Bình Dương hầu Tào Tham là người huyện Bái. Thời Tần, làm viên Ngục duyện[1] huyện Bái, còn Tiêu Hà làm Chủ lại, trong huyện, đều là những viên lại có quyền uy.
Cao tổ làm Bái công, rồi bắt đầu nổi lên, Tham lấy thân phận là Trung quyên[2] đi theo [Bái công]. [Tào Tham] đem quân đánh Hồ Lăng, Phòng Dự, tấn công quân của Ngự sử giám quận nhà Tần, cả phá được. Xuống phía đông đến huyện Tiết, đánh quân của Quận thú Tứ Thủy ở phía tây thành Tiết. Lại tấn công Hồ Lăng, chiếm được. Chuyển quân sang giữ Phòng Dự. Phòng Dự phản lại, theo Ngụy, [Tào Tham] tấn công Phòng Dự. Ấp Phong làm phản, theo Ngụy, [Tào Tham] đánh ấp Phong. Được ban tước Thất đại phu. Đánh quân Tư Mã Di nhà Tần ở phía đông đất Đường, phá được, chiếm đất Đường Hồ Phủ và đất Thiện Trí ở huyện Kỳ. Lại tấn công Hạ Ấp về phía tây, đến huyện Ngu, đánh quân xa kỵ của Chương Hàm. Tấn công viên Thích cho đến Kháng Phủ, xông lên trước. [Tham được] thăng làm Ngũ đại phu. Phía bắc cứu viện đất A, đánh quân Chương Hàm, vây hãm đất Trần, đuổi đánh đến Bộc Dương. Tấn công Định Đào, chiếm Lâm Tế. Phía nam cứu viện Ung Khâu, đánh quân của Lý Do[3], phá được, giết Lý Do, bắt sống một viên tước hầu của Tần. Tướng Tần là Chương Hàm đánh giết được Hạng Lương, Bái công cùng Hạng Vũ dẫn quân sang phía đông. Sở Hoài vương phong Bái công làm trưởng quận Đường, chỉ huy quân ở quận Đường. Thế rồi bèn phong Tham làm Chấp bạch[4], hiệu là Kiến Thành quân. Thăng lên làm Thích công, lệ thuộc vào quận Đường.
Về sau, [Tham] theo đi đánh quân của Quận ủy Đông Quận, phá được quân địch ở phía nam Thành Vũ. Đánh quân Vương Ly ở phía nam Thành Dương, lại tấn công địch ở Giang Lý, cả phá được. Thừa thắng truy đuổi, sang phía tây đến Khai Phong, đánh quân của Triệu Bồn, phá được, vây Triệu Bôn ở trong thành Khai Phong. Sang tây đánh quân của tướng Tần là Dương Hùng ở Khúc Ngung, phá được, bắt sống một viên Tư mã và một viên Ngự sử nhà Tần. Được thăng làm Chấp khuê. Theo đi đánh Dương Vũ, hạ được hai huyện Hoàn Viên và Câu Thị, chặn bến sông Hà, kéo về đánh quân của Triệu Bôn ở phía bắc huyện Thi, phá được địch. Theo xuống phía nam đánh đất Thù, giao chiến với Quận thú Nam Dương là Nghĩ tại phía đông Dương Thành, vây hãm trận địa, chiếm được đất Uyển, bắt sống Nghĩ, bình định hết quận Nam Dương. Theo sang phía tây đánh Vũ Quan, Nghiêu Quan, chiếm được. Trước đó tấn công quân Tần ở phía nam Lam Điền, lại nhân ban đêm đánh vào phía bắc Lam Điền, quân Tần thua to, bèn tiến đến Hàm Dương, diệt nhà Tần.
