Chu công Đán là em trai Chu Vũ vương. Từ khi Văn vương còn sống, Đán là người con hiếu, chuyên chú vào đức nhân, không giống các con khác. Đến khi Vũ vương lên ngôi, Đán thường phò tá Vũ vương, gánh vác nhiều trọng trách. Vũ vương năm thứ chín, [Vũ vương] đem quân chinh phạt phía đông đến Minh Tân, Chu công đi theo phò tá. Năm thứ mười một, phạt vua Trụ, tiến đến Mục Dã, Chu công phò tá Vũ vương, viết lời Mục thệ[1]. [Vũ vương] phá được quân Ân, vào cung nhà Thương. Sau khi giết vua Trụ, Chu công cầm búa lệnh lớn, Thiệu Công cầm búa lệnh nhỏ[2], để phù trợ hai bên Vũ vương, giết vật tế để tế thần xã[3], tuyên cáo tội trạng của vua Trụ với trời và dân chúng nhà Ân. Phóng thích Cơ tử khỏi ngục[4], phân phong cho con vua Trụ là Vũ Canh Lộc Phủ, sai Quản thúc, Sái thúc phò tá[5] để kế tục việc cúng tế nhà Ân. Phong thưởng khắp lượt bề tôi có công, cùng thân thuộc họ hàng. Phong cho Chu công Đán đất Khúc Phụ, là đất cũ của Thiếu Hạo[6], đó là Lỗ công. Chu công không đến đất phong, ở lại phò tá Vũ vương.
Hai năm sau khi Vũ vương diệt được nhà Ân, thiên hạ chưa an định hẳn, Vũ vướng mắc bệnh, không được khỏe, quần thần lo sợ, Thái công, Thiệu Công bèn kính cẩn bói mai rùa. Chu công nói: “Không thể để tiên vương ta lo lắng được.” Thế là Chu công bèn đích thân làm vật hiến tế, lập ba đàn tế, Chu công đứng quay mặt về phía bắc, đầu đội ngọc bích, tay cầm ngọc khuê[7], cáo tế với Thái vương, Vương quý, Văn vương[8]. Quan sử đọc lời khấn khắc trên thẻ[9] [do Chu công soạn] rằng:
“Cháu trưởng của chư vị là [Vũ] vương Phát[10], do vất vả vì quốc sự nên mắc bệnh nặng, nếu ba vị tiên vương có nợ trời một người con cháu[11], vậy thì xin cho Đán được thế thân cho Vũ vương Phát. Đán này khéo léo, tài năng, lắm tài nhiều nghệ, giỏi thờ quỷ thần. Còn Vũ vương Phát không lắm tài nhiều nghệ, không khéo thờ quỷ thần bằng Đán. Nhưng do [Vũ vương Phát] nhận mệnh của thiên đế, bảo bọc khắp bốn phương, khiến con cháu các ngài trong thiên hạ được yên ổn, chúng dân khắp bốn phương không ai không kính sợ. [Vì thế] nếu [Vũ vương Phát] chẳng làm mất mệnh trời quý báu đã ban xuống, thì các tiên vương ta cũng mãi mãi có chỗ nương về. Nay Đán đã thỉnh mệnh [của các ngài] ở rùa lớn[12], nếu các ngài chấp nhận thỉnh cầu của Đán, Đán xin dâng ngọc bích và ngọc khuê, chờ mệnh lệnh của các ngài. Nếu các ngài không chấp nhận thỉnh cầu của Đán, Đán sẽ cất ngọc bích và ngọc khuê.”
Chu công lệnh cho quan sử đọc lời khấn cáo với Thái vương, Vương quý, Văn vương khắc trên thẻ xong, muốn chết thay cho Vũ vương Phát, rồi liền bói quẻ thỉnh mệnh ba vị tiên vương. Thầy bói đều nói là tốt, mở sách bói ra xem, đích xác quẻ tốt. Chu công mừng, lại đích thân mở khóa lấy sách bói quẻ ra coi, thấy sách cũng ghi lời bói tốt lành. Chu công vào triều chúc mừng Vũ vương rằng: “Bệnh tình của nhà vua không có gì nguy hại nữa. Đán mới thỉnh mệnh ba vị tiên vương, nhà vua chỉ cần toan tính sao cho mọi việc đều được lâu dài trọn vẹn. Đó là nhờ tiên vương đoái nghĩ đến nhà vua vậy.” Chu công đem cất thẻ ghi lời khấn vào hộp Kim đằng[13], răn bảo người cất giữ không được nói cho ai biết. Hôm sau, Vũ vương khỏi bệnh.
Về sau, sau khi Vũ vương băng hà, Thành vương nhỏ tuổi, hãy còn trong tã địu. Chu công sợ thiên hạ hay tin Vũ vương băng hà sẽ làm phản, bèn lên ngôi thiên tử thay Thành vương nắm giữ, điều hành chính sự trong nước. Quản thúc cùng các em của mình phao tin trong nước rằng: “Chu công sẽ gây bất lợi cho Thành vương.” Chu công bèn nói với Thái công Vọng và Thiệu Công Thích rằng: “Tôi sở dĩ không tránh [hiềm nghi] để nắm quyền điều hành chính sự, là sợ thiên hạ phản lại nhà Chu, [như thế] không biết nói sao với các vị tiên vương Thái vương, Vương quý, Văn vương của ta. Ba vị tiên vương lo lắng cho thiên hạ đã lâu, đến nay mới được thiên hạ. Vũ vương mất sớm, Thành vương còn nhỏ, vì muốn hoàn thành sự nghiệp nhà Chu, tôi mới phải làm như vậy.” Thế rồi rốt cuộc phò tá Thành vương, lại sai con là Bá Cầm thay mình đến đất phong ở Lỗ. Chu công răn Bá Cầm rằng: “Ta là con của Văn vương, em của Vũ vương, chú của Thành vương, ta đối với thiên hạ cũng không phải hạng thấp hèn. Nhưng ta một lần gội đầu mà ba lần vắt tóc, một bữa ăn mà ba lần nhả cơm, đứng dậy để tiếp đãi kẻ sĩ, thế mà còn sợ để mất người hiền trong thiên hạ. Con đến Lỗ, phải thận trọng, chớ vì có nước phong mà kiêu mạn với người.”
Quả nhiên bọn Quản thúc, Sái thúc, Vũ Canh thống lãnh tộc Hoài Di làm phản. Chu công bèn phụng mệnh Thành vương, dấy binh sang đông chinh phạt, soạn bài “Đại cáo”[14]. Thế rồi chém Quản thúc, giết Vũ Canh, đày Sái thúc. Thu gom dân còn lại của nhà Ân, đem phong cho Khang thúc đất Vệ, phong cho Vi Tử đất Tống, để họ phụng thờ tế tự nhà Ân. Vỗ yên vùng đất phía đông tộc Hoài Di, sau hai năm thì thảy được bình định. Chư hầu đều quy phục nhà Chu.
Trời giáng phúc lành, Đường thức được cây lúa, khác gốc nhưng chung bông, đem dâng lên Thành vương, Thành vương sai Đường thức đưa tặng Chu công ở vùng đất phía đông, làm bài “Quỹ hòa”[15]. Chu công nhận lúa Thành vương ban cho, ngợi ca ân điển của thiên tử, làm bài “Gia hòa”[16]. Vùng đất phía đông đã quy phục, Chu công về báo với Thành vương, rồi làm thơ để lại cho Thành vương, gọi là bài “Si hiêu”[17]. Thành vương cũng không dám chê trách Chu công.
