Sử Ký III. Thế Gia

Lượt đọc: 272 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUYỂN 41 VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN THẾ GIA

❊ ❊ ❊

Tiên tổ của Việt vương Câu Tiễn là hậu duệ của Hạ Vũ, là con ngành thứ của đế Thiếu Khang nhà Hạ, được phong ở Cối Kê để phụng giữ tế tự vua Vũ. Xăm mình cắt tóc, cắt cỏ hoang rồi dựng ấp ở đó. Hơn hai mươi đời sau, đến Doãn Thường. Thời Doãn Thường, giao chiến với Ngô vương Hạp Lư rồi kết oán thù, đánh lẫn nhau. Doãn Thường chết, con là Câu Tiễn lên thay, đó là Việt vương.

[Việt vương] năm thứ nhất, Ngô vương Hạp Lư nghe tin Doãn Thường chết, bèn dấy binh thảo phạt nước Việt. Việt vương Câu Tiễn sai dũng sĩ cảm tử ra khiêu chiến, dàn thành ba hàng, đến trước trận của quân Ngô, hô lớn rồi tự cắt cổ chết. Quân Ngô để tâm vào họ, quân Việt thừa cơ đánh úp quân Ngô, quân Ngô thua trận ở Tuy Lý, [quân nước Việt] bắn Ngô vương Hạp Lư bị thương. Hạp Lư sắp chết, nói với con là Phù Sai rằng: “Nhất định không được quên [mối thù với] nước Việt.”

Năm thứ ba, Câu Tiễn nghe tin Ngô vương Phù Sai ngày đêm huấn luyện sĩ tốt, sẽ đem quân báo thù nước Việt, Việt vương định trước khi quân Ngô chưa phát binh sẽ đem quân đánh Ngô. Phạm Lãi can rằng: “Không được. Thần nghe nói việc binh là hung khí, chiến tranh là trái đức, tranh đấu là ngọn của sự việc vậy. Ngầm mưu tính là trái đức, thích dùng hung khí, dấn thân mình vào chỗ ngọn, thượng đế ngăn cấm, làm thế sẽ bất lợi.” Việt vương nói: “Ta đã quyết rồi.” Bèn dấy binh. Ngô vương nghe tin, dốc hết tinh binh đánh Việt, đánh bại quân Việt ở Phù Tiêu. Việt vương bèn đem năm nghìn tàn binh giữ trên núi Cối Kê. Ngô vương đuổi theo rồi bao vây [Cối Kê].

Việt vương nói với Phạm Lãi rằng: “Vì ta không nghe lời ông nên đến cơ sự này, làm thế nào bây giờ?” Phạm Lãi đáp: “Giữ sự viên mãn phải cậy ở trời, yên định chỗ nghiêng lệch phải nhờ ở người, tiết dụng trong mọi việc phải nhờ ở đất. Dùng lời nhún nhường và đem lễ trọng hậu để tặng họ, nếu họ không nhận thì phải đem thân mình để ngã giá.” Câu Tiễn nói: “Được.” Bèn lệnh cho đại phu Chủng cầu hòa với Ngô, đi bằng gối, dập đầu nói: “Thần là quân vương mất nước Câu Tiễn sai phái bồi thần Chủng dám xin tâu trình: Câu Tiễn xin được làm tôi tớ, vợ làm hầu thiếp.” Ngô vương định đồng ý. Tử Tư nói với Ngô vương rằng: “Trời đem Việt tặng cho Ngô, chớ đồng ý.” Chủng về, đem sự việc báo lại với Câu Tiễn. Câu Tiễn định giết vợ con, thiêu hủy đồ báu, rồi quyết tử chiến. Chủng ngăn Câu Tiễn rằng: “Xét lẽ, Thái tể nước Ngô là Phỉ tham lam, có thể dùng lợi để dụ, xin lén đi nói với ông ta.” Thế là Câu Tiễn bèn đem mỹ nhân và đồ báu sai Chủng lén dâng lên Thái tế Phỉ nước Ngô. Phỉ nhận, bèn dẫn kiến đại phu Chủng với Ngô vương. Chủng dập đầu nói: “Xin đại dương xá tội cho Câu Tiễn, thu hết đồ báu. Chẳng may không được xá miễn, Câu Tiễn sẽ giết hết vợ con, thiêu hủy các vật báu, đem cả năm nghìn quân tử chiến, nhất định đại vương sẽ phải trả giá tương đương vậy.” Phỉ nhân đó thuyết phục Ngô vương: “Việt thần phục làm tôi tớ, nếu xá tội cho, đó là một lợi cho nước.” Ngô vương định đồng ý, Tử Tư tiến lên can rằng: “Nay không diệt nước Việt, sau ắt phải hối hận. Câu Tiễn là vua hiền năng, Chủng và Lãi là bề tôi giỏi, nếu được trở về nước, sẽ thành họa loạn.” Ngô vương không nghe, rốt cuộc xá tội cho nước Việt, bãi binh rồi rút về.

