Sử Ký III. Thế Gia

Lượt đọc: 250 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUYỂN 39 TẤN THẾ GIA

❊ ❊ ❊

Đường thúc Ngu nước Tấn là con của Chu Vũ vương, em Thành vương. Ban trước, khi Vũ vương ân ái với mẹ của Thúc Ngu, mộng thấy trời nói với Vũ vương rằng: “Ta ban mệnh cho người sinh được con trai, tên là Ngu, ta ban cho đất Đường.” Đến khi sinh con, trên tay có chữ “Ngu”, nên nhân đó đặt tên là Ngu.

Vũ vương băng hà, Thành vương lên ngôi, nước Đường có loạn, Chu công tru diệt nước Đường. Thành vương cùng Thúc Ngu đùa chơi, [Thành vương] cắt lá ngô đồng làm ngọc khuê[1] trao cho Thúc Ngu, nói: “Đem thứ này phong cho ngươi.” Sử Dật nhân đó xin chọn ngày tốt sách lập Thúc Ngu. Thành vương nói: “Ta chỉ đùa với Thúc Ngu thôi.” Sử Dật nói: “Thiên tử không nói chơi. Nói ra thì sử quan ghi chép lại, dùng lễ tác thành việc đó, dùng nhạc ca vịnh việc đó.” Thế rồi bèn phong Thúc Ngu đất Đường. Đất Đường ở phía đông sông Hoàng Hà và sông Phần, rộng trăm dặm vuông, cho nên gọi là Đường thúc Ngu. [Đường thúc Ngu] họ Cơ, tự là Tử Vu.

Con của Đường thúc là Tiếp, chính là Tấn hầu. Con của Tấn hầu là Ninh Tộc, chính là Vũ hầu. Con của Vũ hầu là Phục Nhân, chính là Thành hầu. Con của Thành hầu là Phúc, chính là Lệ hầu. Con của Lệ hầu là Nghi Cữu, chính là Tĩnh hầu. Từ Tĩnh hầu trở đi, niên đại có thể suy được. Từ Đường thúc đến Tĩnh hầu là năm đời, không biết số năm [là bao nhiêu].

Tĩnh hầu năm thứ mười bảy, Chu Lệ vương u mê bạo ngược, người trong nước làm loạn, Lệ vương chạy ra đất Trệ, đại thần cùng điều hành chính sự, cho nên gọi là “cộng hòa”.

Năm thứ mười tám, Tĩnh hầu chết, con là Ly hầu Tư Đồ lên thay. Ly hầu năm thứ mười bốn, Chu Tuyên vương mới lên ngôi. Năm thứ mười tám, Ly hầu chết, con là Hiến hầu Tịch lên thay. Hiến hầu năm thứ mười một thì chết, con là Mục hầu Bí Vương lên thay.

Mục hầu năm thứ tư, lấy người con gái nước Tề là Khương thị làm phu nhân. Năm thứ bảy, thảo phạt đất Điều. [Phu nhân Khương thị] sinh Thái tử Cừu. Năm thứ mười, thảo phạt đất Thiên Mẫu, có công tích. [Năm đó, Mục hầu] sinh con nhỏ, tên là Thành Sư. Người Tấn là Đại phu Sư Phục nói: “Lạ thay cách vua đặt tên con! Thái tử là Cừu, Cừu tức là cừu thù vậy. Con nhỏ là Thành Sư, Thành Sư là danh hiệu lớn, là thành tựu cho người con đó vậy. Tên là mệnh số của mình; vật, tự thân an bài vậy. Nay con đích và con thứ tên trái ngược nhau, như thế sau này nước Tấn có thể không loạn được ư?”

Năm thứ hai mươi bảy, Mục hầu chết, em là Thương thúc tự lập làm vua, Thái tử Cừu chạy khỏi nước. Thương thúc năm thứ ba, Chu Tuyên vương bằng hà. Năm thứ tư, Thái tử của Mục hầu là Cừu thống lãnh bè đảng đánh úp Thương thức rồi lên thay, đó là Văn hầu.

Văn hầu năm thứ mười, Chu U vương vô đạo, Khuyển Nhung giết U vương, nhà Chu dời sang phía đông. Còn Tần Tương công bắt đầu được liệt vào hàng chư hầu.

Năm thứ ba mươi lăm, Văn hầu Cừu chết, con là Chiêu hầu Bá lên thay.

Chiêu hầu năm thứ nhất, phong cho em của Văn hầu là Thành Sư ở Khúc Ốc. Ấp Khúc Ốc lớn hơn đất Dực. Dực là đô ấp của Tấn quân. Thành Sư được phong ở Khúc Ốc, hiệu là Hoàn thúc. Cháu ngành thứ của Tĩnh hầu là Loan Tân phò tá Hoàn thúc. Bấy giờ Hoàn thúc đã năm mươi tám tuổi, hiếu đức, dân nước Tấn đều quy phụ theo. Bậc quân tử nói: “Loạn của nước Tấn là ở Khúc Ốc vậy. Ngọn lớn hơn gốc mà lại được lòng dân, không loạn thì còn chờ gì nữa!”

Năm thứ bảy, đại thần nước Tấn là Phan Phủ giết vua nước mình là Chiêu hầu rồi đón Khúc Ốc Hoàn thúc. Hoàn thúc muốn vào nước Tấn, người Tấn phát binh tấn công Hoàn thúc. Hoàn thúc bị thua, trở về Khúc Ốc. Người Tấn cùng lập con của Chiêu hầu là Bình làm vua, đó là Hiếu hầu. [Người nước Tấn] giết Phan Phủ.

Hiếu hầu năm thứ tám, Khúc Ốc Hoàn thúc chết, con là Thiện thay Hoàn thúc, đó là Khúc Ốc Trang bá. Hiếu hầu năm thứ mười lăm, Khúc Ốc Trang bá giết vua nước mình là Tấn Hiếu hầu tại ấp Dực. Người Tấn tấn công Khúc Ốc Trang bá, Trang bá lại về Khúc Ốc. Người Tấn lại lập con của Hiếu hầu là Khích lên làm vua, đó là Ngạc hầu.

Ngạc hầu năm thứ hai, Lỗ Ẩn công mới lên ngôi.

Ngạc hầu năm thứ sáu thì chết. Khúc Ốc Trang bá nghe tin Tấn Ngạc hầu chết, bèn dấy binh thảo phạt nước Tấn. Chu Bình vương [liền] sai Quốc Công đem quân thảo phạt Khúc Ốc Trang bá, Trang bá chạy về giữ Khúc Ốc. Người Tấn cùng lập con của Ngạc hầu là Quang lên ngôi, đó là Ai hầu.

Ai hầu năm thứ hai, Khúc Ốc Trang bá chết, con là Xứng lên thay Trang bá, đó là Khúc Ốc Vũ công. Ai hầu năm thứ sáu, người Lỗ giết vua nước mình là Ẩn công. Ai công năm thứ tám, nước Tấn xâm phạm ấp Hình Đình. Người ở ấp Hình Đình bàn mưu với Khúc Ốc Vũ công, năm thứ chín, thảo phạt nước Tấn ở bên cạnh sông Phần của nước Tấn, bắt sống Ai hầu. Người Tấn bèn lập con của Ai hầu là Tiểu Tử lên làm vua, đó là Tiểu Tử hầu.

Tiểu Tử hầu năm thứ nhất, Khúc Ốc Vũ công sai Hàn Vạn[2] giết Tấn Ai hầu [trước đó] bị bắt làm tù binh. Khúc Ốc ngày càng lớn mạnh, nước Tấn không biết làm thế nào.

Tiểu Tử hầu nước Tấn năm thứ tư, Khúc Ốc Vũ công lừa triệu Tiểu Tử hầu nước Tấn tới rồi giết chết. Chu Hoàn vương sai Quốc Trọng thảo phạt Khúc Ốc Vũ công, Vũ công chạy về Khúc Ốc, [Chu Hoàn vương] bèn lập em của Tấn Ai hầu là Mân làm Tấn hầu.

Tấn hầu Mân năm thứ tư, nước Tống bắt Sái Trọng nước Trịnh rồi lập Đột làm Trịnh quân. Tấn hầu năm thứ mười chín, Quản Chí Phủ người Tề giết vua nước mình là Tương công.

Tấn hầu năm thứ hai mươi tám, Tề Hoàn công bắt đầu xưng bá. Khúc Ốc Vũ công thảo phạt Tấn hầu Mân, diệt được, rồi đem tất cả đồ quý báu [thu được của Tấn hầu] dâng cho Chu Hy vương để hối lộ. Hy vương mệnh cho Khúc Ốc Vũ công làm Tấn quân, được liệt vào hàng chư hầu, thế là [Khúc Ốc Vũ công] chiếm hết được đất Tấn.

Sau khi Khúc Ốc Vũ công lên ngôi được ba mươi bảy năm, đổi hiệu thành Tấn Vũ công. Tấn Vũ công bắt đầu đóng đô ở nước Tấn, trước đây lên ngôi ở Khúc Ốc, tính tổng số năm là ba mươi tám năm.

Vũ công Xứng, là chắt của Tấn Mục hầu trước đây, cháu nội của Khúc Ốc Hoàn thúc. Ban đầu Hoàn thúc được phong ở Khúc Ốc. Vũ công là con của Trang bá. Từ lúc Hoàn thúc bắt đầu được phong ở đất Khúc Ốc đến khi Vũ công tiêu diệt nước Tấn, cả thảy sáu mươi bảy năm, rồi cuối cùng thay nước Tấn làm nước chư hầu. Vũ công thay nhà Tấn được hai năm thì chết. Tính tổng cả những năm ở Khúc Ốc, cả thảy ở ngôi được ba mươi chín năm thì chết. Con là Hiến công Quỷ Chư lên thay.

Hiến công năm thứ nhất, em trai của Chu Huệ vương là Đồi tấn công Huệ vương, Huệ vương chạy trốn khỏi nước, đến sống ở ấp Lịch của nước Trịnh.

Năm thứ năm, thảo phạt Ly Nhung, bắt được nàng Ly cơ và em gái của Ly cơ, đều được Hiến công sủng ái.

Năm thứ tám, [đại phu] Sĩ Vị khuyên Hiến công rằng: “Nước Tấn trước đây có nhiều công tử, không giết họ, sẽ sinh loạn.” [Hiến công] bèn sai giết hết các công tử nước Tấn, rồi dựng thành Tụ và đóng đô ấp ở đó, gọi là Giáng, bắt đầu đóng đô ở đất Giáng. Năm thứ chín, các công tử nước Tấn [sợ bị giết] đã chạy trốn sang nước Quắc, nước Quắc lấy lý do đó, lại thảo phạt nước Tấn nhưng không hạ được. Năm thứ mười, nước Tấn muốn thảo phạt nước Quốc, Sĩ Vị nói: “Hãy đợi nước họ loạn đã.”

Năm thứ mười hai, Ly cơ sinh Hề Tề. Hiến công có ý muốn phế bỏ Thái tử, bèn nói: “Khúc Ốc là chỗ có tông miếu của tổ tiên ta, còn ấp Bồ ở giáp Tần, ấp Khuất ở cạnh nước Địch, không sai các con ra ở đấy, ta rất lo lắng.” Thế rồi sai Thái tử Thân Sinh ra ở Khúc Ốc, công tử Trùng Nhĩ ra ở ấp Bồ, công tử Di Ngô ra ở ấp Khuất. Hiến công cùng con của Ly cơ là Hề Tề ở thành Giáng. Người nước Tấn qua đó biết rằng Thái tử sẽ không được kế vị. Mẹ của Thái tử Thân Sinh là con gái của Tề Hoàn công, gọi là Tề Khương, chết sớm. Em gái cùng mẹ với Thân Sinh làm phu nhân của Tần Mục công. Mẹ của Trùng Nhĩ là con gái họ Hồ nước Địch. Mẹ của Di Ngô là em gái của mẹ Trùng Nhĩ. Hiến công có tám người con trai, trong đó Thái tử Thân Sinh, Trùng Nhĩ, Di Ngô đều hiền năng đức hạnh. Đến khi có Ly cơ, [Hiến công] bèn xa lánh ba người con này.

Năm thứ mười sáu, Tấn Hiến công lập ra hai quân. Hiến công thống lãnh thượng quân, Thái tử Thân sinh thống lãnh hạ quân, Triệu Túc làm ngự nhung, Tất Vạn làm hộ vệ bên phải, thảo phạt tiêu diệt nước Hoắc, diệt nước Ngụy, diệt nước Cảnh. Trở về, Hiến công xây thành cho Thái tử ở Khúc Ốc, ban cho Triệu Túc đất Cảnh, ban cho Tất Vạn đất Ngụy, cho làm đại phu. Sĩ Vị nói: “Thái tử không được lập rồi. Phân phong cho đô thành, rồi cho làm quan khanh, trước đã phong tước vị cao nhất, sau sao còn được lập nữa! Chẳng bằng hãy bỏ trốn, không để tội đến mình. Bắt chước Ngô Thái bá, chẳng cũng hay chăng, còn được tiếng tốt.” Thái tử không nghe. Bốc Yển nói: “Hậu duệ của Tất Vạn ắt hùng mạnh. Vạn là số tròn lớn; Ngụy là tiếng tăm lớn. Đem đất Ngụy để ban thưởng, là trời mở mang cho rồi. Thiên tử xưng là có triệu dân, chư hầu xưng là có muôn dân, nay ban đại danh, cấp số tròn lớn, ắt sẽ có dân chúng đông đảo.” Ban đầu, Tất Vạn đi bói việc làm quan ở nước Tấn, được quẻ Truân biến sang quẻ Tỷ. Tân Liệu xem bói cho rồi nói: “Tốt. Truân là kiên cố, Tỷ là vào, tốt thay, còn gì lớn lao hơn quẻ này. Sau này ắt sẽ phồn thịnh.”

Năm thứ mười bảy, Tấn hầu sai Thái tử Thân Sinh thảo phạt Đông Sơn. Lý Khắc can Hiến công rằng: “Thái tử lo việc cung phụng tế phẩm tế tự tông miếu xã tắc, là người sớm tối chăm lo việc ăn uống của nhà vua, cho nên gọi là Trủng tử. Nhà vua ra ngoài thì [thái tử phải ở nhà] coi giữ, có người coi giữ rồi thì [Thái tử phải] đi theo, đi theo thì gọi là Phủ quân (vỗ về quân binh), coi giữ thì gọi là Giám quốc (giám sát đất nước), là chế độ thời xưa vậy. Xét lẽ, cầm quân là việc của người chuyên mưu lược quân sự; ban bố hiệu lệnh, là chức trách của nhà vua và quan chính khanh, không phải việc của Thái tử. Quân đội cốt ở mệnh lệnh, phải bẩm xin quân mệnh thì không còn uy nghiêm, tự ra quân lệnh thì không còn hiếu thuận, cho nên người dòng đích thừa kế của nhà vua không thể là người thống lãnh quân đội được. Nhà vua xếp đặt quan chức không thỏa đáng thì người thắng lãnh quân đội lại không giữ được uy nghiêm, sao lại sai [Thái tử] làm việc đó?” Hiến công nói: “Quả nhân có nhiều con trai, còn chưa biết sẽ lập ai làm Thái tử.” Lý Khắc không đáp mà lui, đi gặp Thái tử. Thái tử hỏi: “Tôi sẽ bị phế phải không?” Lý Khắc đáp: “Thái tử gắng lên! [Nhà vua] lệnh cho [Thái tử] thống lĩnh quân đội, không cung kính [tuân theo] mới sợ, cớ gì bị phế: Vả lại điều ngài sợ là bất hiếu, chứ không sợ không được lập. Chỉ cần tu thân mình mà không trách vọng người khác, thì sẽ tránh được nạn.” Thái tử chỉ huy quân đội, Hiến công khoác thiên y[3], đeo vòng kim quyết[4] cho. Lý Khắc thác bệnh, không theo Thái tử. Thái tử bèn đi thảo phạt Đông Sơn.