Ngày Ất Mùi tháng Hai năm Thành vương thứ bảy, từ sáng sớm Thành vương đã đi bộ từ đất Chu đến ấp Phong[18], sai quan Thái bảo Thiệu công đến ấp Lạc trước, xem xét hình thế đất đai. Tháng Ba năm ấy, Chu công đến xem xét tình hình xây dựng ấp Lạc Đông Chu, [sau đó] coi bói để định đô, được quẻ tốt, bèn dựng quốc đô tại đó[19].
Thành vương đã trưởng thành, có thể xử lý chính sự. Thế là Chu công bèn trao trả chính sự cho Thành vương, Thành vương lâm triều. Khi Chu công cai trị thay Thành vương, Chu công quay mặt về phía nam, lưng hướng vào bình phong để tiếp kiến chư hầu. Từ năm thứ bảy trở đi, trả lại quyền chính sự cho Thành vương, [Chu công] quay mặt về phía bắc, đứng ở vị trí bề tôi, cung kính cẩn trọng như có dáng vẻ sợ sệt.
Trước đây, khi Thành vương còn nhỏ, bị ốm, Chu Công bèn tự cắt móng tay mình ném xuống sông Hà, rồi khấn thần sông rằng: “Nhà vua còn thơ dại chưa hiểu biết, kẻ làm trái mệnh lệnh của thần là Đán vậy.” Cũng lại giấu thẻ ghi lời khấn ấy trong kho. Thế rồi Thành vương khỏi bệnh. Đến khi Thành vương chấp chính, có người gièm pha Chu công, Chu công phải chạy sang nước Sở. Thành vương mở kho, thấy giản thư ghi lời khấn cầu, bèn khóc rồi đón Chu công về.
Chu công trở về, sợ Thành vương [đang tuổi] tráng kiện, cai trị có điều sẽ sa đà, buông thả, bèn làm các bài “Đa sĩ”, “Vô dật”[20]. Bài “Vô dật” viết: “Làm cha mẹ, phải rất dài lâu mới tạo nên cơ nghiệp, con cháu kiêu mạn xa xỉ mà quên điều đó, đến nỗi mất cả gia nghiệp, kẻ làm con có thể không thận trọng được ư? Cho nên thuở xưa, Ân vương Trung Tông nghiêm cẩn kính sợ mệnh trời, tự noi pháp độ để trị dân, sợ sệt không dám lơi là an dật, vì thế Trung tông hưởng nước bảy mươi lăm năm. [Nhà Ân dưới] thời Cao tông, từng lâu ngày mất cả bên ngoài, làm việc cùng dân thường, đến khi lên ngôi lại chịu tang cha, ba năm không nói, [đến khi mãn tang] nói thì người đều vui, không dám lơi là an dật, khiến nhà Ân yên định, việc lớn nhỏ dân đều không oán, cho nên Cao Tông được hưởng nước năm mươi lăm năm[21]. Đến thời Tổ Giáp, làm vua không hợp danh nghĩa[22], sống cùng dân thường ở ngoài lâu ngày, hiểu chỗ nương dựa của họ, biết bảo bọc gia ơn cho dân chúng, không khinh mạn kẻ quan quả, cho nên Tổ Giáp hưởng nước ba mươi ba năm.” Bài “Đa sĩ” viết rằng: “Từ Thành Thang đến đế Ất, không ai không cung thuận trong tế tự, làm sáng đức độ, không vị đế vương nào không phối sánh với trời. Sau này, vua Trụ nối ngôi, hoang dâm phóng đãng, không đoái đến phép trời và ý dân. Dân trong nước đều cho là Trụ đáng bị tru diệt.” “Văn vương bận lo chính sự mặt trời quá trưa vẫn chưa rảnh để ăn, hưởng nước năm mươi năm.” [Chu công] viết những điều đó để khuyên răn Thành vương.
Thành vương ở ấp Phong, thiên hạ đã yên định, nhưng chế độ quan chức nhà Chu chưa rõ thứ bậc, Chu công bèn viết “Chu quan ”[23], biện biệt chức trách các quan. Soạn “Lập chính”[24] để tiện lợi cho trăm họ, trăm họ đều mừng[25].
Chu công ở ấp Phong, bị bệnh, sắp mất, nói: “Phải chôn ta ở Thành Chu, để tỏ rõ ta không dám xa lìa Thành vương.” Sau khi Chu công mất, Thành vương cũng khiêm nhượng, táng Chu công đất Tất, theo [hầu] Văn vương[26], để tỏ rằng bản thân mình không dám coi Chu công là bề tôi vậy.
Sau khi Chu công mất, mùa thu lúa còn chưa gặt, trời nổi gió lớn sấm rền, lúa đều đổ rạp, cây lớn bật gốc. Người ở quốc đô nước Chu cả sợ. Thành vương cùng các quan đại phu mặc triều phục, mở giản sách trong hộp Kim đằng, bấy giờ Thành vương mới biết việc Chu công nguyện chết thay cho Vũ vương. Thái công và Thiệu Công cùng Thành vương bèn hỏi các viên quan sử, họ thưa: “Quả là có [việc đó], trước đây Chu công lệnh cho chúng thần không được nói ra.” Thành vương cầm sách mà khóc, nói rằng: “Từ rày về sau không cần kính cẩn coi bói nữa! Trước đây Chu công vất vả vì vương thất, riêng ta còn thơ dại nên chưa biết. Nay trời ra uy để tỏ rõ đức độ của Chu công, đích thân trẫm phải làm lễ đón thần, theo nghi lễ nước nhà thì điều đó cũng phù hợp.” Thành vương ra ngoại thành tế giao, trời bèn đổ mưa, gió thổi ngược lại, lúa thảy lại dựng lên. Thái công, Thiệu Công lệnh cho người trong nước, phàm cây lớn bị đổ, đều dựng lên rồi lèn đất lại. Năm ấy được mùa to. Thế rồi Thành vương bèn lệnh cho nước Lỗ được dùng lễ tế giao để tế Văn vương[27]. Nước Lỗ có lễ nhạc của thiên tử là để tán dương đức tốt của Chu công vậy.
Chu công mất, trước đó con là Bá Cầm vốn đã được thụ phong, đó là Lỗ công. Trước kia khi Lỗ Công Bá Cầm được phong Lỗ, sau ba năm mới báo cáo tình hình chính sự với Chu công, Chu công hỏi: “Sao chậm thế?” Bá Cầm đáp: “Đổi phong tục, thay lễ nghi, tang phục sau ba năm mới cởi bỏ, cho nên chậm trễ.” Thái Công cũng được phong ở Tề, sau năm tháng liền báo cáo chính sự với Chu công, Chu công hỏi: “Sao nhanh thế?” Đáp: “Tôi giảm bớt lễ nghi quân thần, theo phong tục ở đó mà làm vậy.” Sau đó, thấy Bá Cầm báo cáo chính sự chậm chạp, [Chu công] bèn than rằng: “Hỡi ôi, hậu thế của nước Lỗ sẽ quay mặt về hướng bắc mà phụng sự nước Tề thôi! Xét lẽ, chính sự không giản bớt sẽ chẳng dễ thi hành, [chẳng dễ thi hành thì] dân không gần gũi, giản dị và gần gũi người dân, dân ắt hướng về người đó.”
