Sử Ký III. Thế Gia

Lượt đọc: 269 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUYỂN 58 LƯƠNG HIẾU VƯƠNG THẾ GIA

❊ ❊ ❊

Lương Hiếu vương Vũ là con của Hiếu Văn Hoàng đế, cùng mẹ với Hiếu Cảnh đế. Mẹ là Đậu Thái hậu.

Hiếu Văn đế có bốn con trai: con trưởng là Thái tử, tức Hiếu Cảnh đế; con thứ hai là Vũ; con thứ ba là Tham, con thứ tư là Thắng. Hiếu Văn đế lên ngôi được hai năm, phong Vũ làm Đại vương, phong Tham làm Thái Nguyên vương, phong Thắng làm Lương vương. Được hai năm, đổi Đại vương làm Hoài Dương Vương. Đem đất Đại phong hết cho Thái Nguyên vương, hiệu là Đại vương. Tham được phong vương mười bảy năm, đến năm Hiếu Văn thứ hai [niên hiệu Hậu Nguyên] thì chết, thụy là Hiếu vương. Con là Đăng lên thay, đó là Đại Cung vương. Thừa kế vương vị được hai mươi chín năm, đến năm Nguyên Quang thứ hai thì chết. Con là Nghĩa lên thay, đó là Đại vương. Được mười chín năm, nhà Hán mở rộng quan ải, lấy Thường Sơn làm giới hạn, rồi đổi Đại vương làm vương ở Thanh Hà. Việc chuyển đổi của Thanh Hà vướng vào năm Nguyên Đỉnh thứ ba.

Ban trước, Vũ làm Hoài Dương vương đến năm thứ mười, thì Lương vương Thắng chết, thụy là Lương Hoài vương. Con út của Hoài vương được yêu quý hơn hẳn các con khác. Năm sau, đổi Hoài Dương vương Vũ làm Lương vương. Lương vương bắt đầu làm vương nước Lương, đó là năm Hiếu Văn đế thứ mười hai. Lương vương từ lúc bắt đầu được phong vương đến lúc này là mười một năm.

Lương vương năm thứ mười bốn, vào chầu. Năm thứ mười bảy, năm thứ mười tám, mỗi năm đều vào chầu, ở lại trong cung, năm sau mới về nước phong. Năm thứ hai mươi mốt, vào chầu. Năm thứ hai mươi hai, Hiếu Văn đế băng hà. Năm thứ hai mươi tư, vào chầu. Năm thứ hai mươi lăm, lại vào chầu. Bấy giờ hoàng thượng chưa lập Thái tử. Hoàng thượng cùng Lương vương yến ẩm, từng thủng thẳng nói: “Sau khi ngàn thu muôn tuổi sẽ truyền cho vương."[1] Lương vương từ tạ. Dẫu biết không phải lời nói thực tâm, song trong lòng vui mừng. Thái hậu cũng thế.

Mùa xuân năm ấy, Ngô, Sở, Tề, Triệu bảy nước làm phản. Ngô, Sở trước tiên đánh Cức Bích nước Lương, giết mấy vạn người. Lương Hiếu vương phòng thủ ở thành Tuy Dương, rồi sai bọn Hàn An Quốc, Trương Vũ làm Đại tướng quân, để chống lại Ngô, Sở. Ngô, Sở bị nước Lương ngăn trở, không dám vượt qua để tiến sang phía tây, cùng bọn Thái úy Á Phu cầm cự với nhau ba tháng. Ngô, Sở bị đánh tan, còn nước tương đánh bại, giết, bắt sống quân làm phản đại để nhiều ngang với quân Hán. Năm sau, nhà Hán lập Thái tử. Sau đó, Lương vương là chỗ thân thiết nhất, có công, lại là nước lớn, ở nơi đất đai phì nhiêu trong thiên hạ. [Nước Lương] phía bắc là địa giới Thái Sơn, phía tây đến Cao Dương, gồm hơn bốn mươi thành, phần nhiều đều là các huyện lớn.

