Sử Ký III. Thế Gia

Lượt đọc: 277 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUYỂN 47 KHỔNG TỬ THẾ GIA

❊ ❊ ❊

Khổng tử sinh ở ấp Trâu, hương Xương Bình, nước Lỗ. Tiên tổ là người nước Tống, gọi là Khổng Phòng Thúc. Phòng Thúc sinh ra Bá Hạ, Bá Hạ sinh Thúc Lương Hột[1]. Hột lấy người con gái họ Nhan[2] rồi sinh ra Khổng tử, cầu đảo ở Ni Khâu mới sinh được Khổng tử. Khổng tử sinh năm Lỗ Tương công thứ hai mươi hai. Khi sinh ra, trên đỉnh đầu lõm, bốn góc nhô cao, cho nên nhân đó đặt tên là Khâu[3], tự là Trọng Ni, họ Khổng.

Khâu ra đời thì Thúc Lương Hột chết, táng ở Phòng Sơn. Phòng Sơn ở phía đông nước Lỗ, do đó, Khổng tử không rõ phần mộ của cha mình, bà mẹ tránh nhắc việc đó. Khổng tử lúc bé chơi đùa, thường bày đồ cúng tế, học các động tác lễ nghi. Mẹ Khổng tử chết, bèn tạm quàn ở đường Ngũ Phủ, đó là cách làm thận trọng vậy[4]. Mẹ của Vãn Phủ ở ấp Trâu nói cho Khổng tử biết phần mộ của cha Khổng tử, sau đó [Khổng tử] chuyển quan tài của mẹ đến hợp táng ở Phòng Sơn.

Khổng tử mang thắt lưng gai[5], họ Quý khoản đãi kẻ sĩ, Khổng tử đến dự. Dương Hổ[6] xua đuổi rằng: “Họ Quý thết đãi kẻ sĩ, không dám thết đãi cậu.” Thế là Khổng tử lui ra.

Khổng tử mười bảy tuổi, đại phu nước Lỗ là Mạnh Hy tử ốm sắp chết, răn bảo con nối dõi là Ý tử rằng: “Khổng Khâu là hậu duệ của thánh nhân, bị nước Tống diệt. Tiên tổ là Phất Phủ Hà ban đầu có nước Tống nhưng nhường nước cho Lệ công. Đến Chính Khảo Phủ phò tá Đái công, Vũ công, Tuyên công, ba lần nhận mệnh mà càng thêm cung kính, cho nên khắc trên vạc rằng: 'Lần thứ nhất nhận mệnh thì cúi mình nhận lấy, lần thứ hai nhận mệnh thì khom mình nhận lấy, lần thứ ba nhận mệnh thì phủ phục mà nhận, men tường mà chạy, cũng không ai dám khinh mạn ta. Nấu cơm bằng vạc này, nấu cháo bằng vạc này, để nuôi miệng ta.' Ông ta cung kính đến như thế đấy. Ta nghe nói hậu duệ của bậc thánh nhân, dẫu không làm vua cũng ắt là bậc thông đạt. Nay Khổng Khâu tuổi còn trẻ mà ham lễ, đó là người thông đạt chăng? Ta chết rồi, con nhất định phải tôn người đó làm thầy.” Đến khi Hy tử chết, Ý tử cùng Nam Cung Kính Thúc người nước Lỗ đến học lễ Khổng tử. Năm này, Quý Vũ tử chết, Bình tử lên thay.

Khổng tử nghèo hèn. Đến khi trưởng thành, từng làm tiểu lại cho họ Quý, cân đong đo lường chuẩn xác; từng làm quan lại phụ trách việc chăn nuôi, súc vật đông đúc, sinh đẻ nhiều, do đó được làm Tư không. Thế rồi rời nước Lỗ, bị bài xích ở Tề, bị xua đuổi ở Tống và Vệ, bị nguy khốn ở khoảng Trần và Sái, rồi lại trở về Lỗ. Khổng tử cao chín thước sáu tấc, ai cũng bảo là “người cao” và lấy làm lạ. Nước Lỗ lại đối đãi tử tế [với Khổng tử], do đó [Khổng tử] trở về Lỗ.

Nam Cung Kính Thúc nước Lỗ nói với vua Lỗ rằng: “Xin cho Khổng tử đến nhà Chu.” Vua Lỗ cho Khổng tử một cỗ xe, hai con ngựa, một tiểu đồng đi theo, đến nhà Chu hỏi về lễ, còn gặp Lão tử. Lúc từ biệt lên đường, Lão tử có nói tiễn chân: “Tôi nghe nói người giàu sang dùng của cải tiễn nhau, người có lòng nhân dùng lời nói tiễn nhau. Tôi không phải người giàu sang, trộm gọi là người nhân, dùng lời nói tiễn chân ngài, rằng: 'Kẻ thông minh, suy xét sâu xa thì gần với cái chết, vì thích bàn về người khác. Kẻ biện bác rộng, tài năng quảng đại thì nguy hại đến thân, vì nêu cái xấu của người. Kẻ làm con không biết dựa vào đâu để giữ mình, kẻ làm tôi không biết dựa vào đâu để giữ mình'.” Khổng tử từ nhà Chu trở về nước Lỗ, học trò ngày càng đông.

Bấy giờ, Tấn Bình công dâm đãng, Lục khanh chuyên quyền, phía đông chinh phạt chư hầu; quân của Sở Linh vương hùng mạnh, lấn lướt các nước Trung nguyên; Tề rộng lớn mà gần với Lỗ. Lỗ nhỏ yếu, theo sở thì Tấn giận; theo Tấn thì Sở đem quân đến đánh; không phòng bị Tề thì quân Tề đến xâm chiếm Lỗ.

Lỗ Chiêu công năm thứ hai mươi, Khổng tử ba mươi tuổi. Tề Cảnh công cùng Yến Anh đến nước Lỗ, Cảnh công hỏi Khổng tử rằng: “Trước kia, Tần Mục công đất nước nhỏ bé, ở chốn hẻo lánh, tại sao có thể xưng bá?” Khổng tử đáp: “Tần, nước tuy nhỏ nhưng chí lại lớn, tuy ở chốn hẻo lánh nhưng thi hành chính sự trung chính. [Tần Mục công] đích thân cất nhắc Ngũ Cổ[7], phong làm đại phu, cất nhắc lên từ cảnh giam cầm, cùng đàm đạo ba ngày, rồi trao cho chính sự. Dựa vào cách đó để có được nhân tài, dẫu xưng vương cũng có thể, chứ xưng bá là còn nhỏ.” Cảnh công đẹp lòng.

Năm Khổng tử ba mươi lăm tuổi, Quý Bình tử và Hậu Chiêu bá vì chọi gà mà đắc tội với Lỗ Chiêu công, Chiêu công đem quân đánh Bình tử, Bình tử cùng Mạnh thị, Thúc Tôn thị ba nhà đánh Chiêu công, quân của Chiêu cũng bị thua, [Chiêu công] chạy sang nước Tề, Tề cho Chiêu công ở Càn Hầu. Một thời gian sau, nước Lỗ có loạn. Khổng tử sang nước Tề, làm gia thần của Cao Chiêu tử, muốn thông qua [Cao Chiêu tử] để yết kiến cảnh công. [Khổng tử] cùng Thái sư nước Tề bàn về nhạc, nghe nhạc Thiều[8], học theo, ba tháng không biết mùi thịt, người nước Tề đều khen ngợi.

Cảnh công hỏi Khổng tử về chính sự, Khổng tử đáp: “Vua phải trọn đạo làm vua, bề tôi phải trọn đạo làm bề tôi, cha phải trọn đạo làm cha, con phải trọn đạo làm con.” Cảnh công nói: “Phải lắm! Nếu vua không trọn đạo làm vua, bề tôi không trọn đạo làm bề tôi, cha không trọn đạo làm cha, con không trọn đạo làm con, dẫu có thóc, ta há ăn được ư!” Hôm khác, lại hỏi Khổng tử về chính sự, Khổng tử đáp: “Chính sự cốt ở chỗ tiết kiệm của cải.” Cảnh công thích, định đem ruộng Ni Khê phong cho Khổng tử. Yến Anh tiến lên tâu: “Xét lẽ, nhà nho giỏi biện bác nhưng không thể đưa vào khuôn phép; kiêu ngạo tự theo ý mình, không thể lấy họ làm tôi thần; coi trọng việc tang ma, thương xót người chết, phá tán gia sản để hậu táng, không thể lấy đó làm phong tục; du thuyết để kiếm ăn, không thể cho họ trị quốc. Từ khi các bậc đại hiền sinh ra, đến khi nhà Chu suy vi, lễ nhạc có bị thiếu khuyết. Nay Khổng tử đề cao nghi dung, phục sức, lên xuống đều theo lễ chế phiền toái, cùng lễ nghi lúc rảo bước, dẫu qua nhiều đời cũng không thể học hết được, lúc này không thể nghiên cứu đến lễ chế của ông ta. Nhà vua muốn dùng Khổng tử để thay đổi phong tục nước Tề, đó không phải điều cần trước tiên để quan tâm đến dân chúng vậy.” Sau đó, Cảnh công vẫn kính cẩn tiếp kiến Khổng tử, nhưng không hỏi về lễ. Hôm khác, Cảnh công giữ Khổng tử lại nói: “Phụng sự ngài như cách phụng sự Quý thị, ta không thể làm được.” Rồi dùng cách giữa họ Quý và họ Mạnh để đối đãi Khổng tử. Đại phu nước Tề định hại Khổng tử, Khổng tử biết được chuyện đó. Cảnh công nói: “Ta già rồi, không thể dùng được ngài vậy.” Khổng tử bèn lên đường, trở lại nước Lỗ.