Sau khi Bá Cầm lên ngôi, xảy ra việc bọn Quản thúc, Sái thúc làm phản, tộc Hoài Di, tộc Từ Nhung cũng nhất tề nổi lên làm phản. Thế là Bá Cầm dẫn quân chinh phạt chúng ở đất Bí, làm bài “Bí thệ”[28], viết rằng: “Các ngươi hãy bày giáp trụ, đừng làm điều chẳng lành. [Các ngươi] chớ làm tổn thương trâu ngựa trong chuồng trại. [Nhìn thấy] trâu ngựa chạy đi, đầy tớ con hầu bỏ trốn, chớ có rượt đuổi, sẽ có kẻ cung kính dẫn về thôi. Đừng có cướp bóc, trèo tường [trộm cắp]. Người Lỗ ở ba mặt[29], hãy dự trữ rơm cỏ, lương khô, ván cọc, đừng để thiếu. Ta định ngày Giáp Tuất sẽ xây thành đắp ụ, chinh phạt tộc Từ Nhung, không được vắng mặt, trái lệnh sẽ xử đại hình[30].” Làm bài “Bí thệ” này rồi bèn bình định tộc Từ Nhung, yên định nước Lỗ.
Lỗ công Bá Cầm chết, con là Khảo công Tù lên thay. Khảo công lên thay được bốn năm thì chết, lập em trai là Hy lên thay, đó là Dương công. Dương công xây dựng cổng Mao Khuyết. Dương công lên ngôi được sáu năm thì chết, con là U công Tể lên thay. U công năm thứ mười bốn, bị em của mình là Phí giết, rồi [Phí] tự lập làm vua, đó là Ngụy công. Ngụy công ở ngôi năm mươi năm thì chết, con là Lệ công Trạc lên thay. Lệ công tại vị ba mươi bảy năm thì chết, người Lỗ lập người em [của Lệ công] là Cụ lên thay, đó là Hiến công. Hiến công tại vị ba mươi hai năm thì chết, con là Thận công Tỵ lên thay.
Thận công năm thứ mười bốn, Chu Lệ vương vô đạo, chạy đến đất Trệ, [Lệ vương đi rồi] [quần thần] cùng thi hành chính sự[31]. Năm thứ hai mươi chín, Chu Tuyên vương lên ngôi.
Năm thứ ba mươi, Thận công chết, em là Ngao lên thay, đó là Vũ công.
Mùa xuân năm Vũ công thứ chín, Vũ công cùng con trưởng là Quát, con út là Hí sang phía tây vào chầu Chu Tuyên vương. Tuyên vương yêu quý Hí, muốn lập Hí làm Thái tử nước Lỗ. Phan Trọng Sơn Phủ nhà Chu can Tuyên vương rằng: “Phế lớn lập nhỏ, không thuận lý; không thuận lý, ắt phạm vương mệnh; phạm đến vương mệnh, kẻ đó ắt bị tru diệt; cho nên lệnh ban ra không thể không thuận lý vậy. Mệnh lệnh không được thi hành, chính sự sẽ không đứng vững; thi hành mà không thuận lý, dân chúng sẽ bỏ bề trên. Xét lẽ, kẻ dưới thờ người trên, nhỏ thờ lớn, đó là thuận lý. Nay thiên tử phong cho chư hầu mà lập con nhỏ của họ, là dạy dân làm ngược vậy. Nếu nước Lỗ nghe theo, chư hầu bắt chước họ, vương mệnh sẽ có chỗ bị khuất lấp; nếu không nghe theo mà trừng trị họ, là tự hủy vương mệnh vậy. Trị tội cũng hỏng, không trị cũng hỏng, xin nhà vua cân nhắc việc đó.” Tuyên vương không nghe, rốt cuộc vẫn lập Hí làm Thái tử nước Lỗ. Mùa hạ, Vũ công về nước rồi mất, Hí lên thay, đó là Ý công.
Ý công năm thứ chín, con trai người anh của Ý công là Bá Ngự cùng người Lỗ đánh giết Ý công, rồi lập Bá Ngự làm vua. Bá Ngự lên ngôi được mười một năm, Chu Tuyên vương thảo phạt nước Lỗ, giết Lỗ quân là Bá Ngự, rồi hỏi trong các công tử nước Lỗ ai có thể dẫn dắt được chư hầu, để lập làm người kế tục nước Lỗ. Phàn Mục Trọng[32] nói: “Em trai của Lỗ Ý công là Xứng, nghiêm trang kính cẩn với thần linh, cung kính phụng thờ bậc trưởng lão; thu thuế dùng hình, ắt đều hỏi ở di huấn [của tiên vương] rồi xét đến các tiền lệ đã từng có; không làm trái những điều đã hỏi, không phạm đến những việc đã xét.” Tuyên vương nói: “Phải, vậy thì có thể dạy bảo cai trị dân nước Lỗ rồi.” Bèn lập Xứng tại Di Cung[33], đó là Hiếu công. Từ đó về sau, chư hầu phần nhiều làm trái vương mệnh.
Hiếu công năm thứ hai mươi lăm, chư hầu phản lại nhà Chu, Khuyển Nhung giết chết U vương. Nước Tần bắt đầu được liệt vào hàng chư hầu.
Năm thứ hai mươi bảy, Hiếu công chết, con là Phất Hoàng lên thay, đó là Huệ công.
Huệ công năm thứ ba mươi, người Tấn giết vua nước mình là Chiêu hầu. Năm thứ bốn mươi lăm, người Tấn lại giết vua nước mình là Hiếu hầu.
Năm thứ bốn mươi sáu, Huệ công chết, con trưởng trong số các con ngành thứ là Tức nhiếp chính, chủ trì quốc sự, điều hành việc nước như nhà vua, đó là Ẩn công. Trước đây, phu nhân của Huệ công không có con, tiện thiếp của Huệ công là Thanh Tử sinh con là Tức. Tức trưởng thành, lấy vợ ở nước Tống. Người con gái nước Tống đến [nước Lỗ], [nàng ta] xinh đẹp, Huệ công liền cướp đoạt rồi tự lấy làm vợ. [Nàng ta] sinh con là Doãn. [Huệ công] thăng người đàn bà nước Tống lên làm phu nhân, phong Doãn làm Thái tử. Đến khi Huệ công chết, vì Doãn còn nhỏ, người Lỗ cùng để Tức nhiếp chính, nhưng không nói là lên ngôi.
Ẩn công năm thứ năm, xem đánh cá ở ấp Đường. Năm thứ tám, cùng nước Trịnh đổi ấp Hứa Điền lấy ấp Bang ở Thái Sơn của thiên tử, người quân tử chê cười việc đó[34].
Mùa đông năm thứ mười một, công tử Huy xúi Ẩn công rằng: “Trăm họ ủng hộ ngài, ngài hãy nhân cơ hội lên ngôi. Tôi xin vì ngài mà giết Tử Doãn, ngài hãy cho tôi làm Tướng quốc.” Ẩn công nói: “Có di mệnh của tiên vương. Do Doãn còn nhỏ, nên ta nhiếp chính thay. Nay Doãn đã trưởng thành, ta đang dựng cung thất ấp Thố Cừu rồi về dưỡng lão ở đó, đem chính sự trao lại cho Tử Doãn.” Huy sợ Tử Doãn biết chuyện sẽ quay sang giết mình, bèn trở mặt gièm pha Ẩn công với Tử Doãn rằng: “Ẩn công muốn lên ngôi, sẽ giết ngài, ngài hãy tính đi. Tôi xin vì ngài mà giết Ẩn công.” Tử Doãn đồng ý. Tháng Mười một, Ẩn công tế Chung vu[35], trai giới ở vườn Xã Phố, nghỉ ở nhà Vị thị[36]. Huy sai người giết Ẩn công ở nhà Vị thị, rồi lập Tử Doãn làm vua, đó là Hoàn công.
