Thừa tướng Trần Bình người hưởng Hộ Dũ, Dương Vũ[1]. Thuở nhỏ nhà nghèo, thích đọc sách, có ba mươi mẫu ruộng, một mình với anh là Bá. Bá thường cày ruộng, để Bình được ra ngoài cầu học. Bình là người cao lớn đẹp trai. Có người bảo Trần Bình rằng: “Nghèo, ăn gì mà béo tốt thế?” Chị dâu ghét Bình vì không chú trọng việc làm ăn của gia đình, nói: “Rồi cũng đến phải ăn cám thôi. Có chú em như thế này, chẳng bằng không có.” Bá nghe vậy, đuổi bỏ vợ.
Tới khi Bình trưởng thành, đến lúc lấy vợ, nhà giàu có không ai chịu gả con cho, nhà nghèo thì Bình cho là đáng hổ thẹn. Lâu sau, có nhà giàu ở Hộ Dũ là Trương Phụ, cháu gái Trương Phụ năm lần gả chồng nhưng chồng đều chết ngay, không ai dám lấy. Bình muốn lấy cô ta. Trong ấp có việc tang, Bình nghèo, tới giúp, đến sớm về muộn để hỗ trợ. Trương Phụ trông thấy Bình ở nhà đám, cho là người khôi vĩ, Bình cũng vì thế mà về muộn. Phụ theo Bình về nhà, nhà Bình ở ngõ sâu hút bên vành ngoài thành, lấy chiếu rách làm cổng, nhưng ngoài cổng có nhiều dấu xe của bậc trưởng giả. Trương Phụ trở về, bảo con là Trọng rằng: “Ta định đem cháu gái gả cho Trần Bình.” Trương Trọng thưa: “Bình nghèo, lại không chịu làm lụng, cả huyện đều cười những việc hắn làm, sao lại gả con gái cho y?” Phụ nói: “Người tốt mẽ như Trần Bình mà nghèo hèn mãi ư?” Rốt cuộc gả cháu gái cho. Vì Bình nghèo, nên [họ Trương] vay mượn tiền cho Bình sắm sính lễ, cho rượu thịt để Bình đón vợ về. Phụ răn cháu gái rằng: “Đừng thấy nó nghèo mà phụng sự không cẩn thận. Phải thờ anh là Bá như thờ cha, thờ chị dâu như mẹ.” Sau khi Bình lấy con gái họ Trương, việc chi dùng khá hơn, giao du ngày càng rộng.
Trong làng có tế thần xã[2], Bình làm người phụ trách việc chia thịt tế, chia rất đều. Các bậc phụ lão nói: “Thằng bé họ Trần chia thịt tế giỏi lắm!” Bình nói: “Ôi, giả sử Bình được làm Tể tướng cả thiên hạ, cũng làm giống việc chia thịt này thôi!”[3]
Trần Thiệp nổi dậy rồi xưng vương ở đất Trần, sai Chu Thị đánh chiếm, bình định đất Ngụy, lập Ngụy Cữu làm Ngụy vương, đánh nhau với quân Tần ở Lâm Tế. Trước đó Trần Bình đã từ biệt anh là Bá, theo đám thiếu niên đến Lâm Tế phụng sự Ngụy vương Cữu. Ngụy vương cho Bình làm Thái bộc[4]. [Bình] nói nhưng Ngụy vương không nghe[5], có người gièm pha Bình, Trần Bình bèn trốn đi.