Năm Khổng tử bốn mươi hai tuổi, Lỗ Chiêu công chết ở Càn Hầu, Định công lên ngôi. Định công lên ngôi được năm năm, mùa hạ, Quý Bình tử chết, Hoàn tử lên thay. Quý Hoàn tử đào giếng, thấy cái vại đất, trong có con vật giống con dê, bèn hỏi Trọng Ni, nói là mình “đào được con chó”. Trọng Ni nói: “Như Khâu được biết, đó là con dê vậy. Khâu nghe nói, vật lạ sinh ra từ cây và đá là giống quỳ[9] võng lãng[10]; vật lạ sinh ra từ nước là rồng võng tượng; vật lạ sinh ra từ đất là con phần dương.”

Nước Ngô đánh nước Việt, phá núi Cối Kê, được đốt xương chở đầy một xe. Nước Ngô sai sứ đến hỏi Trọng Ni: “Xương gì mà to tột mức thế?” Trọng Ni đáp: “Vua Vũ [nhà Hạ] triệu tập các vị thần đến núi Cối Kê, Phòng Phong thị đến muộn, Vũ giết rồi phơi thây thị chúng, đốt xương của ông ta chở đầy một xe, cho nên xương này mới lớn như vậy.” Khách nước Ngô hỏi: “Ai là thần?” Trọng Ni đáp: “Thần núi sông đủ để làm giềng mối cho thiên hạ, người giữ việc thờ cúng núi sông là thần, giữ chỗ thần xã thần tắc là công hầu, đều lệ thuộc vào nhà vua.” Khách hỏi: “Phòng Phong giữ việc gì?” Trọng Ni đáp: “Là vua của họ Uông Võng, giữ việc tế thần núi Phong và núi Ngu, họ Hy. Thời Ngu, Hạ, Thương là Uông Võng, đến thời Chu là Trường Địch, nay gọi là Đại Nhân.” Khách hỏi: “Người cao chừng nào?” Trọng Ni đáp: “Tộc Tiêu Nghiêu cao ba thước, cực kỳ thấp. Người cao lớn cũng không quá mười lần ba thước, như thế là cao nhất rồi.” Thế là khách nước Ngô nói: “Tuyệt thay bậc thánh nhân!”

Bề tôi được Hoàn tử sủng ái là Trọng Lượng Hoài, có hiềm khích với Dương Hổ. Dương Hổ muốn đuổi Hoài đi, Công Sơn Bất Nữu ngăn Dương Hổ. Mùa thu năm ấy, Hoài càng thêm kiêu, Dương Hổ bắt Hoài. Hoàn tử giận, Dương Hổ nhân đó bỏ tù Hoàn tử, cùng thề ước rồi mới thả. Dương Hổ từ đó càng khinh thường họ Quý. Họ Quý cũng tiếm quyền công thất, các bồi thần nắm chính sự trong nước, vì thế nước Lỗ từ đại phu trở xuống đều tiếm quyền, xa rời chính đạo. Cho nên Khổng tử không làm quan, lui về tu chỉnh Thi, Thư, Lễ, Nhạc, đệ tử ngày một đông, người từ phương xa tìm đến, không ai không đến theo học [Khổng tử].

Định công năm thứ tám, Công Sơn Bất Nữu không được Quý thị tin dùng, thông qua Dương Hổ để làm loạn, muốn phế bỏ dòng đích của Tam Hoàn, đổi lập dòng thứ, là người Dương Hổ vốn thân thiết, [vì thế Dương Hổ] bèn bắt Quý Hoàn tử. Hoàn tử lừa Dương Hổ rồi trốn thoát. Định công năm thứ chín, Dương Hổ thua, chạy sang nước Tề. Lúc bấy giờ Khổng tử năm mươi tuổi.

Công Sơn Bất Nữu dựa vào thành Phí làm phản họ Quý, sai người triệu Khổng tử đến. Khổng tử từ lâu noi theo đạo, nhưng không có chỗ thi thố, không ai có thể dùng mình, nói: “Đại để vua Văn vua Vũ nhà Chu nổi lên từ đất Phong đất Cảo rồi dựng nghiệp vương, nay thành Phí tuy nhỏ, hoặc giả cũng có thể hy vọng chăng!” Định đi. Tử Lộ không vui, ngăn Khổng tử lại. Khổng tử nói: “Người ta triệu thầy há chỉ nói suông ư? Nếu dùng ta, sẽ thành nhà Đông Chu chăng!” Nhưng cuối cùng cũng không đi.

Về sau, Định công giao Khổng tử làm quan tể ở Trung Đô, được một năm, bốn phương đều noi theo khuôn phép. [Khổng tử] từ chức quan tể Trung Đô làm tới Tư không, từ Tư không rồi làm Đại tư khấu.

Mùa xuân năm Định công thứ mười, nước Lỗ hòa hảo với Tề. Mùa hạ, đại phu nước Tề là Lê Sự nói với Cảnh công: “Nước Lỗ dùng Khổng Khâu, tình thế đó có thể nguy hiểm cho Tề.” Bèn sai sứ báo với Lỗ, gặp mặt để kết giao tại Giáp Cốc. Lỗ Định công định đi xe đến kết giao hảo. Khổng tử nắm giữ sự vụ của Tướng quốc, nói: “Thần từng nghe có việc về văn ắt có phòng bị về võ; có việc về võ ắt phải chuẩn bị về văn. Ngày xưa, chư hầu ra khỏi biên giới, nhất định có đủ các quan đi theo. Xin để Tả hữu Tư mã tùy tòng.” Định công nói: “Được.” Thế là Tả hữu Tư mã đều đi theo. Hội kiến với Tề hầu ở Giáp Cốc, vị trí trên đàn có bậc bằng đất phân làm ba cấp, lúc hội ngộ dùng nghi lễ tương kiến, vái nhường nhau rồi bước lên. Lễ hiến rượu xong, quan Hữu ty nước Tề rảo bước tiến lên nói: “Xin tấu nhạc bốn phương.” Cảnh công nói: “Được.” Thế rồi mang theo cờ quạt, giáo, kích, kiếm, lá chắn, khua trống ầm ĩ kéo đến. Khổng tử rảo bước ra phía trước, theo bậc đi lên, không bước qua bậc cuối cùng, nhấc ống tay áo lên nói: “Hai vua ta gặp mặt giao hảo, ở đây tấu nhạc nước Di địch làm gì! Xin hạ lệnh cho Hữu ty!” Hữu ty sai họ lui xuống, nhưng họ không đi, thế là các quan hầu cận nhìn Yến tử và Cảnh công. Cảnh công trong lòng hổ thẹn, vẫy tay đuổi họ đi. Lát sau, quan Hữu ty nước Tề rảo bước lên nói: “Xin được tấu nhạc trong cung.” Cảnh công nói: “Được.” Bọn con hát và bọn lùn làm trò vui bước lên phía trước. Khổng tử rảo bước tiến lên, bước theo các bậc để lên, nhưng không bước qua bậc cuối cùng, nói: “Lũ thất phu mê hoặc chư hầu, tội đáng giết! Xin hạ lệnh cho quan Hữu ty.” Hữu ty chấp hành theo hình pháp, khiến chúng tay một nơi, chân một nẻo[11]. Cảnh công sợ, chấn động, biết mình lễ nghĩa không bằng, trở về rất sợ hãi, nói với quần thần rằng: “Nước Lỗ dùng đạo của quân tử để phò tá vua mình, thế mà các ngươi chỉ đem đạo của nước Di địch để dạy quả nhân, khiến đắc tội với vua Lỗ, phải làm thế nào đây?” Hữu ty tiến lên thưa: “Quân tử có lỗi thì dùng việc làm thực chất để tạ lỗi, tiểu nhân có lỗi thì dùng hình thức bề ngoài để tạ lỗi. Nếu nhà vua bứt rứt về việc đó thì hãy dùng việc làm thực chất để tạ lỗi.” Thế là Tề hầu bèn trả lại ruộng đất đã chiếm ở đất Vận, Vấn Dương, Quy Âm cho Lỗ để tạ lỗi.