Hạng Vũ đến [Hàm Dương], phong Bái công làm Hán vương. Hán vương phong Tham làm Kiến Thành hầu. [Tham] theo [Hán vương] đến Hán Trung, thăng làm Tướng quân. Theo về bình định Tam Tần, ban đầu đánh các huyện Hạ Biện, Cố Đạo, Ung, Di. Đánh quân Chương Bình ở phía nam Hảo Chỉ, phá được, bao vây Hảo Chỉ, chiếm Nhưỡng Hương. Đánh quân Tam Tần ở phía đông Nhưỡng Hương cho đến Cao Lịch, phá được. Lại bao vây Chương Bình, Chương Bình chạy khỏi Hảo Chỉ. Thừa thế đánh quân của Triệu Bôn và Nội sử Bảo, phá được. Phía đông chiếm Hàm Dương, lại đổi tên [Hàm Dương] thành Tân Thành. Tham đem quân giữ Cảnh Lăng hai mươi ngày, Tam Tần sai bọn Chương Bình tấn công Tham, Tham ra đánh, cả phá địch. Được ban thực ấp ở Ninh Tần. Tham lấy thân phận Tướng quân dẫn quân bao vây Chương Hàm ở Phế Khâu. Lấy thân phận là Trung úy theo Hán vương ra cửa quan Lâm Tấn. Đến Hà Nội, xuống Tu Vũ, vượt Vị Tân, sang phía đông đánh Long Thư, Hạng Đà ở Định Đào, phá được. Sang đông chiếm đất Đường, Tiêu và Bành Thành. Đánh quân Hạng Tịch, quân Hán thua to tháo chạy. Tham lấy thân phận là Trung úy bao vây rồi chiếm Ung Khâu. Vương Vũ làm phản ở Ngoại Hoàng, Trình Xử làm phản ở đất Yên, [Tham] đến đánh, phá tan hết thảy. Trụ Thiên hầu làm phản ở Diễn Thị, lại tiến quân đánh chiếm Diễn Thị. Đánh Vũ Anh ở Côn Dương, đuổi đến đất Diệp. Trở về đánh Vũ Cường, thừa thể tiến đến Huỳnh Dương. Tham từ Hán Trung làm Tướng quân trung úy, theo đi đánh chư hầu, đến khi Hạng Vũ thất bại, về đến Huỳnh Dương, cả thảy hai năm trời.
Cao tổ năm thứ hai, phong [Tham] làm giả Tả thừa tướng, tiến vào đóng đồn quân ở Quan Trung. Được hơn tháng, Ngụy vương Báo làm phản, lấy thân phận giả Tả thừa tướng cùng Hàn Tín sang phía đông đánh Tướng quân nước Ngụy là Tôn Tốc ở Đông Trương, cả phá được. Nhân đó đánh An Ấp, bắt được tướng Ngụy là Vương Tương. Đánh Ngụy vương ở Khúc Dương, đuổi đến Vũ Viên, bắt sống được Ngụy vương Báo. Chiếm Bình Dương, bắt được mẹ và vợ con Ngụy vương, bình định toàn bộ đất Ngụy, cả thảy năm mươi hai thành. Được tặng thực ấp ở Bình Dương. Nhân đó theo Hàn Tín đánh quân của Tướng quốc nước Triệu là Hạ Duyệt ở phía đông đất Ổ, cả phá được, chém Hạ Duyệt. Hàn Tín cùng Thường Sơn vương trước đây là Trương Nhĩ dẫn quân xuống Tỉnh Hình, đánh Thành An quân, rồi lệnh cho Tham về bao vây biệt trong nước Triệu là Thích tướng quân ở trong thành Ổ. Thích tướng quân chạy ra ngoài, [Tham] đuổi chém được. Bèn dẫn quân đến chỗ của Hán vương ở Ngao Thương. Hàn Tín sau khi phá được Triệu, làm Tướng quốc, sang phía đông đánh Tề. Tham lấy thân phận là Hữu thừa tướng thuộc quyền chỉ huy của Hàn Tín, đánh phá quân Lịch Hạ nước Tề, rồi chiếm Lâm Truy. Về bình định quận Tế Bắc, tấn công các đất Trứ, Tháp Âm, Bình Nguyên, Cách, Lư. Rồi lại theo Hàn Tín đánh quân của Long Thư ở Thượng Giả Mật, cả phá được, chém Long Thư, bắt sống Tướng quân Chu Lan. Bình định nước Tề, cả thảy được hơn bảy mươi huyện. Bắt được Điền Quang, nguyên là Tướng quốc của Tề vương Điền Quảng, Thú tướng Hứa Chương, cùng Tướng quân của Giao Đông vương ở Tề trước đây là Điền Ký. Hàn Tín làm Tề vương, dẫn quân đến đất Trần, cùng Hán vương đánh phá Hạng Vũ, còn Tham ở lại bình định các đất chưa hàng phục ở nước Tề.
