Sở Linh vương nghe tin nước Trần rối loạn, bèn giết sứ giả nước Trần, sai công tử Khí Tật phát binh thảo phạt nước Trần, Trần quân là Lưu chạy sang nước Trịnh. Tháng Chín, nước Sở bao vây nước Trần. Tháng Mười một, diệt nước Trần, sai Khí Tật làm Trần công.

Khi Chiêu giết Điệu Thái tử, con của Thái tử là Ngô chạy sang nước Tấn. Tấn Bình công hỏi Thái sử Triệu rằng: “Nước Trần có diệt vong không?” Đáp rằng: “Trần là dòng dõi của Chuyên Húc[7]. Họ Trần đã nắm chính sự ở nước Tề, đến cuối cùng mới bị diệt vong. Từ Mạc cho đến Cổ Tẩu đều không trái mệnh trời. Thuấn coi trọng mệnh trời để làm sáng đức của mình. Đến Toại, đời đời nối giữ mệnh trời ban cho. Cho đến Hồ công, nhà Chu ban họ, sai tế tự Ngu đế. Vả lại [nước Trần là] hậu duệ của bậc thịnh đức, ắt trăm đời được tế tự. Dòng dõi Ngu Thuấn chưa dứt, có lẽ là ở Tề chăng?”

Năm năm sau khi Sở Linh vương diệt nước Trần, công tử nước Sở là Khí Tật giết Linh vương rồi lên thay, đó là Bình vương. Bình vương mới lên ngôi, muốn hòa hiếu với chư hầu, bèn tìm con trai Điệu Thái tử Sư nước Trần khi trước là Ngô, lập làm Trần hầu, đó là Huệ công. Huệ công lên ngôi, truy về năm Ai công mất, coi đó là năm đầu thời Huệ công, trong thư tịch để trong năm năm thuộc nước Sở.

Năm thứ mười, nước Trần bị hỏa tai. Năm thứ mười lăm, Ngô vương Liêu sai công tử Quang thảo phạt nước Trần, chiếm được đất Hồ, đất Thẩm rồi về. Năm thứ hai mươi tám, Ngô vương Hạp Lư cùng Tử Tư đánh bại quân Sở, tiến vào Dĩnh đô. Năm đó, Huệ công chết, con là Hoài Công Liễu lên ngôi.

Hoài công năm thứ nhất, nước Ngô phá nước Sở, tại Dĩnh đô, triệu kiến Trần hầu. Trần hầu muốn tới, quan đại phu nói rằng: “Nước Ngô mới được thỏa ý, Sở vương tuy bỏ trốn, nhưng trước đây vốn có qua lại với nước Trần, không thể phản bội được.” Hoài công bèn thác bệnh từ chối yêu cầu của nước Ngô. Năm thứ tư, Ngô vương lại triệu kiến Hoài công. Hoài công sợ, [nhưng vẫn phải] đi sang nước Ngô. Ngô vương giận Hoài công lần trước không sang, giữ Hoài công lại, vì thế [Hoài công] chết ở nước Ngô. Nước Trần bèn lập con của Hoài công là Việt lên thay, đó là Mẫn công.

Mẫn công năm thứ sáu, Khổng tử đi sang nước Trần. Ngô vương Phù Sai thảo phạt nước Trần, chiếm được ba ấp rồi rút đi. Năm thứ mười ba, quân Ngô lại đến thảo phạt nước Trần, nước Trần cấp báo với nước Sở, Sở Chiêu vương đến cứu, đóng quân Thành Phụ, quân Ngô rút đi. Năm đó, Sở Chiêu vương chết ở Thành Phụ. Bấy giờ Khổng tử đang ở nước Trần. Năm thứ mười lăm, nước Tống diệt nước Tào. Năm thứ mười sáu, Ngô vương Phù Sai thảo phạt nước Tề, đánh bại quân Tề ở Ngải Lăng, [Ngô vương Phù Sai] sai người triệu kiến Trần hầu. Trần hầu sợ, [nhưng vẫn phải] sang nước Ngô. Nước Sở thảo phạt nước Trần. Năm thứ hai mươi mốt, Điền Thường nước Tề giết vua nước mình là Giản công. Năm thứ hai mươi ba, Bạch công Thắng nước Sở giết Lệnh doãn Tử Tây và Tử Kỳ, tập kích Huệ vương. Diệp công đánh bại Bạch công, Bạch công tự sát.