Hoàn công năm thứ nhất, nước Trịnh dùng ngọc bích đổi đất Hứa Điền của thiên tử[37]. Năm thứ hai, đưa đỉnh do nước Tống hối lộ vào thái miếu, người quân tử chê cười việc đó[38].
Năm thứ ba, sai Huy đón người vợ ở nước Tề về làm phu nhân. Năm thứ sáu, phu nhân sinh con trai, cùng ngày sinh với Hoàn công, cho nên đặt tên là Đồng. Đồng trưởng thành, được làm Thái tử.
Năm thứ mười sáu, hội minh ở ấp Tào, thảo phạt nước Trịnh, đưa Lệ công về nước.
Mùa xuân năm thứ mười tám, Hoàn công bàn việc xuất hành, định cùng phu nhân sang nước Tề. Thân Nhu can ngăn, Hoàn công không nghe, rồi sang nước Tề. Tề Tương công tư thông với phu nhân của Hoàn công. Hoàn công giận phu nhân, phu nhân đem việc đó nói với Tề hầu. Ngày Bính Tý tháng Tư mùa hạ, Tề Tương công đãi tiệc Hoàn công, Hoàn công say, [Tề Tương công] sai công tử Bành Sinh dìu Lỗ Hoàn công, nhân đó lệnh Bành Sinh bẻ gãy xương sườn [Hoàn công], Hoàn công chết ở trong xe. Người Lỗ báo cho nước Tề rằng: “Vua nước tôi sợ uy của ngài, không dám ở yên [trong nước], đến làm lễ giao hảo. Lễ xong mà không trở về, không biết đổ lỗi cho ai, xin giao Bành Sinh để xóa tiếng xấu với chư hầu.” Người Tề giết Bành Sinh để làm đẹp lòng nước Lỗ. [Nước Lỗ] lập Thái tử Đồng, đó là Trang công. Mẹ của Trang công phu nhân [của Lỗ Hoàn công] nhân đó lưu lại nước Tề, không dám về nước Lỗ.
Mùa đông năm Trang công thứ năm, thảo phạt nước Vệ, đưa Vệ Huệ công về nước.
Năm thứ tám, công tử Củ nước Tề chạy sang. Năm thứ chín, người Lỗ muốn đưa công tử Củ về nước Tề, [công tử Củ] theo sau Hoàn công, Hoàn công phát binh đánh nước Lỗ, nước Lỗ nguy cấp, bèn giết công tử Củ. Thiệu Hốt chết. Nước Tề báo cho nước Lỗ [phải để] Quản Trọng còn sống và đưa sang [Tề]. Thi Bá[39] người nước Lỗ nói: “Nước Tề muốn có Quản Trọng, không giết ông ta đâu, sẽ trọng dụng ông ta, nếu [nước Tề] trọng dụng ông ta thì đó là mối lo của nước Lỗ. Chẳng bằng giết đi, đem xác đưa cho họ.” Trang công không nghe, bèn nhốt Quản Trọng vào xe tù đưa sang nước Tề. Người Tề phong Quản Trọng làm Tướng quốc.
Năm thứ mười ba, Lỗ Trang công cùng Tào Mạt hội minh với Tề Hoàn công ở ấp Kha, Tào Mạt uy hiếp Tề Hoàn công, đòi đất của nước Lỗ đã bị xâm chiếm, kết minh xong mới thả Hoàn công. Hoàn công muốn bội ước, Quản Trọng can, cuối cùng phải trả những đất đã chiếm của nước Lỗ. Năm thứ mười lăm, Tề Hoàn công bắt đầu xưng bá. Năm thứ hai mươi ba, Trang công đến nước Tề xem tế thần xã[40].
Năm thứ ba mươi hai, ban đầu, Trang công dựng đài gần nhà Đảng thị, thấy nàng Mạnh nữ[41], thích rồi yêu nàng, hứa lập làm phu nhân, cắt vào tay để thề. Mạnh nữ sinh được con trai là Ban. Ban lớn lên, thích con gái nhà Lương thị, đến đó ngắm. Đúng lúc người nuôi ngựa là Lạc ở bên ngoài tường đang đùa giỡn với con gái nhà Lương thị. Ban tức giận, dùng roi đánh Lạc. Trang Công biết việc đó, mới nói: “Lạc là người có sức vóc, nên giết đi, không nên chỉ đánh rồi thả.” Ban chưa kịp giết [Lạc]. Đúng khi ấy Trang công bị bệnh. Trang công có ba người em trai, lớn là Khánh Phủ, thứ đến Thúc Nha, rồi tới Quý Hữu. Trang công lấy người con gái nước Tề là Ai Khương làm phu nhân. Ai Khương không có con. Em gái Ai Khương là Thúc Khương sinh con trai là Khai. Trang công không có con đích nối dõi, yêu thương Mạnh nữ, muốn lập con nàng là Ban. Trang công ốm, mới hỏi em trai Thúc Nha về người nối ngôi. Thúc Nha nói: “Cha chết con nối, anh chết đến em, là lệ thường ở nước Lỗ vậy. Khánh Phủ còn đây, có thể nối ngôi, người còn lo gì?” Trang công e Thúc Nha muốn lập Khánh Phủ, [sau khi Thúc Nha] lui về [Trang công] bèn hỏi Quý Hữu. Quý Hữu nói: “Xin liều chết để lập Ban lên thay.” Trang công nói: “Mới rồi Thúc Nha muốn lập Khánh Phủ, phải làm thế nào?” Quý Hữu dùng lệnh của Trang công để sai Thúc Nha đợi ở nhà Châm Vu thị, sai Châm Quý ép Thúc Nha uống rượu độc, nói: “Uống rượu này thì có người đời sau phụng thờ tế tự, nếu không, chết sẽ vô hậu.” Nha bèn uống rượu độc rồi chết, nước Lỗ lập con của Thúc Nha làm Thúc Tôn thị. Ngày Quý Hợi tháng Tám, Trang công chết, rốt cuộc Quý Hữu lập Tử Ban làm vua, đúng theo di mệnh của Trang công. Trong khi chịu tang, [Tử Ban] ở nhà Đảng thị.
Khi trước, Khánh Phủ tư thông với Ai Khương, muốn lập con của em gái Ai Khương là Khai lên ngôi. Đến khi Trang công chết đi, Quý Hữu lập Ban lên thay, [nhưng] ngày Kỷ Mùi tháng Mười, Khánh Phủ sai người nuôi ngựa là Lạc giết công tử Ban nước Lỗ ở nhà Đảng thị. Quý Hữu chạy sang nước Trần. Rốt cuộc Khánh Phủ lập con của Trang công là Khai lên thay, đó là Mẫn công.
Mẫn công năm thứ hai, Khánh Phủ và Ai Khương tư thông ngày càng nhiều. Ai Khương cùng Khánh Phủ mưu giết Mẫn công để Khánh Phủ lên thay. Khánh Phủ sai Bốc Ỷ tập kích giết Mẫn công ở Vũ vi[42]. Quý Hữu nghe tin ấy, từ nước Trần cùng em trai Mẫn công là Thân đến nước Chu[43], đề nghị người nước Lỗ cho mình về nước. Người Lỗ muốn giết Khánh Phủ. Khánh Phủ lo sợ, chạy sang nước Cử. Thế là Quý Hữu theo Tử Thân về nước, [Tử Thân] lên làm vua, đó là Hy công. Hy cũng là con út của Trang công. Ai Khương sợ hãi, chạy sang nước Chu. Quý Hữu đem đồ hối lộ đến nước Cử để đòi Khánh Phủ, Khánh Phủ trở về, [Quý Hữu] sai người giết Khánh Phủ, Khánh Phủ xin ra đi, [Quý Hữu] không nghe, [Khánh Phủ] bèn sai đại phu Hề Tư đi [cầu xin], [Hề Tư] khóc trở về. Khánh Phủ nghe thấy tiếng Hề Tư khóc, bèn tự sát. Tề Hoàn công nghe tin Ai Khương và Khánh Phủ dâm loạn gây nguy hại cho nước Lỗ, bèn triệu Ai Khương đang ở nước Chu về rồi giết đi, đem xác [Ai Khương] về, phanh thấy ở nước Lỗ. Lỗ Hy công đề nghị đem chôn.