Lâu sau, Hạng Vũ chiếm đất đến phía trên sông Hoàng Hà, Trần Bình về với Hạng Vũ, theo vào đánh phá nhà Tần, [Hạng Vũ] tặng Bình tước khanh. Hạng Vũ sang phía đông xưng vương ở Bành Thành, Hán vương trở về bình định Tam Tần rồi sang phía đông, Ân vương phản lại nước Sở. Hạng Vũ bèn phong Bình làm Tín Vũ quân, [Bình] thống lãnh những người khách của Ngụy vương Cữu nước Sở tiến vào [đất Ân vương], hàng phục được Ân vương rồi rút về. Hạng vương sai Hạng Hãn phong Bình làm Đô úy, tặng hai mươi dật vàng[6]. Không lâu sau, Hán vương đánh hạ đất Ân. Hạng vương giận, định giết các tướng và quan lại trước đây bình định đất Ân. Trần Bình sợ bị giết, bèn niêm phong vàng và ấn tín, sai sứ trả cho Hạng vương, còn Bình mang kiếm lén trốn đi. Qua Hoàng Hà, người chở thuyền thấy Bình tuấn tú lại đi một mình, ngờ là tướng bỏ trốn, hẳn có vàng ngọc của quý giắt lưng, nhìn Bình, định giết. Bình sợ, bèn cởi áo để trần chèo thuyền giúp. Người chèo thuyền biết Bình không có gì, bèn thôi.
Bình liền đến Tu Vũ hàng Hán, thông qua Ngụy Vô Tri xin gặp Hán vương. Hán vương triệu vào. Bấy giờ Vạn Thạch quân là Phấn làm Trung quyên[7] của Hán vương, nhận danh thiếp xin yết kiến của Bình, đưa Bình vào gặp. Bọn Bình gồm bảy người cùng vào, ban cho ăn uống. Hán vương nói: “Ăn xong, cứ về quán trọ.” Bình nói: “Thần có việc mới tới đây, điều thần nói ra không thể để quá hôm nay.” Thế là Hán vương nói chuyện với Bình, rồi lấy làm thích thú, hỏi rằng: “Ông ở Sở làm chức quan gì?” Đáp: “Làm Đô úy.” Hôm ấy, bèn phong Bình làm Đô úy, sai làm Tham thừa, giữ chức Hộ quân[8]. Các tướng lĩnh thảy nhao nhao nói: “Đại vương một sáng được tên lính bỏ trốn của Sở, chưa biết tài cán cao thấp thế nào đã cho ngồi cùng xe, còn sai giám sát các bậc quân trưởng!” Hán vương nghe vậy, càng tin dùng Bình. Bèn cho cùng sang phía đông đánh Hạng vương. Đến Bành Thành, bị Sở đánh bại. Đưa quân rút về, thu thập tàn binh đến Huỳnh Dương, phong Bình làm Á tướng, thuộc quyền chỉ huy của Hàn vương Tín, đóng quân ở Quảng Vũ.
Bọn Giáng hầu, Quán Anh đều gièm pha Trần Bình rằng: “Bình tuy tốt mẽ, chỉ như viên ngọc trên mũ thôi, bên trong chưa chắc có gì. Thần nghe nói lúc Bình ở nhà, vụng trộm với chị dâu; thờ Ngụy, Ngụy không dung, trốn về Sở; về Sở không hợp, lại trốn theo Hán. Nay đại vương cho làm quan cao, nắm quyền Hộ quân. Thần nghe nói Bình nhận vàng của các tướng, ai đưa nhiều vàng thì được chỗ tốt, ai đưa ít vàng thì phải chỗ xấu. Bình là loạn thần phản phúc, xin đại vương xét kỹ.” Hán vương ngờ Bình, triệu Ngụy Vô Tri đến trách. Vô Tri nói: “Điều thần nói là tài năng [của Trần Bình], điều bệ hạ hỏi là về đức hạnh. Nay có người đức hạnh như Vĩ Sinh[9], Hiếu Kỷ[10], nhưng không ích gì cho sự thắng bại, bệ hạ đâu có rỗi hơi dùng họ? Hán Sở cự nhau, thần tiến cử kẻ sĩ có mưu lạ, chỉ xét xem kế của người đó có đủ làm lợi cho quốc gia hay không thôi. Còn như chuyện vụng trộm với chị dâu, hay nhận vàng đâu đủ để nghi ngờ?” Hán vương triệu Bình đến trách rằng: “Tiên sinh thờ Ngụy không hợp, bèn thờ Sở rồi bỏ đi, nay lại theo ta rong ruổi, người thủ tín vốn thay lòng đổi dạ thế ư?” Bình đáp: “Thần thờ Ngụy vương, Ngụy vương không thể dùng kế sách thần nói, cho nên bỏ đi thờ Hạng vương. Hạng vương không thể tin người, người được [Hạng vương] yêu quý trọng dụng, không phải họ Hạng cũng là anh em đằng vợ, dẫu có bậc kỳ sĩ cũng không thể được trọng dụng, Bình bèn bỏ Sở. Nghe nói Hán vương có thể dùng người, cho nên về với đại vương. Thần mình trần đến đây, không nhận vàng thì không có gì chi dùng. Nếu kế của thần có thể dùng được, mong đại vương hãy dùng, nếu không thể dùng được, vàng hãy còn đấy, xin gói chuyển đến phủ quan, thần xin từ chức trở về.” Hán vương bèn tạ lỗi, thưởng hậu, phong làm Hộ quân trung úy, quản giám hết các tướng. Các tướng không dám lời ra tiếng vào nữa.