Năm thứ mười chín, Hiến công nói: “Ban đầu, các vị tiên quân ta là Trang bá, Vũ công đi tru diệt nội loạn ở Tấn, còn nước Quốc thường giúp Tấn thảo phạt ta [ở Khúc Ốc], lại giấu công tử bỏ trốn của Tấn, [nay] quả nhiên làm loạn. Nếu không tru diệt sẽ để lại mối lo cho con cháu.” Bèn sai Tuân Tức dùng ngựa ở Khuất Sản[5] và xe tốt bốn ngựa kéo [tặng vua nước Ngu] để mượn đường nước Ngu. Nước Ngu cho mượn đường, [nước Tấn] bèn thảo phạt nước Quắc, chiếm lấy ấp Hạ Dương của nước Quắc rồi về.

Hiến công nói riêng với Ly cơ rằng: “Ta muốn phế truất Thái tử để cho Hề Tề lên thay.” Ly cơ khóc nói: “Việc lập Thái tử, chư hầu đều đã biết, còn [Thái tử] lại nhiều lần cầm quân, trăm họ đều quy phụ theo, cớ sao vì tiện thiếp mà phế đích lập thứ? Nếu nhà vua nhất định làm thế, thiếp sẽ tự sát.” Ly cơ vờ khen Thái tử, nhưng lại ngầm sai người nói xấu Thái tử, [mục đích là] muốn lập con mình lên thay.

Năm thứ hai mươi mốt, Ly cơ bảo Thái tử rằng: “Nhà vua mơ thấy Tề Khương, Thái tử mau đến tế ở Khúc Ốc, rồi mang thịt tế về dâng lên nhà vua.” Thế là Thái tử tế mẹ mình là Tề khương ở Khúc Ốc, rồi dâng thịt tế lên Hiến công. Bấy giờ Hiến công ra ngoài đi săn, [Thái tử] để thịt ở trong cung. Ly cơ sai người cho thuốc độc vào trong thịt. Hai hôm sau[6], Hiến công đi săn về, đầu bếp dâng thịt lên, Hiến công định ăn. Ly cơ ở bên cạnh ngăn lại, nói: “Thịt tế từ xa mang vào, nên thử trước.” Ném thịt xuống đất[7], đất sùi lên; cho chó ăn, chó chết; cho Tiểu thần[8] ăn, Tiểu thần chết. Ly cơ khóc nói: “Thái tử sao nhẫn tâm vậy! Cha mình mà còn muốn giết để lên thay, huống hồ là người khác? Hơn nữa nhà vua già rồi, người chỉ còn trong một sớm một chiều, đã không thể đối đãi tử tế lại còn muốn giết đi?” Lại nói với Hiến công: “Sở dĩ Thái tử làm vậy, chẳng qua vì thiếp và Hề Tề mà thôi. Mẹ con thiếp nguyện tránh đến nước khác, hoặc sớm tự sát chứ không để bị Thái tử coi mẹ con thiếp như cá thịt vậy được. Ban đầu nhà vua định phế truất Thái tử, thiếp còn giận vì việc đó; đến hôm nay, thiếp thực tự thấy mình đã lầm.” Thái tử biết chuyện, chạy đến Tân Thành[9]. Hiến công tức giận, bèn giết sư phó của Thái tử là Đỗ Nguyên Khoản. Có người bảo Thái tử rằng: “Thuốc độc đó là do Ly cơ bỏ vào, sao Thái tử không đích thân thanh minh sự việc?” Thái tử đáp: “Vua ta già rồi, không có Ly cơ thì ăn không ngon, ngủ không yên. Nếu giải thích, vua cha sẽ càng giận. Không được.” Lại có người bảo Thái tử: “Hãy chạy sang nước khác đi.” Thái tử nói: “Mang tiếng xấu này mà sang nước khác, ai dung nạp ta? Ta chỉ còn cách tự sát thôi.” Ngày Mậu Thân tháng Mười hai, Thân Sinh tự sát ở Tân Thành.

Đúng lúc ấy Trùng Nhĩ và Di Ngô vào triều kiến [Hiến công]. Có người báo với Ly cơ rằng: “Hai công tử oán Ly cơ gièm pha giết chết Thái tử.” Ly cơ lo sợ, nhân đó hủy báng hai vị công tử: “Việc Thân Sinh cho thuốc độc vào thịt tế, hai công tử cũng biết.” Hai công tử nghe vậy, sợ hãi, Trùng Nhĩ chạy đến ấp Bồ, Di Ngô chạy đến ấp Khuất, giữ vững thành quách, đích thân phòng giữ. Trước đây, Hiến công sai Sĩ Vị xây thành cho hai công tử ở ấp Bồ và ấp Khuất, còn chưa xây xong. Di Ngô đem việc ấy báo cho Hiến công, Hiến công khiển trách Sĩ Vị. Sĩ Vị tạ lỗi rằng: “Biên thành ít giặc cướp, sao lại phải xây thành?” Lui về mà ca rằng: “Áo hồ cừu mượt như nhung, một nước có ba công tử, ta biết theo ai bây giờ?” Cuối cùng xây đắp xong thành quách. Đến khi Thân Sinh chết, hai vị công tử cũng về giữ thành của mình.

Năm thứ hai mươi hai, Hiến công giận trách hai con không từ biệt mà đã bỏ đi, cho rằng nhất định có âm mưu, bèn sai quân đến thảo phạt ấp Bồ. Có viên hoạn quan người ấp Bồ là Bột Đề bức ép Trùng Nhĩ tự sát, Trùng Nhĩ trèo tường bỏ trốn, viên hoạn quan đuổi theo chém đứt tay áo của Trùng Nhĩ. Trùng Nhĩ liền chạy sang nước Địch. [Hiến công] sai người thảo phạt ấp Khuất, người trong thành Khuất phòng giữ thành, không sao hạ được.

Năm đó, nước Tấn lại mượn đường nước Ngu để thảo phạt nước Quắc. Đại phu nước Ngu là Cung Chi Kỳ can vua nước Ngu rằng: “Nước Tấn không chỉ đơn thuần mượn đường đâu, họ sẽ diệt nước Ngu đấy.” Vua nước Ngu nói: “Nước Tấn cùng họ với ta, sẽ không thảo phạt ta đâu.” Cung Chi Kỳ nói: “Thái bá, Ngu trọng là con của Thái dương vậy, Thái bá trốn đi, nên không thể kế thừa vương vị. Quắc trọng, Quắc thúc là con của Vương quý, đều làm khanh sĩ cho Văn vương, công tích của họ được ghi trong sách của lương thất, cất trong Minh phủ[10]. Nếu [quân Tấn] đã diệt nước Quắc thì tiếc chi nước Ngu? Vả lại nước Ngu thân với nước Tấn có bằng Hoàn thúc, Trang bá không? Gia tộc của Hoàn thúc, Trang bá có tội gì mà đều bị [nước Tấn] diệt hết. Nước Ngu đối với nước Quắc, giống như môi với răng, môi hở thì răng lạnh.” Ngu công không nghe, bèn đồng ý cho nước Tấn mượn đường. Cung Chi Kỳ đưa gia tộc rời khỏi nước Ngu. Mùa đông năm ấy, nước Tấn diệt nước Quắc, Quốc công là Xú chạy sang nhà Chu. [Quân Tấn] trở về, đánh úp tiêu diệt nước Ngu, bắt sống Ngu công cho đến Đại phu Tỉnh Bá Bách Lý Hề làm bồi giá cho con gái [Tấn Hiến công] sang làm vợ Tần Mục công, rồi lo việc tế tư nước Ngu. Tuân Tức đem ngựa Khuất Sản trước đem tặng nước Ngu dâng cho Hiến công, Hiến công cười nói: “Ngựa thì là ngựa của ta, nhưng đã già rồi!”[11]

Năm thứ hai mươi ba, Hiến công bèn phái bọn Giả Hoa thảo phạt thành Khuất, thành Khuất vỡ. Di Ngô định chạy sang nước Địch. Ký Nhuế nói: “Không được, Trùng Nhĩ đã ở đấy, nay lại sang, nước Tấn ắt chuyển quân sang thảo phạt nước Địch, nước Địch sợ nước Tấn, họa sẽ lại lan đến. Chẳng bằng chạy sang nước Lương, nước Lương gần với nước Tần, nước Tần vốn mạnh, sau khi vua ta trăm tuổi có thể thỉnh cầu họ giúp về nước.” [Di Ngô] bèn chạy sang nước Lương. Năm thứ hai mươi lăm, nước Tấn thảo phạt nước Địch, nước Địch vì Trùng Nhĩ, cũng đánh nước Tấn ở Khiết Tang, quân Tấn giải vây rồi rút về.

Đương lúc bấy giờ nước Tấn mạnh, phía tây có Hà Tây, tiếp giáp biên giới với nước Tần, phía bắc giáp biên giới nước Địch, phía đông đến Hà Nhuế.

Em gái Ly cơ sinh Điệu tử.

Mùa hạ năm thứ hai mươi sáu, Tề Hoàn công hội chư hầu tại Quỳ Khâu. Tấn Hiến công ốm, đi sau, còn chưa đến nơi, thì gặp Tể Khổng nhà Chu. Tể Khổng nói: “Tề Hoàn công ngày càng kiêu căng, không chuộng đức mà chuộng xâm lược phương xa, chư hầu bất bình. Dù ngài không đi hội kiến, [nước Tề cũng] chẳng làm gì được nước Tấn.” Hiến công cũng đang ốm, lại quay trở về. [Hiến công] bệnh nặng thêm, bèn báo Tuân Tức rằng: “Ta lấy Hề Tề làm người kế thừa, tuổi y còn trẻ, các đại thần không phục, e sinh biến loạn, ông có thể giúp [ta] lập Hề Tề không?” Tuân Tức đáp: “Có thể.” Hiến công nói: “Ông dựa vào đâu?” Đáp rằng: “Dẫu nhà vua chết rồi sống lại, thì người sống [là thần đối với người chết đi sống lại là nhà vua] cũng không hổ thẹn điều gì, dựa vào đấy vậy.” Thế rồi phó thác Hề Tề cho Tuân Tức. Tuân Tức làm Tướng quốc, chủ trì chính sự trong nước. Tháng Chín mùa thu, Hiến công chết. Lý Khắc, Bi Trịnh muốn đưa Trùng Nhĩ trở về, bèn lợi dụng đồ đảng của ba công tử để làm loạn, bảo Tuấn Tức rằng: “Ba người oán rồi vùng lên, nước Tần và nước Tấn phụ giúp họ, ông sẽ làm thế nào?” Tuân Tức đáp: “Tôi không thể phụ lời ủy thác của tiên quân.” Tháng Mười, Lý Khắc giết Hề Tề ở chỗ thủ tang [Hiến công], Hiến công chưa được an táng. Tuân Tức định chết theo, có người cho rằng chẳng bằng lập em của Hề Tề là Điệu tử rồi phò tá. Tuân Tức lập Điệu tử rồi an táng Hiến công. Tháng Mười một, Lý Khắc giết Điệu tử ngay trong triều, Tuân Tức chết theo. Bậc quân tử nói: “Kinh Thi viết: 'Bạch khuê có vết, còn có thể mài, lời nói lỗi lầm, không thể sửa sai', câu đó để nói về Tuân Tức chăng! [Tuân Tức] không phụ lời hứa của mình.” Trước đây, Hiến công định thảo phạt Ly Nhung, bói quẻ rằng “Răng gây ra họa”.[12] Đến khi phá Ly Nhung, bắt được Ly cơ, sủng ái nàng, rốt cuộc khiến Tấn bị loạn.

Sau khi bọn Lý Khắc giết Hề Tề và Điệu tử, bèn sai người đón công tử Trùng Nhĩ ở nước Địch, muốn lập Trùng Nhĩ. Trùng Nhĩ từ tạ rằng: “Trái mệnh cha rồi bỏ chạy ra ngoài, đến khi cha chết lại không được theo lễ của con để hầu tang, Trùng Nhĩ sao dám trở về! Đại phu hãy đổi lập công tử khác đi.” Về báo với Lý Khắc, Lý Khắc sai người đón Di Ngô ở nước Lương. Di Ngô muốn về, Lã Sảnh và Khích Nhuế nói rằng: “Trong nước vẫn còn công tử có thể lập được vậy mà lại cầu tìm bên ngoài, khó tin. Xét thấy không sang nước Tần, cậy uy nước lớn để về nước thì e gặp nguy hiểm.” [Công tử Di Ngô] bèn sai Khích Nhuế đem hậu lễ sang hối lộ nước Tần, hẹn rằng: “Nếu được về nước, xin cắt đất Tây Hà của nước Tấn cho nước Tần.” Rồi gửi thư cho Lý Khắc rằng: “Nếu được lập, xin phân phong cho ngài ấp Phần Dương.” Tần Mục công bèn phát binh đưa Di Ngô trở về nước Tấn. Tề Hoàn công nghe tin nước Tấn có nội loại, cũng thống lãnh chư hầu đến nước Tấn. Quân Tần và Di Ngô cũng đến nước Tấn, nước Tề bèn sai Thấp Bằng hẹn với Tần cùng đưa Di Ngô về nước Tấn, lập làm Tấn quân, đó là Huệ công. Tề Hoàn công đến Cao Lương nước Tấn rồi rút quân về.

Huệ công Di Ngô năm thứ nhất, sai Bi Trịnh tạ từ với nước Tần rằng: “Ban đầu Di Ngô hứa cắt đất Tây Hà cho ngài, nay may mắn được về nước lên ngôi. Đại thần nói: 'Đất là đất của tiên quân, nhà vua lưu vong ở ngoài, sao có thể tự ý cắt cho nước Tần được?' Quả nhân tranh biện với họ mà không thể được, cho nên tạ lỗi với nước Tần.” [Di Ngô] cũng không phong ấp Phần Dương cho Lý Khắc, còn đoạt lấy quyền [của Lý Khắc]. Tháng Tư, Chu Tuyên vương sai Chu công Kỳ Phủ hội kiến các đại phu nước Tề và nước Tần cùng bái phỏng Tấn Huệ công. Do Trùng Nhĩ ở ngoài, nên Huệ công sợ Lý Khắc sẽ gây biến, bèn ban chết cho Lý Khắc. [Huệ công] bảo rằng: “Nếu không có Lý tử, quả nhân sẽ không được lập. Dẫu vậy, ngài cũng đã giết hai vua và một đại phu[13], làm vua của ngài chẳng cũng khó ư?” Lý Khắc đáp: “Không phế truất họ đi, sao nhà vua có thể lên ngôi được? Muốn giết thần, chẳng lẽ không có lời nào khác chăng? Cho nên mới nói những lời như thế! Thần xin tuân mệnh.” Bèn dùng kiếm tự sát. Bấy giờ Bi Trịnh đi sứ sang tạ lỗi với nước Tần chưa về, nên không gặp nạn.