Mẹ của Quý Hữu là người đàn bà nước Trần, vì thế [khi Quý Hữu] lưu vong đến nước Trần, nước Trần mới phụ tá hộ tống Quý Hữu và Tử Thân về. Khi sắp sinh Quý Hữu, cha là Lỗ Hoàn công sai người bói quẻ, [thầy bói] nói: “Con trai, tên là Hữu, giữa hai đàn xã[44], là người phò tá tông thất. Quý Hữu chết thì nước Lỗ không còn hưng thịnh nữa.” Đến khi sinh, có chữ “Hữu” ở lòng bàn tay, liền lấy đó đặt tên, hiệu là Thành Quý. Hậu duệ của Thành Quý là Quý thị, còn hậu duệ của Khánh Phủ là Mạnh thị vậy.
Hy công năm thứ nhất, đem ấp Phí và [ruộng] Vấn Dương[45] phong cho Quý Hữu. Quý Hữu làm Tướng quốc.
Năm thứ chín, Lý Khắc nước Tấn giết vua nước mình là Hề Tề và Trác Tử. Tề Hoàn công dẫn theo Hy công dẹp loạn nước Tấn, đến Cao Lương rồi rút về, lập Tấn Huệ công lên ngôi. Năm thứ mười bảy, Tề Hoàn công chết. Năm thứ hai mươi tư, Tấn Văn công lên ngôi.
Năm thứ ba mươi ba, Hy công chết, con là Hưng lên thay, đó là Văn công.
Văn công năm thứ nhất, Thái tử nước Sở là Thương Thần giết vua cha là Thành vương, lên thay. Năm thứ ba, Văn công triều kiến Tấn Tướng công.
Ngày Giáp Ngọ, tháng Mười, năm thứ mười một, nước Lỗ đánh bại quân nước Địch ở đất Hàm, bắt được Kiều Như của tộc Trường Địch, Phú Phủ Chung Sanh dùng qua đâm vào yết hầu, giết chết Kiều Như, chôn thủ cấp ở cửa Tử Câu, lấy [tên của Kiều Như] đặt tên con là Tuyên Bá[46].
Trước đây, vào thời Tống Vũ công, Sưu Man tấn công nước Tống, Tư đồ Hoàng Phủ quân chống địch, nhờ đó đánh bại người Địch ở Trường Khâu, bắt được Duyên Tư của tộc Trường Địch[47]. Nước Tấn diệt nước Lộ, bắt được người em trai [đầu] của Kiều Như là Phần Như[48]. Tề Huệ công năm thứ hai, Sưu Man tấn công nước Tề, vương tử nước Tề là Thành Phủ bắt [giết] được người em trai [thứ hai của] Kiều Như là Vinh Như, chôn thủ cấp cửa bắc. Người Vệ bắt được người em út[49] của Kiều Như là Giản Như. Nước Sưu Man từ đó diệt vong.
Năm thứ mười lăm, Quý Văn tử đi sứ nước Tấn.
Tháng Hai năm thứ mười tám, Văn công chết. Văn công có hai người phi: trưởng phi là người con gái nước Tề, tức Ai Khương, sinh hai con trai là Ác và Thị; thứ phi là Kính Doanh, được sủng ái, sinh con là Đồng. Đồng ngấm ngầm phụng sự Tương Trọng, Tương Trọng muốn lập Đồng lên ngôi, Thúc Trọng nói: “Không thể được.” Tương Trọng bèn thỉnh cầu Tề Huệ công, Huệ công mới lên ngôi, muốn kết thân với nước Lỗ, đồng ý. Tháng Mười mùa đông, Tương Trọng giết Tử Ác và Thị rồi lập Đồng lên ngôi, đó là Tuyên công. Ai Khương trở về nước Tề, khóc đi qua chợ, nói: “Trời ơi! Tương Trọng làm việc vô đạo, giết con đích lập con thứ!” Người trong chợ đều khóc, người Lỗ gọi nàng là “Ai Khương”. Từ đó tông thất nước Lỗ suy vi, Tam Hoàn[50] càng mạnh.
Tuyên công Đồng năm thứ mười hai, Sở Trang vương lớn mạnh, bao vây nước Trịnh. Trịnh bá đầu hàng, rồi lại khôi phục nước cho.
Năm thứ mười tám, Tuyên công chết, con là Hắc Quăng lên ngôi, đó là Thành công. Quý Văn tử nói: “Người sai khiến ta phải giết đích lập thứ, mất đi sự chi viện lớn, là Tương Trọng.” Tương Trọng lập Tuyên công lên ngôi, Công Tôn Quy Phủ được sủng ái. Tuyên công muốn trừ khử Tam Hoàn, cùng nước Tấn mưu phạt Tam Hoàn. Gặp đúng lúc Tuyên công chết, Quý Văn tử oán Tương Trọng, Quy Phủ phải chạy sang nước Tề.
Mùa xuân năm Thành công thứ hai, nước Tề đánh chiếm được ấp Long của nước Lỗ. Mùa hạ, Thành công cùng Khích Khắc nước Tấn đánh bại Tề Khoảnh công ở đất Yên, nước Tề trả lại các đất đã chiếm của nước Lỗ. Năm thứ tư, Thành công sang nước Tấn, Tấn Cảnh công bất kính với vua Lỗ. Lỗ muốn trở mặt với nước Tấn để bắt tay với nước Sở, có người can ngăn, bèn thôi. Năm thứ mười, Thành công sang nước Tấn. Tấn Cảnh công chết, nhân đó [nước Tấn] giữ Thành công lại để đưa [Cảnh công đi] an táng, nước Lỗ giấu nhẹm việc này. Năm thứ mười lăm, bắt đầu hội kiến với Ngô vương Thọ Mông ở Chung Ly.
Năm thứ mười sáu, Tuyên bá báo cho nước Tấn biết ý định giết Quý Văn tử. Văn tử có đạo nghĩa, người Tấn không đồng ý.
Năm thứ mười tám, Thành công chết, con là Ngọ lên thay, đó là Tương công. Bấy giờ Tương công mới ba tuổi.
Tương công năm đầu, nước Tấn lập Điệu công làm vua. Mùa đông năm trước, Loan Thư nước Tấn giết vua nước mình là Lệ công. Năm thứ tư, Tương công triều kiến vua Tấn.
Năm thứ năm, Quý Văn tử chết. Trong nhà hầu thiếp không mặc lụa trắng, ngoài chuồng ngựa không được ăn thóc, trong kho không có vàng ngọc, lấy đó phò tá ba đời vua[51]. Người quân tử nói: “Quý Văn tử là người liêm khiết trung thành vậy.”
Năm thứ chín, [nước Lỗ] cùng nước Tấn đánh nước Trịnh. Tấn Điệu công làm lễ đội mũ cho Tương công ở nước Vệ, Quý Vũ tử đi theo, giúp việc thực hiện các nghi lễ.
Năm thứ mười một, Tam Hoàn thị chia làm ba quân[52].