Về sau, Sở đánh rất rát, cắt đứt đường thông, bao vây Hán vương thành Huỳnh Dương. Qua thời gian dài, Hán vương lo lắng việc đó, xin cắt đất từ Huỳnh Dương về phía tây để cầu hòa. Hạng vương không nghe. Hán vương hỏi Trần Bình rằng: “Thiên hạ rối ren, bao giờ mới yên định?” Trần Bình đáp: “Hạng lương là người cung kính yêu người, kẻ sĩ thanh liêm khí tiết ham lễ phần nhiều theo ông ta. Nhưng [Hạng vương] lại coi trọng việc thưởng công, ban tước, phong ấp, kẻ sĩ cũng vì thế không quy thuận. Nay đại vương ngạo mạn mà ít trọng lễ, kẻ sĩ thanh liêm tiết tháo không theo, nhưng đại vương có thể rộng lòng ban tước vị, ấp phong cho người, kẻ sĩ có tài nhưng kém bề phẩm cách, hám lợi vô sỉ lại phần nhiều theo Hán. Nếu các bên bỏ hai điều sở đoản, theo hai điều sở trường, chỉ cần phất cờ là bình định được thiên hạ. Song đại vương tự ý khinh người, không thể có được những kẻ sĩ thanh liêm tiết tháo. Xét thấy có thể gây loạn cho Sở, những bề tôi cứng cỏi khí cốt dưới trướng Hạng vương kia chỉ có đám Á phụ[11], Chung Ly Muội, Long Thư, Chu Ân, không quá mấy người. Nếu đại vương có thể bỏ ra mấy vạn cân vàng, thi hành kế phản gián, ly gián vua tôi họ, để họ có bụng ngờ nhau, Hạng vương là người hay ngờ, tin lời gièm pha, ắt bên trong sẽ giết nhau. Hán thừa cơ cất quân tiến đánh, ắt phá được Sở.” Hán vương cho là phải, bèn bỏ ra bốn vạn cân vàng, giao cho Trần Bình, để mặc ý sử dụng, không hỏi xem chi tiêu thế nào.
Sau khi Trần Bình được nhiều vàng liền tung phản gián sang quân Sở, rêu rao rằng các tướng như bọn Chung Ly Muội làm tướng cho Hạng vương, công nhiều mà rốt cuộc không được cắt đất phong vương, muốn hợp nhất với Hán, để diệt họ Hạng rồi chia đất xưng vương. Hạng Vũ quả nhiên có ý không tin bọn Chung Ly Muội. Sau khi Hạng vương đã nghi ngờ họ, liền sai sứ đến nhà Hán. Hán vương làm cỗ Thái lao[12] dâng lên. [Hán vương] thấy sứ giả của Sở vương, liền vờ kinh ngạc nói: “Ta tưởng sứ giả của Á phụ, thì ra là sứ giả của Hạng vương!” Cho bưng đi, thay vào bằng cơm rau hẩm mang cho sứ giả nước Sở. Sứ giả nước Sở trở về, hồi báo mọi chuyện với Hạng vương. Hạng vương quả nhiên rất ngờ Á phụ. Á phụ muốn đánh hạ thành Huỳnh Dương thật gấp, Hạng vương không tin, không chịu nghe theo. Á phụ thấy Hạng vương ngờ mình, bèn giận nói: “Việc thiên hạ gần xong cả rồi, quân vương hãy tự liệu lấy! Xin mang nắm xương tàn trở về!” Về chưa đến Bình Thành, phát nhọt trên lưng mà chết. Trần Bình nhân ban đêm cho hai nghìn phụ nữ ra cổng phía đông thành Huỳnh Dương, Sở bèn đánh vào cửa đông, Trần Bình liền cùng Hán vương ban đêm chạy ra từ cửa tây. Rồi vào Quan Trung, thu các quận tản mác, lại kéo sang phía đông.