Câu Tiễn bị vây khốn ở Cối Kê, ngùi ngùi than rằng: “Ta chấm dứt ở đây chăng?" Chủng nói: “Thành Thang bị giam ở Hạ Đài, Văn vương bị tù ở Dữu Lý, Trùng Nhĩ nước Tấn chạy sang nước Địch, Tiểu Bạch nước Tề chạy sang nước Cử, cuối cùng họ đều xưng bá. Từ đó mà xét, biết đâu đây chẳng phải là phúc sao?”

Sau khi Ngô xá miễn cho Việt, Việt vương Câu Tiễn về nước, bèn thân chịu khắc khổ, suy nghĩ lo toan, đặt mật đắng trước chỗ ngồi, khi ngồi hay nằm đều ngửa lên nếm mật đắng, ăn uống cũng thường nếm mật. Nói: “Ngươi quên mối nhục ở Cối Kê ư?” Việt vương đích thân cày ruộng, phu nhân tự dệt vải, bữa ăn không thịt, mặc [áo] không hoa văn, hạ mình tôn kính người hiền, hậu đãi tân khách, chẩn cấp người nghèo, điếu viếng người chết, cùng chung nỗi nhọc nhằn với trăm họ. Muốn sai Phạm Lãi lo chính sự, Lãi đáp rằng: “Việc binh giáp, Chủng không bằng Lãi; vỗ về đất nước, khiến trăm họ thân thiết theo về, Lãi không bằng Chủng.” Thế là đem chính sự quốc gia giao cho đại phu Chủng, lại sai Phạm Lãi cùng đại phu Giá Kê đi cầu hòa, làm con tin ở nước Ngô. Hai năm sau, nước Ngô cho Phạm Lãi về.

Từ khi Câu Tiễn ở Cối Kê về được bảy năm, vỗ về sĩ tốt và dân chúng, muốn dùng họ để báo thù nước Ngô. Đại phu Phùng Đồng can rằng: “Nước vừa nguy vong, nay mới được sung túc, nếu chỉnh trang sĩ tốt, sửa soạn binh khí, nước Ngô ắt lo sợ, [Ngô] lo sợ thì họa ắt kéo đến. Hơn nữa chim hung mãnh trước khi tấn công con mồi nhất định phải náu mình thật kín. Nay quân Ngô đánh Tề và Tấn, oán sâu với Sở và Việt, danh tiếng lẫy lừng thiên hạ, thực nguy hại đến nhà Chu, đức ít mà công nhiều, ắt đắm chìm trong tự kiêu. Kế cho nước Việt không gì bằng liên kết với Tề, thân với Sở, nương theo Tấn, để hậu đãi Ngô. Nước Ngô thỏa chí ắt sẽ khinh chiến. Khi đó ta liên kết các thế lực, ba nước cùng tấn công Ngô, nước Việt thừa cơ [nước Ngô] mỏi mệt, có thể thắng được.” Câu Tiễn nói: “Phải lắm.”