Năm thứ mười hai, triều kiến vua Tấn. Năm thứ mười sáu, Tấn Bình công lên ngôi. Năm thứ hai mươi mốt, triều kiến Tấn Bình công.
Năm thứ hai mươi hai, Khổng Khâu sinh[53].
Năm thứ hai mươi lăm, Thôi Trữ nước Tề giết vua nước mình là Trang công, lập em của Trang công lên ngôi, đó là Cảnh công. Năm thứ hai mươi chín, Diên Lăng Quý tử nước Ngô đi sứ sang nước Lỗ, hỏi về nhạc nhà Chu, hiểu hết nghĩa lý các khúc nhạc, người nước Lỗ kính trọng ông ta[54].
Tháng Sáu năm thứ ba mươi mốt, Tương công chết. Tháng Chín năm này, Thái tử chết[55]. Người Lỗ lập con trai của Tề Quy là Trù làm vua, đó là Chiêu công.
Chiêu công năm mười chín tuổi, tâm tính vẫn như trẻ con. Mục Thúc vốn không muốn lập [Trù], nói: “Thái tử chết đi, có thể lập em cùng mẹ, nếu không thì lập trưởng [của ngành thứ]. Nếu tuổi ngang nhau thì chọn người hiền, đạo nghĩa ngang nhau thì bói quẻ quyết định. Nay Trù không phải con đích nối dòng, vả lại cư tang mà không có ý thương xót, còn có vẻ vui mừng, nếu quả thực được lập, ắt thành mối lo của Quý thị.” Quý Vũ tử không nghe, rốt cuộc vẫn lập Trù làm vua. Đến khi an táng [Cảnh Công], [Trù] ba lần thay tang phục[56]. Bậc quân tử nói: “Người này không có kết cục trọn vẹn vậy.”
Chiêu công năm thứ ba, triều kiến nước Tấn, [khi mới] đến sông Hoàng Hà, Tấn Bình công đã từ tạ rồi [bảo Chiêu công] về, nước Lỗ lấy làm hổ thẹn[57]. Năm thứ tư, Sở Linh vương hội chư hầu ở đất Thân, Chiêu công thác bệnh không đến. Năm thứ bảy, Quý Vũ tử chết. Năm thứ tám, Sở Linh vương dựng xong đài Chương Hoa, triệu Chiêu công tới. Chiêu công tới chúc mừng, [Sở Linh vương] tặng Chiêu công đồ dùng quý báu; thế rồi hối hận, lừa để lấy lại. Năm thứ mười hai, triều kiến vua Tấn, [khi mới] đến sông Hoàng Hà, Tấn Bình công đã từ tạ rồi bảo Chiêu công về. Năm thứ mười ba, công tử Khí Tật nước Sở giết vua nước mình là Linh vương, rồi lên thay. Năm thứ mười lăm, triều kiến nước Tấn, nước Tấn giữ lại để an táng Tấn Chiêu công, nước Lỗ lấy làm hổ thẹn về việc đó. Năm thứ hai mươi, Tề Cảnh công và Yến tử đi săn ở biên giới, nhân đó vào nước Lỗ hỏi về lễ. Năm thứ hai mươi mốt, triều kiến vua Tấn, [khi mới] đến sông Hoàng Hà, vua Tấn đã từ tạ rồi [bảo Chiêu công] về.
Mùa xuân năm thứ hai mươi lăm, chim yểng đến làm tổ. Sư Kỷ nói: “Đời Văn công, Thành công có bài đồng dao rằng: Yểng đến làm tổ, vua tại Càn Hầu. Yểng bay vào ở, vua ra ngoài đồng[58].”
Họ Quý cùng họ Hậu chọi gà, gà của họ Quý mang giáp, gà của họ Hậu mang cựa vàng. Quý Bình tử nổi giận rồi chiếm đất của họ Hậu, Hậu Chiêu bá cũng giận Bình tử. Em trai Tang Chiêu bá là Hội, vờ gièm pha họ Tang, rồi trốn ở nhà họ Quý, Tang Chiêu bá giam người nhà họ Quý. Quý Bình tử tức giận, giam gia thần nhà họ Tang. Họ Tang và họ Hậu đem họa nạn đó báo Với Chiêu Công. Ngày Mậu Tuất tháng Chín, Chiêu công tiến đánh họ Quý, tiến vào lãnh địa. Bình tử lên đài đề nghị rằng: “Nhà vua nghe lời gièm pha, không xét tội của thần, đến để giết thần, vậy xin cho thần được lưu đày đến vùng trên sông Nghi.” [Chiêu công] không cho. [Bình tử] xin bị giam ở đất Phí, [Chiêu công] không cho. [Bình tử] xin năm cỗ xe để chạy khỏi nước, [Chiêu công] không cho. Tử Gia Câu nói: “Nhà vua hãy đồng ý đi! Chính sự trong tay họ Quý đã lâu, bè đảng đông đúc, sẽ hợp lại để mưu tính đấy.” [Chiêu công] không chịu nghe. Họ Hậu nói: “Nhất định phải giết đi.” Gia thần của họ Thúc Tôn là Lệ hỏi đồng đảng rằng: “Không có họ Quý với có họ Quý, đằng nào lợi hơn?” Đồng đảng đều đáp: “Không có họ Quý thì không có họ Thúc Tôn.” Lệ đáp: “Phải, hãy cứu họ Quý!” [Họ Thúc Tôn] bèn đánh bại quân của Chiêu Công. Mạnh Ý tử nghe tin họ Thúc Tôn thắng, cũng giết luôn Hậu Chiêu bá. Hậu Chiêu bá là sứ giả của Chiêu công [đến chỗ họ Mạnh], nên bị họ Mạnh bắt lại. Ba nhà [Quý Tôn, Thúc Tôn, Mạnh Tôn] cùng đánh Chiêu công, Chiêu công liền tháo chạy. Ngày Kỷ Hợi, Chiêu công đến nước Tề. Tề Cảnh công nói: “Xin đem nghìn xã[59] tiếp đãi ngài.” Tử Gia nói: “Bỏ cơ nghiệp của Chu công để làm bề tôi nước Tề, liệu được không?" [Chiêu công] bèn thôi không nhận. Tử Gia nói: “Tề Cảnh công vốn không có tín nghĩa, chi bằng hãy sớm qua nước Tấn.” [Chiêu công] không nghe, Thúc Tôn [sang nước Tề] trông thấy Chiêu công, trở về nước Lỗ, [Thúc Tôn] gặp Bình tử, Bình tử khấu đầu. [Thúc Tôn] ban đầu muốn nghênh đón Chiêu công trở về, nhưng rồi họ Mạnh Tôn, Quý Tôn sợ sau này sẽ phải hối hận, bèn thôi.
Mùa xuân năm thứ hai mươi sáu, nước Tề đánh nước Lỗ, chiếm được ấp Vận rồi cho Chiêu công ở đó. Mùa hạ, Tề Cảnh công định đưa Chiêu công về nước Lỗ, hạ lệnh không nhận đồ hối lộ của nước Lỗ. Thân Phong, Nhữ Giả đồng ý cho bề tôi nước Tề là Cao Hột, Tử Tương năm nghìn dữu[60] thóc. Vì thế Tử Tương mới nói với Tề hầu rằng: “Quần thần không thể phụng sự Lỗ quân, có điều gì kỳ quái chăng? Tống Nguyên công vì nước Lỗ mà Sang nước Tấn, thỉnh cầu nước Tấn đua Lỗ quân về, [để rồi bị] chết trên đường đi. Thúc Tôn Chiêu tử xin đưa vua mình về nước, rồi không bệnh mà chết. Không rõ trời bỏ nước Lỗ ư? Hay là Lỗ quân có tội với quỷ thần? Xin nhà vua hãy đợi xem sao.” Tề Cảnh công nghe theo.