Năm sau, Hoài Âm hầu [Hàn Tín] phá được Tề, tự lập làm Tề vương, sai sứ giả nói với Hán vương. Hán vương cả giận mắng chửi, Trần Bình hích chân Hán vương. Hán vương hiểu ra, bèn khoản đãi hậu hĩnh cho sứ Tề, sai bọn Trương Tử Phòng [Trương Lương] lập Tín làm Tề vương. Phân phong cho Trần Bình hương Hộ Dũ. [Hán vương] dùng kế sách kỳ lạ của Trần Bình, rốt cuộc diệt được Sở. [Bình] từng lấy thân phận Hộ quân trung úy theo [Hán vương] bình định Yên vương Tang Đồ.
Hán Cao tổ năm thứ sáu, có người dâng thư tố cáo Sở vương Hàn Tín làm phản. Cao đế hỏi các tướng, các tướng nói: “Mau phát binh chôn sống thằng nhãi ấy.” Cao đế trầm ngâm. Hỏi Trần Bình, Bình cố từ tạ, hỏi: “Các tướng nói sao?” Hoàng thượng đem lời các tướng nói lại. Trần Bình hỏi: “Có ai biết việc có người dâng thư nói Tín làm phản chưa?” Đáp: “Chưa có.” Hỏi: “Tín có biết việc ấy không?” Đáp: “Không biết.” Trần Bình hỏi: “Quân của bệ hạ có tinh nhuệ bằng Sở không?” Hoàng thượng đáp: “Không hơn được.” Bình hỏi: “Trong các tướng của bệ hạ có ai dùng binh hơn được Hàn Tín không?” Hoàng thượng đáp: “Không ai bằng được.” Bình nói: “Nay quân không tinh nhuệ bằng Sở, tướng không giỏi bằng mà cất quân đánh [Tín], đó là thúc [Tín] phải đánh, trộm thấy nguy thay cho bệ hạ.” Hoàng thượng hỏi: “Phải làm thế nào?” Bình đáp: “Thời xưa, thiên tử đi tuần thú, hội họp chư hầu. Phương nam có đầm Vân Mộng, bệ hạ hãy vờ ra du ngoạn đầm Vân Mộng, hội chư hầu ở đất Trần. Trần nằm ở biên giới phía tây nước Sở, Tín nghe tin thiên tử cao hứng xuất du, theo tình thế đó ắt cho là vô sự rồi ra ngoài nghinh đón. [Khi Tín] yết kiến, bệ hạ thừa cơ bắt lấy, việc này chỉ cần một lực sĩ thôi.” Cao đế cho là phải, bèn sai sứ báo với chư hầu hội họp ở đất Trần, báo rằng “Ta sẽ du ngoạn đến đầm Vân Mộng ở phương nam”. Hoàng thượng nhân đó lên đường. Đi chưa đến đất Trần, Sở vương Hàn Tín quả nhiên ra ngoài nghinh đón trên đường. Cao đế chuẩn bị sẵn võ sĩ, thấy Tín đến, liền bắt trói ngay, chở ở xe sau. Tín hô lên rằng: “Thiên hạ đã bình định, ta vốn đáng bị nấu!” Cao đế quay lại bảo Tín: “Mày chớ kêu! Mày phản, rõ ràng rồi!” Võ sĩ trói quặt tay Tín. Rồi hội chư hầu ở đất Trần, bình định hết đất Sở. Về đến Lạc Dương, xá miễn cho Tín, cho làm Hoài Âm hầu, rồi chẻ lệnh phù phân phong cho công thần.