Tấn quân cải táng Cung Thái tử Thân Sinh. Mùa thu, Hồ Đột đến hạ quốc[14], [bất ngờ] gặp [hồn phách của] Thân Sinh, Thân Sinh lên ngồi cùng xe với [Hồ Đột] rồi nói rằng[15]: “Di Ngô vô lễ, ta đã thỉnh cầu thiên đế [phạt kẻ có tội], sẽ đem nước Tấn trao cho nước Tần, nước Tần sẽ tế tự ta.” Hồ Đột đáp rằng: “Thần nghe nói thần linh không hưởng lễ của người không cùng tông tộc mình, việc tế tự của ngài chẳng phải sẽ đứt ư? Xin ngài hãy suy tính cho kỹ.” Thân Sinh nói: “Được, ta sẽ lại thỉnh cầu thiên đế. Mười ngày sau[16], mé tây Tân Thành sẽ có một đồng cốt là hiện thân của ta.” [Hồ Đột] vừa đồng ý, bèn không nhìn thấy [Thân Sinh] đâu nữa. Đến hẹn [Hồ Đột] tới nơi hẹn, lại trông thấy [Thân Sinh], Thân Sinh nói với Hồ Đột rằng: “Thiên đế đồng ý trừng phạt kẻ có tội, sẽ thua trận ở đất Hàn [Nguyên].” Bọn trẻ bèn có đồng dao rằng: “Cung Thái tử cải táng rồi, mười bốn năm sau, Tấn cũng không hưng, hưng nhờ huynh trưởng.”

Bi Trịnh đi sứ sang nước Tần, nghe tin Lý Khắc bị trách phạt, bèn nói với Tần Mục công rằng: “Kỳ thực Lã Sảnh, Khích Xứng, Ký Nhuế không đồng ý [hối lộ nước Tần]. Nếu đem nhiều của cải hối lộ rồi mưu tính cùng họ, trục xuất vua Tấn, đưa Trùng Nhĩ về, việc ắt thành công.” Tần Mục công đồng ý, sai người cùng về báo cho nước Tấn, hối lộ nhiều của cho ba đại phu. Ba vị đại phu nói: “Lễ trọng lời ngọt, thế này Bi Trịnh ắt bán đứng bọn ta cho nước Tần rồi.” Bèn giết Bi Trịnh, Lý Khắc và Thất dư đại phu[17] đồ đảng của Bi Trịnh. Con của Bi Trịnh là Báo chạy sang nước Tần, đề nghị [nước Tần] thảo phạt nước Tấn, Mục công không nghe.

Sau khi Huệ công lên ngôi, bội ước việc cắt đất cho nước Tần và hứa phân phong cho Lý Khắc, tru diệt Thất dư đại phu, người trong nước không quy phụ. Năm thứ hai, nhà Chu sai Thiệu công và Quá[18] đến bái phỏng Tấn Huệ công, Huệ công hành lễ ngạo mạn, bị Thiệu công chê trách.

Năm thứ tư, nước Tấn bị nạn đói, phải xin mua thóc của nước Tần. Mục công hỏi Bách Lý Hề, Bách Lý Hề đáp rằng: “Thiên tai xảy ra, các nước lần lượt chịu nạn, cứu giúp lúc thiên tai, xót thương nước láng giềng, là đạo nghĩa của quốc gia. Hãy bán cho họ.” Con của Bi Trịnh là Báo lại bảo: “Hãy thảo phạt họ.” Mục công nói: “Vua họ tuy ác, nhưng dân họ có tội gì!" Rốt cuộc bán thóc cho, chuyển thóc từ đất Ung đến Giáng đô.

Năm thứ năm, nước Tần bị nạn đói, xin mua thóc của nước Tấn. Tấn quân bàn tính chuyện đó, Khánh Trịnh nói: “Nhờ Tần nên được lên ngôi, đã bội ước không cắt đất. Nước Tấn bị nạn đói, nước Tần còn bán thóc cho, nay nước Tần gặp nạn đói nên xin mua thóc, còn nghi ngại gì nữa? Còn tính toán làm gì!" Quắc Xạ nói: “Năm ngoái trời đem nước Tấn ban cho nước Tần, nước Tần không biết đường chiếm lấy lại còn bán thóc cho ta. Nay trời đem nước Tần tặng cho nước Tấn, sao nước Tấn có thể làm trái ý trời chứ? Xin hãy thảo phạt nước Tần.” Huệ công theo mưu kế của Quốc Xạ, không bán thóc cho nước Tần, còn phát binh thảo phạt nước Tần. Nước Tần cả giận, cũng phát binh thảo phạt nước Tấn.

Mùa xuân năm thứ sáu, Tần Mục công đem quân thảo phạt nước Tấn. Tấn Huệ công bảo Khánh Trịnh rằng: “Quân Tần vào sâu rồi, làm sao đây?” Trịnh nói: “Tần đưa nhà vua về nước [lên ngôi], nhà vua bội ước trong việc hối lộ cho họ[19]; nước Tấn gặp nạn đói, nước Tần chuyển thóc đến, nước Tần gặp nạn đói thì nước Tấn lại quay lưng, còn muốn thừa cơ họ gặp nạn đói mà tấn công: Quân họ tiến vào sâu chẳng cũng là phải ư?” Tấn Huệ công bói quẻ chọn người điều khiển chiến xa và ngồi hộ vệ bên phải[20], [bói được] Khánh Trịnh là người tốt nhất. Huệ công nói: “Trịnh không nhún thuận.” Bèn đổi, lệnh cho Bộ Dương điều khiển chiến xa, Gia Bộc Đồ làm hộ vệ bên phải, tiến quân. Ngày Nhâm Tuất tháng Chín, quân của Tần Mục công và Tấn Huệ công giao chiến ở Hàn Nguyên. Ngựa của Huệ công bị lún trong bùn lầy không đi được, quân Tần kéo đến, Huệ công quẫn bách, triệu Khánh Trịnh đến điều khiển chiến xa. Trịnh nói: “Không theo lời quẻ bói, thua chẳng cũng đáng sao!” Rồi bèn bỏ đi. Huệ công đổi sang lệnh cho Lương Do Mi đến điều khiển chiến xa, Quốc Xạ hộ vệ bên phải, nghinh chiến với Tần Mục công. Các tráng sĩ của Tần Mục công phấn dũng xông lên đánh bại quân Tấn, quân Tấn thua trận, để sống mất Tần Mục công, trái lại còn khiến Tấn công bị bắt đưa về nước Tần. Nước Tần định đem [Huệ công] tế thượng đế. Chị của Tấn quân là phu nhân của Tần Mục công bèn mặc tang phục khóc lóc. Mục Công nói: “Bắt được Tấn hầu vốn là chuyện đáng vui mừng, nay nàng lại khóc lóc như thế. Vả lại ta từng nghe khi Cơ tử gặp Đường thúc lúc mới được phong, có nói rằng: 'Hậu duệ ông ta ắt sẽ lớn mạnh'. Vậy thì nước Tấn sao có thể diệt vong được!” Bèn cùng Tấn hầu lập minh ước ở Vương Thành rồi cho về. Tấn hầu cũng sai bọn Lã Sảnh báo với người trong nước rằng: “Cô tuy được về, nhưng không còn mặt mũi nào nhìn xã tắc nữa, hãy chọn ngày rồi lập Tử Ngữ lên thay.” Người Tấn nghe tin đó, ai nấy đều khóc. Tần Mục công hỏi Lý Sảnh: “Nước Tấn hòa thuận được không?” Đáp rằng: “Không hòa thuận được. Đám tiểu nhân sợ mất vua [thì nước loạn], [nước loạn thì] mất cha mẹ, chứ không sợ lập Tử Ngữ lên ngôi, còn nói rằng 'Nhất định báo thù, sao có thể thờ nước Nhung Địch[21] được'. Bậc quân tử thì yêu vua mà biết tội[22], chờ mệnh lệnh nước Tần, nói rằng 'Nhất định báo đức'. Có hai lý do đó nên không hòa thuận được.”[23] Thế rồi Tần Mục Công đổi chỗ ở cho Tấn Huệ công, đãi bằng cỗ Thất lao[24]. Tháng Mười một, đưa Tấn hầu về. Tấn hầu về đến nước, giết Khánh Trịnh, sửa sang chính giáo. Bàn rằng: “Trùng Nhĩ ở bên ngoài, nhiều nước chư hầu xem việc đưa Trùng Nhĩ về sẽ có lợi [cho nước mình].” Muốn sai người đến nước Địch giết Trùng Nhĩ. Trùng Nhĩ nghe tin đó, liền chạy sang nước Tề.

Năm thứ tám, sai Thái tử Ngữ sang nước Tần làm con tin. Trước đây, khi Huệ công trốn sang nước Lương, Lương bá có đem con gái gả cho, sinh được một trai một gái. Lương bá bói quẻ, nói con trai thì làm tôi tớ cho người, con gái thì làm hầu thiếp cho người, cho nên con trai đặt tên là Ngữ[25], con gái đặt tên là Thiếp.

Năm thứ mười, nước Tần diệt nước Lương. Lương bá thích việc thổ mộc, xây thành đào hào, sức dân cạn kiệt, dân chúng oán thán, họ nhiều lần tụ tập gây kinh động, nói “Giặc Tần đến”, dân sợ hãi nghi hoặc, rốt cuộc nước Tần diệt được nước Lương.

Năm thứ mười ba, Tấn Huệ công ốm, ở trong nước vẫn còn mấy người con. Thái tử Ngữ nói: “Mẹ ta nhà ở nước Lương, nay nước Lương bị nước Tần diệt rồi, ta ở ngoài nước thì bị nước Tần khinh thường, ở trong nước thì không được nước nào ủng hộ. Nếu nhà vua không qua khỏi, e rằng các đại phu coi thường ta, cuối cùng sẽ đổi lập công tử khác lên thay.” [Thái tử Ngữ] bèn bàn với vợ cùng trốn về nước Tấn. Người vợ nước Tần nói: “Chàng là Thái tử một nước, lại chịu nhục ở đây. Tần sai tiện thiếp hầu ngài, cốt để ngài yên tâm mà ở lại nước Tần. Ngài trốn rồi, thiếp không theo ngài, cũng không dám nói ra.” Tử Ngữ bèn trốn về nước Tấn. Tháng Chín năm thứ mười bốn, Huệ công chết, Thái tử Ngữ lên ngôi, đó là Hoài công.

Tử Ngữ trốn về, nước Tần oán Ngữ, bèn tìm công tử Trùng Nhĩ, muốn đưa Trùng Nhĩ về nước. Sau khi Tử Ngữ lên ngôi, sợ bị nước Tần thảo phạt, bèn lệnh những người trong nước theo Trùng Nhĩ trốn đều phải về nước theo kỳ hạn [đã định], đến kỳ hạn ai không về thì sẽ giết cả nhà người đó. Con của Hồ Đột là Mao cùng Yển theo Trùng Nhĩ sang nước Tần, Hồ Đột không chịu triệu hai con về. Hoài công tức giận, bỏ tù Hồ Đột. Đột nói: “Con thần phụng sự Trùng Nhĩ đã nhiều năm, nay triệu chúng về, là dạy chúng làm phản vua vậy, sao có thể dạy chúng làm thế được?” Cuối cùng Hoài Công giết Hồ Đột. Tần Mục Công bèn phát binh đưa Trùng Nhĩ về nước, [Trùng Nhĩ] sai người báo với đồ đảng của Loan [Chi], Khích [Cốc] làm nội ứng, giết Hoài công ở Cao Lương, đưa Trùng Nhĩ về. Trùng Nhĩ lên ngôi, đó là Văn công.

Tấn Văn Công Trùng Nhĩ là con của Tấn Hiến công. Từ nhỏ vốn yêu quý kẻ sĩ, năm mười bảy tuổi, đã có năm hiền sĩ [theo phò tá], đó là: Triệu Thôi, Hồ Yển Cửu Phạm - cậu của Văn Công, Giả Đà, Tiên Chẩn, Ngụy Vũ tử. Từ khi Hiến công còn làm Thái tử, Trùng Nhĩ vốn đã trưởng thành. Hiến công lên ngôi, [năm đó] Trùng Nhĩ hai mươi mốt tuổi. Hiến công năm thứ mười ba, vì [sủng ái] Ly cơ nên sai Trùng Nhĩ ra giữ Bồ Thành phòng thủ quân Tần. Hiến công năm thứ hai mươi mốt, Hiến công giết Thái tử Thân Sinh, Ly cơ gièm pha Trùng Nhĩ, [Trùng Nhĩ] lo sợ, không từ biệt Hiến công mà ra giữ Bồ Thành. Hiến công năm thứ hai mươi hai, Hiến công sai hoạn quan Lý Đề[26] gấp rút đuổi theo để giết Trùng Nhĩ. Trùng Nhĩ trèo tường trốn chạy, Lý Đề đuổi chém đứt tay áo Trùng Nhĩ. Trùng Nhĩ liền chạy sang nước Địch. Nước Địch là quê của mẹ Trùng Nhĩ. Bấy giờ Trùng Nhĩ bốn mươi ba tuổi. Theo Trùng Nhĩ có năm kẻ sĩ nói trên, ngoài ra có mấy chục người khác không rõ tên, cùng đến nước Địch.

Nước Địch thảo phạt Cao Như[27], bắt được hai người con gái: đem người con gái lớn gả cho Trùng Nhĩ, sinh ra Bá Trù, Thúc Lưu; đem người con gái nhỏ gả cho Triệu Thôi, sinh ra Thuẫn. [Trùng Nhĩ] ở nước Địch được năm năm thì Tấn Hiến công chết, Lý Khắc đã giết Hề Tề, Điệu tử, bèn sai người nghinh đón, muốn lập Trùng Nhĩ lên ngôi. Trùng Nhĩ sợ bị giết, nhân đó cố từ chối, không dám về nước. Thế là người Tấn chuyển sang đón người em của [Trùng Nhĩ] là Di Ngô rồi lập làm vua, đó là Huệ công. Huệ công năm thứ bảy, lo sợ Trùng Nhĩ [về nước lên ngôi], bèn sai hoạn quan Lý Đề cùng tráng sĩ định giết Trùng Nhĩ. Trùng Nhĩ nghe tin đó, liền bàn mưu với bọn Triệu Thôi rằng: “Trước đây ta chạy sang nước Địch, không phải vì cho là họ có thể giúp ta hưng khởi[28], mà vì gần gũi dễ sang, cho nên tạm dừng chân. Dừng chân đã lâu, vốn muốn rời đến nước lớn. Xét thấy, Tề Hoàn công thích làm điều thiện, có chí bá vương, thu nạp và cứu giúp chư hầu. Nay nghe nói Quản Trọng, Thấp Bằng đã chết, lúc này đang cần có bậc hiền năng phò tá, sao không qua đó?” Thế rồi lên đường. Trùng Nhĩ bảo vợ rằng: “Đợi ta hai mươi lăm năm mà không thấy trở lại, nàng hãy đi lấy chồng.” Người vợ cười nói: “Đợi đến hai mươi lăm năm thì cây bách trên mộ thiếp đã lớn rồi. Dẫu vậy, thiếp sẽ đợi chàng.” Trùng Nhĩ ở nước Địch cả thảy mười hai năm rồi rời đi.

[Trùng Nhĩ] đi qua nước Vệ, Vệ Văn công tiếp đãi không theo lễ. Bỏ đi, qua Ngũ Lộc, bị đói, phải xin ăn người dân ở đó, người dân đem cho rổ đầy đất. Trùng Nhĩ tức giận. Triệu Thôi nói: “Cho đất là có đất vậy, ngài hãy vái mà nhận lấy.”