Mùa hạ năm Định công thứ mười ba, Khổng tử nói với Định công rằng: “Bề tôi thì không tàng trữ vũ khí, đại phu thì thành không quá trăm trĩ."[12] Sai Trọng Do làm quan tể cho họ Quý, định phá hủy tường thành của ba họ Quý Tôn, Mạnh Tôn và Thúc Tôn. Bấy giờ họ Thúc Tôn trước hết phá tường thành ở ấp Hậu. Họ Quý định phá tường thành ở ấp Phí, Công Sơn Bất Nữu và Thúc Tôn Triếp [liền] thống lãnh người đất Phí đánh úp Lỗ. Lỗ Định công cùng ba họ Quý Tôn, Mạnh Tôn, Thúc Tôn phải chạy vào cung của họ Quý, lên đài Vũ Tử. Người Phí tấn công vào đó, không hạ được, tiến đến bên cạnh chỗ của Định công. Khổng tử sai [các đại phu] Thân Câu Tu và Nhạc Kỳ xuống đánh, người ấp Phí thua. Người trong nước đuổi theo, đánh bại chúng ở Cô Miệt. Công Sơn Bất Nữu và Thúc Tôn Triếp chạy sang nước Tề, bèn hủy tường thành ấp Phí. Định hủy tường thành ấp Thành, Công Liêm Xử Phủ nói với Mạnh Tôn rằng: “Phá tường thành ấp Thành, người Tề ắt sẽ kéo đến cổng phía bắc. Vả lại ấp Thành là bình phong của họ Mạnh, không có ấp Thành thì không còn họ Mạnh nữa. Ta sẽ không phá tường thành.” Tháng Mười hai, Định công bao vây ấp Thành, không hạ được.

Định công năm thứ mười bốn, Khổng tử năm mươi sáu tuổi, từ chức Đại tư khấu kiêm nắm quyền Tướng quốc, nét mặt có vẻ mừng. Học trò nói: “Nghe nói người quân tử họa đến không sợ, phúc đến không mừng.” Khổng tử nói: “Có câu nói như thế. Chẳng cũng có câu 'vui vì ở địa vị tôn quý mà khiêm hạ với kẻ dưới' đấy ư?” Thế rồi giết đại phu nước Lỗ làm loạn chính sự là Thiếu Chính Mão. Dự nghe chính sự quốc gia được ba tháng, người bán dê bán lợn không nói thách giá, trai gái đi theo hai lối khác nhau, trên đường không nhặt của rơi, khách bốn phương đến ấp không cần cầu cạnh quan Hữu ty, đều khiến họ cảm thấy như được trở về.

Người Tề nghe vậy thì sợ, nói: “Khổng tử nắm chính sự ắt làm nên nghiệp bá, Lỗ xưng bá thì nước ta ở gần, sẽ bị thôn tính trước tiên. Sao không dâng đất cho Lỗ?” Lê Sự nói: “Xin ngăn trở trước, ngăn trở không được thì dâng đất, nào có muộn gì!” Thế rồi chọn lấy tám mươi mỹ nữ nước Tề, đều mặc y phục sặc sỡ, rồi múa điệu Khang lạc, cùng một trăm hai mươi con ngựa màu lông đẹp, đem tặng vua Lỗ. [Nước Tề] bày đội nữ nhạc cùng ngựa đẹp ngoài cổng Cao Môn phía nam đô thành nước Lỗ. Quý Hoàn tử mặc thường phục đến xem đôi ba lần, định nhận, bèn nói vua Lỗ đi một vòng các nơi rồi đến xem, xem cả ngày, bỏ bê cả chính sự. Tử Lộ nói: “Phu tử nên đi thôi.” Khổng tử nói: “Nước Lỗ rày mai sẽ tế giao, nếu vua ban thịt tế cho các đại phu, thì ta còn có thể lưu lại.” Cuối cùng Hoàn tử nhận đội nữ nhạc của nước Tề, ba ngày không nghe chính sự; tế giao xong, lại không ban thịt tế cho các đại phu. Khổng tử bèn lên đường, nghỉ đêm tại ấp Đồn. Sư Dĩ đưa tiễn, nói: “Phu tử không có tội.” Khổng tử nói: “Ta hát được không?” Hát rằng: “Miệng người đàn bà kia, có thể làm ta bỏ chạy khỏi nước; việc bái yết của người đàn bà kia, có thể khiến ta phải chết, phải thua. Ngao du, ngao du, cho trọn cuộc đời!” Sư Dĩ trở về, Hoàn tử hỏi: “Khổng tử có nói gì không?” Sư Dĩ trả lời theo sự thực. Hoàn tử ngùi ngùi than rằng: “Phu tử vì việc của bọn đàn bà ti tiện kia nên trách tội ta!”

Khổng tử bèn đến nước Vệ, trú ở nhà Nhan Trạc Trâu, anh vợ của Tử Lộ. Vệ Linh công hỏi Khổng tử: “Ở nước Lỗ được lộc bao nhiêu?” Đáp rằng: “Được sáu vạn đấu thóc.” Người Vệ cũng cho sáu vạn đấu thóc. Được một thời gian, có người gièm pha Khổng tử với Vệ Linh công. Vệ Linh công sai Công Tôn Dư Giả theo sát Khổng tử từng bước. Khổng tử sợ mắc tội, ở được mười tháng, rời khỏi nước Vệ.

Định đến nước Trần, qua đất Khuông, Nhan Khắc làm người hầu, giơ roi ngựa trỏ nói: “Hồi trước con từng vào đấy, vào từ chỗ vỡ đó.” Người Khuông nghe nói vậy, cho người nước Lỗ kia chính là Dương Hổ. Dương Hổ từng tàn bạo với người Khuông, vì thế người đất Khuông bèn ngăn Khổng tử lại. Khổng tử hình dạng giống Dương Hổ, bị giữ lại năm hôm. Nhan Uyên đến sau, Khổng tử nói: “Ta tưởng con chết rồi.” Nhan Uyên nói: “Thầy còn, Hồi này sao dám chết!” Người đất Khuông bao vây Khổng tử càng ngặt, các học trò sợ. Khổng tử nói: “Văn vương mất đi, cái Văn không ở đây ư? Trời muốn làm mất cái Văn này, người sau không còn được thấy cái Văn này nữa. Trời chưa muốn làm mất cái Văn này, người Khuông làm gì được ta?” Khổng tử sai tùy tòng đến làm gia thần cho Ninh Vũ tử nước Vệ, sau đó mới đi thoát.

[Khổng tử] rời đất Khuông đến đất Bồ. Được hơn tháng, lại trở về nước Vệ, ở tại nhà Cừ Bá Ngọc, Linh công có vị phu nhân là nàng Nam Tử, sai người nói với Khổng tử rằng: “Các bậc quân tử bốn phương nếu không cảm thấy nhục khi muốn làm anh em với vua nước tôi, ắt sẽ yết kiến phu nhân của vua tôi. Phu nhân của vua nước tôi muốn gặp ngài.” Khổng tử từ tạ, sau bất đắc dĩ phải bái kiến Nam Tử. Phu nhân ở trong bức màn mỏng. Khổng tử vào cửa, quay mặt về phía bắc dập đầu. Phu nhân trong màn vái hai vái, tiếng ngọc, vòng trang sức kêu leng keng. [Ra về] Khổng tử nói: “Ta vốn không muốn đi gặp, khi gặp phu nhân dùng lễ ứng đáp.” Tử Lộ không vui. Khổng tử thề rằng: “Ta có điều gì không phải thì trời bỏ ta, trời bỏ ta!” Ở nước Vệ hơn một tháng, Linh công và phu nhân ngồi chung xe, hoạn quan là Ung Cừ làm Tham thừa hầu bên phải xe, ra ngoài cung, sai Khổng tử ngồi xe thứ hai, lượn lờ qua chợ. Khổng tử nói: “Ta chưa thấy ai ham đức bằng ham sắc vậy.” Thế rồi xấu hổ về việc đó, bèn rời nước Vệ, qua nước Tào. Vào năm này, Lỗ Định công chết.

Khổng tử rời nước Tào sang nước Tống, cùng học trò tập lễ nghi dưới gốc cây lớn. Tư mã nước Tống là Hoàn Đồi định giết Khổng tử, chặt cây đó. Khổng tử bỏ đi. Học trò nói: “Phải đi cho mau.” Khổng tử nói: “Trời sinh đức ở nơi ta, Hoàn Đồi làm gì được ta!”

Khổng tử sang nước Trịnh, thầy trò lạc nhau, Khổng tử đứng một mình ở cổng thành phía đông. Có người nước Trịnh nói với Tử Cống rằng: “Ở của đông có một người, trán tựa Đế Nghiêu, cổ giống Cao Dao, vai tựa Tử Sản, nhưng từ thắt lưng trở xuống thì kém Hạ Vũ ba tấc, ngơ ngơ như chó nhà tang[13].” Tử Cống đem sự thực nói lại với Khổng tử. Khổng tử vui vẻ cười nói: “Hình dạng chỉ là phần ngọn, nhưng nói tựa chó nhà tang thì đúng lắm, đúng lắm!”

Khổng tử bèn đến nước Trần, trú ở nhà Ty Thành Trinh tử. Được hơn một năm, Ngô vương Phù Sai đánh nước Trần, chiếm được ba ấp rồi rút về. Triệu Ưởng đánh Triều Ca. Sở bao vây nước Sái, Sái dời sang đất Ngô, Nước Ngô đánh bại Việt vương Câu Tiễn Cối Kê.