Năm thứ hai mươi tư, Sở Huệ vương phục quốc, đem quân bắc phạt, giết Trần Mẫn công, diệt nước Trần rồi chiếm lấy đất. Năm đó, Khổng tử chết.

* * *

Đông Lâu công nước Kỷ là dòng dõi của vua Vũ nhà Hạ. Thời nhà Ân, [hậu duệ của vua Vũ] có người được phong có người không. Chu Vũ vương diệt vua Trụ nhà Ân, cho tìm hậu duệ của Hạ Vũ, tìm được Đông Lâu Công, phong cho đất Kỷ, để phụng thờ tế tự các vua nhà Hạ.

Đông Lâu công sinh Tây Lâu công, Tây Lâu công sinh Đề công, Đề công sinh Mưu Tu công. Mưu Tu công tương đương thời Chu Lệ vương. Mưu Tu công sinh Vũ công. Vũ công tại vị được bốn mươi bảy năm thì chết, con là Tĩnh công lên thay. Tĩnh công năm thứ hai mươi ba thì chết, con là Cung công lên thay. Cung Công năm thứ tám thì chết, con là Đức công lên thay. Đức công năm thứ mười tám thì chết, em là Hoàn công Cô Dung lên thay. Hoàn công năm thứ mười bảy thì chết, con là Hiếu công Cái lên thay. Hiếu công năm thứ mười bảy thì chết, em là Văn công Ích Cô lên thay. Văn công năm thứ mười bốn thì chết, em là Bình công Uất lên thay. Bình công năm thứ mười tám thì chết, con là Điệu công Thành lên thay. Điệu công năm thứ mười hai thì chết, con là Ẩn công Khất lên thay. Tháng Bảy, em trai Ẩn công là Toại giết Ẩn công rồi tự lập làm vua, đó là Hy công. Hy công năm thứ mười chín thì chết, con là Mẫn công Duy lên thay. Mẫn công năm thứ mười lăm, Sở Huệ vương diệt nước Trần. Năm thứ mười sáu, em trai Mẫn công là Át Lộ giết Mẫn công rồi lên thay, đó là Ai công. Ai công tại vị được mười năm thì chết, con Mẫn công là Sắc lên ngôi, đó là Xuất công. Xuất công năm thứ mười hai thì chết, con là Giản công Xuân lên thay. Tại vị được một năm, vào năm Sở Huệ vương thứ bốn mươi tư, [Sở Huệ vương] diệt nước Kỷ. Nước Kỷ [bị diệt vong] sau nước Trần ba mươi tư năm.

Nước Kỷ nhỏ yếu, những việc liên quan không đáng để ghi chép.

* * *

Hậu duệ của Thuấn được Chu Vũ vương phong ở đất Trần, đến thời Sở Huệ vương thì bị diệt, đã nhắc tới trong phần Thế gia. Hậu duệ của Hạ Vũ được Chu Vũ vương phong ở đất Kỷ, [sau đó] bị Sở Huệ vương diệt, đã nói trong phần Thế gia. Hậu duệ của ông Tiết là nhà Ân, nhà Ân đã nói ở phần Bản kỷ. Nhà Ân bị diệt vong, nhà Chu phong cho con cháu nhà Ân đất Tống, [sau đó] bị Tề Mẫn vương diệt, có nói trong phần Thế gia. Hậu duệ của Hậu Tắc là Chu, bị Tần Chiêu vương diệt, có nói ở phần Bản kỷ. Hậu duệ của Cao Dao có người được phong ở đất Anh, đất Lục, bị Sở Mục vương diệt, không có phả hệ ghi chép. Hậu duệ của Bá Di, đến thời Chu Vũ vương lại được phong ở đất Tề, đó là Thái công Vọng, [sau đó] bị họ Trần diệt, có nói trong phần Thế gia. Hậu duệ của Bá Ế, đến thời Chu Bình vương được phong ở đất Tần, bị Hạng Vũ diệt, có nói trong phần Bản kỷ. Hậu duệ của các ông Thùy, Ích, Quỳ, Long không biết được phong ở đâu, không thấy ghi chép. Mười một vị nói trên, đều là bề tôi nổi tiếng về công lao và đức độ thời Đường Ngu; hậu duệ của năm người[8] đều làm đến đế vương, còn lại là các chư hầu hiển hách. Các nước Đằng, Tiết, Trâu được phong thời Hạ, Ân, Chu, là nước nhỏ, không đủ để liệt cùng chư hầu khác nên không bàn đến.