Hiếu vương là con trai út của Đậu Thái hậu, được Thái hậu cưng, ban thưởng không sao kể xiết. Bấy giờ Hiếu vương xây dựng Đông Uyển, vuông hơn ba trăm dặm. Mở rộng thành Tuy Dương bảy mươi dặm. Xây nhiều cung điện nhà cửa, làm cầu nối các lầu gác, từ vương cung đến Bình Đài dài hơn ba mươi dặm. Được thiên tử ban cờ, ra ngoài tùy tòng là ngàn cỗ xe và vạn kỵ binh. Qua đông qua tây săn bắn, giống như thiên tử. Khi ra ngoài thì nói là “tất”, về cung thì gọi là “cảnh”[2]. Chiêu tập hào kiệt bốn phương, kẻ sĩ du thuyết từ Hào Sơn sang phía đông không ai không đến, chẳng hạn bọn Dương Thắng, Công Tôn Quỷ, Trâu Dương người Tề. Công Tôn Quỷ nhiều kế sách tà dị, mới yết kiến Hiếu vương đã được tặng nghìn vàng, làm quan đến chức Trung úy, nước Lương gọi ông ta là Công Tôn Tướng quân. Nước Lương làm nhiều binh khí, cung nỏ, giáo mác, lên đến mấy chục vạn, còn tiền vàng trong kho lên đến cự vạn, châu ngọc, của báu nhiều hơn cả kinh sư[3].

Tháng Mười năm thứ hai mươi chín, Lương Hiếu vương vào chầu. Cảnh đế sai sứ giả cầm phù tiết ngồi xe tứ mã đi đón Lương vương dưới quan ải. Sau khi vào triều, dâng sớ nhân đó lưu lại [trong cung], là do được Thái hậu sủng ái vậy. Lương vương vào cung được hầu cận và ngồi cùng xe với Cảnh đế, xuất cung được ngồi cùng xe đi săn, bắn cầm thú trong vườn Thượng Lâm. Các quan Thị trung, Lang, Yết giả của Lương vương được ghi tên vào danh sách, được ra vào cổng điện của thiên tử, không khác gì các quan viên của triều đình trung ương nhà Hán.

Tháng Mười một, hoàng thượng phế truất Lật Thái tử[4], Đậu Thái hậu trong lòng muốn lấy Hiếu vương làm người kế tục. Đại thần cùng bọn Viên Áng khuyên can Cảnh đế, do vậy đề nghị của Đậu Thái hậu bị ngăn trở, từ đó không nói lại việc lấy Lương vương làm người thừa kế nữa. Vì việc này bí mật, trên đời không ai biết. [Lương vương] bèn từ biệt để trở về nước phong.

Tháng Tư mùa hạ, hoàng thượng lập Giao Đông vương làm Thái tử[5]. Lương vương oán Viên Áng cùng các đại thần tham gia bàn nghị không tán đồng việc lập Lương vương làm Thái tử, bèn cùng bọn Dương Thắng, Công Tôn Quỷ ngầm sai người đâm chết Viên Áng cùng hơn chục đại thần khác đã tham gia bàn nghị[6]. Truy bắt hung thủ, vẫn chưa bắt được. Thế rồi thiên tử có ý nghi ngờ Lương vương, [đến khi] bắt được hung thủ, quả nhiên do Lương vương sai khiến. Bèn liên tục sai sứ lên đường đến nước Lương tra xét vụ án, bắt Công Tôn Quỷ và Dương Thắng. Công Tôn Quỷ, Dương Thắng trốn ở hậu cung của Lương vương. Sứ giả cật vấn các quan trật Nhị thiên thạch gắt gao, Quốc tướng nước Lương là Hiên Khâu Báo cùng quan Nội sử Hàn An Quốc tiến vào khuyên can Lương Vương, Lương vương bèn lệnh cho Thắng và Quỷ đều phải tự sát, đem xác ra giao. Từ đó hoàng thượng oán trách Lương vương. Lương vương lo sợ, bèn sai Hàn An Quốc thông qua Trưởng Công chúa[7] tạ tội với Thái hậu, sau đó mới được khoan thứ.