Sau khi Hạng Tịch chết, thiên hạ được bình định, Hán vương làm Hoàng đế, Hàn Tín được đổi phong làm Sở vương, Tề được lập thành quận. Tào Tham trả ấn tín Thừa tướng nhà Hán. Cao đế phong con trưởng là Phì làm Tề vương, rồi lấy Tham làm Tướng quốc nước Tề. Năm Cao tổ thứ sáu, ban tước cho liệt hầu, cùng chẻ lệnh phù ban cho chư hầu[5], đời đời không dứt. Thực ấp [của Tào Tham] ở Bình Dương gồm một vạn sáu trăm ba mươi hộ, hiệu là Bình Dương hầu, bỏ thực ấp được phong trước đây.
[Tào Tham] lấy thân phận Tướng quốc nước Tề tiến đánh quân của Trương Xuân, là thuộc tướng của Trần Hy, phá được. Kình Bố làm phản, Tham lấy thân phận Tướng quốc nước Tề theo Điệu Huệ vương đem mười hai vạn quân xa kỵ hội quân cùng Cao tổ tiến đánh quân của Kình Bố, cả phá được. Phía nam tiến đến đất Kỳ, trở về bình định Trúc Ấp, huyện Tương, huyện Tiêu, huyện Lưu.
Công lao của Tham: cả thảy hạ được hai nước, một trăm hai mươi hai huyện; bắt được hai vương, ba Tướng quốc, sáu Tướng quân; Đại mạc ngao[6], Quận thú, Tư mã, hầu, Ngự sử, mỗi hàng một viên.
Hiếu Huệ đế năm thứ nhất, bỏ pháp lệnh lập Tướng quốc nước chư hầu, đổi phong Tham làm Thừa tướng nước Tề. Tham làm Thừa tướng nước Tề, nước Tề có bảy mươi thành. Thiên hạ mới được yên định, Điệu Huệ vương còn trẻ tuổi, Tham triệu hết các bậc trưởng lão, nho sinh đến hỏi cách vỗ yên trăm họ, các nho sinh cũ của Tề tới mấy trăm người, mỗi người nói một phách, Tham không biết theo cách nào. Nghe nói Giao Tây vương có Cái công, giỏi đạo Hoàng Lão, [Tham] sai người đưa hậu lễ rước mời. Sau khi gặp Cái công, Cái công nói đạo trị nước quý ở sự thanh tĩnh mà dân tự yên định, cứ theo cách đó rồi nói tường tận cho Tham. Thế là Tham lánh khỏi nhà chính, để cho Cái công ở. Cách cai trị của Tào Tham theo đạo Hoàng Lão, cho nên làm Thừa tướng nước Tề chín năm, nước Tề yên định, được mọi người khen là Thừa tướng hiền năng.