Thế rồi chẻ lệnh phủ ban cho Bình, đời đời không dứt, làm Hộ Dũ hầu. Bình từ tạ rằng: “Đó không phải công của thần vậy.” Hoàng thượng nói: “Ta dùng mưu kế của tiên sinh, đánh thắng quân địch, không công thì là gì?” Bình nói: “Không có Ngụy Vô Tri, sao thần được tiến cử?” Hoàng thượng nói: “Như ông có khá gọi là không quên gốc đấy.” Bèn lại ban thưởng cho Ngụy Vô Tri. Năm sau, lấy thân phận Hộ quân trung úy theo đi đánh Hàn vương Tín làm phản ở đất Đại. Rốt cuộc đến Bình Thành, bị Hung Nô vây khốn, bảy ngày không được ăn. Cao đế dùng kế lạ của Trần Bình, sai sứ đến gặp Yên chi[13] của Thiền vu, nhờ đó được mở vây. Sau khi Cao đế thoát ra, kế của Bình bí mật, trên đời không ai nghe nói.
Cao đế xuống phía nam qua Khúc Nghịch, lên thành, trông thấy nhà cửa rất lớn, nói: “Huyện này tráng lệ thay! Ta đi khắp thiên hạ, chỉ thấy Lạc Dương là nơi này thôi.” Quay lại hỏi Ngự sử rằng: “Khúc Nghịch hộ khẩu bao nhiêu?” Thưa rằng: “Ban trước hồi nhà Tần có trên ba vạn hộ, gần đây chiến tranh liên miên, phần lớn trốn đi ẩn náu, hiện có năm nghìn hộ.” Thế là bèn hạ chiếu cho Ngự sử, đổi phong Trần Bình làm Khúc Nghịch hầu, hưởng toàn bộ thuế khóa trong huyện, bỏ ấp phong trước đây ở Hộ Dũ.
Về sau, [Trần Bình] thường lấy thân phận Hộ quân trung úy theo đánh Trần Hy và Kình Bố. Cả thảy sáu lần đưa ra kế lạ, liền được thêm ấp phong, cả thảy sáu lần được phong thêm. Kế lạ có khi rất bí mật, trên đời không ai biết được.
Từ khi phá quân Kình Bố trở về, Cao đế bị thương phát bệnh, phải đi chậm về Trường An. Yên vương Lư Oản làm phản, hoàng thượng sai Phàn Khoái lấy thân phận Tướng quốc đem quân đến đánh. Sau khi lên đường, có người nói xấu Phàn Khoái. Cao đế giận nói: “Khoái thấy ta ốm, bèn mong ta chết.” Theo kế của Trần Bình rồi triệu Giáng hầu Chu Bột đến nhận chiếu chỉ dưới giường, nói: “Trần Bình kíp ruổi ngựa trạm đưa Bột cầm quân thay Khoái, Bình đến trong quân lập tức chém đầu Khoái!” Sau khi hai người nhận chiếu, cùng nhau phóng ngựa trạm, còn chưa đến trong quân, thì trên đường đi mới bàn với nhau rằng: “Phàn Khoái là bạn cũ của Hoàng đế, công nhiều, hơn nữa lại là chồng của em gái Lã hậu là Lã Tu, đã thân lại sang, Hoàng đế chỉ vì tức giận, muốn chém Khoái, sợ sau hối lại. Chẳng thà bỏ tù rồi đưa về cho hoàng thượng, để hoàng thượng tự giết Khoái.” Còn chưa đến trong quân, lên đàn, dùng phù tiết triệu Phàn Khoái. Khoái nhận chiếu, liền bắt trói Khoái cho vào xe tùy theo đường dịch trạm đưa về Trường An, rồi lệnh Giáng hầu là Bột cầm quân thay Khoái, đem quân bình định các huyện làm phản ở nước Yên.