Năm thứ hai mươi tám, Chiêu công sang xin nước Tấn giúp đỡ để về nước. Quý Bình tử [hay tin mới] gặp riêng quan Lục khanh nước Tấn, Lục khanh nhận hối lộ của họ Quý, liền can Tấn quân, Tấn quân bèn thôi, rồi cho Chiêu công ở Càn Hầu. Năm thứ hai mươi chín, Chiêu công đến ấp Vận. Tề Cảnh công sai người ban thư cho Chiêu công, tự xưng là “Chủ quân"[61]. Chiêu công hổ nhục về việc đó, giận rồi rời khỏi Càn Hầu. Năm thứ ba mươi mốt, nước Tấn muốn đưa Chiêu Công về, bèn triệu kiến Quý Bình tử. Bình tử mặc áo vải đi chân đất, thông qua Lục khanh xin tạ tội [với Tấn quân]. Lục khanh nói giúp rằng: “Nước Tấn muốn đưa Chiêu công về, nhưng dân chúng không chịu.” Người Tấn liền thôi. Năm thứ ba mươi hai, Chiêu công chết ở Càn Hầu. Người Lỗ cùng lập em trai Chiêu công là Tống lên làm vua, đó là Định công.
Định công lên ngôi, Triệu Giản tử hỏi quan sử là Mặc[62] rằng: “Họ Quý có bị diệt vong không?” Quan sử Mặc đáp rằng: “Không bị diệt vong. Quý Hữu có công lớn với nước Lỗ, được phân phong ấp Phí làm tới chức Thượng khanh, đến Văn tử, Vũ tử, đời đời cơ nghiệp tăng thêm. Lỗ Văn công chết, Đông Môn Toại[63] giết đích lập thứ, thế là vua Lỗ mất quyền bính. Quyền chính trong tay họ Quý, đến nay trải bốn đời vua rồi. Dân không biết đến vua, làm sao mà được nước! Bởi vậy làm vua phải thận trọng với các đồ xa mã, phục sức và tước hiệu, không được khinh suất trao cho người khác.”
Định công năm thứ năm, Quý Bình tử chết. Dương Hổ vì oán hận cá nhân mà nổi giận[64], bắt giam Quý Hoàn tử, buộc cùng lập minh ước rồi mới thả. Năm thứ bảy, nước Tề đánh nước Lỗ, chiếm ấp Vận, lấy làm ấp [phong cho] Dương Hổ, để [Dương Hổ] xử lý chính sự. Năm thứ tám, Dương Hổ muốn giết hết con đích của Tam Hoàn, rồi đổi lập con thứ mà mình yêu quý lên thay; dùng xe chở Quý Hoàn tử toan giết đi, Hoàn tử lừa rồi trốn thoát. Tam Hoàn cùng tấn công Dương Hổ, Dương Hổ chạy ra ở Dương Quan. Năm thứ chín, nước Lỗ đánh Dương Hổ, Dương Hổ chạy sang nước Tề, rồi lại chạy sang chỗ họ Triệu ở nước Tấn.
Năm thứ mười, Lỗ Định công và Tề Cảnh công hội minh ở Giáp Cốc, Khổng tử đi theo giúp việc. Nước Tề muốn đánh úp Lỗ quân, Khổng tử theo nghi lễ bước từng bước lên thềm, giết [những kẻ tấu] nhạc dâm loạn của nước Tề, Tề hầu sợ hãi, liền thôi, trả lại các đất đã chiếm của Lỗ rồi tạ lỗi. Năm thứ mười hai, sai Trọng Do phá hủy thành trì của Tam Hoàn, thu lấy giáp binh. Họ Mạnh không chịu phá thành, đem quân đánh [họ Mạnh], không hạ được nên thôi. Quý Hoàn tử [bảo Lỗ Định công] nhận nữ nhạc của nước Tề[65], Khổng tử bỏ đi.
Năm thứ mười lăm, Định công chết, con là Tướng lên thay, đó là Ai công.
Ai công năm thứ năm, Tề Cảnh công chết. Năm thứ sáu, Điền Khất nước Tề giết vua nước mình là Nhụ Tử.
Năm thứ bảy, Ngô vương Phù Sai mạnh lên, đánh nước Tề, đến đất Tăng, đòi nước Lỗ cung ứng cỗ Bách lao. Quý Khang tử sai Tử Cống sang thuyết phục Ngô vương cùng Thái tể Bá Phỉ, dùng lễ để bác đi. Ngô vương nói: “Ta xăm mình, không thể dùng lễ mà căn dặn được.” [Ngô vương] bèn thôi [không đòi cỗ Bách lao nữa].
Năm thứ tám, nước Ngô vì nước Trâu nên tiến đánh nước Lỗ, kéo đến dưới thành, kết minh rồi về. Nước Tề đánh nước Lỗ, chiếm được ba ấp. Năm thứ mười, tiến đánh biên giới phía nam nước Tề. Năm thứ mười một[66], nước Tề đánh nước Lỗ. Họ Quý dùng Nhiễm Hữu, lập được công tích, nhớ đến Khổng tử[67], Khổng tử từ nước Vệ trở về nước Lỗ.
Năm thứ mười bốn, Điền Thường nước Tề giết vua nước mình là Giản công ở Từ Châu. Khổng tử đề nghị thảo phạt Điền Thường, Ai công không nghe. Năm thứ mười lăm, phái Tử Phục Cảnh bá làm sứ thần, Tử Cống làm phó sang nước Tề, nước Tề trả các đất đã chiếm của nước Lỗ. Điền Thường mới lên làm Tướng quốc, muốn kết thân với chư hầu.
Năm thứ mười sáu, Khổng tử chết.
Năm thứ hai mươi hai, Việt vương Câu Tiễn diệt Ngô vương Phù Sai.
Mùa xuân năm thứ hai mươi bảy, Quý Khang tử chết. Mùa hạ, Ai công lo sợ Tam Hoàn, nên muốn dựa vào chư hầu để khống chế họ, Tam Hoàn cũng lo Ai công sẽ gây khó, cho nên vua tôi có nhiều hiềm khích. Ai công du ngoạn ở Lăng Bản, trên đường đi thì gặp Mạnh Vũ bá, hỏi rằng: “Xin hỏi, tôi có được trọn vẹn đến lúc chết không?” Đáp rằng: “Không biết.” Ai cũng muốn dùng người Việt để đánh Tam Hoàn. Tháng Tám, Ai công đến nhà họ Hình[68]. Tam Hoàn tấn công Ai công, Ai công chạy sang nước Vệ, lại sang nước Trâu, rồi sang nước Việt. Người trong nước đón Ai công trở về, rồi chết ở nhà họ Hữu Sơn, con là Ninh lên thay, đó là Điệu công.
Thời Điệu Công, Tam Hoàn thắng thế, nước Lỗ giống như chư hầu nhỏ, còn kém hơn gia tộc của Tam Hoàn.
Năm thứ mười ba, Tam Tấn tiêu diệt Trí bá, chia nhau đất đai chiếm được của Trí bá.
Năm thứ ba mươi bảy, Điệu công chết, con là Gia lên thay, đó là Nguyên công. Nguyên công năm thứ hai mươi mốt thì chết, con là Hiển lên thay, đó là Mục Công. Mục công năm thứ ba mươi ba thì chết, con là Phấn lên thay, đó là Cung công. Cung công năm thứ hai mươi hai thì chết, con là Truân lên thay, đó là Khang công. Khang công năm thứ chín thì chết, con là Yển lên thay, đó là Cảnh công. Cảnh công năm thứ hai mươi chín thì chết, con là Thúc lên thay, đó là Bình công. Bấy giờ sáu nước đều xưng vương.
