Sử Ký III. Thế Gia

Lượt đọc: 276 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUYỂN 60 TAM VƯƠNG THẾ GIA

❊ ❊ ❊

“Thần Đại tư mã [Hoắc] Khứ Bệnh liều chết cúi lạy hai lạy dâng sớ lên Hoàng đế bệ hạ: bệ hạ nghe lầm[1], khiến thần Khứ Bệnh được đợi tội[2] trong quân ngũ. Đáng lẽ phải chuyên tâm lo việc biên cương, phơi sương trắng ngoài nội cũng không cách gì báo đáp, thế mà lại dám bàn nghị việc khác, thực sự thấy bệ hạ phải lo lắng cho thiên hạ, thương xót cho trăm họ mà tự quên bản thân, bớt ăn, bớt nhạc, giảm số quan Lang. Hoàng tử nhờ trời, đã khôn lớn, biết hành lễ bái yết, đến nay chưa được phong hiệu, tước vị, chưa có quan sư phó [để rèn cặp]. Bệ hạ cung kính khiêm nhượng, chẳng đoái thương đến, quần thần riêng có ý trông mong, nhưng không dám vượt chức phận để tâu bày. Thần trộm không kìm được tấm lòng khuyển mã[3], liều chết mong bệ hạ hạ chiếu cho Hữu ty, nhân ngày tốt mùa hạ, định ngôi vị Thái tử. Những mong bệ hạ soi xét. Thần Khứ Bệnh liều chết cúi lạy hai lạy bẩm cáo lên Hoàng đế bệ hạ.” Tháng Ba, ngày Ất Hợi, Ngự sử [Hoắc] Quang giữ chức Thượng thư lệnh tâu lên cung Vị Ương.

Ban chế[4] rằng: “Giao xuống Ngự sử.”

Năm thứ sáu[5], tháng Ba - Mậu Thân, ngày mồng một - Ất Hợi, Ngự sử giữ chức Thượng thư lệnh là Quang, thừa[6] là Phi, thư xuống cho Ngự sử chuyển đến, rằng: “Thần Thừa tướng [Trang] Thanh Địch, thần Ngự sử đại phu [Trương] Thang, thần Thái thường [Triệu] Sung, thần Đại hành lệnh [Lý] Tức, thần Thái tử thiếu phó [Nhâm] An kiêm sự vụ Tông chính[7], liều chết dâng lời: Đại tư mã [Hoắc] Khứ Bệnh dâng sớ nói: 'Thần Đại tư mã Khứ Bệnh liều chết cúi lạy hai lạy dâng sớ lên Hoàng đế bệ hạ: bệ hạ nghe lầm, khiến thần Khứ Bệnh được đợi tội trong quân ngũ. Đáng lẽ phải chuyên tâm lo việc biên cương, phơi xương trắng ngoài nội cũng không cách gì báo đáp, thế mà lại dám bàn nghị việc khác, thực sự thấy bệ hạ phải lo lắng cho thiên hạ, thương xót cho trăm họ mà tự quên bản thân, bớt ăn, bớt nhạc, giảm số quan Lang. Hoàng tử nhờ trời, đã khôn lớn, biết hành lễ bái yết, đến nay chưa được phong hiệu, tước vị, chưa có quan sư phó [để rèn cặp]. Bệ hạ cung kính khiêm nhượng, chẳng đoái thương đến, quần thần riêng có ý trông mong, nhưng không dám vượt chức phận để tâu bày. Thần trộm không kìm được tấm lòng khuyến mã, liều chết mong bệ hạ hạ chiếu cho Hữu ty, nhân ngày tốt mùa hạ, định ngôi vị Thái tử. Những mong bệ hạ soi xét.' [Hoàng thượng hạ] chế rằng: 'Giao xuống Ngự sử.' Thần kính cẩn cùng các quan hạng Trúng nhị thiên thạch, Nhị thiên thạch[8] là [Công Tôn] Hạ bàn rằng: Thời cổ cắt đất lập nước, đồng thời lập chư hầu để phụng thờ thiên tử, là nhằm tôn sùng tông miếu, coi trọng xã tắc. Nay bề tôi Khứ Bệnh dâng sớ, không quên chức phận của mình, qua đó phát dương thánh ân, lại nói thiên tử khiêm nhượng tự giảm bớt [các nhu cầu], vất vả vì thiên hạ, lo Hoàng tử chưa có hiệu vị. Bọn thân là Thanh Địch, Thang cần phải noi theo đạo nghĩa và chức phận, ngu tối chưa hiểu việc đó. Nay đương ngày tốt mùa hạ, bọn thần là Thanh Địch, Thang liều chết xin phong lập Hoàng tử Hoành, Đán, Tư làm xương các nước chư hầu. Liều chết xin lập tên nước.”

Ban chế rằng: “Nghe nói nhà Chu phong tám trăm [chư hầu], họ Cơ đều liệt trong số đó[9], hoặc tước tử, nam, phụ dung[10]. Lễ [ký] viết 'Con ngành thứ không tế [tông miếu]'. Nói đồng loạt lập chư hầu là để nhằm coi trọng xã tắc, trẫm không nghe việc đó. Huống nữa trời không phải vì bậc quân chủ mà sinh dân. Trẫm không có đức, bốn bể chưa hòa hợp, giờ miễn cưỡng phong cho người chưa được dạy bảo chu đáo làm chư hầu, vậy các bề tôi thân cận khuyên nhủ bảo ban chúng ra sao? Việc này bàn nghị lại, rồi mới phong chúng làm liệt hầu.”