[Trùng Nhĩ] đến nước Tề, Tề Hoàn công dùng hậu lễ khoản đãi, rồi đem con gái trong tông tộc gả cho, tặng hai mươi cỗ binh xa, mỗi cỗ bốn ngựa, Trùng Nhĩ sống yên ổn tại đó. Trùng Nhĩ đến nước Tề được hai năm thì Hoàn công chết, gặp lúc bọn Thụ Đao gây nội loạn, Tề Hiếu công lên ngôi, quân chư hầu nhiều lần kéo đến. [Trùng Nhĩ] ở lại nước Tề cả thảy năm năm. Trùng Nhĩ yêu người vợ nước Tề, không có ý muốn rời đi. Triệu Thôi, Cữu Phạm bèn bàn mưu về việc rời khỏi nước Tề dưới gốc cây dâu. Hầu gái của người vợ nước Tề ở trên cây dâu nghe được, đem việc đó báo với chủ. Chủ nhân bèn giết hầu gái, rồi khuyên Trùng Nhĩ mau lên đường. Trùng Nhĩ nói: “Người ta sống trên đời chỉ mong được an lạc, đâu cần biết việc gì khác! [Ta] quyết chết ở đây, chẳng đi đâu nữa.” Người vợ nước Tề nói: “Chàng là công tử của một nước, cùng quẫn mới đến đây, các hiền sĩ đi theo đều coi chàng như số mệnh của họ. Chàng không mau về nước, báo đáp công lao khó nhọc của bề tôi, ngược lại còn lưu luyến nữ sắc, thiếp trộm hổ thẹn thay cho chàng. Vả lại không cầu thì biết đến bao giờ mới thành công?” [Người vợ nước Tề của Trùng Nhĩ] bèn bàn mưu cùng bọn Triệu Thôi, chuốc Trùng Nhĩ say, cho lên xe rồi chở đi. Xe đã đi xa Trùng Nhĩ mới tỉnh, cả giận, rút qua định giết Cữu Phạm. Cữu Phạm nói: “Giết thần mà thành toàn cho ngài, Yển xin nguyện chết.” Trùng Nhĩ nói: “Việc không thành, ta sẽ ăn thịt cậu[29].” Cữu Phạm nói: “Việc không thành, thịt Phạm tanh tưởi, ăn thế nào được?” Bèn thôi, rồi lên đường.

[Trùng Nhĩ qua nước Tào, Tào Cung công vô lễ, muốn xem xương sườn nối liền của Trùng Nhĩ. Đại phu của nước Tào là Hy Phụ Ky nói: “Tấn công tử là người hiền, lại cùng họ, cùng khốn mới qua nước ta, sao có thể vô lễ được!” Cung công không chịu nghe theo. Phụ Ky bèn ngầm tặng đồ ăn cho Trùng Nhĩ, giấu ngọc bích phía dưới. Trùng Nhĩ nhận đồ ăn, nhưng trả lại ngọc bích.

[Trùng Nhĩ] bỏ đi, qua nước Tống. Tống Tương công mới bị quân Sở làm cho khốn đốn, bị thương ở bên sông Hoằng, nghe nói Trùng Nhĩ hiền năng, bèn dùng quốc lễ[30] tiếp đãi Trùng Nhĩ. Quan Tư mã nước Tống là Công Tôn Cố vốn thân thiết với Cữu Phạm, nói: “Tống là nước nhỏ mới bị nước Sở làm cho khốn đốn, không đủ để giúp các vị về nước, hãy sang nước lớn.” [Trùng Nhĩ] bèn đi.

Qua nước Trịnh, Trịnh Văn công không dùng lễ tiếp đãi. Trịnh Thúc Chiêm can vua mình rằng: “Tấn công tử là người hiền, còn những người đi theo đều có tài Tướng quốc, hơn nữa lại cùng họ. Gốc gác của nước Trịnh vốn từ Chu Lệ vương, còn gốc gác của nước Tấn vốn từ Chu Vũ vương.” Trịnh quân nói: “công tử của chư hầu lưu vong qua đây rất đông, sao có thể tận lễ hết được!” Thúc Chiêm nói: “Nhà vua không dùng lễ tiếp đãi, chẳng bằng hãy giết đi, nếu không sau sẽ thành mối họa cho đất nước.” Trịnh quân không nghe.

Trùng Nhĩ rời nước Trịnh sang nước Sở, Sở Thành vương dùng lễ ngang với chư hầu để khoản đãi, Trùng Nhĩ tạ từ không dám nhận. Triệu Thôi nói: “Ngài lưu vong bên ngoài hơn chục năm, nước nhỏ khinh ngài, huống chi nước lớn? Nay Sở là nước lớn mà vẫn [dùng lễ chư hầu] tiếp đãi ngài, ngài không nên khiêm nhượng, đó là trời khai mở cho ngài vậy.” [Trùng Nhĩ] bèn dùng lễ của khách để hội kiến Thành vương. Thành vương hậu đãi Trùng Nhĩ, Trùng Nhĩ hết mực khiêm cung. Thành vương hỏi: “Nếu ngài về nước, sẽ lấy gì để báo đáp quả nhân?” Trùng Nhĩ đáp: “Lông vũ, lông mao, răng, sừng, ngọc, lụa trắng, quân vương có dư rồi, chưa biết lấy gì báo đáp.” Thành vương hỏi: “Dù như thế, nhưng rốt cuộc ngài lấy gì báo đáp quả nhân[31] đây?” Trùng Nhĩ đáp: “Nếu bất đắc dĩ gặp binh xa của quân vương ở bình nguyên, chằm lớn, xin tránh nhường ngài ba xá[32].” Tướng nước Sở là Tử Ngọc tức giận nói: “Quân vương đãi ngộ Tấn công tử rất trọng hậu, nay Trùng Nhĩ nói lời không cung thuận, xin hãy giết đi.” Thành vương nói: “Tấn công tử là người hiền, lại khốn quẫn ở ngoài lâu ngày, người đi theo đều là hiền tài của quốc gia, đó là trời an bài, sao có thể giết được? Vả lại [trước mặt ta] người ta không thể nói một cách khinh suất!” [Trùng Nhĩ] ở nước Sở được mấy tháng, thì Thái tử Ngữ nước Tấn trốn khỏi nước Tần, nước Tần oán trách Ngữ; nghe nói Trùng Nhĩ ở nước Sở, bèn triệu mời Trùng Nhĩ. Thành vương nói: “Nước Sở ở xa, lại qua mấy nước mới đến nước Tấn. Nước Tần và nước Tấn giáp biên, Tần quân là người hiền năng, ngài hãy gắng lên đường!” Rồi dùng hậu lễ tống tiễn Trùng Nhĩ.

Trùng Nhĩ đến nước Tần, Mục Công đem năm người con gái trong tông tộc gả cho Trùng Nhĩ, vợ cũ của Tử Ngữ cũng theo[33]. Trùng Nhĩ không muốn nhận, Tư không Quý tử nói: “Nước của y còn đánh, huống chi là vợ cũ! Hãy nhận để kết thân với nước Tần rồi xin nước Tần đưa về nước, ngài câu nệ chút lễ mọn mà quên nỗi nhục lớn chăng!" [Trùng Nhĩ] bèn nhận. Mục Công cả mừng, cùng Trùng Nhĩ uống rượu. Triệu Thôi hát bài thơ “Thử miêu”[34]. Mục công nói: “Biết ngài nóng lòng muốn về nước rồi.” Triệu Thôi và Trùng Nhĩ xuống chỗ ngồi, vái hai vái nói: “Bề tôi côi cút ngóng vua, như bách cốc trông mưa vậy.” Bấy giờ là mùa thu năm Tấn Huệ công thứ mười bốn. Huệ công chết vào tháng Chín, Tử Ngữ lên thay. Tháng Mười một, an táng Huệ công. Tháng Mười hai, đại phu nước Tấn là bọn Loan Chi, Khích Cốc nghe tin Trùng Nhĩ đang ở nước Tần, đều ngầm đến khuyên Trùng Nhĩ, Triệu Thôi về nước, người làm nội ứng rất đông. Thế là Tần Mục công bèn phát binh hộ tống Trùng Nhĩ về nước Tấn. Nước Tấn nghe tin quân Tần kéo đến, cũng phát binh chống cự. Nhưng đều ngầm biết công tử Trùng Nhĩ trở về. Chỉ có đám đại thần hiển quý trước đây của Huệ công là bọn Lã [Sảnh] và Khích [Nhuế] là không muốn lập Trùng Nhĩ. Trùng Nhĩ lưu vong ở ngoài cả thảy mười chín năm mới được trở về, bấy giờ đã sáu mươi hai tuổi, người Tấn phần nhiều quy phụ theo.

Mùa xuân, Văn công năm thứ nhất, nước Tần đưa Trùng Nhĩ đến sông Hoàng Hà. Cữu Phạm nói: “Thần theo nhà vua đi khắp thiên hạ, lỗi lầm cũng nhiều. Thần còn biết thế, huống nữa là ngài? Xin ra đi từ đây.” Trùng Nhĩ nói: “Nếu về nước mà không về cùng Tử Phạm, xin Hà Bá hãy xem đây!” Bèn ném ngọc bích xuống sông Hoàng Hà để thề với Tử Phạm. Bấy giờ Giới Tử Thôi đi theo, đang ở trên thuyền, mới cười nói rằng: “Trời thực đã khai mở cho công tử, còn Tử Phạm lại cho đó là công của mình để rồi ngã giá với người, thật hổ thẹn. Tôi không muốn cùng vị trí với ông ta.” Bèn ngầm tự qua sông Hoàng Hà. Quân Tần bao vây Lệnh Hồ, quân Tấn đóng ở Lư Liễu. Ngày Tân Sửu tháng Hai, Cữu Phạm cùng các đại phu nước Tần và nước Tấn hội minh ở đất Tuân. Ngày Nhâm Dần, Trùng Nhĩ vào quân doanh nước Tấn. Ngày Bính Ngọ, [Trùng Nhĩ] vào Khúc Ốc. Ngày Đinh Mùi, triều bái ở Vũ cung, lên ngôi làm Tấn quân, đó là Văn công. Quần thần đều đến. Hoài công Ngữ chạy đến Cao Lương. Ngày Mậu Thân, [Văn công] sai người giết Hoài công.

Các đại thần cũ của Hoài công là Lã Sảnh, Khích Nhuế vốn không quy phụ Văn công, [đến khi] Văn công lên ngôi, sợ bị giết, bèn muốn cùng đồ đảng bàn mưu đốt cung của Văn công, giết chết Văn công. Văn công không biết [âm mưu của họ]. Viên hoạn quan trước đây từng muốn giết Văn công là Lý Đề biết được âm mưu đó, muốn báo cho Văn công để xóa tội trước đây, liền cầu kiến Văn công. Văn công không gặp, sai người trách rằng: “Việc ở Bồ Thành, người chém đứt tay áo ta. Về sau, ta cùng Địch quân đi săn, ngươi vì Huệ công đến thỉnh cầu [Địch quân] giết ta. Huệ công hạn cho ngươi ba ngày phải đến, thế mà người một ngày đã đến, sao mà nhanh thế? Ngươi nhớ những việc đó chứ.” Viên hoạn quan nói: “Thần là kẻ từng bị dao cưa[35], không dám hai lòng thờ vua mà phản chúa, cho nên đắc tội với nhà vua. Nay quân vương đã về nước, xin đừng nhắc lại chuyện đất Bồ đất Địch nữa! Huống nữa Quản Trọng bắn trúng khóa thắt lưng của Hoàn công, Hoàn công nhờ ông ta mà xưng bá. Nay kẻ từng bị cung hình này vì có việc đến bẩm cáo mà nhà vua không gặp, họa sắp tới nơi rồi.” Thế là [Văn công] triệu kiến, [Lý Đề] bèn đem âm mưu của bọn Lã Sảnh, Khích Nhuế báo với Văn công. Văn công định triệu Lã Sảnh, Khích Nhuế, song bọn Lã, Khích nhiều đồng đảng, Văn công e sợ mình mới về nước, người trong nước bán đứng mình, bèn lẳng lặng vi hành, hội kiến Tần Mục Công ở Vương Thành, người trong nước không ai hay biết việc đó. Ngày Kỷ Sửu tháng Ba, quả nhiên bọn Lã Sảnh, Khích Nhuế làm phản, đốt cung vua nhưng không bắt được Văn công. Quân hộ vệ của Văn công giao chiến với bọn Lã, Khích, Lã Sảnh và Khích Nhuế dẫn quân định chạy, Tần Mục công dụ bọn Lã, Khích [sang nước Tần], rồi giết ngay bên sông Hoàng Hà, nước Tấn trở lại yên ổn, Văn công được trở về. Mùa hạ, [Văn công] đón phu nhân ở nước Tần, người con gái được nước Tần gả cho Văn công cuối cùng được làm phu nhân. Nước Tần đưa ba nghìn người đến làm hộ vệ, để phòng bị họa loạn ở nước Tấn.

Văn công sửa sang chính lệnh, thi ơn trăm họ. Ban thưởng cho người theo mình lưu vong và bề tôi có công, người có công lớn thì được phong ấp, người có công nhỏ thì được ban tước tôn quý. [Văn công còn] chưa ban thưởng được khắp lượt, Chu Tương vương do có người em là Đái gây họa nên phải chạy ra ở đất Trịnh, [Tương vương] cho người đến cấp báo với nước Tấn. Nước Tấn mới yên định, cũng muốn phát binh, nhưng sợ sinh loạn khác, cho nên chưa ban thưởng đến người đã theo Văn công lưu vong rồi ẩn cư là Giới Tử Thôi. Thôi cũng không nói đến bổng lộc, bổng lộc cũng chưa ban đến Thôi. Thôi nói: “Hiến công có chín người con, chỉ còn nhà vua mà thôi. Huệ công, Hoài công không có ai thân, trong ngoài đều bỏ họ; trời chưa tuyệt diệt nước Tấn, ắt sẽ có người làm chủ, người chủ việc tế tự nước Tấn, không phải nhà vua thì còn ai nữa? Trời thực đã khai mở cho nhà vua, mấy người kia cho là công sức của mình, chẳng phải là xằng bậy ư? Đánh cắp của cải của người gọi là ăn trộm, huống hồ là tham công của trời cho là sức của mình? Kẻ dưới có tội mạo nhận công lao, người trên ban thưởng theo sự gian trá của họ, trên dưới dối nhau, khó cùng sống chung!” Mẹ Thôi nói: “Sao không cầu xin ban thưởng, đến chết thế này còn oán ai nữa?” Thôi đáp: “Biết là lầm lỗi mà còn bắt chước, tội càng thêm nặng. Vả lại nói ra lời oán trách, thì không ăn lộc của người nữa.” Người mẹ nói: “Cũng nên để vua biết việc, con thấy sao?” Đáp rằng: “Lời nói là văn sức của bản thân; thân muốn ẩn, còn dùng văn sức làm gì? Văn sức bản thân, đó là mong hiển đạt vậy.” Người mẹ nói: “Liệu con có làm được như thế chăng? Mẹ sẽ cùng con ẩn cư.” [Thế rồi hai mẹ con Giới Tử Thôi đi ẩn cư], đến chết không xuất hiện nữa.

Người tùy tùng cùng Giới Tử Thôi thương xót, bèn viết thư treo ở cổng cung, rằng: “Rồng muốn bay lên trời, cần năm rắn phụ giúp[36]. Rồng đã lên mây, bốn rắn thảy đều được vào chỗ của nó, còn một con ai oán, rốt cuộc không biết ở đâu.” Văn công ra ngoài, thấy bức thư đó, nói: “Đây là nói Giới Tử Thôi vậy. Ta đang lo lắng việc của vương thất, chưa xét đến công lao của ông ta.” [Văn công] sai người triệu [Thôi] đến thì đã trốn rồi. Bèn cầu tìm xem ở đâu, nghe nói [Thôi] đã vào trong núi Miên Thượng, thế là Văn công đem vùng đất quanh núi Miên Thượng phong cho Giới Tử Thôi, lấy đó làm đất của Giới Thôi, gọi là Giới Sơn, “để ghi nhớ lỗi lầm của ta, cũng là nhằm biểu dương người thiện”.