Được hai năm, Ngô vương định thảo phạt Tề. Tử Tư can rằng: “Chưa được. Thần nghe nói Câu Tiễn ăn không hai món, đồng cam cộng khổ cùng trăm họ. Người này không chết, ắt là mối họa của Ngô. Ngô có nước Việt, như có bệnh trong tim phổi, Tề với Ngô chỉ như ghẻ lở thôi. Xin đại vương bỏ Tề mà đánh Việt trước.” Ngô vương không nghe, bèn đi đánh Tề, đánh bại Tề ở Ngải Lăng, bắt sống Cao Chiêu tử và Quốc Huệ tử nước Tề đưa về. [Ngô vương] trách Tử Tư. Tử Tư nói: “Đại vương chớ vội mừng!” Ngô vương giận, Tử Tư định tự sát, Ngô vương nghe vậy thì ngăn lại. Đại phu nước Việt là Chủng nói: “Thần thấy Ngô vương chấp chính kiêu căng, xin thử sang vay lương thực xem phản ứng thế nào.” Sang xin vay lương, Ngô vương định cho, Tử Tư can đừng cho vay, nhưng Ngô vương vẫn cho vay, Việt bèn mừng thầm. Tử Tư nói rằng: “Đại vương không nghe lời can, ba năm sau nước Ngô sẽ thành gò hoang thôi!” Thái tể Phỉ nghe vậy, bèn nhiều lần tranh luận với Tử Tư về việc nước Việt, nhân đó gièm pha Tử Tư rằng: “Ngũ Viên ngoài mặt trung hậu mà thực lại tàn nhẫn với người, đến cha anh cũng không đoái hoài[1], sao có thể nghĩ đến đại vương? Trước đây đại vương muốn đánh Tề, Viên ra sức can ngăn, sau khi giành được chiến thắng, [Viên] trái lại oán trách đại cương. Đại cương không phòng bị Ngũ Viên, Viên ắt làm loạn.” [Phỉ] bàn mưu với Phùng Đồng, gièm Tử Tư với Ngô vương. Ngô vương ban đầu không tin, bèn sai Tử Tư sang Tề, nghe nói Tử Tư gửi con cho họ Bão, Ngô vương bèn nổi giận nói: “Ngũ Viên quả nhiên dối gạt quả nhân!” [Tử Tư] xong việc trở về, [Ngô vương] sai người tặng cho [Tử Tư] thanh gươm Chúc lũ để tự sát. Tử Tư cả cười nói: “Ta giúp cho người làm bá chủ, [rồi sau] ta lại lập ngươi, ban đầu ngươi muốn chia cho ta nửa nước Ngô, ta không nhận, thế mà, nay người lại vì lời gièm mà giết ta. Than ôi, than ôi, một người vốn không thể đứng đơn độc!” Rồi Tử Tư báo với sứ giả rằng: “Nhất định phải lấy mắt ta để trên cửa đông nước Ngô, đặng xem quân Việt tiến vào.” Thế rồi nước Ngô giao Phỉ nắm chính sự.

Được ba năm, Câu Tiễn triệu Phạm Lãi đến hỏi: “Ngô đã giết Tử Tư, kẻ a dua rất nhiều, đã đánh được chưa?” Đáp rằng: “Chưa được.”

Mùa xuân năm sau, Ngô vương lên phía bắc hội họp chư hầu Hoàng Trì, tinh binh nước Ngô đều theo Ngô vương, chỉ còn quân già yếu cùng Thái tử ở lại giữ nước. Câu Tiễn lại hỏi Phạm Lãi, Lãi đáp: “Được rồi.” Bèn phái hai nghìn quân quen thuộc thủy tính[2], bốn vạn quân đã qua huấn luyện nghiêm ngặt, sáu nghìn quân cận vệ, một nghìn quân lo các việc tác chiến khác sang đánh Ngô. Quân Ngô thua, [Việt] bèn giết Thái tử nước Ngô. Ngô cấp báo với Ngô vương, Ngô vương đang hội họp chư hầu ở Hoàng Trì, sợ thiên hạ biết chuyện, bèn giữ bí mật việc đó. Ngô vương kết minh ở Hoàng Trì xong, bèn sai người đưa hậu lễ xin giảng hòa với Việt. Việt vương cũng tự xét chưa thể diệt được Ngô, bèn giảng hòa với nước Ngô.