Có con chim cắt chết ở sân triều đình nước Trần, bị mũi tên bằng gỗ cây hộ đâm xuyên qua, đầu mũi tên bằng đá, mũi tên dài một thước tám tấc. Trần Mẫn công sai sứ giả đến hỏi Trọng Ni. Trọng Ni đáp: “Con chim cắt này đến từ phương xa, đây là mũi tên của người Túc Thận. Xưa kia, Vũ Vương diệt nhà Thương, mở thông đường đến Cửu di, Bách man[14], khiến các nơi mang sản vật địa phương đến cống, đặng không quên chức phận của mình. Thế là người Túc Thận cống mũi tên gỗ hộ đầu bằng đá, dài một thước tám tấc. Tiên vương muốn làm rạng tỏ đức tốt của mình, đem mũi tên của người Túc Thận ban cho Đại cơ[15], gả cho Ngu Hồ công rồi phân phong cho nước Trần. Chia đồ ngọc quý cho người cùng họ, để tỏ tình thân; đem đồ cống của phương xa chia cho người khác họ, khiến họ không quên thần phục. Cho nên đem mũi tên của người Túc Thận ban cho nước Trần.” Thử tìm mũi tên đó trong kho cũ, quả nhiên tìm được.

Khổng tử ở nước Trần ba năm, đúng khi Tấn và Sở tranh cường, thay nhau đánh Trần, rồi nước Ngô cũng xâm chiếm nước Trần, nước Trần thường bị đánh cướp. Khổng tử nói: “Về thôi, về thôi! Các học trò quê ta có chí hướng cao xa nhưng hay khinh suất, có chí tiến thủ mà không quên ý hướng ban đầu.” Thế là Khổng tử rời nước Trần.

Qua đất Bồ, đúng lúc Công Thúc thị dựa vào đất Bồ để làm phản, người đất Bồ ngăn Khổng tử. Học trò là Công Lương Nhụ đem năm cỗ xe riêng đi theo Khổng tử. Công Lương Nhụ là người cao lớn, hiền năng, có khí lực, nói với Khổng tử rằng: “Trước kia con đi theo thầy, gặp nạn ở đất Khuông, nay lại gặp nạn ở đây, đó là mệnh vậy. Con cùng thầy lại mắc vào nạn này, thà chiến đấu rồi chết.” Chiến đấu rất quyết liệt. Người đất Bồ sợ, bảo Khổng tử rằng: “Nếu không sang Vệ thì chúng tôi để ông đi.” Cùng ăn thề với họ, họ cho Khổng tử ra cửa phía đông. Khổng tử bèn sang nước Vệ. Tử Cống hỏi: “Có thể làm trái lời thề sao?” Khổng tử đáp: “Bị ép phải thề, thần linh không nghe.”

Vệ Linh công nghe tin Khổng tử đến, mừng lắm, ra ngoài thành đón. Hỏi rằng: “Có thể đánh đất Bồ chăng?” Đáp rằng: “Có thể.” Linh công nói: “Các quan đại phu của ta cho là không thể. Nay đất Bồ là nơi nước Vệ ta dùng để chống lại Tấn và Sở, đem quân nước Vệ đi đánh đất Bồ, có lẽ là không nên chăng?” Khổng tử đáp: “Đàn ông ở đó có chí chết vì Vệ, đàn bà có người có chí giữ Tây Hà. Người mà ta phải đánh bất quá chỉ bốn năm người thôi.” Linh công nói: “Phải.” Nhưng lại không đánh đất Bồ.

Linh công già, trễ nải chính sự, không dùng Khổng tử. Khổng tử ngùi ngùi than rằng: “Nếu có người dùng ta, đầy tháng thì tàm tạm, ba năm có thành tựu.” Khổng tử lên đường [rời nước Vệ].

Bật Hật là quan tể ở Trung Mâu. Triệu Giản tử tấn công họ Phạm và họ Trung Hàng, đánh Trung Mâu. Bật Hật làm phản, sai người triệu Khổng tử. Khổng tử muốn đến. Tử Lộ nói: “Do từng nghe phu tử nói 'người làm việc bất thiện thì bậc quân tử không vào đó'. Nay Bật Hật đích thân đem Trung Mâu để làm phản, thầy muốn qua đó, tại sao vậy?” Khổng tử nói: “Ta có nói lời ấy. Chẳng cũng nói rằng: Cái gì bền chắc, mài cũng không mòn; cái gì vốn trắng, nhuộm cũng chẳng đen. Ta há như quả bầu, chỉ buộc treo lên mà không ăn được ư?”

Khổng tử gõ khánh. Có người mang sọt đi qua trước cổng, nói: “Người gõ khánh có tâm thay! Cố chấp thay, người ta không biết đến mình thì thôi đi!”

Khổng tử học đàn cầm từ thầy Tương tử, mười ngày không học thêm gì mới. Tương tử nói: “Có thể học thêm rồi.” Khổng tử nói: “Khâu đã thành thục khúc điệu rồi, nhưng chưa hiểu được số trong đó.” Một thời gian sau, thầy dạy nhạc nói: “Đã thành thục về số trong đó rồi, có thể học thêm.” Khổng tử nói: “Khâu chưa hiểu được cái chí trong đó.” Một thời gian, thầy dạy nhạc nói: “Đã thành thục cái chí trong đó rồi, có thể học thêm.” Khổng tử nói: “Khâu chưa hiểu được người làm ra khúc nhạc.” Một thời gian sau, có lúc Khổng tử thâm trầm ra chiều suy nghĩ sâu xa, có lúc vui vẻ như đang có hoài vọng cao vời, chí hướng xa xôi. Nói: “Khâu biết người làm ra khúc nhạc rồi, người đó đen đen, cao cao, mắt nhìn xa xăm, như làm vua của các nước bốn phương, không phải Văn vương thì ai có thể làm được như thế?” Tương tử rời chiếu với hai vái, rồi nói: “Thầy tôi từng nói, đây là khúc đàn của Văn vương [Văn vương tháo] vậy.”

Khổng tử không được dùng ở nước Vệ, định sang phía tây yết kiến Triệu Giản tử. Đến sông Hoàng Hà thì nghe tin về cái chết của Đậu Minh Độc và Thuấn Hoa, xuống sông Hoàng Hà rồi than rằng: “Nước sông đẹp thay, mênh mông thay! Khâu không qua sông này, đó là mệnh số chăng?” Tử Cống rảo bước tiến lên hỏi: “Dám hỏi sao thầy lại nói vậy?” Khổng tử đáp: “Đậu Minh Độc và Thuấn Hoa là các đại phu hiền năng của nước Tấn. Lúc Triệu Giản tử chưa được đắc chí, cần hai người họ để sau này nắm chính quyền; đến khi đã được đắc chí, lại giết họ rồi nắm chính sự. Khâu nghe nói, mổ bụng lấy thai nhi, giết con non thì kỳ lân không đến ngoài thành, tát cạn đầm để bắt cá thì giao long không điều hòa âm dương, lật tổ hủy trứng thì phượng hoàng không bay liệng. Tại sao vậy? Người quân tử tránh chỗ làm thương hại kẻ giống mình. Xét lẽ, chim thú thấy kẻ bất nghĩa còn biết tránh đi, huống nữa là Khâu này!” Bèn về nghỉ ở hương Trâu, làm bản nhạc Trâu tháo để tỏ nỗi đau buồn. Rồi trở về Vệ, vào trú ở nhà Cừ Bá Ngọc.

Ngày nọ, Linh công hỏi việc bày binh bố trận, Khổng tử nói: “Việc dâng đồ cúng tế thì thường nghe, việc quân lữ thì chưa từng học vậy.” Hôm sau, Linh công nói chuyện với Khổng tử, thấy có con nhạn bay qua, ngẩng lên nhìn, không để ý đến Khổng tử. Khổng tử liền lên đường, trở lại nước Trần.

Mùa hạ, Vệ Linh công chết, lập cháu nội là Triếp lên thay, đó là Vệ Xuất công. Tháng Sáu, Triệu Ưởng đưa Thái tử Khoái Hội về ấp Thích. Dương Hổ cho Thái tử mặc đồ tang, sai tám người mặc đồ tang khác, và từ nước Vệ đi nghinh đón, khóc mà vào ấp Thích, rồi ở lại đó. Mùa đông, nước Sái dời đô đến Châu Lai. Năm này là năm Lỗ Ai công thứ ba, còn Khổng tử đã sáu mươi tuổi. Tề giúp Vệ bao vây ấp Thích, là vì Thái tử Khoái Hội đang ở đó vậy.

Mùa hạ, miếu thờ Hoàn công và Hy công nước Lỗ bị cháy, Nam Cung Kính Thúc đi cứu hỏa. Khổng tử ở nước Trần, nghe tin đó, nói: “Hỏa tai nhất định là ở miếu thờ Hoàn công, Hy công chăng?” Sau quả nhiên là thế.

Mùa thu, Quý Hoàn tử ốm, ngồi xe đi thăm thành trì nước Lỗ, ngùi ngùi than rằng: “Xưa kia, đất nước này cơ hồ hưng thịnh rồi, vì ta đắc tội với Khổng tử, cho nên không hưng thịnh được.” Quay lại nói với người kế tục mình là Khang tử rằng: “Ta chết đi, người nhất định làm Tướng quốc nước Lỗ; làm Tướng quốc nước Lỗ rồi, nhất định phải triệu Trọng Ni.” Mấy hôm sau, Hoàn tử chết, Khang tử lên thay. Sau khi an táng Hoàn tử xong, [Khang tử] định triệu Trọng Ni. Công Chi Ngư nói: “Trước đây, tiên quân ta dùng Khổng tử không trọn, rốt cuộc bị chư hầu chê cười. Nay lại dùng ông ta, dùng không trọn, thế thì lại bị chư hầu cười.” Khang tử nói: “Vậy thì nên triệu người nào?” Đáp: “Nhất định phải triệu Nhiễm Cầu.” Thế là sai sứ triệu Nhiễm Cầu. Nhiễm Cầu sắp lên đường, Khổng tử nói: “Người Lỗ triệu Cầu, không phải dùng vào việc nhỏ, sẽ dùng vào việc lớn đấy.” Hôm đó, Khổng tử nói: “Về thôi, về thôi! Các học trò quê ta chí hướng cao xa nhưng hay khinh suất, tuy giỏi văn chương nhưng không biết dùng cách gì để tự chế ước.” Tử Cống biết ý Khổng tử muốn về, khi tiễn Nhiễm Cầu lên đường, nhân đó dặn rằng: “Nếu được trọng dụng, hãy khiến phu tử được mời.”