Bề tôi hèn mọn theo [Văn công] lưu vong là Hồ Thúc nói: “Nhà vua ba lần[37] ban thưởng, đều không thưởng đến thần, dám xin thỉnh tội.” Văn công đáp rằng: “Xét lẽ, dùng nhân nghĩa dẫn dắt ta, dùng đức huệ làm khuôn phép cho ta, người như thế được nhận thưởng hạng nhất. Dùng hành động phụ giúp ta, cuối cùng khiến ta thành tựu, người như thế được nhận thưởng hạng nhì. Xông pha trong cảnh mũi tên hòn đạn, có công hãn mã, người như thế nhận thưởng hạng ba. Ngươi dùng sức phụng sự ta mà không bổ khuyết chỗ thiếu sót của ta, như thế được nhận thưởng hạng tư. Sau khi thưởng ba hạng trước, mới thưởng đến ngươi.” Người Tấn nghe vậy đều vui mừng.

Mùa xuân năm thứ hai, quân Tần đóng ở vùng đất phía trên sông Hoàng Hà[38], chuẩn bị đưa Chu vương về nước. Triệu Thôi nói rằng: “Muốn xưng bá không gì hơn việc đưa Chu vương về, tôn sùng nhà Chu. Nhà Chu và nước Tấn cùng họ, trước đó nước Tấn không đưa Chu vương, sau lại để nước Tần đưa về, thì không lấy gì để hiệu lệnh thiên hạ. Nay tôn phụng Chu vương, đó là vốn liếng của nước Tấn vậy.” Ngày Giáp Thìn tháng Ba, nước Tấn bèn phát binh đến Dương Phàn[39], bao vây đất Ôn, đưa Tương vương về Chu. Tháng Tư, giết em của Chu Tương vương là Đái. Chu Tương vương tặng đất Hà Nhuế và Dương Phàn cho nước Tấn.

Năm thứ tư, Sở Thành vương cùng chư hầu bao vây nước Tống, Công Tôn Cố nước Tống sang nước Tấn cấp báo, Tiên Chẩn nói: “Báo ơn[40], định ngôi bá chủ chính ở lúc này vậy.” Hồ Yển nói: “Nước Sở mới chiếm được nước Tào, lại mới thông hôn với nước Vệ, nếu thảo phạt nước Tào và nước Vệ, nước Sở ắt cứu viện, thì nước Tống sẽ tránh bị bao vây.” Thế là nước Tấn lập ra ba quân[41]. Triệu Thôi tiến cử Khích Cốc nắm trung quân, Khích Trăn làm phụ tá; sai Hồ Yển chỉ huy thượng quân, Hồ Mao làm phụ tá, mệnh cho Triệu Thôi làm chức khanh; Loan Chi chỉ huy hạ quân, Tiên Chẩn làm phụ tá; Tuân Lâm Phủ điều khiển chiến xa [cho Văn công], Ngụy Xu làm hộ vệ bên phải, tiến quân đi thảo phạt. Tháng Mười hai, mùa đông, quân Tấn trước tiên đánh hạ Sơn Đông, rồi đem ấp Nguyên phong cho Triệu Thôi.

Mùa xuân năm thứ năm, Tấn Văn công muốn thảo phạt nước Tào, mượn đường của nước Vệ, người Việt không cho. Đành phải kéo quân vòng xuống phía nam rồi vượt sông Hoàng Hà, xâm chiếm nước Tào, thảo phạt nước Vệ. Tháng Giêng, chiếm Ngũ Lộc. Tháng Hai, Tấn hầu và Tề hầu hội minh ở Liễm Vu[42]. Vệ hầu đề nghị kết minh với nước Tấn, người Tấn không đồng ý. Vệ hầu muốn kết minh với nước Sở, người trong nước không muốn, cho nên người nước Vệ trục xuất vua nước mình để làm vui lòng nước Tấn. Vệ hầu ở Tương Ngưu, công tử Mãi phòng giữ nước Vệ. Nước Sở cứu nước Vệ, không thành công. Tấn hầu bao vây nước Tào. Ngày Bính Ngọ tháng Ba, quân Tấn tấn công vào [đô ấp] nước Tào, kể tội Tào hầu vì không nghe lời của Hy Phụ Ky, lại cho đến ba trăm mỹ nữ ngồi xe có rèm che [dành cho đại phu]. [Tấn hầu] lệnh cho quân binh không được vào chỗ tông tộc Hy Phụ Ky để báo đền ơn đức. Nước Sở bao vây nước Tống, nước Tống lại cấp báo với nước Tấn. Văn công muốn cứu viện thì phải đánh nước Sở, nhưng vì nước Sở từng có ơn đức, [nên Văn công] không muốn đánh; muốn giải vây cho nước Tống, do nước Tống lại cũng từng có ơn đức với nước Tấn, vì thế Văn công lo nghĩ. Tiên Chẩn nói: “Bắt Tào bá, chia đất của nước Tào và nước Vệ cho nước Tống, nước Sở kíp cứu nước Tào và nước Vệ, như thế sẽ giải vây được cho nước Tống.” Thế là Văn công theo kế đó, rồi Sở Thành vương bèn dẫn quân về.

Tướng nước Sở là Tử Ngọc nói: “Nhà vua đãi ngộ nước Tấn rất trọng hậu, nay biết nước Sở sẽ kíp cứu viện nước Tào và nước Vệ nên cố ý thảo phạt họ, đó là khinh thường nhà vua.” Thành vương nói: “Tấn hầu lưu vong ở ngoài mười chín năm trời, bị khốn lâu ngày, kết quả là được về nước, nguy nan tai ách đều biết rất rõ, khéo dùng dân mình, do trời khai mở, không thể chống nổi.” Tử Ngọc đề nghị[43] rằng: “Thần không dám đảm bảo nhất định thành công, chỉ mong ngăn hết những lời gièm pha dối trá.” Sở vương giận, chỉ giao cho một ít binh lính. Thế rồi Tử Ngọc sai Uyển Xuân sang báo với Tấn hầu rằng: “Xin khôi phục đất của Vệ hầu, mà phân phong cho nước Tào, thần cũng sẽ giải vây nước Tống.” Cữu Phạm nói: “Tử Ngọc vô lễ, quân vương là vua mà chỉ được một, ông ta là bề tôi nước Sở mà đòi được hai, chớ có đồng ý.” Tiên Chẩn nói: “Khiến người được yên định, đó là lễ. Nước Sở nói một lời mà yên định được ba nước, ngài nói một lời mà diệt vong cả ba nước, ta mới là vô lễ. Không đồng ý với nước Sở, là vứt bỏ nước Tống vậy. Chẳng bằng ngầm đồng ý với nước Tào và nước Vệ để dẫn dụ họ, bắt Uyển Xuân để chọc giận nước Sở, đợi khi giao chiến xong [xem thắng thua ra sao] rồi tính sau.” Tấn hầu bèn bỏ tù Uyển Xuân ở nước Vệ, lại ngầm đồng ý khôi phục cho nước Tào và nước Vệ. Nước Tào và nước Vệ tuyên bố tuyệt giao với nước Sở. Đắc Thần[44] nước Sở tức giận, tiến đánh quân Tấn, quân Tấn lui. Viên quân lại hỏi: “Sao lại lui?” Văn công đáp: “Khi xưa ta ở nước Sở, có giao ước lui ba xá, há bội ước ru?” Quân Sở muốn rút, Đắc Thần không chịu. Ngày Mậu Thìn tháng Tư, Tống công [Thành công Vương Thần], tướng nước Tề [Quốc Quy Phủ], tướng nước Tần [Tiểu Tử Ngân] cùng Tấn hầu đóng quân ở Thành Bộc. Ngày Kỷ Tỵ, giao chiến với quân Sở, quân Sở thua, Đắc Thần thu thập tàn quân rút lui. Ngày Giáp Ngọ, quân Tấn về đến Hành Ung, xây dựng hành cung cho Chu vương ở Tiễn Thổ.

Ban trước, nước Trịnh [dẫn quân sang] giúp Sở, [sau thấy] nước Sở bị thua, thì sợ hãi, sai người xin kết minh với Tấn hầu. Tấn hầu cùng Trịnh bá kết minh.

Ngày Đinh Mùi tháng Năm, dâng tù binh nước Sở cho nhà Chu cùng một trăm cỗ xe tứ mã bọc giáp, một nghìn bộ tốt. Thiên tử sai Vương tử Hổ mệnh cho Tấn hầu làm bá, ban cỗ xe lớn trang sức bằng vàng, cây cung màu đỏ cùng trăm mũi tên, cung đen cùng nghìn mũi tên, một nậm rượu nếp than[45], chén tế thần bằng ngọc khuê, ba trăm quân hổ bôn[46]. Tấn hầu ba lần từ tạ, sau đó dập đầu nhận lấy. Chu vương làm thiên “Tấn Văn hầu mệnh”[47] rằng: “Chu Hương kính cẩn nói: Bá phụ dùng nghĩa khiến chư hầu hòa mục, phát dương sự nghiệp của Văn vương, Vũ vương. Văn vương, Vũ vương biết thận trọng làm sáng đức, rạng rỡ trên trời, tiếng tốt lan khắp chúng dân, thế nên trời trao mệnh làm đế cho Văn vương, Vũ vương. Trưởng bối đoái nghĩ đến trẫm, tiếp tục phụ giúp, khiến trẫm mãi giữ ngôi vị.” Thế rồi Tấn Văn công xưng bá. Ngày Quý Hợi, Vương tử Hổ kết minh với chư hầu ở vương đình.

Nước Tấn thiêu trận địa của quân Sở, lửa cháy mấy ngày không tắt, Văn công than thở. Tả hữu mới hỏi rằng: “Đánh thắng nước Sở mà nhà vua còn ưu phiền, sao vậy?” Văn công đáp: “Ta nghe nói người chiến thắng mà thấy tự an, chỉ thánh nhân thôi, cho nên sợ. Huống chi Tử Ngọc vẫn còn, làm sao vui cho được!” Tử Ngọc thua trận trở về, Sở Thành vương giận vì [Tử Ngọc] không nghe lời, tham đánh với Tấn, trách tội Tử Ngọc, Tử Ngọc tự sát. Tấn Văn công nói: “Ta đánh bên ngoài, Sở giết bên trong, trong ngoài hô ứng với nhau.” Bấy giờ mới vui.

Tháng Sáu, người Tấn lại đưa Vệ hầu về nước. Ngày Nhâm Ngọ, Tấn hầu vượt Hoàng Hà lên phía bắc để về nước. [Tấn hầu] tiến hành ban thưởng, Hồ Yển đứng đầu. Có người nói: “Việc ở Thành Bộc là mưu của Tiên Chẩn.” Văn công mới bảo: “Việc ở Thành Bộc, Yển nói ta không tin. Tiên Chẩn nói: 'Việc quân lấy thắng làm trọng', ta theo đó nên thắng lợi. Nhưng đó là ý kiến nhất thời, còn lời Yển là công lao muôn đời, sao lại lấy cái lợi nhất thời đặt trên công lao muôn đời được? Vì thế cho Hồ Yển công đầu.”

Mùa đông, Tấn hầu hội chư hầu ở đất Ôn, muốn thống lãnh chư hầu triều kiến nhà Chu. Sức không đủ, sợ có kẻ phản lại, bèn sai người đến bảo Chu Tương vương đi tuần thú ở Hà Dương. Ngày Nhâm Thân, bèn thống lãnh chư hầu triều kiến Chu vương ở Tiễn Thổ. Khổng tử đọc sử đến đoạn chép về Tấn Văn công, nói: “Chư hầu không triệu Chu vương, Chu vương tuần thú ở Hà Dương là Kinh Xuân Thu nói tránh đi vậy.”

Ngày Đinh Sửu, chư hầu bao vây nước Hứa. Có người bề tôi của Tào bá nói với Tấn hầu rằng: “Tề Hoàn công hội họp chư hầu mà bảo tồn cho nước khác họ, nay ngài hội họp chư hầu mà lại diệt nước cùng họ. Tào là hậu duệ của Thúc Chấn Đạc; Tấn là hậu duệ của Đường thúc. Hội họp chư hầu mà diệt nước anh em, đó là phi lễ.” Tấn hầu vui, khôi phục [ngôi vị] cho Tào bá.

Bấy giờ nước Tấn bắt đầu lập ra ba hàng[48] quân. Tuân Lâm Phủ chỉ huy Trung hàng, Tiên Cốc chỉ huy Hữu hàng, Tiên Miệt chỉ huy Tả hàng.

Năm thứ bảy, Tấn Văn công, Tần Mục công cùng bao vây nước Trịnh, lấy lý do nước Trịnh từng vô lễ với Văn công khi ông lưu vong qua, lúc đến Thành Bộc, nước Trịnh lại trợ giúp cho nước Sở. [Văn công] bao vây nước Trịnh, là muốn có được Thúc Chiêm. Thúc Chiêm nghe vậy, tự sát. Nước Trịnh đem xác Thúc Chiêm báo với nước Tấn. Tấn Văn công nói: “Nhất định phải bắt vua nước Trịnh mới cam lòng.” Vua nước Trịnh sợ, bèn lén sai sứ nói với Tần Mục Công: “Diệt nước Trịnh để hậu đãi nước Tấn, đó là lợi cho nước Tấn mà không lợi cho nước Tần. Sao ngài không giải vây nước Trịnh, khiến Trịnh thành nước giao hảo ở đường phía đông?”[49] Tần bá mừng, bãi binh. Nước Tấn cũng bãi binh.

Mùa đông năm thứ chín, Tấn Văn công chết, con là Tương Công Hoan lên thay. Năm này Trịnh bá cũng chết.

Người Trịnh có kẻ bán đứng nước mình cho nước Tần, Tần Mục công phát binh sang tập kích nước Trịnh. Tháng Mười hai, quân Tần qua ngoại vi nước Tấn. Mùa xuân năm Tương công thứ nhất, quân Tần đi qua nhà Chu, vô lễ, Vương Tôn Mãn chỉ trích quân Tần. Quân Tần kéo đến đất Hoạt, thương nhân nước Trịnh là Huyền Cao định đến buôn bán ở nhà Chu, [trên đường đi] gặp quân Tần, bèn đem mười hai con bò úy lạo quân Tần. Quân Tần kinh ngạc rút về[50], diệt nước Hoạt rồi lui binh.

Tiên Chẩn nước Tấn nói rằng: “Tần bá không dùng Kiển thúc, làm trái tâm nguyện dân chúng, đó là nguyên nhân có thể đánh Tần.” Loan Chi nói: “Còn chưa báo ơn tiên quân được Tần bá thi ơn, lại đánh nước Tần, không được.” Tiên Chẩn nói: “Tần khinh thường vua ta côi cút[51], đánh nước cùng họ với ta, có đức gì mà phải báo?” Bèn đánh nước Tần. Trong công mặc tang phục màu đen. Tháng Tư, đánh bại quân Tần ở Hào Sơn, bắt sống ba tướng của nước Tần là Mạnh Minh Thị, Tây Khất Thuật, Bạch Ất Bính đem về. Rồi [Tương công] mặc tang phục màu đen an táng Văn công. Phu nhân của Văn công là người con gái nước Tần nói với Tương công rằng: “Nước Tần muốn có được ba tướng đó để giết đi.” Tương công đồng ý, cho về. Tiên Chẩn nghe tin đó, bảo Tương công rằng: “Tai họa phát sinh từ đó đấy.” Chẩn bèn đuổi theo tướng Tần. Tướng Tần vượt sông Hoàng Hà, đã lên thuyền, chỉ dập đầu cảm tạ, rốt cuộc không quay lại.

Ba năm sau, quả nhiên nước Tần sai Mạnh Minh thảo phạt nước Tấn, báo thù cuộc chiến thất bại ở Hào Sơn, chiếm đất Uông của nước Tấn rồi về. Năm thứ tư, Tần Mục công huy động đại quân thảo phạt nước Tấn, qua sông Hoàng Hà, chiếm đất Vương Quan, xây đắp mộ cho binh sĩ chết trong trận Hào Sơn rồi rút về. Nước Tấn lo sợ, không dám ra đánh, bèn cố thủ trong thành. Năm thứ năm, nước Tấn thảo phạt nước Tần, chiếm Tân Thành, báo thù trận chiến ở Vương Quan.