Bốn năm sau, nước Việt lại đánh nước Ngô. Binh lính và dân chúng nước Ngô mỏi mệt, quân tinh nhuệ chết hết ở Tề và Tấn. Thế rồi Việt đại phá Ngô, nhân đó vây hãm Ngô ba năm, quân Ngô thua, quân Việt lại vây khốn Ngô vương trên núi Cô Tô. Ngô vương sai Công Tôn Hùng cởi trần, đi bằng gối đến trước mặt cầu hòa với Việt vương rằng: “Cô thần Phù Sai dám xin phô bày gan ruột, ngày trước từng đắc tội ở Cối Kê, Phù Sai không dám trái mệnh, được giảng hòa với quân vương rồi rút quân về. Nay quân vương rời gót ngọc đến mà giết cô thần, cô thần xin vâng lệnh, ý chừng quân vương cũng muốn xá tội cho cô thần như cô thần từng làm Cối Kê chăng?”[3] Câu Tiễn không đành lòng, định đồng ý. Phạm Lãi nói: “Việc ở Cối Kê, trời đem nước Việt tặng cho nước Ngô, Ngô không lấy. Nay trời đem nước Ngô tặng cho nước Việt, nước Việt có thể làm trái ý trời ư? Vả lại quân vương buổi sớm thiết triều, chiều muộn bãi triều, ấy không phải vì nước Ngô ư? Mưu tính hai mươi hai năm, một sớm vứt bỏ, liệu có được chăng? Hơn nữa trời trao cho mà không nhận, trái lại còn bị trừng phạt. Việc đẽo cán rìu, khuôn mẫu không xa[4], nhà vua quên tai họa ở Cối Kê rồi ư?” Câu Tiễn nói: “Ta muốn nghe lời ông, nhưng lại không nỡ cự tuyệt sứ giả Ngô.” Phạm Lãi bèn đánh trống thúc quân, nói: “Đại vương đã giao chính sự cho ta, sứ giả hãy về đi, nếu không ta sẽ đắc tội đấy.”[5] Sứ giả nước Ngô khóc lóc rồi về. Câu Tiễn thương tình, bèn sai người bảo Ngô vương rằng: “Ta an trí nhà vua ở Dũng Đông, cho cai trị trăm nhà.” Ngô vương từ tạ rằng: “Tôi già rồi, không thể phụng sự quân vương!” Rồi tự sát. [Lúc tự sát], bèn che mặt lại, nói: “Ta không còn mặt mũi nào để nhìn Tử Tư nữa!” Việt vương bèn an táng Ngô vương rồi giết Thái tể Phỉ.

Câu Tiễn bình định xong nước Ngô, bèn đem quân lên phía bắc, vượt sông Hoài, cùng nước Tấn và nước Tề hội chư hầu ở Từ Châu, dâng cống nhà Chu. Chu Nguyên vương sai người tặng thịt tế cho Câu Tiễn, mệnh cho làm bá. Sau khi Câu Tiễn rút về, vượt sông Hoài về phía nam, đem đất Hoài Thượng tặng cho Sở, đem đất của Tống đã bị Ngô xâm chiếm trả lại cho Tống, cắt cho Lỗ một trăm dặm vuông ở phía đông sông Tứ. Bấy giờ, quân Việt mặc sức tung hoành ở khu vực Trường Giang và sông Hoài, chư hầu phía đông đều chúc mừng, xưng hiệu là bá vương.

Phạm Lãi bèn bỏ đi, từ Tề gửi thư cho đại phu Chủng rằng: “Chim bay hết thì cung tốt bị cất; thỏ khôn chết thì chó săn bị nấu. Việt vương là người cổ dài, miệng như mỏ chim, có thể cùng chung trong hoạn nạn, không thể cùng chung lúc yên vui. Sao ngài không bỏ đi?” Chủng xem thư, thác bệnh không vào chầu. Có người gièm pha Chủng sắp làm loạn, Việt vương bèn ban cho Chủng thanh kiếm, nói: “Ngài dạy quả nhân bảy thuật đánh Ngô, quả nhân dùng ba đã đánh bại Ngô, còn bốn thuật nữa nơi ngài, ngài hãy vì ta đến chỗ tiên vương thi hành thử xem.” Chủng liền tự sát.

Câu Tiễn chết, con là Thạch Dư lên thay. Việt vương Thạch Dư chết, con là Bất Thọ lên thay. Việt vương Bất Thọ chết, con là Ông lên thay. Việt vương Ông chết, con là Ế lên thay. Việt vương Ế chết, con là Chi Hầu lên thay. Việt vương Chi Hầu chết, con là Vô Cương lên thay.