Trên đường trở về Bình nghe tin Cao đế băng hà, Bình sợ Lã Thái hậu và Lã Tu nghe lời gièm pha giận mình, bèn phóng ngựa trạm đi trước. Gặp sứ giả truyền chiếu cho Bình và Quán Anh đồn quân ở Huỳnh Dương. Bình nhận chiếu, lập tức lại phóng ngựa đến cung, khóc lóc rất đau đớn, nhân đó tâu việc liên quan đến Phàn Khoái trước đám tang. Lã Thái hậu thương xót, nói: “Ông vất vả rồi, hãy ra ngoài nghỉ ngơi đi.” Bình sợ bị gièm pha, nhân đó cố xin làm Túc vệ trong cung. Thái hậu bèn cho làm Lang trung lệnh, nói: “Hãy phụ giúp, dạy bảo Hiếu Huệ.” Từ đấy về sau Lã Tu không gièm pha được nữa. Phàn Khoái về tới, được xá miễn và khôi phục tước vị, ấp phong.
Hiếu Huệ đế năm thứ sáu, Tướng quốc Tào Tham chết, lấy An Quốc hầu Vương Lăng làm Hữu thừa tướng, Trần Bình làm Tả thừa tướng.
Vương Lăng vốn người huyện Bái, trước đây là nhà phú hào trong huyện. Cao tổ lúc còn hàn vi, đối đãi với Lăng như anh. Lăng ít văn vẻ, khí khái, thích nói thẳng. Đến khi Cao tổ nổi dậy ở đất Bái, vào đến Hàm Dương, Lăng cũng tự tụ tập được mấy nghìn đồng đảng, đóng ở Nam Dương, không chịu theo Bái công. Đến khi Hán vương về đánh Hạng Tịch, Lăng bèn đem quân theo Hán. Hạng Vũ bắt được mẹ Lăng an trí ở trong quân, sứ của Lăng tới, cho mẹ Lăng ngồi quay về hướng đông, định để gọi Lăng đến. Mẹ Lăng khi tiễn riêng sứ giả, khóc nói: “Xin vì mụ già này nói với Lăng, cẩn trọng phụng thờ Hán vương. Hán vương là bậc trưởng giả, đừng vì mụ già này mà hai lòng. Già này xin lấy cái chết để tiễn sứ giả.” Bèn đâm kiếm rồi chết. Hạng vương giận, nấu mẹ Lăng. Lăng rốt cuộc theo Hán vương bình định thiên hạ. Lăng vốn thân thiết với Ung Xỉ, Ung Xỉ là kẻ thù của Cao đế, còn Lăng vốn không có ý theo Cao đế, vì thế mãi muộn mới được phong làm An Quốc hầu.
Sau khi An Quốc hầu làm Hữu thừa tướng, được hai năm, Hiếu Huệ đế băng hà. Cao hậu muốn lập những người họ Lã làm vương, hỏi Vương Lăng, Vương Lăng nói: “Không được.” Hỏi Trần Bình, Trần Bình nói: “Được.” Lã Thái hậu giận, bèn vờ thăng Lăng làm Thái phó của Hoàng đế, kỳ thực là không dùng Lăng. Lăng giận, các bệnh từ quan, rốt cuộc đóng cửa không vào chầu, được bảy năm thì chết.
Sau khi Lăng thôi giữ chức Thừa tướng, Lã Thái hậu bèn đổi phong Bình làm Hữu thừa tướng, phong Tịch Dương hầu Thẩm Dị Cơ làm Tả thừa tướng. Tả thừa tướng không giải quyết công việc [tại phủ], thường lo việc trong cung.
Dị Cơ cũng là người huyện Bái. Hán vương thua trận ở Bành Thành, [chạy] sang phía tây, Sở bắt được Thái thượng hoàng và Lã hậu làm con tin, Dị Cơ là xá nhân hầu hạ Lã hậu. Về sau theo đi đánh phá Hạng Tịch, được phong tước hầu, được Lã Thái hậu tin yêu. Đến khi làm Thừa tướng, ở trong cung, việc của trăm quan đều thông qua Dị Cơ để quyết định.