Năm thứ sáu, Triệu Thôi Thành tử, Loan Trinh tử, Cữu Quý Tử Phạm, Hoắc bá đều chết. Triệu Thuẫn chấp chính thay Triệu Thôi.

Tháng Tám năm thứ bảy, Tương công chết. Thái tử Di Cao còn nhỏ. Người Tấn lấy lý do nước gặp nhiều nguy nan, muốn lập người trưởng thành làm vua. Triệu Thuẫn nói: “Lập em của Tương công là Ung. Người này thích điều thiện mà tuổi đã trưởng thành, được tiên quân yêu quý; hơn nữa lại thân với nước Tần, trước đây nước Tần vốn hữu hảo [với nước Tấn] vậy. Tôn lập người thiện làm vua thì nước được vững, thờ phụng người trưởng thành làm vua thì sẽ thuận lý, phụng sự người được tiên quân yêu thì gần đạo hiếu, khéo giao kết với hữu hảo cũ thì thế nước được yên.” Giả Quý nói: “Chẳng bằng lập em [của Ung] là Nhạc. [Mẹ Nhạc là] Thần Doanh được hai vua [Hoài công, Văn công] sủng ái, lập con của Thần Doanh lên ngôi, dân ắt yên lòng.” Triệu Thuẫn nói: “Thần Doanh hèn hạ, địa vị dưới chín người thê thiếp, con bà ta sao có uy nghiêm được! Vả lại nói [Thần Doanh] được hai vua sủng ái, đó là dâm loạn vậy. [Nhạc] là con của tiên quân [Văn công], không thể cầu viện nước lớn rồi chạy ra ở nước nhỏ được, đó là bỉ lậu vậy. Mẹ dâm loạn, con bỉ lậu thì không có uy; Trần là nước nhỏ lại ở xa, không thể tiếp viện, biết làm sao cho phải đây!” [Triệu Thuẫn] sai Sĩ Hội sang nước Tần đón công tử Ung. Giả Quý cũng sai người triệu công tử Nhạc ở nước Trần. Triệu Thuẫn phế truất Giả Quý, lấy cớ Quý đã giết Dương Xử Phủ. Tháng Mười, táng Tương công. Tháng Mười một, Giả Quý chạy sang nước Địch. Năm đó, Tần Mục công cũng chết.

Tháng Tư năm Linh công thứ nhất, Tần Khang công nói: “Trước đây khi Tấn Văn công về nước không có quân hộ vệ, nên có họa của Lã Sảnh Khích Nhuế.” Bèn cho công tử Ung nhiều quân hộ vệ. Mẹ Thái tử là Mậu Doanh ngày đêm ôm Thái tử gào khóc trong triều, nói: “Tiên quân có tội gì? Người thừa tự ngài cũng có tội gì? Bỏ con đích mà tìm vua bên ngoài, sẽ sắp đặt Thái tử vào đâu?” [Mậu Doanh] ra khỏi triều, thì ôm con đến chỗ Triệu Thuẫn, dập đầu nói rằng: “[Trước khi chết] tiên quân có mang đứa con này giao phó cho ngài, nói: 'Đứa nhỏ này thành tài thì ta được nhận sự ban tặng của ông; bất tài thì ta oán ông'. Nay nhà vua mất, lời nói còn bên tai mà ngài vứt bỏ nó, là cớ làm sao?” Triệu Thuẫn cùng các đại phu đều e ngại Mậu Doanh, lại sợ bị giết, bèn quay lưng lại với công tử được đón về là Ung, mà lập Thái tử Di Cao, đó là Linh công. Phát binh để chống cự quân Tần hộ tống công tử Ung về nước. Triệu Thuẫn làm tướng, sang đánh Tần, đánh bại quân Tần ở Lệnh Hồ. Tiên Miệt, Tùy Hội chạy trốn sang nước Tần. Mùa thu, vua các nước Tề, Tống, Vệ, Trịnh, Tào, Hứa đều hội kiến với Triệu Thuẫn, kết minh ở đất Hỗ, do Linh công mới lên ngôi vậy.

Năm thứ tư, thảo phạt nước Tần, chiếm được Thiếu Dương. Nước Tần cũng chiếm được ấp Hào của nước Tấn. Năm thứ sáu, Tần Khang công thảo phạt nước Tấn, chiếm được Ky Mã. Tấn hầu nổi giận, sai Triệu Thuẫn, Triệu Xuyên, Khích Khuyết đánh nước Tần, đại chiến ở Hà Khúc, Triệu Xuyên có công lao nhất. Năm thứ bảy, Lục khanh nước Tấn lo lắng việc Tùy Hội lưu lại nước Tần, thường gây họa loạn cho nước Tấn, bèn vờ sai Ngụy Thọ Dư phản lại nước Tấn rồi hàng nước Tần. Nước Tần sai Tùy Hội đến nước Ngụy, [Ngụy Thọ Dư] thừa cơ bắt Hội đưa về nước Tấn.

Năm thứ tám, Chu Khoảnh vương băng hà, công khanh tranh quyền, nên không báo tang [cho chư hầu]. Nước Tấn sai Triệu Thuẫn đem tám trăm cỗ chiến xa đi dẹp loạn ở nhà Chu rồi lập Khuông vương lên ngôi. Năm này, Sở Trang vương mới lên ngôi. Năm thứ mười hai, người nước Tề giết vua nước mình là Ý công.

Năm thứ mười bốn, Linh công đã trưởng thành, xa xỉ, vơ vét thuế khóa nặng nề để chạm trổ tường cung điện. Từ trên đài bắn người đi bên dưới để xem họ tránh đạn [và coi việc đó là vui]. Đầu bếp nấu món tay gấu chưa chín, Linh công nổi giận, giết đầu bếp, sai đám phụ nữ trong cung mang xác đi vứt, đi qua triều đình. Triệu Thuẫn và Tùy Hội nhiều lần can ngăn trước mặt vua, không nghe; lúc này thấy tay người chết [thò ra], hai người lại tiến lên khuyên can. Tùy Hội can trước, không nghe. Linh công lo sợ họ, sai Sừ Mê đâm Triệu Thuẫn. Phòng ngủ của Thuẫn mở cửa, chỗ ở nhỏ hẹp, Sừ Mê lui ra, than rằng: “Giết tôi trung, trái mệnh vua, tội như nhau vậy.” Bèn lao vào cây mà chết[52].

Ban trước, Thuẫn thường đi săn ở Thú sơn, thấy dưới gốc dâu có người bị đói. Người bị đói là Thị Mi Minh vậy. Thuẫn cho người đó ăn, [người đó] chỉ ăn một nửa. [Thuẫn] hỏi nguyên do, [Minh] đáp rằng: “Đi học làm quan ba năm, chưa rõ mẹ còn hay không, xin để dành cho mẹ.” Thuẫn cho là người có nghĩa, lại cho thêm cơm thịt. Thế rồi Mi Minh làm đầu bếp cho vua nước Tấn, Triệu Thuẫn cũng không hay biết. Tháng Chín, Tấn Linh công uống rượu với Triệu Thuẫn, cho phục giáp sĩ để tấn công Thuẫn. Đầu bếp của nhà vua là Thị Mi Minh biết việc đó, sợ Thuẫn say không dậy được, liền tiến lên nói: “Vua ban cho bề tôi, rượu ba lần rót thì dừng.” Muốn làm thế để Triệu Thuẫn về, trước khi vua Tấn ra lệnh, tránh rước họa. Thuẫn đi rồi, quân sĩ mai phục của Linh công còn chưa đến, bèn thả trước con chó ngao ra cắn. Minh và Thuẫn đánh giết con chó. Thuẫn nói: “Bỏ người dùng chó, dẫu dữ tợn cũng làm được trò gì.” Nhưng không biết Minh vì ngầm báo ơn cho mình nên mới làm vậy. Sau đó Linh công sai quân mai phục đuổi theo Triệu Thuẫn, Thị Mi Minh đánh lại quân mai phục của Linh công, khiến chúng không thể tiến công được, cuối cùng cứu thoát Thuẫn. Thuẫn hỏi lý do, nói: “Tôi là người bị đói dưới gốc cây dâu đây.” Hỏi tên, không nói. Nhân đó Minh cũng bỏ trốn.

Thuẫn bèn bỏ trốn, chưa ra khỏi biên giới nước Tấn. Ngày Ất Sửu, người anh em của Thuẫn là tướng quân Triệu Xuyên tập kích giết chết Linh công ở Đào Viên rồi đón Triệu Thuẫn về. Triệu Thuẫn vốn tôn quý, được lòng dân chúng; Linh công ít tuổi, xa xỉ, dân không quy phục, cho nên dễ dàng bị giết. Thuẫn trở lại tước vị. Thái sử nước Tấn là Đồng Hồ viết rằng “Triệu Thuẫn giết vua của mình”, cho mọi người trong triều xem. Thuẫn nói: “Người giết vua là Triệu Xuyên, ta không có tội.” Thái sử nói: “Ngài là chính khanh, lại trốn chưa khỏi biên cảnh, trở về không giết kẻ làm loạn nước, không ngài thì ai?” Khổng tử nghe việc đó, nói: “Đồng Hồ giống như quan sử hiền năng thời cổ vậy, cách viết không hề che giấu. Tuyên tử[53] là quan đại phu giỏi, vì pháp kỷ mà chịu tiếng xấu. Tiếc thay, ra khỏi biên giới thì tránh được tội rồi.”

Triệu Thuẫn sai Triệu Xuyên đón em của Tương công là Hắc Đồn ở nhà Chu về rồi lập làm vua, đó là Thành công.

Thành công là con út của Văn công, mẹ là người nước Chu. Ngày Nhâm Thân, triều bái ở Vũ cung.

Năm Thành công thứ nhất, ban cho họ Triệu làm Công tộc [đại phu][54]. Thảo phạt nước Trịnh vì nước Trịnh phản bội nước Tấn. Năm thứ ba, Trịnh bá mới lên ngôi, quy phụ nước Tấn rồi bỏ nước Sở. Nước Sở nổi giận, thảo phạt nước Trịnh, nước Tấn sang cứu viện.

Năm thứ sáu, thảo phạt nước Tần, bắt sống viên tướng do thám của nước Tần.

Năm thứ bảy, Thành công cùng Sở Trang vương tranh cường, hội chư hầu ở đất Hỗ. Nước Trần sợ nước Sở, không đến hội họp. Nước Tấn sai Trung Hàng Hoàn từ thảo phạt nước Trần, nhân đó giải cứu nước Trịnh, giao chiến với nước Sở, đánh bại quân Sở. Năm này, Thành công chết, con là Cảnh công Cứ lên thay.

Mùa xuân năm Cảnh công thứ nhất, đại phu nước Trần là Hạ Trưng Thư giết vua nước mình là Linh công. Năm thứ hai, Sở Trang vương thảo phạt nước Trần, giết Trung Thư.

Năm thứ ba, Sở Trang vương bao vây nước Trịnh, nước Trịnh cấp báo với nước Tấn. Nước Tấn sai Tuân Lâm Phủ chỉ huy Trung quân, Tùy Hội chỉ huy Thượng quân, Triệu Sóc chỉ huy Hạ quân; Khích Khắc, Loan Thư, Tiên Cốc, Hàn Quyết, Củng Sóc phụ tá. Tháng Sáu, đến sông Hoàng Hà. Nghe tin nước Sở đã thu phục được nước Trịnh, Trịnh bá cởi trần đi đến kết minh với nước Sở, [quân Sở] liền rút, Tuân Lâm Phủ cũng muốn rút quân về. Tiên Cốc nói: “Mục đích đến là để cứu nước Trịnh, nên không thể không đến, nếu không tướng soái sẽ sinh dị tâm.” Rốt cuộc vượt sông Hoàng Hà. Nước Sở sau khi hàng phục nước Trịnh, muốn có tiếng là đã cho ngựa uống nước sông Hoàng Hà rồi mới rút quân. Quân Sở và quân Tấn đại chiến. Nước Trịnh mới quy phụ nước Sở, sợ nước Sở, mới quay sang giúp nước Sở tấn công nước Tấn. Quân Tấn thua, chạy đến Hoàng Hà, tranh nhau sang sông, ngón tay người trong thuyền rất nhiều[55]. Quân Sở bắt sống tướng nước Tấn là Trí Oanh. [Quân Tấn] trở về, Lâm Phủ nói: “Thần làm Đốc tướng, quân thua đáng chém, xin được chịu chết.” Tấn công định đồng ý. Tùy Hội nói: “Trước đây Văn công giao chiến với quân Sở ở Thành Bộc, Thành cương về giết Tử Ngọc, mà Văn công mừng. Nay quân Sở đánh bại quân ta, ta lại giết tướng của mình, ấy là giúp Sở giết kẻ thù vậy.” Bèn thôi.

Năm thứ tư, Tiên Cốc là người đầu tiên đưa ra kế hoạch khiến quân Tấn thua trên sông Hoàng Hà, sợ bị giết, bèn chạy trốn sang nước Địch, cùng nước Địch bàn mưu thảo phạt nước Tấn. Nước Tấn biết, giết cả họ Cốc. Cốc là con của Tiên Chẩn.

Năm thứ năm, thảo phạt nước Trịnh vì tội giúp nước Sở. Lúc này, Sở Trang vương hùng mạnh, vì đã đánh bại quân Tấn trên sông Hoàng Hà vậy.

Năm thứ sáu, nước Sở thảo phạt nước Tống, nước Tống đến nước Tấn cấp báo, nước Tấn muốn cứu viện nước Tống, Bá Tông bàn mưu rằng: “Trời đang khai mở cho Sở, không thể địch được.” Bèn sai Giải Dương vờ đi cứu nước Tống. Người Trịnh bắt được [Giải Dương] giao cho nước Sở, nước Sở ban thưởng [cho Dương] hậu hĩnh, rồi sai [Dương] nói ngược lại, để khiến nước Tống mau bị hạ. Giải Dương vờ đồng ý, rốt cuộc đến truyền đạt lời vua Tấn [đồng ý cứu viện]. Nước Sở muốn giết Giải Dương, có người can, bèn tha cho về.

Năm thứ bảy, nước Tấn sai Tùy Hội diệt Xích Địch.

Năm thứ tám, sai Khích Khắc đi sứ sang nước Tề. Mẹ Tề Khoảnh công từ trên lầu nhìn xuống bật cười. Cười vì Khích Khắc gù lưng, còn sứ nước Lỗ thọt chân, sứ nước Vệ chột mắt, cho nên nước Tề cũng sai người tương tự để dẫn khách. Khích Khắc tức giận, về đến sông Hoàng Hà, nói: “Không báo nỗi nhục ở nước Tề, mong Hà Bá xét soi!” Về đến nước, xin gặp vua, muốn thảo phạt nước Tề. Cảnh công hỏi nguyên do, nói: “Nỗi oán hận của ngài, sao đủ để phiền quốc gia!” Không nghe. Ngụy Văn tử xin cáo lão về nghỉ, [nói vua] triệu Khích Khắc, Khắc chấp chính.

Năm thứ chín, Sở Trang vương chết. Nước Tấn thảo phạt nước Tề, nước Tề sai Thái tử Cường sang nước Tấn làm con tin, quân Tấn bãi binh.