Huệ đế năm thứ hai, Tiêu Hà chết. Tham nghe tin, liền nói Xá nhân kíp chuẩn bị hành trang, “Ta phải vào triều làm Tướng quốc”. Không lâu sau, quả nhiên sứ giả đến triệu Tham. Tham đi, dặn người thay mình làm Thừa tướng nước Tề rằng: “Xin đem việc ngục tụng và buôn bán ở Tề gửi gắm [cho ông], hãy thận trọng, chớ để nhiễu loạn.” Người kế nhiệm hỏi: “Việc trị lý không gì lớn hơn những điều đó ư?” Tham đáp: “Không phải. Việc ngục tụng và buôn bán là việc để bao dung người, nay ngài làm cho rối loạn, kẻ gian biết dung thân chỗ nào? Nên tôi mới đặt các việc ấy lên trước.”
Ban đầu, khi Tham còn hàn vi, rất thân thiết với Tiêu Hà; đến khi người làm tướng võ kẻ làm tướng văn, nảy sinh hiềm khích. Tới khi Tiêu Hà sắp chết, tiến cử người hiền lại chỉ tiến cử Tham. Tham thay Hà làm Tướng quốc nhà Hán, tiến hành các việc thảy không có gì thay đổi, nhất nhất đều theo khuôn phép của Tiêu Hà.
[Tào Tham] lựa chọn quan lại các quận trong nước, người nào không giỏi văn từ nhưng là trưởng giả trung hậu, liền triệu đến giao làm Thừa tướng sử[7]. Trong các quan lại, ai lời lẽ hà khắc, chỉ chuộng được tiếng tốt, liền bãi truất đuổi đi. [Tào Tham] ngày đêm uống rượu ngon. Khanh đại phu tới quan lại cấp dưới cùng tân khách thấy Tham không giải quyết công việc, người đến gặp đều muốn mở lời [can ngăn]. Hễ có ai đến, Tham liền mời uống rượu ngon, hở chút thời gian, chực khuyên can, Tham lại mời uống, uống đến say rồi về, rốt cuộc không ai mở lời được, thường đều thế cả.
Vườn sau nhà Tướng quốc gần nhà các quan lại, nhà các quan lại hằng ngày đều uống rượu hát hò. Thuộc lại [của Tào Tham] ghét họ, không biết phải làm sao, bèn mời Tham du ngoạn trong vườn, để Tham nghe tiếng quan lại say rượu hò hát, thuộc lại hy vọng Tướng quốc sẽ triệu họ đến [để cấm đoán], chẳng dè [Tham] lại lấy rượu bày ra ngồi uống, cũng hò hát để hưởng ứng với họ.
Tham thấy người khác có lỗi nhỏ, chuyên che giấu lấp liếm cho, trong phủ vô sự.
Con Tham là Truật làm Trung đại phu. Huệ đế trách Tướng quốc bỏ bê công việc, cho rằng “Há xem thường trẫm ư?” Bèn bảo Truật rằng: “Ngươi về, thử lúc riêng tư thong thả hỏi cha ngươi rằng: 'Cao đế mới bỏ quần thần[8], Hoàng đế còn trẻ tuổi, cha làm Tướng quốc, ngày ngày uống rượu, không có việc gì thỉnh tấu, lấy gì để thể hiện sự lo lắng cho thiên hạ vậy?' Nhưng chớ nói là ta bảo ngươi.” Sau khi Truật được nghỉ về nhà, nhân lúc hầu cha, tự đem những lời ấy khuyên can Tham. Tham giận, rồi đánh Truật hai trăm roi, nói: “Mau vào hầu [Hoàng thượng], việc thiên hạ không phải điều mày nên nói đến.” Tới lúc thiết triều, Huệ đế trách Tham rằng: “Sao lại phạt đánh Truật? Là ta bảo y khuyên can ông đấy.” Tham bỏ mũ tạ lỗi rằng: “Bệ hạ hãy tự xét xem có thánh minh anh vũ như Cao đế chăng?” Hoàng thượng nói: “Trẫm sao dám so với tiên đế!" Hỏi: “Bệ hạ xem thần đây có hiền năng như Tiêu Hà không?” Hoàng thượng đáp: “Ông dường không bằng được.” Tham nói: “Bệ hạ nói chí phải. Cao đế và Tiêu Hà bình định thiên hạ, pháp lệnh đã rõ ràng, nay bệ hạ rủ áo chắp tay, bọn Tham giữ chức, noi theo mà không làm sai, chẳng cũng được ư?” Huệ đế nói: “Phải. Ông không cần nói thêm nữa!”