Sau khi Nhiễm Cầu đi, năm sau, Khổng tử từ nước Trần chuyển qua nước Sái. Sái Chiêu công sắp sang Ngô, vì nước Ngô triệu mời Sái Chiêu công. Trước đây, Chiêu công lừa các bề tôi dời đô đến Châu Lai, lần này định đi, các đại phu sợ lại dời đô, Công Tôn Phiên bắn chết Chiêu công. Nước Sở xâm chiếm nước Sái. Mùa thu, Tề Cảnh công chết.

Năm sau, Khổng tử từ nước Sái sang đất Diệp. Diệp công hỏi về chính sự, Khổng tử đáp: “Chính sự cốt ở việc người xa tìm đến, người gần theo về.” Hôm khác, Diệp công hỏi Tử Lộ về Khổng tử, Tử Lộ không đáp. Khổng tử nghe nói việc ấy, nói: “Trò Do, sao con không đáp rằng 'Người ấy học đạo không biết mệt, dạy người không biết chán, khi chưa hiểu về đạo thì phát phẫn đến mức quên ăn, [khi đã hiểu về đạo thì] vui sướng đến quên lo buồn, không biết tuổi già đến nơi'...”

[Khổng tử] rời đất Diệp, quay lại nước Sái. Trường Thư, Kiệt Nịch cùng cày ruộng, Khổng tử cho họ là người ở ẩn, sai Tử Lộ đến hỏi bến đò. Trường Thư hỏi: “Người cầm cương ngựa kia là ai thế?” Tử Lộ đáp: “Là Khổng Khâu.” Hỏi: “Là Khổng Khâu nước Lỗ à?” Đáp: “Phải.” Nói: “Vậy thì biết bến đò ở đâu rồi.” Kiệt Nịch hỏi Tử Lộ: “Anh là ai?" Đáp: “Là Trọng Do.” Hỏi: “Anh là học trò của Khổng Khâu phải không?” Đáp: “Phải.” Kiệt Nịch nói: “Mênh mang bất định, thiên hạ đều thế cả, ai mà thay đổi được? Còn như theo kẻ sĩ lánh người, há bằng theo kẻ sĩ lánh đời!” [Nói xong] lại mải miết cày ruộng. Tử Lộ nói lại chuyện ấy với Khổng tử, Khổng tử bùi ngùi nói: “Không thể sống chung với chim thú được. Thiên hạ có đạo thì Khâu này đâu phải thay đổi nữa.”

Hôm khác, Tử Lộ đi đường, gặp một ông lão mang trên lưng chiếc sọt đựng cỏ, Tử Lộ hỏi: “Cụ có thấy thầy tôi không?” Ông lão đáp: “Chân tay không làm lụng, ngũ cốc không phân biệt được, ai là thầy của cậu!” Nói xong cắm gậy xuống đất rồi cắt cỏ. Tử Lộ đem chuyện ấy nói lại, Khổng tử nói: “Đó là ẩn sĩ vậy.” Lại qua đó, thì ông lão đã đi mất.

Khổng tử rời đến nước Sái được ba năm, nước Ngô đánh nước Trần. Sở cứu nước Trần, đóng quân ở Thành Phủ. Nghe nói Khổng tử đang ở vùng nước Trần nước Sái, nước Sở sai người đem lễ vật đến mời Khổng tử. Khổng tử định qua đáp lễ, các đại phu nước Trần và nước Sái bàn mưu rằng: “Khổng tử là người hiền, điều ông ta phê phán đều đúng thói tệ của chư hầu. Nay lưu lại lâu ở vùng nước Trần nước Sái, những việc các đại phu thi hành đều không phải chú ý của Trọng Ni. Nay Sở là nước lớn, đem lễ đến mời Khổng tử. [Nếu] Khổng tử được trọng dụng ở Sở thì các đại phu chấp chính Trần và Sái nguy mất.” Thế là bèn cùng cho đồ đảng, đầy tớ bao vây Khổng tử ngoài đồng. Khổng tử không đi được, lương lại hết. Người đi theo bị ốm, không ai dậy nổi. Khổng tử vẫn giảng đọc, đàn ca không ngừng. Tử Lộ bức xúc đến hỏi: “Người quân tử cũng có lúc khốn cùng ư?” Khổng tử đáp: “Quân tử khốn cùng thì càng giữ bền chắc, tiểu nhân gặp khốn cùng thì sẽ làm bừa.”

Tử Cống mặt biến sắc. Khổng tử nói: “Này Tứ, con cho là ta học nhiều mà biết phải không?” Tử Cống đáp: “Vâng. Chẳng phải thế ư?” Khổng tử nói: “Không phải đâu. Ta lấy một mà quán thông hết thảy.”

Khổng tử biết học trò mình trong lòng ấm ức, bèn triệu Tử Lộ đến hỏi: Kinh Thi viết: 'Chẳng phải tê giác, chẳng phải hổ, thảy đồng rộng.' Đạo ta sai ư? Sao ta phải rơi vào cảnh này?” Tử Lộ thưa: “Ý chừng vì ta chưa Nhân chăng? Cho nên người ta chưa tin ta. Ý chừng vì ta chưa Trí chăng? Cho nên người ta chưa cho ta đi.” Khổng tử nói: “Có chuyện ấy ư! Này trò Do, ví phỏng người Nhân ắt được tin tưởng, sao lại có chuyện của Bá Di, Thúc Tề[16]? Ví phỏng người Trí ắt được cho đi, sao còn có chuyện của Vương tử Tỷ Can?”[17].

Tử Lộ đi ra, Tử Cống vào gặp. Khổng tử nói: “Này trò Tú, Kinh Thi viết 'Chẳng phải tê giác, chẳng phải hổ, thảy ở đồng rộng.' Đạo ta sai ư? Sao ta phải rơi vào cảnh này?” Tử Cống đáp: “Đạo của phu tử quá lớn, cho nên thiên hạ không ai có thể dung được phu tử. Phu tử nên chăng hạ bớt xuống một chút?” Khổng tử nói: “Tứ này, người giỏi nghề nông có khi gieo hạt mà không chắc được gặt, người thợ giỏi có khi khéo léo mà không khiến người ta vừa ý. Người quân tử có khi giỏi trau dồi đạo học, đưa mọi việc vào khuôn phép, thống suất mọi việc để trị lý, thế mà không được dung nạp. Nay con không trau dồi đạo của mình mà mong người ta dung nạp. Tứ này, chí của con không phải cao xa đâu!”

Tử Cống đi ra, Nhan Hồi vào gặp, Khổng tử nói: “Này trò Hồi, Kinh Thi viết 'Chẳng phải tê giác, chẳng phải hổ, thảy ở đồng rộng'. Đạo ta sai ư? Sao ta phải rơi vào cảnh này?” Nhan Hồi nói: “Đạo của phu tử rất rộng, cho nên thiên hạ không thể dung nạp. Thế nhưng, phu tử cứ thúc đẩy rồi thi hành theo đó, không dung nạp thì có sao đâu, không dung nạp thì về sau càng tỏ rõ tài năng của quân tử! Xét lẽ, đạo không trau dồi, là nỗi hổ thẹn của ta. Đạo được trau dồi hoàn bị mà không được dùng, là nỗi hổ thẹn của người có đất nước[18]. Không dung nạp thì có hại gì, không dung nạp thì sau càng thấy rõ phẩm hạnh của người quân tử!” Khổng tử vui vẻ cười nói: “Đúng đấy hỡi người con họ Nhan! Giả sử ngươi có nhiều của cải, ta sẽ làm người cai quản cho ngươi.”

Thế rồi [Khổng tử] sai Tử Cống sang nước Sở. Sở Chiêu vương đem quân đón Khổng tử, nhờ đó mới thoát được.

Chiêu vương định đem bảy trăm lý[19] trên sổ sách phân phong cho Khổng tử. Lệnh doãn nước Sở là Tử Tây nói: “Sứ giả của nhà vua đi sứ chư hầu có ai như Tử Cống không?” Chiêu vương đáp: “Không có.” “Bề tội phụ tá nhà vua có ai được như Nhan Hồi không?” Chiêu vương đáp: “Không có.” “Tướng soái của nhà vua có ai như Tử Lộ không?” Đáp rằng: “Không có.” “Các quan của nhà vua có ai như Tể Dư không?” Đáp rằng: “Không có.” “Ngay như tổ tiên nước Sở được phong ở đất Chu, tước phong là Tử, là Nam[20], với năm mươi dặm đất. Nay Khổng Khâu thuật lại khuôn phép của Tam vương Ngũ đế, làm sáng sự nghiệp của Chu Công, Thiệu công, nếu nhà vua trọng dụng ông ta, nước Sở sao có thể đời đời đường hoàng có mấy nghìn dặm đất nữa? Xét lẽ, Văn vương ở ấp Phong, Vũ vương ở ấp Cảo, làm vua trăm dặm đất rốt cuộc xưng vương thiên hạ. Nay Khổng Khâu được phong đất, có học trò hiền năng phò tá, đó không phải phúc của Sở vậy.” Chiêu vương bèn thôi. Mùa thu năm ấy, Sở Chiêu vương chết ở Thành Phủ.