Ngày Bính Tý tháng Ba, tâu lên cung Vị Ương: “Thần Thừa tướng Thanh Địch, thần Ngự sử đại phu Thang liều chết dâng lời: Thần kính cẩn cùng bề tôi liệt hầu Anh Tề, thần Trúng nhị thiên thạch, Nhị thiên thạch là Hạ, thần Gián nghị đại phu, Bác sĩ An bàn rằng: Trộm nghe nhà Chu phong tám trăm [chư hầu], họ Cơ đều được liệt trong số đó, để phụng sự thiên tử. Khang thúc[11] nhờ ông cha mà hiển quý, còn Bá Cầm[12] nhờ Chu công nên được phong, đều là chư hầu được dựng nước, lấy Tướng phó[13] để phụ giúp. Trăm quan tuân thủ pháp độ, thảy noi theo chức phận của mình, mà rường mối quốc gia đầy đủ. Trộm cho là việc khắp lượt phân phong chư hầu là nhằm xem trọng xã tắc, chư hầu bốn bể ai nấy đều noi theo chức phận cống nạp tế phẩm. Con ngành thứ không được phụng tế tông tổ, đó là quy định của lễ vậy. Phong đất dựng nước để giữ nước phên giậu, đế vương qua đó vun bồi đức hóa. Bệ hạ vâng noi rường mối của trời, rạng mở sự nghiệp của bậc thánh, đề cao người hiền, biểu dương người có công, khôi phục nước bị diệt, nối dòng đã dứt. Nối dòng hậu duệ Tiêu Văn Chung[14] ở đất Tán, khen thưởng, khích lệ bề tôi là bọn Bình Tân hầu[15]. Rạng tỏ thứ tự sáu bậc người thân[16], làm rõ mối thân thuộc trời ban, khiến vua được phong ở chư hầu được mở rộng ơn riêng phần đất cho con em, tặng phong hiệu, dựng hơn trăm nước. Còn việc phong Hoàng tử làm liệt hầu, thì cao thấp cùng vượt, liệt hầu mất thứ tự, không thể lấy đó truyền lại thống hệ đế vương cho muôn đời[17]. Thần xin lập bề tôi là Hoành, bề tôi là Đán, bề tôi là Tự làm vương chư hầu.” Ngày Bính Tý tháng Ba, tâu lên cung Vị Ương.

Ban chế rằng: “Khang thúc có mười anh em thân thuộc nhưng chỉ một mình được tôn quý, vì khen người có đức vậy. Chu công được tế trời ở ngoài thành, vì nước Lỗ có các vật tế như giống muông đực màu trắng, bò đực lông đỏ. Các chư hầu khác [đều dùng các con vật tế] màu lông không thuần, người hiền năng, kẻ bất tiếu khác nhau vậy. 'Núi cao ngưỡng trông, đường lớn hướng theo'[18], trẫm hết sức kính mộ. Cho nên kiềm chế người chưa được chỉ dạy chu đáo, phong [Hoàng tử] làm liệt hầu là được rồi.”