Mùa xuân năm thứ mười một, nước Tề thảo phạt nước Lỗ, chiếm đất Long. Nước Lỗ cấp báo với nước Vệ, nước Vệ và nước Lỗ đều thông qua Khích Khắc cấp báo với nước Tấn. Nước Tấn bèn sai Khích Khắc, Loan Thư, Hàn Quyết đem tám trăm cỗ binh xa cùng nước Lỗ và nước Vệ thảo phạt nước Tề. Mùa hạ, giao chiến với Khoảnh công ở đất An, đả thương vây khốn Khoảnh công. Khoảnh công bèn đổi chỗ ngồi với viên hộ vệ bên phải, xuống xe đi kiếm nước uống rồi thừa cơ trốn thoát. Quân Tề thua chạy, quân Tấn đuổi lên phía bắc, đến tận nước Tề. Khoảnh công hiến vật báu để cầu hòa, [quân Tấn] không nghe. Khích Khắc nói: “Nhất định phải bắt được Tiêu Đồng điệt tử[56] làm con tin.” Sứ Tề nói: “Tiêu Đồng điệt tử là mẹ của Khoảnh công; mẹ của Khoảnh công cũng như mẹ của Tấn quân, sao cứ nhất quyết đòi bắt bằng được? Không đúng đạo nghĩa, xin đánh tiếp.” Nước Tấn bèn đồng ý giảng hòa rồi rút quân.

Thân công Vu Thần nước Sở trộm bắt nàng Hạ cơ rồi chạy sang nước Tấn, nước Tấn cho Vu Thần làm đại phu ở ấp Hình.

Mùa đông năm thứ mười hai, Tề Khoảnh công sang nước Tấn, muốn tôn Tấn Cảnh công làm vương, Cảnh công từ chối không dám nhận. Nước Tấn bắt đầu lập sáu quân[57], Hàn Quyết, Củng Sóc, Triệu Xuyên, Tuân Giai, Triệu Quát, Triệu Chiên đều làm quan khanh. Trí Oanh từ nước Sở về nước.

Năm thứ mười ba, Lỗ Thành công triều kiến nước Tấn, nước Tấn không tôn kính, Lỗ Thành công giận bỏ về, phản bội lại nước Tấn. Nước Tấn thảo phạt nước Trịnh, chiếm ấp Phiếm.

Năm thứ mười bốn, núi Lương sạt lở. [Vua Tấn] hỏi Bá Tông, Bá Tông cho là không có gì lạ.

Năm thứ mười sáu, tướng nước Sở là Tử Phản oán Vu Thần, diệt cả họ Vu Thần. Vu Thần tức giận, viết thư cho Tử Phản rằng: “Nhất định khiến ông đôn đáo phụng mệnh đến đứt hơi!” Bèn xin đi sứ nước Ngô, sai con làm Hành nhân ở nước Ngô, dạy người Ngô cách cưỡi xe dùng binh. Nước Ngô và nước Tấn bắt đầu qua lại, ước định thảo phạt nước Sở.

Năm thứ mười bảy, giết Triệu Đồng, Triệu Quát, diệt cả gia tộc. Hàn Quyết nói: “Công lao của Triệu Thôi, Triệu Thuẫn há có thể quên ư? Sao có thể dứt việc tế tự được” Bèn lệnh con thứ họ Triệu là Vũ làm người kế thừa họ Triệu, lại phong ấp cho.

Mùa hạ năm thứ mười chín, Cảnh công ốm, lập Thái tử Thọ Mạn làm vua, đó là Lệ công. Hơn tháng sau, Cảnh công chết.

Lệ công năm thứ nhất, mới lên ngôi, muốn hòa hảo với chư hầu, bèn cùng Tần Hoàn công kết minh bên sông Hoàng Hà. Sau khi trở về, nước Tần bội ước, bàn mưu cùng nước Địch thảo phạt nước Tấn. Năm thứ ba, [Lệ công] sai Lã Tướng trách nước Tần, nhân đó cùng chư hầu thảo phạt nước Tần. Đến sông Kinh, đánh bại quân Tần ở Ma Toại, bắt sống tướng Tần là Thành Sai.

Năm thứ năm, Khích Kỹ, Khích Xu, Khích Chí gièm pha Bá Tông, [Lệ công] giết Bá Tông. Bá Tông vì thích dùng lời ngay để can ngăn nên mắc họa này, người trong nước vì thế không quy phụ Lệ công.

Mùa xuân năm thứ sáu, nước Trịnh bội ước với nước Tấn, quay sang kết minh cùng nước Sở, nước Tấn giận. Loan Thư nói: “Không thể để vào đời chúng ta mà mất chư hầu.” Bèn phát binh. Lệ công đích thân cầm quân, tháng Năm vượt sông Hoàng Hà. Nghe tin quân Sở đến cứu, Phạm Văn tử đề nghị Lệ công chuẩn bị rút quân. Khích Chí nói: “Phát binh giết nghịch tặc, thấy mạnh liền tránh thì chẳng lấy gì để hiệu lệnh chư hầu.” Bèn giao chiến. Ngày Quý Tỵ, bắn trúng mắt Sở Cung vương, quân Sở thua ở Yên Lăng. Tử Phản thu tan binh, chỉnh đốn xong muốn tái chiến, Tấn quân lo sợ. Cung vương triệu Tử Phản, kẻ hầu của Tử Phản là Thụ Dương Cốc dâng rượu, Tử Phản say, không thể diện kiến. Cung vương tức giận, trách lỗi Tử Phản, Tử Phản chết. Cung vương bèn dẫn quân về. Từ đấy nước Tấn oai chấn chư hầu, muốn hiệu lệnh thiên hạ để mong xưng bá.

Lệ công có nhiều cơ thiếp ở ngoài, về nước, muốn bãi miễn hết các quan đại phu để lập anh em các cơ thiếp lên thay. Anh của người cơ thiếp được sủng ái là Tư Đồng, từng có thù oán với Khích Chí, đúng lúc Loan Thư cũng oán Khích Chí không theo kế của mình để đánh bại quân Sở, bèn sai người lén sang tạ tội với nước Sở. Sở vương sai người đến lừa Lệ công rằng: “Trận chiến ở Yên Lăng, thực chất Khích Chí triệu quân Sở đến, muốn làm loạn, rồi đưa Tử Chu về lập lên thay. Gặp lúc nước Sở chuẩn bị tốt, nên việc không thành.” Lệ công nói với Loan Thư. Loan Thư nói: “Có lẽ có việc đó! Xin nhà vua thử sai người đến nhà Chu ngầm khảo xét xem.” Quả nhiên [Lệ công] sai Khích Chí đến nhà Chu. Loan Thư lại bảo công tử Chu đến gặp Khích Chí, Khích Chí không biết mình bị bán đứng. Lệ công thử xong, tin có chuyện đó, bèn oán Khích Chí, muốn giết đi. Năm thứ tám, Lệ công đi săn, cùng cơ thiếp uống rượu, Khích Chí giết lợn dâng tiến, bị hoạn quan [Mạnh Trương] cướp lấy. Khích Chí bắn tên giết chết viên hoạn quan đó. Lệ công tức tối, nói: “Quý tử khinh ta!” Định giết Khích Kỹ, Khích Xu, Khích Chí, nhưng chưa ra tay. Khích Kỹ muốn đánh Lệ công, nói: “Dẫu ta chết, Lệ công cũng phải bị tổn hại!” Khích Chí nói: “Người tín thì không phản vua, người trí thì không hại dân, người dũng thì không làm loạn. Mất ba điều ấy thì ai theo ta nữa? Ta chết thôi!” Ngày Nhâm Ngọ tháng Mười Hai, Lệ công lệnh cho Tư Đồng đem tám trăm quân tập kích giết Khích Kỹ, Khích Xu, Khích Chí. Tư Đồng thừa cơ uy hiếp Loan Thư và Trung Hàng Yển trong triều, nói: “Không giết hai ông, họa ắt đến vua.” Lệ công nói: “Một ngày giết ba quan khanh, quả nhân không nỡ giết thêm nữa vậy.” Đáp rằng: “Người ta sẽ đang tâm giết nhà vua.” Lệ công không nghe, quay sang tạ lỗi với bọn Loan Thư, đó chỉ là trừng phạt tội của họ Khích: “Đại phu hãy trở lại chức vị.” Hai người dập đầu nói: “Thực may mắn, thực may mắn!” Lệ công sai Tư Đồng làm quan khanh. Ngày Ất Mão tháng nhuận, Lệ công du ngoạn đến nhà họ Tượng Ly, Loan Thư và Trung Hàng Yển phái đồng đảng của mình tập kích bắt Lệ công, bỏ tù, giết Tư Đồng, rồi sai người đón công tử Chu ở Chu về lập lên thay, đó là Điệu công.

Ngày Canh Thân tháng Giêng năm Điệu công thứ nhất, Loan Thư và Trung Hàng Yển [hạ lệnh] giết Lệ công, dùng một cỗ xe đưa đi táng[58]. Lệ Công bị bỏ tù sáu ngày thì chết, mười ngày sau khi [Lệ công] chết, vào ngày Canh Ngọ, Trí Oanh đón công tử Chu về, đến ấp Giáng, giết gà [lấy máu] cùng các đại phu thề ước rồi lập làm vua, đó là Điệu công. Ngày Tân Tỵ, triều bái tại Vũ cung. Ngày Ất Dậu tháng Hai, lên ngôi.

Ông nội của Điệu công Chu là Tiệp, là con út của Tấn Tương công, không được lên ngôi, hiệu là Hoàn thúc, Hoàn thúc được sủng ái nhất. Hoàn thúc sinh Huệ bá Đàm, Đàm sinh Điệu công Chu. Chu lên ngôi khi mười bốn tuổi. Điệu công nói: “Ông, cha đều không được lập mà phải sang nhà Chu lánh nạn, chết nơi đất khách. Quả nhân tự cho mình quan hệ xa xôi, không hy vọng được làm vua. Nay các đại phu không quên ý nguyện của Văn công, Tương công mà thi ơn lập hậu duệ của Hoàn thúc, nhờ sự anh linh của tông miếu và sự giúp đỡ của các đại phu, [ta] được phụng thờ tế tự nước Tấn, há dám không e dè cẩn trọng ư? Xin các đại phu cũng cùng phò tá quả nhân!” Thế rồi trục xuất bảy người không trọn đạo bề tôi, tu chỉnh công đức cũ, thi hành ơn đức, thu dụng hậu duệ các bề tôi có công thời Văn công về nước. Mùa thu, thảo phạt nước Trịnh. Quân Trịnh thua, rồi tiến đến nước Trần.

Năm thứ ba, nước Tấn hội chư hầu. Điệu công hỏi quần thần xem có thể trọng dụng được ai, Kỳ Hề tiến cử Giải Hồ. Giải Hồ là kẻ thù của Hề. [Điệu công] lại hỏi, Kỳ Hề tiến cử con mình là Kỳ Ngọ. Người quân tử cho rằng: “Kỳ Hề khá gọi là không bè đảng vậy! Ngoài thì tiến cử mà không vùi dập kẻ thù, trong thì tiến cử con mà không che giấu.” Đang hội chư hầu thì em của Điệu công là Dương Can làm loạn quân ngũ, Ngụy Giáng giết người đánh xe của [Dương Can]. Điệu công tức giận, có người can Điệu Công, rốt cuộc Điệu công cho Giáng là hiền năng, giao chính sự cho, sai hòa hiếu với người Nhung, phần lớn người Nhung đều thân thiết quy phụ. Năm thứ mười một, Điệu công nói: “Từ khi ta dùng Ngụy Giáng, chín lần hội họp chư hầu, hòa hiếu với tộc Nhung và nước Địch, đều là công sức của Ngụy tử vậy.” Ban cho đội nhạc, ba lần từ tạ rồi mới nhận. Mùa đông, nước Tần chiếm ấp Lịch của nước Tấn.

Năm thứ mười bốn, Tấn Điệu công sai lục khanh thống lãnh chư hầu thảo phạt nước Tần, vượt sông Kinh, cả phá quân Tần, kéo đến Vực Lâm rồi rút về.

Năm thứ mười lăm, Điệu công hỏi Sư Khoáng về việc trị quốc. Sư Khoáng nói: “Chỉ cần lấy nhân nghĩa làm gốc.” Mùa đông, Điệu công chết, con là Bình Công Bưu lên thay.

Bình công năm thứ nhất, thảo phạt nước Tề, giao chiến với Tề Linh công ở Mỹ Hạ, quân Tề thua chạy. Yến Anh nói: “Nhà vua đã không có dũng khí, sao không ngừng chiến?” [Quân Tề] bèn rút. Quân Tấn đuổi theo, bao vây Lâm Truy, đốt sạch nhà cửa và tàn sát hết người trong thành. Phía đông tiến đến sông Giao, nam đến sông Nghi, quân Tề đều dựa thành phòng thủ, nước Tấn bèn dẫn quân về.

Năm thứ sáu, Lỗ Tương công triều kiến nước Tấn. Loan Sính nước Tấn có tội, chạy sang nước Tề. Năm thứ tám, Tề Trang công ngầm sai Loan Sính đến Khúc Ốc, đem quân theo sau. Quân Tề lên Thái Hàng, Loan Sính làm phản ở Khúc Ốc, đánh úp vào ấp Giáng. Ấp Giáng không có phòng bị, Bình công định tự sát, Phạm Hiến tử ngăn Bình công lại, rồi sai đồ đảng của mình đánh Sính, Sính thua chạy về Khúc Ốc. Người ở Khúc Ốc đánh Sính, Sính chết. Bèn diệt tông tộc họ Loan. Loan Sính là cháu nội Loan Thư. Sính vào thành Giáng, cùng bàn mưu với họ Ngụy. Tề Trang công nghe tin Sính thua, bèn rút về, chiếm Triều Ca của nước Tấn rồi lui quân, để báo thù cuộc chiến ở Lâm Truy.

Năm thứ mười, Thôi Trữ ở nước Tề giết vua nước mình là Trang Công. Nước Tấn nhân khi nước Tề có loạn, đánh bại quân Tề Cao Đường rồi rút, báo thù cuộc chiến ở Thái Hàng.

Năm thứ mười bốn, Diên Lăng Quý tử nước Ngô đi sứ sang, cùng trò chuyện với Triệu Văn tử, Hàn Tuyên tử, Ngụy Hiến tử, nói: “Chính sự nước Tấn rốt cuộc về ba nhà này vậy.”[59]

Năm thứ mười chín, sứ giả nước Tề là Yến Anh đến nước Tấn; trò chuyện cùng Thúc Hướng. Thúc Hướng nói: “Nước Tấn đến đời cuối rồi. Nhà vua thu thuế khóa nặng nề để làm đài làm ao mà không quan tâm đến chính sự, chính sự nằm ở các tư môn[60], liệu có được lâu dài không?” Yến tử cũng cho là vậy.

Năm thứ hai mươi hai, thảo phạt nước Yên. Năm thứ hai mươi sáu, Bình công chết, con là Chiêu công Di lên thay.

Chiêu công đến năm thứ sáu thì chết. Lục khanh hùng mạnh[61], công thất suy yếu. Con Chiêu công là Khoảnh công Khứ Tật lên ngôi.

Khoảnh công năm thứ sáu, Chu Cảnh vương băng, các vương tử tranh lên ngôi. Các quan Lục khanh nước Tấn dẹp loạn vương thất nhà Chu, lập Kính vương lên ngôi.

Năm thứ chín, họ Quý nước Lỗ đuổi vua nước mình là Chiêu công, Chiêu công ra ở Càn Hầu. Năm thứ mười một, nước Vệ và nước Tống sai sứ sang đề nghị nước Tấn đưa vua Lỗ về nước. Quý Bình tử hối lộ riêng Phạm Hiến tử, Hiến tử nhận, bèn nói với Tấn quân rằng: “Họ Quý vô tội.” [Vì thế nước Tấn] không đưa Lỗ quân về.

Năm thứ mười hai, cháu nội Kỳ Hề là người trong tông tộc nước Tấn và con của Thúc Hưởng cùng hủy báng nhà vua. Lục khanh muốn làm cho công thất suy yếu, bèn dùng pháp luật diệt sạch tông tộc họ, rồi chia ấp phong của họ thành mười huyện, ai nấy đều lệnh con mình làm đại phu các huyện đó. [Tông tộc vua] Tấn ngày càng yếu, Lục khanh đều hùng mạnh.