Thời Việt vương Vô Cương, nước Việt dấy binh lên phía bắc đánh nước Tề, sang phía tây đánh nước Sở, tranh cường với Trung nguyên. Thời Sở Uy vương, nước Việt lên phía bắc đánh Tề, Tề Uy vương sai người khuyên Việt vương rằng: “Việt không đánh Sở, lớn không đủ xưng vương, nhỏ chẳng đủ xưng bá. Đồ rằng sở dĩ Việt không đánh Sở vì không được Tấn giúp[6]? Hàn và Ngụy vốn không dám đánh Sở. Bởi Hàn đánh Sở thì quân bị thua, tướng bị giết, rồi đất Diệp và Dương Địch sẽ lâm nguy; [Ngụy đánh Sở] thì quân cũng thua, tướng bị giết, rồi đất Trần và Thượng Sái không được yên. Cho nên hai Tấn[7] thờ nước Việt thì không đến nỗi quân thua tướng chết, nhưng không thể hiện được công lao hãn mã. Vậy thì trông cậy điều gì từ Tấn?” Việt vương đáp: “Điều mong cầu ở Tấn là không dấy động can qua, nói chi đến việc đánh thành vây ấp? Mong Ngụy hội quân dưới thành Đại Lương, hy vọng Tề luyện quân ở ấp Cử tại Nam Dương, để hợp quân đến biên giới đất Thường và đất Đàm, vậy thì quân Sở ở ngoài Phương Thành không kéo xuống phía nam, quân Sở ở khoảng sông Hoài sông Tứ không tiến sang phía đông, các đất Thương, Ư, Tích, Lệ, Tông Hồ cùng [quân Sở ở] đường đất Hạ sang phía trái không đủ phòng bị Tần; [quân Sở ở] Giang Nam và Tứ Thượng không đủ để đối chọi với nước Việt. Vậy là Sở đã đúng như mong muốn của Tề, Tần, Hàn, Ngụy; Hàn và Ngụy không cần đánh mà đất đã bị chia, không cần cày mà lại được thu hoạch. Không làm như thế mà lại giao chiến ở Hoàng Hà, Thái Sơn để cho Tề và Tần lợi dụng, trông chờ [Hàn và Ngụy] như thế là thất sách, sao có thể trông cậy vào đó để thành vương nghiệp!” Sứ giả nước Tề nói: “May thay nước Việt không bị diệt vong! Tôi không chuộng cách dùng trí mưu, bởi nó giống như con mắt, thấy từ mảy lông nhỏ nhưng không thấy được lông mi của mình. Nay nhà vua chỉ biết thất sách của Tấn mà không tự biết sai lầm của Việt, cũng như con mắt vậy. Nhà vua trông chờ ở Tấn không phải ở công lao hãn mã, cũng không phải là hợp quân liên kết với họ, mà là mong họ phân tán Sở thôi. Nay Sở đã bị phân tán, sao còn kỳ vọng ở Tấn nữa.” Việt vương hỏi: “Phải làm thế nào?” Đáp: “Ba đại phu nước Sở phô trương chín cánh quân, tiến lên phía bắc bao vây Khúc Ốc, Ư Trung, kéo tận đến quan ải Vô Giả, dàn quân dài đến ba ngàn bảy trăm dặm, quân ở Cảnh Thúy lên phía bắc tụ hội ở vùng nước Lỗ, Tề và Nam Dương, phân tán [quân Sở] liệu có gì lớn được như thế không? Huống nữa điều nhà vua mong muốn là Tấn và Sở đấu nhau; Tấn và Sở không đấu nhau thì quân Việt không phát động, đó là biết hai năm mà không biết mười. Lúc này không đánh Sở, thần qua đó biết rằng nước Việt lớn không thể xưng vương, nhỏ chẳng thể xưng bá. Lại nói đất Thủ, Bàng, Trường Sa là nơi chứa thóc gạo của Sở; Cánh Trạch Lăng là nơi sản sinh gỗ lạt của Sở. Nước Việt đem quân đánh thông đến cửa quan Vô Giả, vậy thì bốn ấp đó không thể dâng cống cho Dĩnh đô nước Sở được nữa. Thần nghe rằng, toan tính vương nghiệp mà không thể xưng vương, có kém cũng có thể xưng bá. Thế nhưng đến bá nghiệp còn không được thì vương đạo sẽ mất. Cho nên xin đại vương hãy chuyển sang đánh Sở.”

Thế là nước Việt liền bỏ Tề, quay sang đánh Sở. Sở Uy vương dấy binh đánh Việt, đánh quân Việt đại bại, giết Việt vương Vô Cương, chiếm hết đất cũ của Ngô đến Chiết Giang, lên phía bắc phá quân Tề ở Từ Châu. Nước Việt vì thế tan rã, anh em con cháu trong họ tranh giành ngôi vị, có người xưng vương, có người xung quân, cư trú ở dải ven biển phía nam sông Trường Giang, thần phục và triều cống nước Sở.