Ngày Mậu Dần tháng Tư, tâu lên cung Vị Ương: “Thần Thừa tướng Thanh Địch, thần Ngự sử đại phu Thang liều chết dâng lời: Bọn thần Thanh lịch cùng liệt hầu, các quan Nhị thiên thạch, Gián nghị đại phu, Bác sĩ là Khánh bàn nghị: liều chết tâu xin lập Hoàng tử làm vương chư hầu. Lời chế rằng: 'Khang thúc có mười anh em thân thuộc nhưng chỉ một mình được tôn quý, vì khen người có đức vậy. Chu công được tế trời ở ngoài thành, vì nước Lỗ có các vật tế như giống muông đực màu trắng, bò đực lông đỏ. Các chư hầu khác [đều dùng các con vật tế] màu lông không thuần, người hiền năng, kẻ bất hiếu khác nhau vậy. Núi cao ngưỡng trông, đường lớn hướng theo, trẫm hết sức kính mộ. Cho nên kiềm chế người chưa được chỉ dạy chu đáo, phong [Hoàng tử] làm liệt hầu là được rồi.' Thần Thanh Địch, thần Thang, thần Bác sĩ Tướng Hành trộm nghe Khang thúc có mười anh em thân thuộc, Vũ vương kế thừa đại thống, Chu công phò tá Thành vương, tám người khác đều nhờ sự tôn quý của ông cha mà được dựng lập nước lớn. Khang thúc tuổi nhỏ, Chu công ở ngôi Tam công, còn Bá Cầm được phong ở nước Lỗ, đại để khi nhận mệnh phong tước, chưa đến tuổi trưởng thành. Về sau Khang thúc chống nạn Lộc Phủ[19], Bá Cầm dẹp loạn Hoài Di[20]. Xưa, Ngũ đế định ra quy định khác nhau, tước phong thời Chu có năm mức[21], thời Xuân thu có ba mức[22], đều tùy thời mà phân biệt thứ bậc cao thấp. Cao Hoàng đế dẹp đời loạn khiến trở về chính đáng, tỏ rõ đức độ tột bậc, định yên bốn bể, phân phong chư hầu, tước vị có hai mức[23]. Hoàng tử có khi còn trong tã địu đã được lập làm vương chư hầu, để phụng thờ thiên tử, làm khuôn phép cho muôn đời, không thể thay đổi. Bệ hạ thi hành nhân nghĩa, đích thân thi hành thánh đức, trong ngoài văn võ kiêm bị. Biểu dương nết từ ái hiếu thuận, mở rộng đường cho người hiền năng. Trong thì khen người có đức, ngoài thì thảo phạt cường bạo. Bắc đến Bắc Hải, tây tận Nguyệt Chi, Hung Nô, Tây Vực, hết thảy các nước đều phải hiến cống. Phí tổn chế tạo xe cộ, khí giới, không thu từ dân chúng. Dốc hết của trong kho triều đình để thưởng cho tướng sĩ, mở kho của hoàng gia để chẩn cấp kẻ khốn cùng, giảm một nửa số lính thú. Quân trưởng các tộc người Man không ai không hướng mộ, thuận tòng tán dương. Những nơi phương xa, phong tục khác biệt, qua nhiều lần phiên dịch vào chầu, ơn trạch [triều đình] lan tận cõi ngoài. Cho nên trân cầm dị thú kéo đến, lúa má bội thu, trời ứng nghiệm thật rõ ràng. Nay các con ngành thứ của chư hầu còn được phong lương chư hầu, còn Hoàng tử chỉ được phong làm liệt hầu, bọn thần là Thanh Địch, Thang trộm tính kỹ việc đó, đều cho rằng trên dưới không còn thứ tự, khiến thiên hạ thất vọng, không thể. Thần xin lập bề tôi là Hoành, Đán, Tư làm vương chư hầu.” Ngày Quý Mùi tháng Tư, tâu lên cung Vị Ương, [hoàng thượng] lưu trong cung, không phê chuẩn chuyển xuống.

“Thần Thừa tướng Thanh Địch, thần Thái bộc Hạ, thần Thái thường Sung tạm nắm việc của Ngự sử đại phu, thần Thái tử thiếu phó An tạm nắm việc Tông chính liều chết dâng lời: Bọn thần là Thanh Địch trước tâu lời sớ của bề tôi Đại tư mã Khứ Bệnh, nói Hoàng tử chưa có phong hiệu, tước vị, thần kính cẩn cùng bọn bề tôi là Ngự sử đại phu Thang, Trúng nhị thiên thạch, Nhị thiên thạch, Gián nghị đại phu, Bác sĩ là Khánh, liều chết xin lập bọn Hoàng tử Hoành làm vương chư hầu. Bệ hạ khiêm nhượng văn trị võ công của mình, tự trách vọng bản thân, cho rằng Hoàng tử chưa được dạy bảo chu đáo. Quần thần bàn nghị, nhà nho xưng tụng học thuyết của mình nhưng trong bụng có khi nghĩ khác. Bệ hạ cương quyết không đồng ý, chỉ phong Hoàng tử làm liệt hầu. Bọn thần là Thanh Địch trộm cùng các liệt hầu là bọn bề tôi Thọ Thành hai mươi bảy người cùng bàn nghị, đều cho là [phong như vậy thì] trên dưới không còn trật tự. Cao Hoàng đế dựng lập thiên hạ, làm Thái tổ nhà Hán, phong vương cho con cháu, tăng cường thế lực [của hoàng tộc]. Khuôn phép của tiên đế không thể thay đổi, là nhằm phát dương địa vị chí tôn. Thần đề nghị sai Sử quan chọn ngày lành, chuẩn bị đầy đủ nghi thức trình lên, Ngự sử dâng địa đồ, việc khác đều noi theo điển lễ cũ.”

Ban chế rằng: “Được.”

Ngày Bính Thân tháng Tư, tâu lên cung Vị Ương. “Thần Thái bộc Hạ tạm nắm việc của Ngự sử phu liều chết dâng lời: Bề tôi Thái thường Sung nói đã bói được ngày Ất Tỵ, hai mươi tám tháng Tư, có thể lập vương chư hầu. Thần liều chết trình tâu địa đồ, xin đặt tên nước. Lễ nghi xin tấu riêng. Thần liều chết thỉnh cầu.”

Ban chế rằng: “Lập Hoàng tử Hoành làm Tề vương, Đán làm Yên vương, Tư làm Quảng Lăng lương.”

Ngày Đinh Dậu tháng Tư, tâu lên cung Vị Ương. Ngày mồng một tháng Tư - Mậu Dần, năm thứ sáu[24], ngày Quý Mão, Ngự sử đại phu Thang giao xuống cho Thừa tướng, Thừa tướng hạ lệnh xuống các quan viên Trung nhị thiên thạch, Nhị thiên thạch, [quan Trúng nhị thiên thạch, Nhị thiên thạch] giao xuống cho Thái thú các quận, Quốc tướng của các chư hầu, [Thái thú, Quốc tướng lại giao cho] các quan viên phụ trách việc văn thư các quận, rồi giao xuống cho các viên phụ trách từng công việc. Theo đúng mệnh lệnh thi hành.