Tham làm Tướng quốc nhà Hán, ra vào triều ba năm. [Tham] chết, thụy là Ý hầu. Con là Truật thừa kế tước hầu. Trăm họ ca tụng Tham rằng: “Tiêu Hà chế pháp, thẳng như nét nhất. Tào Tham thay ông, giữ không sơ suất. Theo lối thanh tịnh, dân yên ổn nhất.”
Vào thời Cao hậu, Bình Dương hầu Truật làm Ngự sử đại phu. Hiếu Văn đế lên ngôi, miễn chức, cho giữ tước hầu. Kế thừa tước hầu được hai mươi chín năm thì chết, thụy là Tĩnh hầu. Con là Kỳ kế thừa tước hầu, được bảy năm thì chết, thụy là Giản hầu. Con của Kỳ là Thì kế thừa tước hầu. Thì lấy Công chúa Bình Dương, sinh con là Tương. Thì bị bạo bệnh, về nước phong. Kế thừa tước hầu được hai mươi ba năm thì chết, thụy là Di hầu. Con là Tương kế thừa tước hầu. Tương lấy Công chúa Vệ Trưởng, sinh con là Tông. Kế thừa tước hầu được mười sáu năm thì chết, thụy là Cung hầu. Con là Tông kế thừa tước hầu. Trong năm Chinh Hòa thứ hai, Tông liên quan đến việc của Thái tử rồi chết, nước phong bị phế.
Thái sử công bàn rằng: Tướng quốc Tào Tham có nhiều công lao đánh thành, dã chiến như thế là do phối hợp với Hoài Âm hầu. Sau khi Hàn Tín bị diệt, xét chiến công của liệt hầu, chỉ riêng Tham được nổi danh. Tham làm Tướng quốc nhà Hán, cực lực chủ trương theo lối thanh tịnh, hợp với tinh thần của Đạo gia. Sau khi trăm họ thoát khỏi sự tàn khốc của nhà Tần, Tham cho họ được ngơi nghỉ, cai trị theo lối vô vi, cho nên thiên hạ đều khen ngợi đức tốt của ông[9].
[1] Ngục duyện: viên lại nhỏ phụ trách việc hình ngục trong huyện Bái.
[2] Nhan Sư Cổ chú rằng:“Trung quyên là bề tôi thân cận, cũng tương tự như Yết giả, Xá nhân.”
[3] Lý Do: đương thời làm Quận thú Tam Xuyên, con của Đình úy Lý Tư nhà Tần.
[4] Chấp bạch: theo nghĩa là “cầm lụa trắng”, vốn là một chức phong của nước Sở, địa vị sau chức Chấp khuê (cầm ngọc khuê).
[5] Thời Hán, khi phân phong cho chư hầu, triều đình dùng lệnh phù làm tín vậy, chẻ ra hai phần, giữ lại một phần, phần còn lại ban cho chư hầu.
[6] Đại mạc ngao: hiệu của quan khanh nước Sở.
[7] Thừa tướng sử: thuộc quan của Thừa tướng.
[8] Ý nói Hán Cao tổ mới băng hà.
[9] Ý nói Tào Tham chủ trương cai trị theo đường lối thanh tịnh vô vi của Đạo gia, ít can thiệp sâu vào đời sống xã hội, cho dân chúng được ngơi nghỉ sau nhiều năm tháng chiến tranh loạn lạc, cho nên được dân chúng ca ngợi.