Hoàng thượng dần nguôi giận, nhân đó [Lương vương] dâng thư xin vào chầu. Sau khi đến quan ải, Mao Lan[8] khuyên Lương vương ngồi xe căng vải thường, chỉ đem theo hai kỵ mã tùy tòng, náu mình ở vườn [trong cung] của Trưởng Công chúa. Nhà Hán sai sứ đón Lương Vương, Lương vương đã vào quan ải, xe cộ và quân kỵ đều ở ngoài quan ải, không biết Lương vương ở đâu. Thái hậu khóc nói: “Hoàng đế giết con ta!” Cảnh đế lo sợ. Thế rồi Lương vương lưng mang búa rìu quỳ dưới của cung tạ tội, Thái hậu và Cảnh đế thấy vậy cả mừng, cùng khóc, quan hệ trở lại như trước. Triệu hết các quan tùy tòng Lương vương vào trong quan ải. Nhưng Cảnh đế ngày càng lạnh nhạt với Lương Vương, không cho ngồi cùng xe nữa.

Mùa đông năm thứ ba mươi lăm, lại vào chầu. Dâng sớ muốn được lưu lại, Hoàng thượng không cho. Về nước, tâm ý hoang mang, không vui. Lên phía bắc đi săn ở Lương Sơn, có người hiến con bò, chân mọc trên lưng, Hiếu vương ghét con bò đó. Trung tuần tháng Sáu, phát bệnh sốt cao, sáu ngày thì chết, thụy là Hiếu vương.

Hiếu vương là người con hiếu, mỗi khi nghe Thái hậu ốm, [thì Hiếu vương] ăn không được, ngủ không yên, thường mong ở lại Trường An hầu hạ Thái hậu. Thái hậu cũng yêu quý Lương vương. Đến khi hay tin Lương vương mất, Đậu Thái hậu khóc lóc rất đau đớn, bỏ ăn, nói: “Hoàng đế quả giết con ta!” Cảnh đế vừa đau buồn vừa lo sợ, không biết phải làm thế nào. Bàn tính với Trưởng Công chúa về việc đó, bèn chia nước Lương thành năm nước, lập hết năm con trai của Hiếu vương làm vương, năm người con gái đều được hưởng ấp thang mộc. Thế rồi tâu với Thái hậu, Thái hậu liền mừng, gia ban cho Cảnh đế một bữa ăn.

Con trưởng của Lương Hiếu vương là Mãi làm Lương Vương, đó là Cung vương; con là Minh làm Tế Xuyên vương; con là Bành Ly làm Tế Đông vương; con là Định làm Sơn Dương Vương; con là Bất Thức làm Tế Âm vương.

Khi Hiếu vương còn tại thế, của cải muôn vàn, không sao kể xiết. Đến khi chết, vàng chứa trong kho còn hơn bốn chục vạn cân, của cải khác tương đương số đó.

Lương Cung vương năm thứ ba, Cảnh đế băng hà. Cung vương tại vị được bảy năm thì chết, con là Tương lên thay, đó là Bình vương.

Lương Bình vương Tương năm thứ mười bốn, mẹ là Trần Thái hậu. Mẹ của Cung vương là Lý Thái hậu. Lý Thái hậu là bà của Bình vương. Vương hậu của Bình vương họ Nhâm, đó là Nhâm Vương hậu. Nhâm Vương hậu rất được Bình vương Tương sủng ái. Ban trước, khi Hiếu vương hãy còn, có chiếc chén uống rượu trang trí hình mây và sấm chớp, đáng giá ngàn vàng. Hiếu vương răn bảo con cháu, khéo giữ chiếc chén, không được cho người khác. Nhâm Vương hậu nghe nói chuyện đó, nhưng lại muốn có chiếc chén ấy. Bà của Bình vương là Lý Thái hậu nói: “Tiên vương có lệnh, không được đem chiếc chén cho người khác. Vật khác tuy giá trị ức vạn, ngươi có thể tự ý mà lấy.” Nhâm Vương hậu khăng khăng muốn có chiếc chén đó. Bình vương Tương lập tức sai người mở kho lấy chiếc chén, tặng cho Nhâm Vương hậu. Lý Thái hậu cả giận, sứ giả nhà Hán đến, định đích thân [đem chuyện đó] nói [với sứ giả], Bình vương Tương cùng Nhâm Vương hậu chặn đường ngăn cản, đóng cổng lại, Lý Thái hậu cùng tranh đường đi ở cổng, bị kẹp ngón tay, rốt cuộc không gặp được sứ giả nhà Hán. Lý Thái hậu do có tư thông với bọn quan trưởng phụ trách nấu ăn trong cung và Lang trung Doãn Bá, [vì thế] Bình vương và Nhâm Vương hậu sai người đem việc đó bóng gió khuyên ngăn Lý Thái hậu. Lý Thái hậu do bản thân làm việc dâm loạn nên cũng cho qua. Sau, ốm chết. Lúc ốm, Nhâm Vương hậu không hề đến thăm hỏi bệnh tình, đến khi chết cũng không để tang.