Thời Chu Vũ vương, các bậc hầu, bá còn trên nghìn người. Đến hậu duệ đời sau thời U vương, Lệ vương, chư hầu ra sức tấn công thôn tính lẫn nhau. Những nước [nhỏ] như Giang, Hoàng, Hồ, Thẩm, nhiều không kể xiết, cho nên không chọn đưa vào sử truyện.

Thái sử công bàn rằng: Đức của đế Thuấn khá gọi là cùng cực vậy! Nhường ngôi cho Hạ Vũ mà con cháu được hưởng huyết thực suốt thời Tam đại[9]. Đến lúc nước Sở diệt nước Trần thì Điền Thường nắm quyền chính nước Tề, cuối cùng dựng nước, trăm đời không dứt, con cháu đông đúc, người có đất phong cũng không ít. Đến [hậu duệ của] Hạ Vũ, thời Chu được phong ở đất Kỷ, nước rất nhỏ, không đủ để tính đến. Sở Huệ vương diệt nước Kỷ, hậu duệ là Việt vương Câu Tiễn hưng khởi.

[1] Sách ẩn cho rằng: xét, đời Hạ vẫn phong cho Ngu Tư, Ngu Toại vậy.

[2] Ngày Giáp Tuất tức ngày 21 tháng Mười hai năm trước (Hoàn Công năm thứ 37), Kỷ Sửu chính là ngày 6 tháng Giêng. Theo suy đoán của Công Dương thị và Cốc Lương thì khi chú thích Kinh Xuân Thu thì có khả năng Trần Hoàn công mắc bệnh về tinh thần (bệnh đầu phong), ngày Giáp Tuất, Hoàn Công bỏ đi, 16 ngày sau (tức ngày Kỷ Sửu) tìm thấy thi thể, không biết chính xác ngày chết, cho nên ghi hai ngày là vì vậy. Còn Tả thị thì chép rằng nước Trần báo tang hai lần.

[3] Trong Xuân Thu gọi Đà là Ngũ Phủ, khác với trong Sử ký. Sử ký cho rằng Đà là Lệ công, em trai Thái tử Miễn tên Dược là Lợi công, còn trong Tả truyện lại cho Lệ công có tên là Dược, Đà lên ngôi chưa đầy năm, không có thuy hiệu, cho nên “Người Sái giết Trần Đà”. Lại vào năm Trang Công thứ hai mươi hai, phần Truyện chép "Trần Lệ công, vốn xuất thân từ nước Sái, cho nên người Sái giết Ngũ Phủ rồi lập Đà lên ngôi”. Vậy thì Đà và Ngũ Phủ đều bị người Sái giết, như vậy rõ ràng chỉ là một người. Sử ký lại chép Đà là Lệ Công, rồi lấy Dược làm Lợi công. Có thể do âm đọc của Lợi và Lệ giống nhau nên khi ghi chép, văn bản hóa mới thành hai chữ khác nhau, cho nên Thái sử công cho Đà là Lệ công, Ngũ Phủ là người khác, giống như Thái úy Lý Thường Kiệt trong một số tư liệu lịch sử Trung Quốc chép thành Lý Thượng Cát vậy.

[4] Quan chuyên trách về khí giới.

[5] Liệt nữ truyện chép: Hạ cơ là người con gái nước Trần, là mẹ của đại phu nước Trần là Hạ Trưng Thư, vợ của Ngự thúc, ba lần làm vương hậu, bảy lần làm phu nhân, công hầu tranh đoạt, không ai không si mê vẻ đẹp của Hạ Cơ.

[6] Tả truyện chép rằng Nguyên phi của Trần Ai công là Trịnh cơ sinh Điệu Thái tử Yển Sư. Ở đây Thái sử công lại chép có Trưởng cơ và Thiếu Cơ, chia Yển Sư thành hai người là Yển và Sư.

[7] Tổ nước Trần là Ngu Thuấn, Thuấn là dòng dõi Chuyên Húc, cho nên nói nước Trần là dòng dõi của Chuyên Húc.

[8] Năm người gồm Thuấn, Vũ, Tắc, Tiết và Ế.

[9] Tam đại: chỉ ba triều Hạ, Ân (Thương) và Chu.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.