“Ngày Ất Tỵ tháng Tư năm [Nguyên Thú] thứ sáu, Hoàng đế sai Ngự sử đại phu Thang đến tổ miếu phong lập con là Hoành làm Tề vương. [Sách phong] rằng: Ô hô, tiểu tử Hoành, nhận đây nền xã màu xanh![25] Trẫm kế thừa ông cha, khảo xét chế độ xưa, lập nước cho ngươi, phong ra đất phía đông, đời đời làm nước phên giậu phụ giúp nhà Hán. Ô hô, nhớ đấy! Hãy cung kính tuân theo chiếu của trẫm, hãy nghĩ mệnh vốn vô thường. Người mà hiếu đức, rạng rỡ hiển vinh. Nghĩa mà không theo, quân tử xa lánh. Dốc hết lòng ngươi, thành thực giữ lấy đạo trung, lộc trời dài mãi. Nếu có lỗi lầm hay làm điều bất thiện, sẽ tai vạ cho nước ngươi, họa hại đến thân ngươi. Ô hô, giữ nước trị dân, há không kính cẩn ư! Vương hãy răn chừng đấy.”

Trên đây là sách phong cho Tề vương.

“Ngày Ất Tỵ tháng Tư năm [Nguyên Thú] thứ sáu, Hoàng đế sai Ngự sử đại phu Thang đến tổ miếu phong lập con là Đán làm Yên vương. [Sách phong] rằng: Ô hô, tiểu tử Đán, nhận đây nền xã màu đen![26] Trẫm kế thừa ông cha, khảo xét chế độ xưa, lập nước cho ngươi, phong ra đất phía bắc, đời đời làm nước phên giậu phụ giúp nhà Hán. Ô hô, tộc Huân Chúc[27] ngược đãi người già[28], lòng như muông thú, xâm phạm cướp bóc, thêm nữa lại gian giảo chèn ép dân chúng ở biên giới. Ô hô! Trẫm sai tướng cầm quân đi hỏi tội chúng, kẻ cầm đầu vạn quân, kẻ cầm đầu nghìn quân, ba mươi hai quân trưởng đều đến, hạ cờ quy hàng, quần chúng tan chạy. Huân Chúc dời chuyển cương vực, các châu phía bắc đã được yên. Hãy dốc hết lòng người, chớ gây oán thù, chớ làm hại đức, chớ bỏ phòng bị. Không phải kẻ sĩ thấm nhuần giáo hóa, không được triệu về bên mình. Ô hô, giữ nước trị dân, há không kính cẩn ư! Vương hãy răn chừng đó.”

Trên đây là sách phong cho Yên vương.

“Ngày Ất Tỵ tháng Tư năm [Nguyên Thú] thứ sáu, Hoàng đế sai Ngự sử đại phu Thang đến tổ miếu phong lập con là Tư làm Quảng Lăng vương. [Sách phong] rằng: Ô hô, tiểu tử Tư, nhận đây nền xã màu đỏ![29] Trẫm kế thừa ông cha, khảo xét chế độ xưa, lập nước cho ngươi, phong ra đất phía nam, đời đời làm nước phên giậu phụ giúp nhà Hán. Người xưa có câu rằng: 'Phía nam Đại Giang[30], ở khoảng Ngũ hồ, người ở đó có lòng khinh nhờn. Dương Châu là biên cương bảo vệ Trung nguyên, thời Tam đại thuộc vùng yêu phục[31], chính giáo chưa ban đến.' Ô hô! Hãy dốc lòng ngươi, nơm nớp e dè, ban ơn và kính thuận, chớ ham hưởng lạc, chớ gần tiểu nhân, thảy noi phép tắc. Kinh Thư viết: 'Bề tôi không được tác oai, không được tác phúc, không họa về sau.’ Ô hô, giữ nước trị dân, há không kính cẩn ư! Vương hãy răn chừng đó.”

Trên đây là sách phong cho Quảng Lăng vương.

Thái sử công bàn rằng: Người xưa có nói rằng “Vì yêu muốn cho giàu, vì thân muốn cho sang”. Cho nên bậc vương giả cắt đất dựng nước, phong lập con em, là nhằm khen thưởng người thân, phân chia thứ tự cốt nhục, tôn sùng tiên tổ, hiển quý tông tộc, mở rộng thế lực lượng thất ra khắp thiên hạ. Nhân đó hình thành thế lực lớn mạnh, khiến vương thất được yên định. Từ xưa đến nay, việc ấy vốn có từ lâu rồi. Không có gì sai khác, nên không phải bàn thêm. Việc nước Yên nước Tề, không đủ để lựa ghi. Nhưng phong lập ba vị vương, thiên tử kính cẩn khiêm nhượng, quần thần noi giữ đạo nghĩa, văn từ rõ ràng, rất đáng xét vậy, thế nên phụ chép vào phần Thế gia.

Chử tiên sinh bàn rằng: Tôi may nhờ văn học, được làm Thị lang, thích xem liệt truyện[32] của Thái sử công. Trong các truyện, phần Tam vương thế gia được khen là văn từ đáng xem, nhưng tìm ở phần Thế gia rốt cuộc không thấy. Trộm theo bậc trưởng lão thích những chuyện xưa, lấy được một số sách phong, biên chép các việc liên quan đặng lưu truyền, khiến hậu thế được xem ý chỉ của bậc hiền chúa.