Trong niên hiệu Nguyên Sóc[9], Loại Ngạn Phản người ở Tuy Dương, có người làm nhục cha mình, nhưng được ngồi ra ngoài cùng xe với khách của Thái thú Hoài Dương. Khách của Thái thú ra ngoài, xuống xe, Loại Ngạn Phản giết kẻ thù của mình ngay trên xe rồi bỏ đi. Thái thú Hoài Dương nổi giận, trách vấn các quan Nhị thiên thạch nước Lương. Các quan Nhị thiên thạch trở xuống tìm bắt Phản rất gắt gao, bắt người thân thích của Phản. Phản biết việc bí mật trong nước, bèn dâng thư lên Hoàng đế nói việc bất thường, tố cáo chi tiết việc Lương Bình vương và bà mình tranh nhau chiếc chén. Bấy giờ từ Thừa tướng trở xuống đều biết việc đó, muốn dùng việc đó để hạ bệ các trưởng lại nước Lương, thư tố cáo của Phản được trình lên thiên tử. Thiên tử giao cho quan lại tra xét, thực có việc đó. Các công khanh đề nghị phế Tương làm dân thường. Thiên tử nói: “Lý Thái hậu có hành vi dâm loạn, còn Lương vương Tương không có thầy giỏi rèn cặp, cho nên sa vào chỗ bất nghĩa.” Bèn tước tám thành nước Lương, bêu đầu Nhâm Vương hậu ngoài chợ. Nước Lương còn lại mười thành. Tương tại vị được ba mươi chín năm thì chết, thụy là Bình vương. Con là Vô Thương được lập làm Lương Vương.

Tế Xuyên vương Minh là con của Lương Hiếu vương, vào năm [Trung Nguyên] thứ sáu thời Hiếu Cảnh đế[10] [Minh] từ thân phận Hoàn Ấp hầu lên làm Tế Xuyên vương. Được bảy năm, do bắn giết viên Trung úy của mình, quan Hữu ty nhà Hán đề nghị giết, thiên tử không nỡ giết, phế Minh làm dân thường, đày ra Phòng Lăng, đất phong sáp nhập thành quận của nhà Hán.

Tế Đông vương Bành Ly là con của Lương Hiếu vương, năm [Trung Nguyên] thứ sáu thời Hiếu Cảnh đế lên làm Tế Đông vương. Được hai mươi chín năm, Bành Ly kiêu căng hung hãn, không có lễ nghi của bậc quân vương, tối đến lén lút cùng mấy chục nô bộc và bọn thanh niên vong mạng đi cướp của giết người, coi việc chiếm được của cải làm vui. Những người do Tế Đông vương giết bị phát giác lên đến trên trăm người, cả nước đều biết việc đó, ban đêm không ai dám ra ngoài. Con của một người bị giết nọ dâng thư tố cáo. Quan Hữu ty nhà Hán đề nghị giết Bành Ly, hoàng thượng không nỡ, phế làm dân thường, đày ra Thượng Dung, đất phong bị sáp nhập vào nhà Hán, thành quận Đại Hà.

Sơn Dương Ai vương Định là con của Lương Hiếu vương, năm [Trung Nguyên] thứ sáu thời Hiếu Cảnh đế lên làm Sơn Dương vương. Được chín năm thì chết, không con, nước bị phế bỏ, đất phong bị sáp nhập vào nhà Hán, thành quận Sơn Dương.