Người cuồng ở nước Sở là Tiếp Dư đi qua trước xe Khổng tử, hát rằng:

“Phượng chừ, phượng chừ,

Sao đức mày suy!

Việc qua ngăn không được chừ,

Việc tới có thể truy cầu.

Thôi đi, thôi đi,

Người làm chính sự ngày nay thật là nguy!”

Khổng tử xuống xe, muốn cùng nói chuyện. Tiếp Dư rảo bước rồi đi mất, Khổng tử không thể nói chuyện cùng.

Thế rồi Khổng tử từ nước Sở trở lại nước Vệ. Vào năm này, Khổng tử sáu mươi ba tuổi, là năm Lỗ Ai công thứ sáu.

Năm sau đó, nước Ngô và nước Lễ hội kiến ở đất Tăng, [đòi nước Lỗ] cung ứng cỗ Bách lao. Thái tể [nước Ngô] là Phỉ triệu vời Quý Khang tử. Quý Khang tử sai Tử Cống đến [thuyết phục], sau đó mọi việc mới xử lý xong[21].

Khổng tử nói: “Chính sự nước Lỗ và nước Vệ, như anh với em vậy.” Bấy giờ, cha của Vệ quân Triếp không được kế vị, đang ở nước ngoài, chư hầu nhiều lần chỉ trích việc đó. Còn học trò Khổng tử nhiều người làm quan ở Vệ, vua Vệ muốn Khổng tử tham chính ở Vệ. Tử Lộ hỏi: “Vua Vệ giao chính sự cho thầy, thầy sẽ làm gì trước?” Khổng tử nói: “Nhất định là chính danh rồi!” Tử Lộ nói: “Nếu làm thế, thầy thực viển vông quá! Sao lại phải chính danh?” Khổng tử đáp: “Trò Do quê mùa quá! Xét lẽ, danh không chính thì lời nói không thuận, lời nói không thuận thì việc không thành, việc không thành thì lễ nhạc không hưng khởi, lễ nhạc không hưng khởi thì hình phạt không đúng, hình phạt không đúng thì dân không biết đặt tay đặt chân vào đâu. Phàm quân tử làm việc gì nhất định phải gọi tên ra được, lời nói nhất định phải được thi hành. Quân tử đối với lời nói của mình không thể nào cẩu thả được.”

Năm sau, Nhiễm Hữu làm tướng cầm quân cho họ Quý, giao chiến với Tề ở ấp Lang, đánh thắng quân Tề. Quý Khang tử hỏi: “Ông học cầm quân từ ai vậy? Hay là bản tính vốn thế?” Nhiễm Hữu đáp: “Tôi học ở thầy Khổng tử.” Quý Khang tử hỏi: “Khổng tử là người thế nào?” Đáp rằng: “Dùng ông thì có danh; thực hiện chủ trương của ông với trăm họ, hỏi xét ở quỷ thần thì không có gì phải băn khoăn, những mong đạt đến đạo, bằng không, dẫu có được thưởng nghìn xã[22], phu tử tôi cũng không cho là có lợi.” Khang tử hỏi: “Ta muốn triệu ông ấy, có được không?” Đáp rằng: “Muốn triệu phu tử tôi thì không được để bị ngăn trở bởi cách nghĩ của tiểu nhân, như thế mới được.” Khổng Văn tử ở Vệ định đánh Thái Thúc, hỏi Trọng Ni về kế sách. Trọng Ni chối rằng mình không biết, lui về rồi sai chở xe ra đi, nói: “Chim có thể chọn cây, cây há có thể chọn được chim ư?” Văn tử cố giữ Khổng tử. Đúng lúc Quý Khang tử sai Công Hoa, Công Tân, Công Lâm mang lễ vật đến nghinh đón Khổng tử, Khổng tử trở về Lỗ.

Khổng tử rời nước Lỗ cả thảy mười bốn năm mới trở về.

Lỗ Ai công hỏi về chính trị, Khổng tử nói: “Chính trị cốt ở chỗ chọn lựa bề tôi.” Quý Khang tử hỏi về chính trị, [Khổng tử] đáp rằng: “Cất nhắc người ngay thẳng, bãi truất kẻ cong vạy thì kẻ cong vạy cũng sẽ thành ngay thẳng.” Khang tử lo lắng về trộm cướp, Khổng tử nói: “Nếu ngài không ham muốn, dẫu thưởng họ cũng không dám trộm.” Nhưng rốt cuộc nước Lỗ không thể trọng dụng Khổng tử, Khổng tử cũng không cầu làm quan.

Thời Khổng tử, nhà Chu suy vi còn lễ nhạc bị phế bỏ, Thi Thư tàn khuyết. [Khổng tử] truy về lễ thời Tam đại, sắp xếp thứ tự Thư truyện[23], trên chép từ thời Đường Ngu, dưới xuống đến Tần Mục công, biên chép thứ tự các việc. [Khổng tử] nói: “Ta có thể nói về lễ nhà Hạ, nhưng nước Kỷ[24] không đủ để minh chứng vậy. Ta có thể nói về lễ nhà Ân, nhưng nước Tống[25] không đủ để minh chứng vậy. Nếu đủ, thì ta có thể minh chứng về lễ của các nước đó.” Xem chỗ thêm bớt của nhà Ân nhà Hạ, nói: “Về sau, dẫu trăm đời cũng có thể biết, một đời chuộng văn hoa, một đời chuộng thực chất. Nhà Chu châm chước lễ của hai triều Ân và Hạ, văn vẻ rạng rỡ thay. Ta theo nhà Chu.” Cho nên các sách Thư truyện, Lễ ký là từ họ Khổng.

Khổng tử nói với quan Thái sư nước Lỗ: “[Nói về] nhạc, tôi có thể biết vậy. Đầu tiên phải phối hợp với nhau, kế đó cao thấp hài hòa, tiết tấu sáng rõ, liên tục không dứt, như thế mới thành khúc nhạc.” “Tôi từ Vệ trở về Lỗ, sau đó nhạc được chính đáng trở lại, Nhã Tụng thảy đều được thỏa đáng.”

Thi[26] thời cổ gồm hơn ba nghìn thiên, đến Khổng tử, bỏ các thiên trùng lặp, chọn những thiên có thể dùng để thi hành lễ nghĩa, trên chọn các thiên nói về ông Tiết và Hậu Tắc[27], giữa lựa các thiên thuật lại sự hưng thịnh của triều Ân triều Chu, đến các bài nói về sự suy tàn của Chu U vương, Chu Lệ vương, khởi đầu từ chỗ giường chiếu[28], cho nên nói: “Thiên Quan thư mở đầu phần Phong, thiên Lộc minh mở đầu phần Tiểu nhã, thiên 'Văn vương' mở đầu phần Đại nhã, thiên Thanh miếu mở đầu phần Tụng.” Ba trăm lẻ năm thiên đều được Khổng tử đánh đàn và hát, để mong phối hợp được với thanh âm của nhạc Thiều, Vũ, Nhã, Tụng. Lễ nhạc từ đó được xưng thuật, khiến đạo của tiên vương được đầy đủ, trọn vẹn được Lục nghệ[29].

Đến khi tuổi đã cao, Khổng tử thích Kinh Dịch, viết tựa cho các phần Thoán, Hệ, Tượng, Thuyết quái, Văn ngôn. [Khổng tử] đọc Kinh Dịch khiến dây da buộc các thẻ sách bị đứt ba lần, nói: “Ví phỏng ta có thêm mấy năm, cứ như thế này, ta có thể nắm được trọn vẹn về Dịch.”

Khổng tử đem Thi, Thư, Lễ, Nhạc để dạy học, đại để học trò có ba nghìn người, [trong đó có] bảy mươi hai người tinh thông Lục nghệ. Còn những học trò như Nhan Trạc Trâu, thì rất nhiều[30].

Khổng tử dạy bốn phương diện: văn (học vấn), hạnh (đức hạnh), trung (trung thành), tín (tín nghĩa). Bỏ bốn điều: không định kiến, không võ đoán, không cố chấp, không tự thị. [Khổng tử] thận trọng các việc: trai giới, chiến tranh, bệnh tật. Khổng tử ít nói về lợi, mệnh số và đức nhân. [Học trò] không bức bối [vì muốn được hiểu biết thì Khổng tử] không gợi mở, [như vật có bốn góc], nêu một góc mà không tự suy được ra ba góc còn lại thì không giảng lại nữa.

[Khổng tử] ở làng xóm thì khiêm cung thành thực, tựa như người không thể nói năng gì được. Lúc ở tông miếu triều đình thì biện bác rõ ràng, nhưng rất cẩn trọng. Ở trong triều, khi nói với các quan thượng đại phu thì ôn tồn trung chính, nói với các quan đại phu cấp dưới thì vui vẻ hòa nhã.