Từng nghe thời Hiếu Vũ đế, cùng một ngày phong ba con làm vương: phong một con ở nước Tề, một con ở Quảng Lăng, một con ở nước Yên. Mỗi trường hợp đều dựa vào tài sức, trí năng của con, cho đến đất đai tốt xấu, dân chúng khinh bạc hay trọng hậu, rồi ban cấp sách phong răn dạy từng con. Nói với các vương: “Đời đời làm nước phên giậu phò giúp nhà Hán, giữ nước trị dân, há không kính cẩn ư! Vương hãy răn chừng đó.” Xét lẽ, việc làm của bậc hiền chúa, vốn không phải điều kẻ hiểu biết nông cạn có thể biết được, không phải bậc quân tử nghe rộng nhớ nhiều thì không thể suy thấu được thâm ý. Đến như [trong các sách phong] phân chia thứ tự rạch ròi, chữ nghĩa trên dưới, dài ngắn không đều, thảy có dụng ý, người khác không thể biết được. Xin kính liệt ra các chiếu thư viết bằng chữ chân chữ thảo, chép vào sau, khiến người đọc tự hiểu thâm ý rồi đưa ra cách kiến giải.

Vương phu nhân người nước Triệu, cùng Vệ phu nhân đều được Vũ đế sủng ái, rồi sinh con là Hoành. Khi Hoành sắp được phong vương, mẹ bị ốm, Vũ đế đích thân đến hỏi han. Hỏi: “Con đáng phong vương, muốn phong cho nó chỗ nào?” Vương phu nhân thưa: “Bệ hạ còn đây, thiếp nào có gì phải nói nữa.” Hoàng đế nói: “Dầu vậy, hãy nói ra ý muốn, muốn phong vương cho nó chỗ nào?” Vương phu nhân đáp: “Xin phong cho nó ở Lạc Dương.” Vũ đế nói: “Lạc Dương có kho vũ khí Ngao Thương, là chỗ xung yếu của thiên hạ, đô thành lớn của triều Hán. Từ tiên đế đến nay, không có con nào được phong ở Lạc Dương cả. Ngoài Lạc Dương, các chỗ khác đều được.” Vương phu nhân không đáp. Vũ đế nói: “Các nước ở Quan Đông không nước nào lớn hơn Tề. Tề phía đông dựa vào biển, thành quách lại lớn, thời xưa riêng trong Lâm Truy đã có chục vạn hộ, đất đai phì nhiêu trong thiên hạ không chỗ nào được như Tề.” Vương phu nhân giơ tay vỗ lên đầu, cảm tạ rằng: “Thật may mắn.” Vương phu nhân chết, Hoàng đế rất đau xót, sai sứ giả bái tế rằng: “Hoàng đế cẩn sai sứ giả là Thái trung đại phu Minh dâng một viên ngọc khuê, ban tặng phu nhân làm Thái hậu của Tề vương." Con là Hoành được phong vương ở nước Tề, tuổi nhỏ, không có con, được phong lập, không may chết sớm, nước bị phế bỏ, thành quận. Thiên hạ cho rằng không nên phong vương ở Tề.

Cái gọi là “Nhận đất này” (Thụ thử thổ), quốc vương chư hầu bắt đầu nhận tước phong ắt nhận đất từ nền thờ thần xã của thiên tử, trở về nước được phong lấy đó làm nền thờ thần xã của nước mình, tuế thời cúng tế. Sách Xuân thu đại truyện viết: “Nước của thiên tử có Thái xã. Phương đông màu xanh, phương nam màu đỏ, phương tây màu trắng, phương bắc màu đen, trung ương màu vàng.” Cho nên người được phong vương ở phía đông thì lấy đất màu xanh, người được phong ở phía nam thì lấy đất màu đỏ, người được phong ở phía tây thì lấy đất màu trắng, người được phong ở phía bắc thì lấy đất màu đen, người được phong ở trung ương thì lấy đất màu vàng[33]. Mỗi trường hợp đều lấy màu đất phù hợp với nước phong, bọc bằng cỏ mao trắng, gói lại để làm nền xã. Đó là đất ban đầu được nhận phong từ thiên tử vậy. Đất đó là đất chủ. Đất chủ dùng để lập nền xã rồi phụng thờ. “Trẫm kế thừa ông cha” (Trẫm thừa tổ khảo), tổ là tổ tiên, khảo là cha. “Khảo xét thời cổ” (Duy kê cổ), duy là lường xét, suy nghĩ;là đáng, đáng thuận theo phép tắc thời xưa vậy.

Người Tề hay tráo trở, không quen lễ nghĩa, nên răn Tề vương rằng “Hãy cung kính tuân theo chiếu của trẫm, hãy nghĩ mệnh vốn vô thường. Người mà hiếu đức, rạng rỡ hiển vinh. Nghĩa mà không theo, quân tử xa lánh. Dốc hết lòng ngươi, thành thực giữ lấy đạo trung, lộc trời dài mãi. Nếu có lỗi lầm hay làm điều bất thiện, sẽ tai vạ cho nước ngươi, họa hại đến thân ngươi.” Tề vương đến nước phong, đại thần bên cạnh dùng lễ nghĩa để giữ gìn, không may giữa chừng chết sớm. Nhưng giữ mình toàn vẹn không lầm lỗi, đúng ý trong sách phong của Hoàng đế.