Tế Âm Ai vương Bất Thức là con của Lương Hiếu vương, năm [Trung Nguyên] thứ sáu thời Hiếu Cảnh đế lên làm Tế Âm vương. Được một năm thì chết, không có con, nước bị phế bỏ, đất phong bị sáp nhập vào nhà Hán, thành quận Tế Âm.

Thái sử công bàn rằng: Lương Hiếu vương tuy là chỗ thân thiết, được sủng ái, được phong vương nơi đất đai màu mỡ, lại gặp lúc nhà Hán hưng thịnh, trăm họ giàu có, cho nên có thể tích lũy của cải, mở rộng cung thất, xe cộ phục sức giống như thiên tử nhưng cũng là tiếm vượt vậy.

#

Chử tiên sinh bàn rằng: Lúc tôi làm quan Lang, được nghe các quan Lang già hiếu sự trong cung nói về việc đó[11]. Trộm cho là, [lý do] khiến Lương Hiếu vương oán trách, muốn làm những việc bất thiện, [đều bắt nguồn từ những] việc phát sinh ở trong cung. Bấy giờ Thái hậu là nữ chúa, vì yêu con út, muốn cho Lương vương làm Thái tử. Đại thần không kịp thời nói cho Thái hậu biết đó là việc không thể làm, a dua đón ý, chỉ lo việc vặt, cốt sao Thái hậu đẹp lòng để được nhận thưởng, không phải bậc trung thần. Nếu như Ngụy Kỳ hậu Đậu Anh nói lời thẳng thắn, đâu vì thế mà có họa về sau? Cảnh đế gặp Lương vương trong yến tiệc, hầu Thái hậu uống rượu, Cảnh đế nói: “Sau khi ngàn thu muôn tuổi sẽ truyền cho vương.” Thái hậu vui mừng. Đậu Anh ở trước mặt, phủ phục xuống đất nói: “Pháp luật triều Hán quy định, truyền ngôi phải cho con cháu đích tôn, nay sao Hoàng đế có thể truyền ngôi vị cho em, tự ý làm loạn quy định của Cao đế được!” Cảnh đế nghe vậy lẳng lặng không nói. Thái hậu có ý không vui.

Xưa kia Chu Thành vương cùng em nhỏ đứng dưới gốc cây, lấy một chiếc lá ngô đồng đưa cho em, nói: “Ta lấy phong cho ngươi.” Chu công nghe vậy, tấn kiến nói: “Thiên vương phong cho em, rất tốt.” Thành vương nói: “Ta chỉ đùa thôi.” Chu công nói: “Bậc nhân chúa không làm việc sai lầm, không nên nói đùa, nói thế nào ắt phải làm như vậy.” Thế là bèn phong cho em nhỏ huyện Ứng. Về sau, Thành vương trọn đời không dám nói đùa, đã nói ắt làm theo. Hiếu kinh viết: “Không đúng pháp độ không nói, không đúng đạo nghĩa không làm.” Đó là những lời khuôn phép của thánh nhân vậy. Nay chúa thượng không nên nói ra những lời dễ nghe ấy với Lương vương. Lương vương trên được sự xem trọng của Thái hậu, kiêu căng ngạo mạn từ lâu, nhiều lần nghe lời dễ nghe của Cảnh đế rằng sau khi ngàn thu muôn tuổi sẽ truyền cho vương, nhưng thực tế lại không làm.