Khi vào trong cung thì khom mình, rảo bước mà vào, tay dang như cánh chim. Nhà vua triệu đến để tiếp đón tân khách thì sắc mặt chợt thay đổi sang trang trọng. Nhà vua hạ lệnh triệu kiến thì không đợi đóng xe, vội vã đi ngay.

Cá ươn, thịt ôi, hay cắt không ngay ngắn thì không ăn. Chiếu trải không ngay ngắn thì không ngồi. Ăn ở bên nhà người có tang thì chưa từng ăn no.

Ngày nào khóc thì không ca hát. Thấy người để tang hay người mù thì dù là trẻ con cũng nhất định thay đổi sắc mặt [tỏ vẻ đồng cảm].

[Khổng tử nói]: “Ba người cùng đi, nhất định có thầy ta [trong đó].” “Không tu dưỡng đạo đức, không giảng học, nghe điều nghĩa không thể làm theo, có điều bất thiện không thể sửa đổi, đó là những điều ta lấy làm lo vậy.” Sai người khác hát, [người đó hát] hay thì sai hát lại, sau đó họa theo.

Khổng tử không nói về các việc: quái dị, bạo lực, làm loạn, quỷ thần.

Tử Cống nói: “Văn chương của phu tử thì đã được nghe. Nhưng chưa được nghe phu tử nói về đạo trời và tính mệnh.” Nhan Uyên ngùi ngùi tán thán: “Ngẩng trông lên càng thấy cao, dùi vào lại càng bền chắc. Nhìn thấy ở trước, thoắt lại ở sau. Phu tử theo từng bước tuần tự, khéo dẫn dụ người, dùng văn mở rộng cho ta, dùng lễ để ước thúc ta, muốn bỏ cũng không thể được. Đã dốc kiệt tài năng của mình [để học], như đã có thu hoạch, nhưng vẫn thấy sừng sững, dẫu có muốn noi theo phu tử cũng không sao đạt đến được.” Có người [đứa trẻ] trong làng Đạt Hạng nói: “Lớn thay Khổng tử, học rộng mà không có chỗ nào thành danh.” Khổng tử nghe vậy nói: “Ta chuyên chú vào việc gì? Chuyên chú việc đánh xe chăng, việc bắn cung chăng? Ta chuyên chú vào việc đánh xe thôi.” [Học trò là] Lao nói: “Thầy có nói 'không được trọng dụng, cho nên chú tâm vào Lục nghệ'. "

Mùa xuân năm Lỗ Ai công thứ mười bốn, đi săn ở Đại Dã. Người đánh xe của họ Thúc Tôn là Sự Thương bắt được con thú, cho là điềm chẳng lành. Trọng Ni xem con thú đó, nói: “Đây là con lân.” [Sừ Thương] mang lân đi. [Khổng tử] nói: “Sông Hoàng Hà không xuất hiện Hà đồ, sông Lạc không xuất hiện Lạc thư[31], ta thế là thôi rồi!” Nhan Uyên chết, Khổng tử nói: “Trời giết ta rồi!” Đến khi đi săn ở phía tây trông thấy con lân, [Khổng tử] nói: “Đạo ta cùng rồi!” Rồi bùi ngùi than rằng: “Chẳng ai biết đến ta!” Tử Cống hỏi: “Vì sao không ai biết đến thầy?” Khổng tử nói: “Không oán trời, không trách người, học cái thấp mà biết cái cao xa, biết ta có lẽ chỉ có trời thôi!”

[Khổng tử nói]: “Không hạ thấp chí mình, không làm nhục thân mình, là Bá Di và Thúc Tề chăng?” Lại bảo: “Liễu Hạ Huệ và Thiếu Liên hạ thấp chí, làm nhục thân vậy.” Lại bảo: “Ngu Trọng, Di Dật ẩn cư, không bàn chuyện đời, lúc làm quan giữ đúng sự thuần khiết, khi bị phế thì hợp với sự quyền biến.” “Ta khác với các trường hợp đó, không thể mà không gì không thể.”

Khổng tử nói: “Không thể, không thể, người quân tử hận vì chết đi mà tên tuổi không được xưng tụng. Đạo của ta không thể thi hành, ta biết lấy gì để lại cho đời sau đây?” Bèn nhân đó ghi chép sử làm ra sách Xuân thu[32], trên chép từ đời Lỗ Ẩn công, dưới chép đến năm Lỗ Ai công thứ mười bốn, gồm mười hai đời vua[33]. Dựa vào sử liệu nước Lỗ, coi nhà Chu là tông chủ, theo khuôn mẫu cũ nhà Ân, vận dụng theo khuôn phép thời Tam đại. Văn từ ngắn gọn mà ý chỉ rộng lớn. Cho nên vua các nước Ngô, Sở tự xưng là “Vương”, nhưng sách Xuân thu chê trách họ, ghi là “Tử”; cuộc hội minh ở Tiễn Thổ thực ra là triệu thiên tử nhà Chu đến, nhưng sách Xuân thu tránh việc đó nên viết là “Thiên tử đi tuần thú ở Hà Dương”. Suy từ các việc tương tự làm khuôn phép cho đương thời. Ý nghĩa những lời chê trách, nhằm khiến các bậc vương giả đời sau nêu tỏ và mở rộng thêm ra. Nghĩa lý sách Xuân thu được thi hành, thì bọn loạn thần tặc tử trong thiên hạ phải kinh sợ.

Khi Khổng tử đương chức xử lý việc ngục tụng, các văn từ xử án đều châm chước theo ý chung của mọi người, không phải phán quyết theo ý riêng. Đến khi làm sách Xuân thu, chỗ đáng viết thì viết, chỗ đáng bỏ thì bỏ, học trò như bọn Tử Hạ[34] cũng không thể thêm bớt dù chỉ một lời. Học trò học sách Xuân thu, Khổng tử nói: “Đời sau biết đến Khâu này là nhờ Xuân thu, mà bắt tội Khâu cũng vì Xuân thu.”

Năm sau, Tử Lộ chết ở nước Vệ. Khổng tử ốm, Tử Cống xin gặp. Khổng tử đang chống gậy đi dạo ngoài cổng, nói: “Trò Tứ, sao con đến muộn thế?” Khổng tử nhân đó than thở, hát rằng: “Thái Sơn lở chăng! Cột nhà gãy chăng! Triết nhân héo chăng!”[35] Nhân đó rơi nước mắt. Khổng tử bảo Tử Cống rằng: “Thiên hạ vô đạo lâu rồi, không ai có thể theo ta. Người nhà Hạ quàn quan tài ở bậc thềm phía đông, người nhà Chu đặt ở bậc thềm phía tây, người nhà Ân đặt giữa hai cây cột. Tối qua, ta mơ thấy mình ngồi giữa hai cây cột, ta vốn là người nhà Ân vậy.” Bảy hôm sau thì chết.

Khổng tử thọ bảy mươi ba tuổi, chết vào ngày Kỷ Sửu, tháng Tư năm Lỗ Ai công thứ mười sáu.

Ai công có lời điếu viếng rằng: “Trời cao chẳng thương, không chịu để lại một người già cả, khiến một mình ta trên ngôi, trơ trọi buồn lo, than ôi đau đớn thay! Ông Trọng Ni, [ta] không còn tự noi theo khuôn phép của ông nữa rồi!" Tử Cống nói: “Nhà vua không chết ở nước Lỗ ư? Phu tử từng nói rằng: 'Sai lễ tiết thì tối tăm, sai danh phận thì lỗi lầm. Mất đi chí hướng thì tối tăm, mất điều phù hợp thì lỗi lầm.' Khi sống không thể trọng dụng, chết rồi lại thương xót, đó là phi lễ vậy. Xưng là 'một mình ta', là không hợp với danh phận.”[36]

Khổng tử được an táng ở phía trên sông Tứ, phía bắc kinh thành nước Lỗ, học trò đều để tang ba năm. Để tang ba năm xong, cùng chia tay nhau đi, đều khóc, ai nấy đều vô cùng đau đớn; có người lưu lại. Chỉ có Tử Cống dựng nhà tranh ở bên mộ, cả thảy sáu năm, rồi sau mới đi. Các học trò cho đến người nước Lỗ đến bên mộ rồi làm nhà ở đấy có tới trên trăm nhà, nhân đó gọi là Làng Khổng (Khổng lý). Nước Lỗ đời đời truyền nhau, theo các mùa trong năm phụng thờ tế tự mộ Khổng tử, còn các nhà nho cũng giảng lễ hương ẩm và đại xạ bên cạnh mộ Khổng tử. Mộ Khổng tử to một khoảnh[37]. Nhà cũ và chỗ ở của đệ tử, đời sau nhân đó dựng làm miếu thờ, cất giữ áo mũ, đàn, xe, sách của Khổng tử, đến thời Hán, trải hơn hai trăm năm không dứt. Hoàng đế Cao tổ qua nước Lỗ, dùng cỗ Thái lao để tế[38]. Các chư hầu, khanh, tướng đến đây, thường bái yết trước, sau đó mới xử lý chính sự.

Khổng tử sinh ra Lý, tự là Bá Ngư. Bá Ngư thọ năm mươi tuổi, chết trước Khổng tử.