Sách xưa viết “Màu xanh chiết ra từ màu chàm mà xanh hơn chàm”, là do dạy bảo khiến nên vậy. Cao xa thay bậc hiền chúa, riêng thấy rõ ràng: Răn Tề vương trong lòng phải thận trọng; răn Yên vương chớ gây oán thù, chớ làm hại đức; răn Quảng Lăng Vương phải thận trọng khi ra cõi ngoài, không được tác oai tác phúc.

Xét lẽ, Quảng Lăng ở đất Ngô, Việt, dân chúng sáng láng mà hay khinh nhờn, cho nên răn rằng: “Ở khoảng Tam giang, Ngũ hồ, người ở đó có lòng khinh nhờn. Dương Châu là biên cương bảo vệ Trung nguyên, thời Tam đại, bị ép phải theo phong tục, phục sức Trung nguyên, chính giáo không thi hành rộng đến, chỉ theo ý mà cai trị thôi. Chớ ham hưởng lạc, chớ gần tiểu nhân, thảy noi phép tắc. Chớ có sinh thói hưởng lạc, phóng ngựa săn bắn, phóng đãng dâm loạn, rồi gần tiểu nhân. Luôn nghĩ đến pháp độ, thì không phải xấu hổ nhục nhã.” Tam giang, Ngũ hồ có nguồn lợi về cá và muối, có sự giàu có của núi đồng, là chỗ thiên hạ trông mong. Cho nên răn Quảng Lăng vương rằng: “Bề tôi không được tác phúc”, ý là không dùng của cải, ban thưởng nhiều để lập tiếng tốt, khiến bốn phương quy thuận. Lại viết “Bề tôi không được tác oai”, ý răn chớ dựa vào sự khinh nhờn mà làm trái điều nghĩa.

Gặp khi Hiếu Vũ đế băng hà, Hiếu Chiêu đế mới lên ngôi, Quảng Lăng vương Tư được cho vào chầu đầu tiên, được hậu thưởng tiền vàng của cải, trị giá hơn ba nghìn vạn, tăng thêm đất phong trăm dặm, thực ấp vạn hộ.

Gặp khi Chiêu đế băng hà, Tuyên đế mới lên ngôi, vì tình nghĩa cốt nhục, trong năm Bản Thủy thứ nhất[34], cắt đất nhà Hán, phong cho hết thảy bốn con trai của Quảng Lăng vương Tư: một con được phong làm Triều Dương hầu; một con làm Bình Khúc hầu; một con làm Nam Lợi hầu; con út được sủng ái nhất là Hoằng được phong làm Cao Mật vương.

Về sau, quả nhiên Tư tác oai tác phúc, sai sứ liên kết với Sở vương. Sở vương rêu rao rằng: “Tổ tiên ta là Nguyên vương[35], là em út của Cao đế, được phong ba mươi hai thành. Nay đất đai thành ấp ngày càng nhỏ, ta định cùng Quảng Lăng vương phát binh. Lập Quảng Lăng vương làm hoàng thượng, ta lại làm vương ba mươi hai thành nước Sở, giống thời Nguyên vương.” Việc bị phát giác, các công khanh Hữu ty đề nghị xử tội chết. Thiên tử vì tình cốt nhục, không nỡ dùng pháp luật xử trí Tư, hạ chiếu thư không trị tội Quảng Lăng vương, chỉ giết kẻ thủ ác là Sở vương. Sách xưa viết: “Có bồng mọc trong bụi gai, không nâng tự thẳng, cát trắng ở trong bùn, thảy một màu đen”, do đất đai, hoàn cảnh khiến nên như thế. Về sau, Tư lại cầu đảo quỷ thần giúp thực hiện mưu phản, [việc bị lộ] tự sát, nước phong bị phế.

Đất của nước Yên cằn cỗi, phía bắc giáp Hung Nô, người dân ở đây dũng cảm nhưng ít suy nghĩ sâu xa, cho nên răn [Yên vương] rằng: “Tộc Huân Chúc không có nết hiếu, còn lòng dạ như loài cầm thú, nhân đó trộm cắp, xâm phạm dân chúng vùng biên. Trẫm hạ chiếu sai tướng cầm quân đến hỏi tội chúng, kẻ cầm đầu vạn quân, kẻ cầm đầu nghìn quân, ba mươi hai quân trưởng đều đến, hạ cờ quy hàng, quần chúng tan chạy. Huân Chúc dời chuyển biên giới ra vùng xa, các châu phía bắc đã được yên ổn.” “Dốc hết lòng ngươi, chớ gây oán thù”, là vì không muốn khiến theo thói tục để gây nên oán hận. “Chớ hại đến đức”, là hy vọng Yên vương không làm trái đức. “Chớ bỏ phòng bị” là để không sút giảm võ bị, luôn phải phòng bị Hung Nô. “Không phải kẻ sĩ thấm nhuần giáo hóa, không được triệu về bên mình”, ý nói không phải kẻ sĩ học lễ nghĩa thì không được cho ở bên vậy.