Lại như các vua chư hầu triều kiến thiên tử, pháp luật nhà Hán quy định chỉ vào triều kiến bốn lần. Mới đến, vào tiểu kiến; đến sáng sớm nguyên đán, bưng da hươu, ngọc bích chúc mừng tháng Giêng, yết kiến theo quy định; ba ngày sau, thiết yến các vương, ban tiền vàng của cải; hai hôm sau, lại vào tiểu kiến, từ biệt ra về. Phàm lưu lại Trường An không quá hai mươi ngày. Tiểu kiến là yết kiến riêng trong cấm cung, uống rượu trong cung, sĩ nhân[12] không được vào. Nay Lương vương sang phía tây vào triều kiến, nhân đó lưu lại, gần nửa năm trời. Khi vào thì cùng xe với Hoàng đế, xuất cung cũng ngồi cùng xe. Hoàng đế tỏ ra đại ngôn [rằng cho Lương Dương kế vị] nhưng kỳ thực không cho, khiến [Lương vương] thốt lời oán trách, âm mưu phản nghịch, kế đó phải lo lắng cho Lương vương, chẳng cũng là đi quá xa ư! Không phải bậc đại hiền thì không biết từ tạ lui gót. Nay quy định của nhà Hán, triều kiến chúc mừng tháng Giêng, thường là một mình vương và bốn chư hầu cùng vào triều kiến, hơn chục năm vào một lần. Nay Lương vương năm này sang năm khác vào triều kiến, ở lại lâu. Tục ngữ có câu: “Con kiêu không hiếu”, lời nói chẳng sai. Cho nên vua chư hầu đáng phải đặt thầy giỏi rèn cặp, dùng kẻ sĩ nói lời trung tín giúp đỡ, như bọn Cấp Ảm, Hàn Trường Nhụ, dám nói lời thẳng, hết sức can ngăn, thì đâu có nguy hại nữa!

Từng nghe, Lương vương sang phía tây vào triều, yết kiến Đậu Thái hậu, gặp trong tiệc rượu, cùng Cảnh đế ngồi hầu trước mặt Thái hậu, nói chuyện riêng tư. Thái hậu bảo Hoàng đế rằng: “Ta nghe nói đạo nhà Ân là thân với người thân, đạo nhà Chu là tôn kính bậc tôn trưởng, nghĩa lý chỉ là một vậy. Xe êm ra đi rồi[13], xin gửi gắm Lương Hiếu vương.” Cảnh đế quỳ trên chiếu ngẩng lên nói: “Vâng.” Bãi tiệc rượu xuất cung, Hoàng đế triệu các đại thần thông kinh thuật là bọn Viên Áng đến hỏi: “Thái hậu nói thế, là ý thế nào?” Đều đáp rằng: “Ý Thái hậu muốn lập Lương vương làm Thái tử.” Hoàng đế hỏi sự tình, bọn Viên Áng nói: “Đạo nhà Ân thân với người thân, cho nên lập em. Đạo nhà Chu tôn kính bậc tôn trưởng, cho nên lập con. Đạo nhà Ân chất phác, chất phác thì noi khuôn phép của trời, thân với người thân của mình, cho nên lập em. Đạo nhà Chu trọng văn, văn vẻ thì noi khuôn phép của đất, tôn kính người mình kính trọng, tôn kính gốc gác của mình, nên lập con trưởng. Đạo nhà Chu, Thái tử chết, lập cháu đích. Đạo nhà Ân, Thái tử chết, lập em mình.” Hoàng đế hỏi: “Các ông thấy thế nào?” Đều đáp rằng: “Nay nhà Hán theo khuôn phép nhà Chu, đạo nhà Chu không được lập em mà phải lập con. Cho nên sách Xuân thu phủ nhận Tống Tuyên công. Tống Tuyên công chết, không lập con mà lập em. Em nhận nước rồi chết, lại truyền quốc cho con của anh. Con của em tranh với con anh, cho mình đáng phải thay cha, liền giết con của anh. Vì thế nước loạn, tai họa không dứt. Cho nên Xuân thu viết: 'Quân tử phải nói chính đạo, họa của nước Tống là tự Tuyên công gây ra.' Thần xin cầu kiến Thái hậu để thưa rõ việc đó.” Bọn Viên Áng vào yết kiến Thái hậu, hỏi: “Thái hậu nói muốn lập Lương vương, nếu Lương Vương chết, định lập ai?” Thái hậu nói: “Ta lại lập con của Hoàng đế.” Bọn Viên Áng đem chuyện Tống Tuyên công không lập Thái tử một cách chính đáng, sinh họa, họa loạn đến năm đời không dứt, đem chuyện không nhịn việc nhỏ làm hại đến đại nghĩa[14], nói rõ với Thái hậu. Thái hậu bèn nghe ra, liền sai Lương vương trở về nước phong. Còn Lương vương nghe những lời bàn ấy xuất phát từ bọn đại thần Viên Áng thì oán trách, sai người đến giết Viên Áng. Viên Áng quay lại hỏi thích khách: “Ta được gọi là Viên Tướng quân đây, ngươi không nhầm chứ?” Thích khách đáp: “Đúng rồi.” Đâm Viên Áng, để lại kiếm, kiếm cắm trên mình [Viên Áng]. Xem thanh kiếm đó, mới đúc. Xét hỏi thợ rèn đao kiếm ở Trường An, đáp: “Quan lang nọ ở nước Lương đến đúc thanh kiếm này.” Qua đó biết rồi phát giác ra thích khách, sai người lùng bắt. Riêng Lương vương định giết hơn chục đại thần, quan án truy ra ngọn nguồn, mưu phản lộ rõ. Thái hậu bỏ ăn, ngày đêm khóc lóc không thôi. Cảnh đế rất đỗi lo lắng, hỏi các công khanh đại thần, đại thần cho là nên sai quan lại tinh thông kinh thuật đến xử lý, mới có thể giải quyết được. Thế là sai Điện Thúc, Lã Quý Chủ đến giải quyết vụ việc. Hai người này đều tinh thông kinh thuật, hiểu biết đại lễ. Trở về, đến trạm ngựa Bá Xương[15], đốt hết lời khai về việc mưu phản của Lương Vương, chỉ tay không về yết kiến Cảnh đế. Cảnh đế hỏi: “Thế nào?” Đáp rằng: “Theo lời khai thì Lương vương không biết gì. Gây ra việc này hoàn toàn do bọn bề tôi được sủng ái là Dương Thắng, Công Tôn Quỷ mà thôi. Đã cẩn trọng tra xét và giết chúng, Lương vương không có chuyện gì.” Cảnh đế vui mừng, nói: “Mau vào yết kiến Thái hậu.” Thái hậu nghe vậy, bật dậy ngồi ăn, khí sắc trở lại bình thường. Cho nên nói, không thông kinh thuật, không biết đại lễ cổ kim, không thể làm Tam công và cận thần bên cạnh Hoàng đế. Người kiến thức hẹp hòi, cũng như nhòm trời qua ống trúc vậy.