Bá Ngư sinh ra Cấp, tự là Tử Tư, thọ sáu mươi hai tuổi. [Tử Tư] từng bị nguy khốn ở nước Tống, làm sách Trung dung[39].

Tử Tư sinh ra Bạch, tự là Tử Thượng, thọ bốn mươi bảy tuổi. Tử Thượng sinh ra Cầu, tự là Tử Gia, thọ bốn mươi lăm tuổi. Tử Gia sinh ra Cơ, tự là Tử Kinh, thọ bốn mươi sáu tuổi. Tử Kinh sinh ra Xuyên, tự là Tử Cao, thọ năm mươi mốt tuổi. Tử Cao sinh ra Tử Thận, thọ năm mươi bảy tuổi, từng làm Tướng quốc nước Ngụy.

Tử Thận sinh ra Phụ, thọ năm mươi bảy tuổi, làm quan Bác sĩ cho Trần vương là Thiệp, chết ở đất Trần.

Em trai Phụ là Tử Tương, thọ năm mươi bảy tuổi, từng làm quan Bác sĩ cho Hiếu Huệ Hoàng đế, thăng làm Thái thú Trường Sa, mình cao chín thước sáu tấc.

Tử Tương sinh ra Trung, thọ năm mươi bảy tuổi. Trung sinh ra Vũ, Vũ sinh ra Diên Niên và An Quốc. An Quốc làm quan Bác sĩ cho đương kim Hoàng đế, làm quan đến chức Thái thú Lâm Hoài, mất sớm. An Quốc sinh ra Ngang, Ngang sinh ra Hoan.

Thái sử công bàn rằng: Kinh Thi có câu: “Ngẩng trông núi cao, đi theo đường lớn”[40]. Tuy không thể đến tận nơi nhưng trong lòng hướng theo. Ta đọc sách của họ Khổng, ngỡ như được thấy người. Đến nước Lỗ, xem miếu đường, xe cộ, trang phục, đồ tế lễ của Trọng Ni, học trò theo thời tập luyện lễ nghi tại nhà của ông, ta kính cẩn lưu luyến không sao rời bước. Trong thiên hạ, bậc quân vương đến hiền nhân rất đông, đương thời thì vinh hiển, chết đi là hết. Khổng tử là người áo vải, truyền hơn mười đời, người học tôn thờ như bậc tông sư. Từ thiên tử đến vương hầu, người ở Trung nguyên nói đến Lục nghệ đều lấy Khổng tử làm khuôn thước, có thể gọi là bậc chí thánh vậy!

[1] Có sách phiên là Thúc Lương Ngột.

[2] Nguyên văn viết: “Hột cùng người con gái họ Nhan dã hợp rồi sinh ra Khổng tử.” Dã hợp: chỉ việc trai gái tự do luyến ái, hoặc giả chỉ việc hôn nhân không theo lễ nghi. Theo một số tài liệu, Thúc Lương Hột khi tuổi đã cao mới lấy bà họ Nhan rồi sinh ra Khổng tử.

[3] Khâu: nghĩa là cái gò.

[4] Ý nói do chưa biết mộ cha ở đâu nên Khổng tử tạm quàn mẹ ở đó, chờ khi biết mộ cha ở đâu thì đưa đến đó hợp táng.

[5] Ý nói còn để tang.

[6] Dương Hổ: người trong tông thất nước Lỗ, thuộc nhà Mạnh Tôn thị, một trong ba nhà quyền thần nước Lỗ đương thời.

[7] Ngũ Cổ tức Ngũ Cổ đại phu Bách Lý Hề. Bách Lý Hề từng bị người nước Sở giam cầm, Tần Mục công biết ông là người tài năng nên tìm cách đưa về nước Tần, sợ người nước Sở phát hiện ra Bách Lý Hề là người khác thường nên Tần Mục Công chỉ dùng năm tấm da dê đen (Ngũ cổ) để chuộc.

[8] Nhạc Thiều: tương truyền là nhạc của đế Thuấn.

[9] Tương truyền loài thú một chân, trông như con người.

[10] Tương truyền là một loài tinh ở trên núi, thích học tiếng người và mê hoặc con người.

[11] Ý nói bị chém ngang lưng.

[12] Trĩ: chỉ tường thành, cao một trượng, rộng ba trượng. Trăm trĩ: tức thành cao một trượng, rộng ba trăm trượng.

[13] Chó nhà tang: nguyên là “Tang gia chi cẩu", có sách hiểu là "Táng gia chi cẩu” (con chó mất nhà).

[14] Cửu di: chín tộc người Di; Bách man: trăm tộc người Man. Ý nói mở đường đến các tộc người thiểu số ở vùng xa xôi khác nhau.

[15] Đại cơ: con gái lớn của Vũ vương nhà Chu.

[16] Bá Di và Thúc Tề là con vua nước Cô Trúc, đều là các bậc cao khiết, nhường ngôi cho nhau, cuối cùng đều đi ở ẩn trên núi Thú Dương, sau vì khuyên Vũ vương về việc đánh vua Trụ không được, không chịu ăn thóc gạo của nhà Chu, rốt cuộc chết đói trên núi.

[17] Tỷ Can: hiền thần thời Thương, chú của Trụ vương, vì can ngăn Trụ vương nên bị Trụ vương giết.

[18] Người có đất nước: chỉ các bậc quân vương.

[19] Mỗi lý gồm 25 nhà.

[20] Tử và nam là các tước phong thấp nhất trong hệ thống các tước phong đương thời công, hầu, bá, tử, nam.

[21] Nước Ngô đòi Lỗ phải cung ứng cỗ Bách lao. Lao: chỉ các con vật dùng trong tế lễ và yến ẩm, như bò, dê, nhưng đòi hỏi quá mức, không theo thể thức lễ chế nhà Chu. Tử Cống đến, dùng lễ chế để thuyết phục, nước Ngô mới thôi.

[22] Xã: mỗi xã là 25 nhà.

[23] Thư truyện: Ở đây chỉ Kinh Thư, hoặc giả hiểu phần truyện của Kinh Thư.

[24] Nước Kỷ là dòng dõi nhà Hạ.

[25] Nước Tống là dòng dõi của nhà Ân.

[26] Thi: sau bị nhà nho biến thành kinh điển của Nho gia, cho nên gọi là Kinh Thi.

[27] Tiết: thủy tổ của nhà Thương, Hậu Tắc: thủy tổ của nhà Chu.

[28] Ý nói từ chỗ quan hệ vợ chồng, mở đầu cho nhân luân.

[29] Lục nghệ: tức Lục kinh - sáu kinh điển trọng yếu của nho gia: Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân thu.

[30] Ý nói những học trò không thực sự xuất sắc, không được liệt vào hàng bảy mươi hai học trò tinh thông Lục kinh.

[31] Tương truyền thời thượng cổ, trên sông Hoàng Hà xuất hiện con long mã, trên lưng đội hình vẽ, Phục Hy căn cứ vào đó mà chế ra bát quái. Tương truyền thời vua Vũ nhà Hạ trị thủy, ở sông Lạc xuất hiện con rùa thần, trên lưng đội sách, vua Vũ căn cứ vào đồ hình trên lưng rùa vạch ra chín phương cách lớn trong việc trị lý thiên hạ.

[32] Xuân thu: thực chất là bộ sử về nước Lỗ do Khổng tử trước tác, ngụ ý chính danh, sau được nhà nho đưa vào hàng kinh điển, cùng Luận ngữ, là các tài liệu trọng yếu để tìm hiểu tư tưởng của Khổng tử.

[33] Mười hai đời vua của nước Lỗ được ghi chép trong sách Xuân thu gồm: Ẩn Công, Hoàn công, Trang Công, Mẫn công, Hy công, Văn công, Tuyên Công, Thành công, Tương Công, Chiêu công, Định Công, Ai công.

[34] Tử Hạ: tên tự của Bốc Thương, cao đồ của Khổng tử, được xưng tụng là một trong “thập triết”, giỏi về văn học.

[35] Ý nói bậc triết nhân sẽ chết, ngụ ý nói mình sắp chết.

[36] Một mình ta: nguyên là “dư nhất nhân”. Nhất nhân: một người, là cách xưng hô của thiên tử, vua nước Lỗ chỉ là vua chư hầu, không được dùng cách xưng hô này, cho nên Tử Cống chê là không hợp với danh phận.

[37] Khoảnh: thửa ruộng, khu đất rộng trăm mẫu.

[38] Cỗ Thái lao: Cỗ dâng tế thời cổ, dùng lợn, trâu và dê dâng tế để tỏ ý kính trọng. Cao tổ: Chỉ Hán Cao tổ Lưu Bang.

[39] Trung dung: vốn là một thiên trong sách Lễ ký, từ thời Tống, sau sự ra đời của Tứ thư tập chú của Chu Hy, được liệt vào hàng Tứ thư (Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh tử).

[40] Lời thơ trong bài “Xa hạt” thuộc phần “Tiểu nhã” của Kinh Thi, nguyên văn là: “Cao Sơn ngưỡng chỉ, cảnh hành hành chỉ”, nghĩa là núi cao thì người ta ngẩng trông, đường lớn thì người ta đi theo, nhà nho cũng hiểu “cảnh hành” có thể đọc là “cảnh hạnh”, nghĩa là đức hạnh lớn lao, người có đức hạnh lớn lao thì người khác sùng mộ mà noi theo.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.