Gặp khi Vũ đế tuổi đã cao, còn Thái tử bất hạnh qua đời, chưa lập người thay, thế là Đán sai người đến dâng thư, xin được vào làm Túc vệ ở Trường An[36]. Hiếu Vũ đế đọc thư đó, giậm chân xuống đất, nổi giận nói: “Đẻ con nên cho ra quê hương lễ nghĩa như nước Tề nước Lỗ, nay cho ra nước Yên nước Triệu, quả nhiên có bụng tranh giành, đủ thấy không biết khiêm nhường rồi.” Thế là sai sứ chém ngay sứ giả của Yên vương dưới của khuyết.

Gặp lúc Vũ đế băng hà, Chiêu đế mới lên ngôi, quả nhiên Đán kết oán rồi oán hận các đại thần, tự cho mình là con trưởng đáng được lập, liền cùng bọn Lưu Trạch, con của Tề vương âm mưu phản nghịch, rêu rao rằng: “Ta đâu có còn em trai! Nay người được lập là con trai Đại tướng quân.” Định phát binh. Việc bị phát giác, đáng phải giết. Chiêu đế vì ân tình nên khoan thứ, dìm vụ án xuống, không làm to ra. Công khanh sai đại thần đề nghị [trị tội Đán], [triều đình] sai quan Tông chính cùng Thái trung đại phu Công Hộ Mãn Ý và quan Ngự sử, cùng đi sứ sang Yên để khuyên dụ Yên vương. Đến Yên, mỗi người một ngày luân phiên khiển trách Yên vương. Tông chính, chủ quản danh sách thân thuộc trong tông thất họ Lưu, gặp Yên vương trước, giải bày sự thực, nói Chiêu đế đích thực là con của Vũ đế. Thị ngự sử lại vào gặp Yên vương, dùng chính pháp trách vấn Yên vương, hỏi: “Vương định phát binh, tội danh rành rành, đáng phải trị tội. Nhà Hán có chính pháp, vương hầu phạm phải tội lỗi nhỏ liền dùng pháp luật xử trí ngay, sao có thể khoan thú cho vương được!” Dùng các quy định của pháp luật khiến [Yên vương] kinh sợ, ngạo ý của Yên vương càng sút giảm, trong lòng thấy sợ. Công Hộ Mãn Ý tinh thông kinh thuật, gặp Yên vương cuối cùng, dẫn dụng đạo nghĩa cổ kim, đại lễ của quốc gia, lời lẽ văn vẻ trung chính, bảo Yên vương rằng: “Xưa, trong triều đình thiên tử phải có quan đại phu họ khác, để khiến quan hệ cốt nhục được chính đáng; bên ngoài cần có quan đại phu cùng họ, để khiến quan lại họ khác được chính đáng. Chu công phụ tá Thành vương, giết hai người em, cho nên yên trị. Lúc Vũ đế còn sống, thường khoan thứ cho vương. Nay Chiêu đế mới lên ngôi, tuổi còn nhỏ, năm tháng còn dài, chưa lâm triều giải quyết chính sự, ủy thác cho đại thần. Thời xưa, trị tội, xử chết bất kể thân thích, cho nên thiên hạ yên trị. Ngày nay, đại thần phụ chính, cứ theo pháp luật thi hành, không dám thiên tư, sợ không thể khoan thứ cho vương. Vương hãy cẩn trọng, đừng tự mình khiến thần chết nước diệt, bị thiên hạ cười chê.” Thế là Yên vương Đán sợ hãi nhận tội, dập đầu tạ lỗi. Đại thần muốn hoàng tộc cốt nhục hòa hợp, không muốn dùng pháp luật để khiến phải thương hại.

Về sau Đán lại cùng bọn Tả tướng quân Thượng Quan Kiệt mưu phản, rêu rao rằng: “Ta chỉ sau Thái tử, Thái tử không còn, ta đáng được lập, đại thần đều kìm hãm ta...” Đại tướng quân [Hoắc] Quang phụ chính, bàn nghị cùng công khanh đại thần rằng: “Yên vương Đán không sửa lỗi, không hối cải để trở về nẻo chính, vẫn làm ác không thay đổi.” Thế là bèn chiếu theo pháp luật thẩm xét, xử tội chết. Đán tự sát, nước phong bị phế, đúng như lời sách phong đã chỉ ra. Hữu ty đề nghị giết cả vợ con Đán. Hiếu Chiêu đế vì tình thân cốt nhục, không nỡ xử trí theo pháp luật, khoan thứ cho vợ con Đán, giáng làm dân thường. Sách xưa viết: “Lan căn và bạch chỉ, đem ngâm vào nước gạo, quân tử không gần, dân thường chẳng giắt”, là vì đã ngâm rồi[37].

Tuyên đế mới lên ngôi, rộng ban ơn đức, trong năm Bản Thủy thứ nhất, phong cho cả hai con của Yên vương Đán: một con làm An Định hầu; lập Thái tử nước Yên trước đây là Kiến làm Quảng Dương vương, để phụng thờ tế tự Yên vương.

[1] Nghe lầm: khiêm từ, ý nói nhà vua nghe nhầm, tưởng Khứ Bệnh là người tài năng nên bổ dụng nhầm.

[2] Đợi tội: khiêm từ, ý nói nắm giữ chức vụ.

[3] Khuyển mã: chó ngựa, khiêm từ, ý nói bề tôi phải trung thành tận tụy với nhà vua, như chó ngựa dốc hết sức vì chủ.