[1] Ý nói sau khi băng hà sẽ truyền cho Lương vương làm Hoàng đế.

[2] Tất: cấm đường để đề phòng bất trắc khi thiên tử xuất hành. Cảnh: cảnh giới. “Cảnh tất" chỉ chung việc cấm đường phòng bị bất trắc khi nhà vua xuất cung. Đây ý nói Hiếu vương có biểu hiện tiếp dụng nghi lễ dành cho thiên tử.

[3] Kinh sư: ý nói triều đình nhà Hán.

[4] Thái tử Lật: tức Thái tử Lưu Vinh, do Lật cơ sinh ra.

[5] Tức Lưu Triệt, sau là Hán Vũ đế.

[6] Lương vương sai thích khách giết chết Viên Áng thì vụ việc bị phát giác, chưa kịp giết các đại thần khác.

[7] Trưởng Công chúa: tức Lưu Phiêu, con gái lớn của Hán Văn đế.

[8] Bề tôi của Hiếu vương.

[9] Nguyên Sóc: niên hiệu của Hán Vũ đế, từ năm 128 trước Công nguyên đến năm 123 trước Công nguyên.

[10] Hiếu Cảnh đế hai lần đổi niên hiệu, lần thứ nhất sử gọi là Trung Nguyên, lần thứ hai gọi là Hậu Nguyên. Năm Trung Nguyên thứ sáu thời Hiếu Cảnh đế là năm 144 trước Công nguyên.

[11] Ý nói những việc liên quan đến Lương Hiếu vương.

[12] Sĩ nhân: đây chỉ chung các quan lại cũng như giới nho sĩ.

[13] Xe êm: nguyên là "an xa”, xe dùng cho phụ nữ; ra đi, nguyên là “đại giá”, xa giá của thiên tử đi xuất hành, cũng dùng để chỉ việc Thái hậu, hoặc Hoàng đế băng hà. Đây ý Đậu Thái hậu nói sau khi mình chết.

[14] Ý nói các đại thần khuyên Thái hậu nên kiềm chế tình cảm yêu mến riêng tư, tránh gây nguy hại đến đất nước.

[15] Cách Trường An ba mươi dặm.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.