Bảy đời sau, đến Mân quân là Dao, giúp chư hầu bình định nước Tần. Hán Cao đế lại cho Dao làm Việt vương, để phụng thờ tế tự nước Việt. Đông Việt, Mân quân đều là hậu duệ của nước Việt.

Phạm Lãi thờ Việt vương Câu Tiễn, bản thân vất vả góp sức, cùng Câu Tiễn tính mưu sâu xa hơn hai chục năm, cuối cùng tiêu diệt được nước Ngô, báo được nỗi nhục ở Cối Kê, phía bắc xua quân vượt sông Hoài áp sát Tề và Tấn, hiệu lệnh các nước ở Trung nguyên để tôn thờ vương thất nhà Chu, Câu Tiễn nhờ đó xưng bá, còn Phạm Lãi xưng là Thượng tướng quân. Sau khi về nước, Phạm Lãi cho là với danh tiếng lớn trong thiên hạ, khó có thể giữ được lâu dài, hơn nữa Câu Tiễn là người có thể cùng chung sống lúc hoạn nạn, khó có thể cùng chung sống lúc yên vui, bèn viết thư từ biệt Câu Tiễn rằng: “Thần nghe, chủ lo lắng thì bề tôi phải vất vả, chủ chịu nhục thì bề tôi phải chết. Trước kia, quân vương bị nhục ở Cối Kê, sở dĩ thần không chết cũng là vì việc đó. Nay đã rửa được nhục, thần xin nhận trừng phạt về việc ở Cối Kê.” Câu Tiễn nói: “Cô sẽ chia nước cho ông để cùng chung hưởng. Nếu không sẽ trị tội ông.” Phạm Lãi nói: “Nhà vua thi hành mệnh lệnh của mình, bề tôi làm theo ý của mình.” Bèn thu xếp hành trang châu báu gọn nhẹ, cùng thân thuộc lên thuyền ra biển, rốt cuộc không trở lại nữa. Thế rồi, để biểu dương Phạm Lãi, Câu Tiễn phân cho núi Cối Kê làm ấp phong.

Phạm Lãi thả thuyền ra biển sang Tề, đổi họ tên, tự gọi là Si Di Tử Bì, cày ruộng bên bãi biển, bản thân vất vả ra sức làm lụng, cha con gây dựng gia sản. Không lâu sau, tài sản có đến mấy chục vạn. Người Tề nghe nói ông là người hiền, cho làm Tướng quốc. Phạm Lãi ngùi ngùi than rằng: “Ở nhà thì có ngàn vàng, làm quan thì đến khanh tướng, đó là cực điểm của kẻ áo vải rồi. Giữ mãi danh cao thì không may mắn.” Bèn trả lại ấn tướng, phát tán hết của cải, để chia cho người quen biết, bạn bè và láng giềng, rồi ôm đồ quý báu lén ra đi, đến sống ở đất Đào, cho rằng đó là trung tâm của thiên hạ, là đường buôn bán thông thường, có thể kinh doanh đến trí phú. Thế rồi tự gọi là Đào Chu công. Lại ước định cha con cày ruộng, chăn nuôi, tích trữ hàng hóa chờ thời cơ chuyển đi bán kiếm lợi một phần mười. Không lâu sau, tích lũy của cải đến cự vạn. Thiên hạ gọi là Đào Chu công.

Chu công ở đất Đào, sinh được người con út. Đến khi người con út đến tuổi tráng niên thì người con giữa giết người, bị tù ở Sở. Chu công nói: “Giết người đền mạng, đó là lẽ thường. Nhưng ta nghe nói đứa con của nhà có nghìn vàng thì không chết ở chợ.” Bảo người con út đến xem tình hình. Bèn mang theo nghìn dật vàng, cho vào trong ngón đồ màu vàng sẫm, dùng chiếc xe bò chở đi. Lúc sắp sai người con út lên đường, con trưởng của Chu công cố xin đi, Chu công không nghe. Người con trưởng nói: “Nhà có con trưởng là người đốc suất trong nhà, nay em có tội, cha không sai con đi, mà lại sai em út, như thế là con kém cỏi.” Định tự sát. Người mẹ nói giúp cho: “Nay sai thằng út đi, chưa chắc cứu sống thằng hai, thế mà con cả đã chết trước, vậy phải làm sao?” Chu công bất đắc dĩ phải sai con cả đi, viết một phong thư gửi cho bạn thân cũ là Trang Sinh. [Chu công nói với người con cả] rằng: “Đến nơi thì đem nghìn vàng tới chỗ Trang Sinh, rồi nghe theo sự sắp xếp của ông ta, phải cẩn thận, chớ có tranh luận việc gì với ông ta.” Người con cả lên đường, cũng tự mang thêm mấy trăm dật vàng.