[4] Chế: mệnh lệnh của Hoàng đế ban xuống cho bề tôi.

[5] Tức năm Nguyên Thú thứ sáu thời Hán Vũ đế, Công lịch là năm 117 trước Công nguyên.

[6] Ý nói Thượng thư lệnh tả thừa hoặc Thượng thư lệnh hữu thừa.

[7] Tông chính: nắm các sự vụ liên quan đến hoàng tộc.

[8] Đều là các quan chức cao cấp của triều đình.

[9] Họ Cơ: họ của hoàng tộc nhà Chu: Cơ Xương - Văn vương, Cơ Phát - Vũ vương... Đây nói những người họ Cơ đều được phong làm chư hầu.

[10] Phụ dung: nước phong nhỏ, lệ thuộc vào một chư hầu lớn nào đó.

[11] Khang thúc: Con út của Chu Văn vương.

[12] Bá Cầm: Con trưởng của Chu Công.

[13] Tướng phó: quan phụ giúp cho vua chư hầu.

[14] Tiêu Văn Chung: tức Tiêu Hà, thụy là Văn Chung.

[15] Bình Tân hầu: tức Công Tôn Hoằng.

[16] Tức “lục thân”, gồm: cha, mẹ, anh, em, vợ, con.

[17] Ý nói con các vua chư hầu đã được phong liệt hầu, thậm chí có trường hợp như con của Giao Tây vương là Khánh còn được phong làm Lục An vương, con Thường Sơn vương là Bình được phong làm Chân Định vượng... trong khi đó Hoàng tử chỉ phong làm liệt hầu, cho nên đề nghị phong làm vương cho Hoàng tử.

[18] Lấy từ bài “Xa hạt” trong phần “Tiểu nhã” của Kinh Thi. Núi cao: chỉ người có đạo đức cao; đường lớn: chỉ người có đức hạnh tốt hoặc hành vi chính đại, đều tỏ ý sùng ngưỡng người có tài năng, đức hạnh.

[19] Lộc Phủ: tên tự của Vũ Canh, con của vua Trụ nhà Thương. Vũ vương diệt nhà Thương, phong cho làm vua nước Ân, vẫn đóng đô ở Triều Ca, sai Quản thúc và Sái thúc giám sát. Vũ vương chết, Thành vương lên thay, còn nhỏ tuổi, Chu Công phụ chính, Vũ Canh bèn câu kết với Quản thúc và Sái thúc làm loạn.

[20] Người Hoài Di làm phản, Bá Cầm phải đem quân đi dẹp loạn.

[21] Tức năm tước phong, theo thứ tự là: Công, hầu, bá, tử, nam.

[22] Tức Công, hầu, bá.

[23] Tức tước vương và liệt hầu.

[24] Tức năm Nguyên Thú thứ sáu, năm 117 trước Công nguyên.

[25] Xã: nền thờ thần đất. Xưa, khi phong đất cho chư hầu, Hoàng đế dùng một ít đất thuộc một trong năm màu ở nơi thờ thần xã, trao tượng trưng cho chư hầu để đem về lập đàn thờ thần xã ở nước phong. Hoàng tử Hoành được phong ở nước Tề. Tề ở phía đông, ứng với hành mộc; hành mộc ứng với màu xanh, cho nên trao cho đất màu xanh.

[26] Nước Yên ở phía bắc, ứng với hành thủy, màu đen, nên được nhận đất màu đen.

[27] Chỉ các tộc người Hung Nô.

[28] Phong tục Hung Nô coi trọng người trẻ, khi rẻ người già, không quan tâm chăm sóc, ăn uống thiếu thốn.

[29] Quảng Lăng: thuộc đất Ngô-Việt, ở phía nam, ứng với hành hỏa, màu đỏ, cho nên trao cho đất màu đỏ để về dựng nền thờ thần xã.

[30] Đại Giang: chỉ Trường Giang.

[31] Yêu phục: một trong ngũ phục. Thời cổ, tính từ kinh đô, người ta chia thành các vùng đất gần xa khác nhau, phân làm năm khu vực, gọi là ngũ phục. Yêu phục là vùng đất cách kinh đô một nghìn năm trăm đến hai nghìn dặm.

[32] Liệt truyện: trong trường hợp này chỉ chung các phần trong Sử ký, hoặc giả các trước tác của Tư Mã Thiên, không phải chỉ riêng phần Liệt truyện trong Sử ký.

[33] Tức là lấy đất theo màu của ngũ hành, tương ứng với các phương vị.

[34] Tức năm 73 trước Công nguyên.

[35] Nguyên vương: tức Sở Nguyên vương Lưu Giao.

[36] Thâm ý là muốn được phong làm Thái tử, kế thừa ngôi vị Hoàng đế.

[37] Lan căn và bạch chỉ: hai loài cỏ thơm. Ý nói lan căn và bạch chỉ là cỏ thơm, người ta thích, nhưng đem ngâm vào nước gạo thì khiến chúng không còn thơm, thậm chí có mùi khó chịu, nên người ta không dùng để giắt lên người nữa. Đây ngụ ý nói Yên vương được phong ra nước Yên, bị tập nhiễm phong tục kiêu bạc, trở thành người kém đức hạnh.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.