Lã Tu thường đem việc trước đây Trần Bình vì Cao đế bàn mưu bắt Phàn Khoái, nhiều lần gièm pha rằng: “Trần Bình làm Thừa tướng mà không lo công việc, hằng ngày uống rượu ngon, chơi đùa với đàn bà.” Trần Bình nghe vậy, càng làm quá hơn. Lã Thái hậu nghe nói thế thì mừng thầm. [Lã hậu] nói với Trần Bình trước mặt Lã Tu rằng: “Ngạn ngữ nói: 'Miệng đàn bà con trẻ, không thể tin được', chỉ cốt ông với ta thế nào thôi. Đừng sợ lời gièm pha của Lã Tu.”
Lã Thái hậu lập những người họ Lã làm vương, Trần Bình vờ nghe theo. Đến khi Lã Thái hậu băng hà, Bình cùng Thái úy Chu Bột bàn mưu, rốt cuộc giết những người họ Lã, lập Hiếu Văn Hoàng đế lên ngôi, vốn là mưu của Trần Bình vậy. Thẩm Dị Cơ bị bãi chức Thừa tướng.
Hiếu Văn đế lên ngôi, cho rằng Thái úy Chu Bột đích thân cầm quân giết họ Lã, có nhiều công lao; Trần Bình muốn nhường Chu Bột vị trí cao, bèn cáo bệnh. Hiếu Văn đế mới lên ngôi, lấy làm lạ vì Trần Bình các bệnh, hỏi han Bình. Bình nói: “Thời Cao tổ, công của Bột không bằng Bình. Đến khi giết người họ Lã, công thần không bằng Bột. Xin đem chức Hữu thừa tướng nhường cho Bột.” Thế là Hiếu Văn đế bèn phong Giáng hầu Chu Bột làm Hữu thừa tướng, đứng vị trí thứ nhất; Bình chuyển làm Tả thừa tướng, đứng vị trí thứ hai. Tặng cho Bình nghìn cân vàng, phong thêm ba nghìn hộ.
Không lâu sau, Hiếu Văn Hoàng đế đã quen dần với chính sự quốc gia, lâm triều hỏi Hữu thừa tướng Chu Bột rằng: “Thiên hạ một năm xét xử bao nhiêu vụ hình ngục?” Bột tạ lỗi rằng: “Không biết.” Hỏi: “Thiên hạ một năm tiền thóc xuất ra nhập vào bao nhiêu?” Bột lại tạ lỗi là không biết, mồ hôi vã ra ướt lưng, thẹn không biết đối đáp thế nào. Thế rồi hoàng thượng cũng hỏi Tả thừa tướng Trần Bình. Bình nói: “Có người chủ quản việc đó.” Hoàng thượng hỏi: “Ai chủ quản?” Bình đáp: “Nếu bệ hạ hỏi việc hình ngục, thì hỏi quan Đình úy; hỏi về tiền thóc, thì hỏi Nội sử phụ trách việc thóc lúa.” Hoàng thượng hỏi: “Nếu việc gì cũng có chủ quản, vậy ông chủ về việc gì?” Bình tạ lỗi rằng: “Chúa thượng! Bệ hạ không biết thần kém cỏi, cho được làm Tể tướng. Tể tướng trên giúp thiên tử trị lý âm dương, thuận ứng bốn mùa, dưới nuôi dưỡng muôn vật cho hài hòa, ngoài thì trấn áp vỗ về Tứ di và chư hầu, trong thì thân với trăm họ, khiến các khanh đại phu ai nấy đều làm tốt chức phận của mình.” Hiếu Văn đế liền khen ngợi. Hữu thừa tướng cả thẹn, xuất cung, trách Trần Bình rằng: “Sao ngày thường ông không dạy tôi cách trả lời?” Trần Bình cười đáp: “Ông ở vị trí của mình, lại không biết nhiệm vụ của mình ư? Nếu bệ hạ hỏi ở trong thành Trường An có bao nhiêu tên trộm, ông định trả lời bừa sao?” Qua đấy Giáng hầu tự biết tài mình kém xa Trần Bình. Một thời gian sau, Giáng hầu cáo bệnh xin nghỉ chức Hữu thừa tướng, một mình Trần Bình làm Thừa tướng.