Đến Sở, nhà Trang Sinh ở sát ngoài thành, vén cỏ cây tìm đến cổng, nhà rất nghèo. Người con cả đưa thư và dâng ngàn vàng đúng như lời cha dặn. Trang Sinh nói: “Hãy mau đi đi, chớ ở lại! Nếu em được tha ra, chớ hỏi nguyên do.” Người con trưởng đi rồi, không qua chỗ Trang Sinh nữa nhưng tự ý lưu lại, đem vàng riêng của mình dùng cho bậc quý nhân nắm giữ chính sự ở nước Sở.

Trang Sinh tuy ở nơi thôn nghèo nhưng nhờ liêm khiết chính trực mà nổi tiếng trong nước, từ Sở vương trở xuống thảy đều tôn ông làm thầy. Đến khi Chu công dâng vàng, [ông ta] không có ý nhận, muốn xong việc sẽ trả lại, chỉ lấy đó làm tín vật. Cho nên vàng được đưa đến, Trang Sinh bảo vợ rằng: “Đây là vàng của Chu công. Nếu ta thình lình ốm chết không kịp trả, thì sau cũng phải trả lại, chớ đụng đến.” Nhưng con cả của Chu công không hiểu ý, nghĩ là hiến vàng cho Trang Sinh cũng không ích dụng gì.

Trang Sinh lựa cơ hội vào yết kiến Sở vương, nói: “Sao nọ rời đến vị trí sao kia, đó là điềm có hại cho Sở.” Sở vương vốn tin Trang Sinh, hỏi: “Nay phải làm thế nào?” Trang Sinh đáp: “Chỉ dùng đức mới có thể trừ bỏ được.” Sở vương nói: “Tiên sinh không cần nói nữa, quả nhân sẽ làm theo.” Sở vương bèn sai sứ giả đến niêm phong kho chứa các loại tiền[8]. Bậc quý nhân nước Sở nọ kinh ngạc báo với con trưởng của Chu công rằng: “Đại vương sắp đại xá rồi.” Hỏi: “Sao ngài biết?” Đáp: “Mỗi lần đại vương đại xá thường cho niêm phong kho chứa các loại tiền. Tối qua đại vương sai sứ giả đến niêm phong rồi.” Con trưởng của Chu công cho là đã đại xá, em mình chắc được tha, tiếc ngàn vàng mất không về tay Trang Sinh, không có tác dụng gì, bèn trở lại gặp Trang Sinh. Trang Sinh ngạc nhiên hỏi: “Anh chưa đi ư?” Người con trưởng đáp: “Vốn dĩ chưa đi. Ban đầu vì việc của em, nay có đại xá nên em tự nhiên được tha, cho nên cố ý đến từ biệt tiên sinh.” Trang Sinh biết ý người con trưởng muốn lấy lại vàng, nói: “Anh tự vào nhà lấy vàng.” Người con trưởng liền vào nhà lấy vàng mang về, tự thấy vui mừng.

Trang Sinh hổ thẹn vì bị hàng con cái bán đứng, bèn vào yết kiến Sở vương, nói: “Lúc trước thần nói chuyện ngôi sao nọ, đại vương nói muốn tu đức để đáp tạ. Nay thần ra ngoài, trên đường đều nói con của người giàu có Chu công ở đất Đào giết người, bị từ Sở, gia đình họ mang nhiều tiền vàng hối lộ bề tôi tả hữu của đại vương, cho nên đại vương không phải vì thương xót người Sở mà đại xá, ấy chỉ vì con trai của Chu công mà thôi.” Sở vương cả giận nói: “Quả nhân dẫu không có đức hạnh cũng sao có thể chỉ vì con trai của Chu công mà thi ơn huệ được!” Hạ lệnh luận tội rồi giết con Chu công, hôm sau mới hạ lệnh đại xá. Con trưởng của Chu công rốt cuộc phải mang xác em về.