Năm thứ mười bốn, Khoảnh công chết, con là Định công Ngọ lên thay.

Định công năm thứ mười một, Dương Hổ nước Lỗ chạy sang nước Tấn, Triệu Ưởng Giản tử cho ở lại. Năm thứ mười hai, Khổng tử làm Tướng quốc nước Lỗ.

Năm thứ mười lăm, Triệu Ưởng sai đại phu là Ngọ ở Hàm Đan đi làm việc, cho là không thủ tín, muốn giết Ngọ, Ngọ cùng Trung Hàng Dần và Phạm Cát Diệc đích thân tấn công Triệu Ưởng, Ưởng chạy ra giữ Tấn Dương. Định công bao vây Tấn Dương. Tuân Lịch, Hàn Bất Tín, Ngụy Xỉ cùng Phạm Cát Diệc và Trung Hàng Dần thành cừu địch, [Định công thấy thế của bốn họ hùng mạnh] bèn chuyển quân quay sang thảo phạt Phạm Cát Diệc và Trung Hàng Dần. Phạm Cát Diệc và Trung Hàng Dần phản lại [Định công], Tấn quân đem quân đánh họ, đánh bại Phạm Cát Diệc và Trung Hàng Dần. Phạm Cát Diệc, Trung Hàng Dần chạy tới Triều Ca, cố thủ ở đó. Hàn Bất Tín và Ngụy Xỉ vì Triệu Ưởng tạ lỗi với Tấn quân, bèn xá miễn cho Triệu Ưởng, khôi phục tước vị. Năm thứ hai mươi hai, quân Tấn đánh bại Phạm Cát Diệc và Trung Hàng Dần, hai người chạy sang nước Tề.

Năm thứ ba mươi, Định công cùng Ngô vương Phù Sai hội minh ở Hoàng Trì, tranh nhau làm trưởng minh ước, bấy giờ Triệu Ưởng đi theo, rốt cuộc Ngô vương làm trưởng.

Năm thứ ba mươi mốt, Điền Thường nước Tề giết vua nước mình là Giản công, rồi lập em của Giản công là Ngao lên làm Bình công. Năm thứ ba mươi ba, Khổng tử chết.

Năm thứ ba mươi bảy, Định công chết, con là Xuất công Tạc lên thay.

Xuất công năm thứ mười bảy, Trí bá và ba họ Triệu, Hàn, Ngụy cùng chia nhau đất của họ Phạm và họ Trung Hàng làm ấp phong của mình. Xuất công tức giận, báo với nước Tề và nước Lỗ, muốn nhân đó thảo phạt Tứ Khanh[62]. Tứ khanh lo sợ, bèn quay lại tấn công xuất công. Xuất công chạy sang nước Tề, chết trên đường đi. Vì thế Trí bá bèn lập chắt của Chiêu công là Kiêu làm Tấn quân, đó là Ai công.

Ông nội của Ai công là Ung, là con út của Tấn Chiêu công, hiệu là Đái tử. Đái tử sinh ra Kỵ. Kỵ giao hảo tốt với Trí bá, nhưng chết sớm, Trí bá vốn muốn chiếm hết nước Tấn, nhưng chưa dám làm, bèn lập con của Kỵ là Kiêu lên làm vua. Bấy giờ, chính sự nước Tấn đều do Trí bá quyết định, Tấn Ai công không thể khống chế được. Trí bá sau khi có thêm đất phong của họ Phạm và họ Trung Hàng, trở thành thế lực mạnh nhất.

Ai công năm thứ tư, Triệu Tương tử, Hàn Khang tử, Ngụy Hoàn tử cùng giết Trí bá, chiếm hết đất phong.

Năm thứ mười tám, Ai công chết, con là U công Liễu lên thay. Thời U công, vua Tấn lo sợ [vì thế lực nhỏ yếu], trái lại phải vào triều kiến ba nhà họ Hàn, Triệu và Ngụy. [Vua Tấn] chỉ còn thành Giáng và Khúc Ốc, đất khác đều nhập vào Tam Tấn.

Năm thứ mười lăm, Ngụy Văn hầu mới lên ngôi. Năm thứ mười tám, U công dâm loạn với phụ nữ, đang đêm lén ra khỏi thành ấp, bị trộm cướp giết chết. Ngụy Văn hầu đem quân dẹp loạn nhà Tấn, lập con của U công là Chỉ lên thay, đó là Liệt công.

Liệt công năm thứ mười chín, Uy Liệt vương nhà Chu ban cho họ Triệu, Hàn, Ngụy đều được làm chư hầu.

Năm thứ hai mươi bảy, Liệt công chết, con là Hiếu công Kỳ lên thay. Hiếu công năm thứ chín, Ngụy Vũ hầu mới lên ngôi, tập kích Hàm Đan, không thắng, bèn rút quân. Năm thứ mười bảy, Hiếu công chết, con là Tĩnh công Câu Tửu lên thay. Năm này là năm đầu niên hiệu Tề Uy vương.

Tĩnh công năm thứ hai, Ngụy Vũ hầu, Hàn Ai hầu, Triệu Kính hầu diệt hậu duệ nước Tấn rồi chia đất đai nước Tấn làm ba phần. Tĩnh công bị giáng làm dân thường, tông miếu nước Tấn dứt việc tế tự.

Thái sử công bàn rằng: Tấn Văn công được thời xưa cho là vua sáng, sống lưu vong bên ngoài mười chín năm trong cảnh cực kỳ khốn đốn, đến khi lên ngôi tiến hành ban thưởng, vẫn quên Giới Tử Thôi, huống nữa là chúa kiêu căng? Sau khi Linh công bị giết, hậu duệ là Thành công, Cảnh công trị nước cực nghiêm, đến Lệ công càng hà khắc, các đại phu sợ bị giết, bèn gây họa. Từ Điệu công về sau ngày càng suy, lục khanh chuyên quyền. Cho nên đạo của người làm vua để chế ngự bề tôi vốn dĩ không dễ dàng vậy!

[1] Ngọc khuê ngoài dùng làm tế khí, lễ vật... còn là tín vật cho việc phân phong.

[2] Hàn Vạn: là con của Khúc Ốc Hoàn thúc, là em của Trang bá.

[3] Thiên y: áo may bằng hai màu vải khác nhau.

[4] Kim quyết: một loại vòng bằng vàng hoặc làm bằng đồng xanh.

[5] Khuất Sản: là nơi có nhiều ngựa tốt.

[6] Tả truyện chép sáu ngày sau.

[7] Nguyên là "Tế địa”, có sách hiểu là rót rượu tế xuống đất.

[8] Tiểu thần: chức quan, là các hoạn quan lo những công việc phục dịch trong cung.

[9] Tân Thành: tức Khúc Ốc.

[10] Minh phủ: là quan Tư minh, nắm những việc và lễ nghi liên quan đến từ lệnh minh ước.

[11] Ám chỉ tuổi tác của Tuấn Tức đã cao.

[12] Ý nói tai họa phát sinh từ lời gièm pha.

[13] Giết Hề Tề, Điệu tử và đại phu Tuân Tức.

[14] Nước Tấn diệt được nước nào thì cho nước đó làm hạ ấp. Có thuyết cho rằng Khúc Ốc có tông miếu, cho nên gọi là quốc; và ở dưới Giáng đô cho nên gọi là hạ quốc.

[15] Hồ Đột vốn người đánh xe cho Thân Sinh.

[16] Tả truyện chép: bảy ngày sau.

[17] Thất dư đại phu: là chỉ bảy vị đại phu đảm nhận trọng trách phó xa (theo xe) cho các vua chư hầu. Đại phu: là chức quan dưới bậc khanh, trên bậc sĩ.

[18] Tả truyện chép: nhà Chu sai Thiệu Vũ công và Nội sử Quá sang ban mệnh cho Tấn Huệ công. Có sách hiểu là nhà Chu sai Thiệu Công sang bái phỏng Tấn Huệ Công.

[19] Chỉ việc trước đó đã hứa cắt đất Hà Tây cho nước Tần.

[20] Hộ vệ bên phải: tức người làm Tham thừa.

[21] Nhung Địch: ý nói bọn người man di mọi rợ. Đây ngụ ý chỉ nước Tần, vì Tần ở phía tây.

[22] Biết tội ở đây là chỉ nước Tấn nhân cơ hội nước Tần bị nạn đói mà thảo phạt, nay nước Tấn lại bị thất bại.

[23] Tiểu nhân: chỉ dân chúng; quân tử: chỉ các quan chức. Đây ý nói nguyện vọng của dân chúng và các quan chức khác nhau nên nước Tấn trên dưới không hòa hợp.

[24] Theo lễ chế nhà Chu, hàng nước hầu, hoặc bá gặp nhau thì dùng cỗ Thất lao. Một con bò (hoặc trâu), một con dê, một con lợn là một “lao”.

[25] Ngữ: nghĩa là người bồi ngựa.

[26] Đoạn trên ghi tên viên hoạn quan này là Bột Đề.

[27] Là một chủng tộc khác của Xích Địch, họ Ngỗi.

[28] Nguyên văn là chữ "與 dư", Sách ẩn chú rằng các bản khác đều chép là "興 hưng” nên ở đây chúng tôi theo Sách ẩn.

[29] Cữu Phạm là cậu Trùng Nhĩ.

[30] Quốc lễ là lễ dùng khi tiếp đón vua một nước.

[31] Nguyên văn "不穀 bất cốc”, là từ khiêm xưng của vương hầu thời cổ, ngụ ý không giỏi giang, không tài cán.

[32] Một xá bằng ba mươi dặm. Ba xá (tam xá) cũng ngụ ý là nhường bước.

[33] Vợ cũ của Tử Ngữ là một trong số năm người con gái trong tổng tộc của Mục công.

[34] Một bài trong phần Tiểu nhã của Kinh Thi. Bài này mở đầu bằng câu: “Bồng bồng thử miêu, Âm vũ cao chi”, nghĩa là: Mạ nếp lên cao, mưa âm thầm làm cho tươi tốt. Triệu Thôi hát bài này, ngụ ý nói quan dân nước Tấn trông mong Trùng Nhĩ trở về.

[35] Dạo cưa: nguyên là “đao cứ", dụng cụ hành hình phạm nhân. Đây ý nói mình từng bị cung hình (thiến), làm hoạn quan.

[36] Rồng: chỉ Trùng Nhĩ; năm con rắn: chỉ năm hiền sĩ tùy tùng cùng Trùng Nhĩ lưu vong ở nước ngoài.

[37] Ba lần: theo cách nói thời cổ, đôi khi chỉ có nghĩa là nhiều lần, không nhất thiết chính xác là ba lần.

[38] Tức Hà Thượng, thuộc đất Tấn.

[39] Dương Phàn là đất nhà Chu. Dương là tên ấp, nơi Phàn Trọng Sơn ở, cho nên gọi là Dương Phàn.

[40] Báo ơn việc nước Tống trước đây tặng ngựa.

[41] Trước đây Tấn Hiến công lập ra nhị quân (hai quân), nay Văn Công lập ra tam quân (ba quân), bắt đầu theo lễ của nước lớn, tam quân là bằng nửa quân của nhà Chu (nhà Chu có lục quân - sáu quân).

[42] Liễm Vu là đất thuộc nước Vệ.

[43] Trong Tả truyện chép rằng Tử Ngọc sai Bá Phần về xin Sở Thành vương cho đánh Tấn hầu.

[44] Đắc Thần: tức Tử Ngọc.

[45] Một loại rượu chưng cất bằng nếp đen (hắc thử) với uất kim hương, dùng trong việc cúng tế hoặc ban thưởng cho chư hầu.

[46] Quân hổ bôn: quân của thiên tử.

[47] Sau thành một thiên trong Kinh Thư, gọi là thiên văn hầu chi mệnh. Trong Kinh Thư, Chu U vương bị Khuyển Nhung giết hại, Tấn Văn công và Trịnh Vũ công giúp nhà Chu bình định họa loạn, nhờ đó Chu Bình vương được lên ngôi ở Lạc Dương. Chu Bình vương cảm nhớ công lao của Tấn Văn hầu cho nên làm bài văn hầu chi mệnh này. Sử ký dẫn bài này và cho đó là lời Chu Tương vương mệnh cho Tấn Văn Công, thời gian cách nhau đến hơn trăm năm, là lầm vậy.

[48] Nước Tấn có ba “quân”, chia là Thượng, Trung và Hạ quân. Đến lúc này lập ra ba đội quân khác, gọi là “Tam hàng”, là bộ binh. Thời Xuân thu, các nước đều dùng chiến xa để tác chiến, Tấn Văn công lập ba đội bộ binh này để chống người Địch, phân làm Hữu hàng, Trung hàng, Tả hàng. Về sau, nước Tấn lại lập ra sáu quân, tiếm dụng cách phiên chế quân đội của Chu vương.

[49] Nước Trịnh ở phía đông.

[50] Nước Tần định bí mật đánh úp nước Trịnh, thương nhân nước Trịnh là Huyền Cao thết đãi quân Tần, quân Tần nghĩ việc tiến quân đã bị lộ, nước Trịnh đã phòng bị trước nên rút quân về.

[51] Côi cút: nguyên là con mất cha gọi là “cô”, hay “cô tử". Đây ý nói Tần thấy Văn công mới chết, Tương công mới lên ngôi, đang phải để tang nên tiến quân sang đánh.

[52] Đoạn này trong Tả truyện chép rằng: Tuyên tử can gián, nhà vua sợ Tuyên tử, bèn sai Sừ Mê giết Tuyên tử. Ngay từ sáng sớm Sừ Mê đã đến nhà Tuyên tử, cửa phòng ngủ đã mở, Tuyên tử đã mặc triều phục, thời gian còn sớm chưa tới lúc thiết triều, Tuyên tử ngồi giả ngủ dáng vẻ cung kính. Thấy vậy, Mê lui ra rồi than rằng: “Lúc ngồi ngủ còn không quên cung kính, là bậc chủ của dân vậy. Giết chủ của dân thì bất trung, trái mệnh vua thì bất tín, chẳng thà chết đi”. Bèn lao vào cây hòe mà chết.

[53] Tuyên tử: tức Triệu Thuẫn.

[54] Công tộc đại phu: chức quan, chưởng quản con em hoàng tộc và con em các khanh đại phu.

[55] Ý nói quân Tấn thua, tranh nhau sang sông, người dưới nước bám vào thuyền, bị người trên thuyền chặt tay, ngón tay rơi vào trong thuyền.

[56] Chỗ khác chép là “Tiêu Đồng thúc tử", nghĩa là “Con gái của Tiêu Đồng thúc”, mẹ của vua Tề, vì đã cười nhạo sứ giả nước Tấn là Khích Khắc, ở đây do Tấn không muốn nói là mẹ của vua nên nói tránh đi.

[57] Quân: phiên chế quân đội thời Chu, thiên tử có sáu quân, mỗi quân có một vạn hai nghìn năm trăm lính. Đây ý nói vua Tấn tiếm dụng danh hiệu, xem mình cũng như Chu vương.

[58] Không an táng theo lễ dành cho nhà vua, chư hầu an táng vua thì dùng bảy cỗ xe.

[59] Về sau quyền lực nước Tấn rơi vào tay ba nhà này, họ chia nước Tấn thành ba nước, đó là Hàn, Triệu và Ngụy.

[60] Ý nói những gia tộc quyền thế.

[61] Lục khanh: đây chỉ các họ Hàn, Triệu, Ngụy, Phạm, Trung Hàng và Trí.

[62] Bốn quan khanh gồm có họ Triệu, họ Ngụy, họ Hàn (gọi là Tam Tấn) cùng với họ Trí, gọi là Tứ khanh.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.