Hiếu Văn đế năm thứ hai, Thừa tướng Trần Bình chết, thụy là Hiến hầu. Con là Cung hầu Mãi kế thừa tước hầu. Được hai năm thì chết, con là Giản hầu Khôi kế thừa tước hầu. Được hai mươi ba năm thì chết, con là Hà kế thừa tước hầu. Được hai mươi ba năm, Hà mắc vào tội cướp vợ người khác, bị chém ngoài chợ, nước phong bị phế.
Ban trước Trần Bình nói: “Ta nhiều mưu kế âm hiểm, đó là điều cấm kỵ của Đạo gia. Đời sau của ta nếu bị phế truất cũng là hết, rốt cuộc không hưng khởi được nữa, vì ta nhiều âm mưu nên lắm tai họa vậy.” Về sau người chắt là Trần Chưởng thông qua họ Vệ là chỗ thân thích, hiển quý, xin kế thừa tước phong của họ Trần, nhưng rốt cuộc vẫn không được.
Thái sử công bàn rằng: Thừa tướng Trần Bình lúc nhỏ vốn thích đạo Hoàng Đế, Lão tử. Ngay khi thái thịt tế trên thớt đã có chí hướng cao xa. Qua lại cùng Sở-Ngụy rối ren, cuối cùng về theo Cao đế. Thường đưa ra những kế lạ, cứu được nhiều lúc nguy khốn, giải trừ được mối lo của đất nước. Đến thời Lã hậu, nảy sinh nhiều việc, nhưng Bình rốt cuộc tự thoát được, giữ yên tông miếu, nhờ đó danh tiếng vẻ vang đến lúc chết, được xưng tụng là Thừa tướng hiền năng, há không phải là trọn vẹn từ đầu chí cuối ư! Không biết mưu lược thì ai có thể làm được như thế?
[1] Dương Vũ: thuộc địa phận nước Ngụy.
[2] Thần xã: tức thần đất.
[3] Cách nói đầy tự tin, nhưng cũng có ý muốn nói nếu mình làm Tể tướng thì cũng sẽ giải quyết công việc chính sự một cách chuẩn mực, công bằng.
[4] Thái bộc: một chức quan nhỏ, chủ yếu phụ trách ngựa xe, chăn nuôi gia súc.
[5] Ý nói Trần Bình tham mưu, hiến kế cho Ngụy vương.
[6] Một dật bằng hai mươi lạng.
[7] Một chức quan thị tòng của Hàn vương.
[8] Hộ quân: một chức quan cao cấp trong quân đội, phụ trách các công việc quản lý cấm quân, đề bạt võ quan, giám sát các tướng.
[9] Vĩ Sinh: một người thủ tín. Tương truyền Vĩ Sinh hẹn với một cô gái dưới chân cầu, chờ mãi, cô gái không đến, Vĩ Sinh không chịu về, nước dâng lên, ôm chân cầu rồi chết đuối.
[10] Hiếu Kỷ: Con trai của vua Vũ Đinh nhà Ân, nổi tiếng là người hiếu hạnh.
[11] Á phụ: tức Phạm Tăng, tham mưu giỏi của Hạng Vũ, được Hạng Vũ kính trọng, tôn là Á phụ, coi như cha.
[12] Cỗ thái lao: Cỗ dùng trong lễ tế thời cổ, gồm lợn, trâu (bò) và dê. Đây chỉ cỗ bàn thịnh soạn.
[13] Yên chi: danh từ chung, chỉ vợ của vua Hung Nô (Thiền vu), cũng như Hoàng hậu của nhà Hán.