Đến nhà, người mẹ cùng người trong ấp thảy đều đau buồn, riêng Chu công cười nói: “Ta vốn biết nó nhất định giết em của nó mà! Không phải nó không yêu em nó, chỉ vì có việc không đang tâm. Nó theo ta từ nhỏ, phải trải qua khó nhọc, biết nỗi khổ của việc mưu sinh, nên coi mất của là việc lớn. Còn như em út, sinh ra đã thấy ta giàu có, ngồi xe chắc ngựa khỏe đuổi săn thỏ khôn lanh, há biết của cải từ đâu ra, cho nên coi mất của là chuyện nhỏ, không hề xót tiếc. Ngày trước ta định sai thằng út đi, vì nó có thể vứt bỏ của cải vậy. Nhưng thằng cả thì không thể, cho nên rốt cuộc vì thế mà giết em mình, việc có lý của nó, không đáng để đau buồn. Ta ngày đêm vốn chỉ chờ [nó] đưa xác thằng hai về thôi.”

Vì thế Phạm Lãi ba lần thiên chuyển, nổi danh trong thiên hạ, không phải rời đổi tùy tiện, dừng ở đâu ắt thành danh ở đó. Cuối cùng già chết ở đất Đào, cho nên thế truyền gọi là Đào Chu công.

Thái sử công bàn rằng: Công của Hạ Vũ to lớn [trong việc trị thủy], khơi dòng chín sông, yên định chín châu, tới nay các nước Hoa Hạ vẫn được yên ổn. Đến hậu duệ là Câu Tiễn, bản thân vất vả, đau đáu suy tư, rốt cuộc diệt được nước Ngô hùng mạnh, lên phía bắc hiển dương binh lực với các nước Trung nguyên, để tôn nhà Chu, xưng hiệu bá vương. Câu Tiễn có thể không xem là bậc hiền năng ư! Đại để nhờ công lao sự nghiệp của vua Vũ để lại vậy. Phạm Lãi ba lần chuyển chỗ ở, đều có thanh danh rạng rỡ, tên tuổi truyền lại đời sau. Tôi chúa được như thế, muốn không hiển hách phỏng có được không!

[1] Ý nhắc chuyện khi Sở vương bắt giam cha của Ngũ Tử Tư, sai gọi hai anh em Ngũ Tử Tư đến, chỉ có người anh đến chịu chết, còn Ngũ Tử Tư bỏ trốn.

[2] Nguyên là "tập lưu", có sách giải thích là đội quân này gồm những tội đồ bị đi đày, được huấn luyện sung làm lính.

[3] Ý Phù Sai nói trước đây quân Ngô vây khốn Câu Tiễn ở Cối Kê, rốt cuộc không giết Câu Tiễn, thì bây giờ, với hoàn cảnh tương tự, Phù Sai cũng mong Câu Tiễn cho mình giảng hòa, như nước Ngô đã làm với nước Việt trước đây.

[4] Lấy ý trong Trung dung (một thiên thuộc Lễ ký, sau tách thành sách riêng, rồi thành kinh điển của Nho gia): “Chấp kha, phạt kha, kỳ tắc bất viễn”, nghĩa là: Cầm cán rìu để đẽo chiếc cán rìu khác, khuôn mẫu không ở đâu xa (chính là cái cán rìu mình đang cầm). Đây ý nói nước Ngô tha Việt vương Câu Tiễn khi vây hãm Cối Kê, để rồi nước Việt phục quốc, vây khốn Phù Sai, nếu cho Phù Sai giảng hòa sẽ tạo ra mối họa tương tự sau này.

[5] Phạm Lãi dọa sứ giả, bảo phải về, nếu không có thể sẽ bị giết.

[6] Nước Tấn bấy giờ chia làm ba nước: Hàn, Triệu và Ngụy. Ở đây chỉ hàm ý nhắc đến Hàn và Ngụy.

[7] Hai Tấn: chỉ Hàn và Ngụy.

[8] Nguyên viết là "Tam tiền chi phủ”, nghĩa là kho chứa ba loại tiền, không rõ là những loại tiền gì, có sách cho là ba loại tiền theo ba màu đỏ, trắng và vàng.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.