Bình công năm thứ mười hai, Tần Huệ vương chết. Năm thứ hai mươi, Bình công chết, con là Giả lên thay, đó là Văn công. Năm Văn công thứ nhất[69], Sở Hoài vương chết ở nước Tần. Năm thứ hai mươi ba, Văn công chết, con là Thù lên thay, đó là Khoảnh công.
Khoảnh công năm thứ hai, Tần hạ được Dĩnh đô nước Sở, Sở Khoảnh vương sang đông dời đến ấp Trần. Năm thứ mười chín, nước Sở đánh nước Lỗ, chiếm được Từ Châu. Năm thứ hai mươi tư, Khảo Liệt vương nước Sở đánh diệt nước Lỗ. Khoảnh công chạy trốn, trốn đến một ấp nhỏ ngoài nước, trở thành dân thường, nước Lỗ chấm dứt tế tự. Khoảnh công chết ở ấp Kha.
Nước Lỗ từ Chu công đến Khoảnh công, cả thảy ba mươi tư đời.
Thái sử công bàn rằng: Ta nghe Khổng tử nói rằng: “Đạo của nước Lỗ suy bại quá chừng! Giữa khoảng sông Thù sông Tứ mà còn lấn lướt nhau đến như thế.” Xem giữa Khánh Phủ với Thúc Nha, Mẫn công, sao loạn đến thế? Nào việc của Ẩn công, Hoàn công; nào việc Tương Trọng giết đích lập thứ, ba nhà [Mạnh Tôn, Thúc Tôn, Quý Tôn] quay mặt về bắc làm bề tôi thế mà lại đích thân tấn công Chiêu công, khiến Chiêu công phải chạy trốn. Đến như lễ bái nhượng thì theo đấy, nhưng hành sự sao mà lại trái ngược đến thế?
[1] Mục thệ: lời thề của Chu Vũ vương trước khi giao chiến với Trụ vương tại Mục Dã, do Chu Công viết, sau thành một thiên trong Kinh Thư.
[2] Thiệu công: tức Thiệu Công Thích, họ Cơ, người cùng tông tộc với Vũ vương, do có công lao phò tá, sau được phong ở nước Yên.Búa rìu: nguyên là “Việt”, dạng búa hình lưỡi rìu, là dạng vũ khí thời cổ, nhưng cũng dùng để tượng trưng cho uy quyền của tướng lĩnh. Đây ý nói Chu công và Thiệu Công cầm búa lệnh của võ tướng để phò trợ Vũ vương.
[3] Nguyên là “Hấn xã". Hấn: là giết vật tế rồi dùng máu bôi lên đồ tế khí, một nghi thức trong việc cúng tế thời thượng cổ. Xã: tức thần đất.
[4] Cơ tử: chú của vua Trụ, do nhiều lần can ngăn thẳng thắn nên bị vua Trụ giam vào ngục.
[5] Phò tá: kỳ thực là để giám sát Vũ Canh Lộc Phủ, đề phòng bất trắc.
[6] Thiếu Hạo: cũng gọi là Thiếu Hiệu, con trai của Hoàng Đế, sinh ở đất Cùng Tang (phía bắc Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông), đóng đô ở Khúc Phụ.
[7] Ngọc bích: ngọc được chế dạng hình tròn, giữa thường có lỗ tròn, rìa mỏng; ngọc khuê: được chế dạng dài, phía dưới phẳng, phía trên nhọn thành hình tam giác. Trong các lễ tế thời cổ, thường dùng ngọc bích và ngọc khuê làm tế khí, ngọc bích để thể hiện sự tôn kính với thần, ngọc khuê để làm vật hiến tế.
[8] Các tiên vương nhà Chu.
[9] Lời khấn khắc trên thẻ: nguyên là “Sách chúc”. Bấy giờ chưa có giấy nên lời khấn được khắc lên thẻ tre.
[10] Vũ vương (Cơ Phát) là con trai thứ của Văn vương (Cơ Xương), con trưởng của Văn vương là Bá Ấp Khảo đã chết, cho nên ở đây mới coi Vũ vương là cháu trưởng.
[11] Ý nói nếu trời bắt phải hy sinh một người con cháu, khiến người đó phải chết để lên trời phụng sự quỷ thần.
[12] Ý nói đã xem bói và theo lời trong quẻ bói.
[13] Kim đằng: hộp, dùng tơ vàng quấn kỹ xung quanh để niêm phong.
[14] Đại cáo: lời bố cáo thiên hạ trước khi dẫn quân đi chinh phạt, sau thành một thiên trong Kinh Thư.
[15] Quỹ hòa: nghĩa là tặng lúa.
[16] Gia hòa: nghĩa là mừng [vì được] lúa [thiên tử ban cho].
[17] Si hiêu: chim cú, loài chim bắt côn trùng và chuột. Phần Mân phong trong Kinh Thi có bài mang tên là Si hiêu, được cho là thơ để nói việc Chu công đi dẹp loạn. Do Thành vương chưa hiểu chí hướng của Chu Công nên ông làm thơ này dâng lên nhà vua.
[18] Tức nơi có miếu thờ Chu Văn vương.
[19] Đoạn này trong thiên "Thiệu cáo” của Kinh Thư có ghi chép khá chi tiết: “Quan Thái bảo đến đất Lạc trước Chu công để xem xét hình thế đất đai chuẩn bị xây dựng thành ấp; tháng Ba, vào ngày xuất hiện trăng lưỡi liềm là ngày Bính Ngọ, qua ngày Đinh Mùi, đến ngày Mậu Thân, ngay từ sáng sớm quan Thái bảo đã đến đất Lạc, bói khu đất xây thành. Bói được quẻ cát, liền dựng cọc tiêu đánh dấu. Tới ngày Canh Tuất, quan Thái bảo liền sai đám thợ người Ân, sắp xếp vật liệu xây dựng ở phía bờ bắc sông Lạc; qua mấy ngày nữa đến ngày Giáp Dần, vị trí xây dựng cùng vật liệu xây dựng đều đã được xác định rõ. Lại đến ngày hôm sau là ngày Ất Mão, Chu công đến đất Lạc từ sáng sớm, đi giám sát một lượt các công trình được xây dựng trong thành ấp.”
[20] Đa sĩ: kẻ sĩ đông đúc. Vô dật: chớ buông thả, phóng túng, là lời răn dạy của Chu công với Thành vương, sau thành một thiên trong Kinh Thư.
[21] Sách Thượng thư chép là năm mươi chín năm.
[22] Tổ Giáp: vị vua thứ hai mươi lăm của triều nhà Thương, con của Vũ Đinh, em của Tổ Canh. Tổ Giáp hiền năng, được cha sủng ái, muốn cho làm vua nhưng ông không muốn kế thừa ngôi báu, nhường cho anh, còn mình sống chung với những người dân thường. Sau, anh chết, ông lên làm vua trong ba mươi ba năm. Đây ý nói theo lý thì anh của Tổ Giáp làm vua vì là con trưởng, nhưng anh đã mất nên ông mới phải lên thay, dẫu thế, vẫn cho là không hợp danh nghĩa.
[23] Chu quan: quan chức nhà Chu, sau thành một thiên trong Kinh Thư. Cũng có ý cho là chỉ sách Chu lễ, hay cũng gọi là Chu quan kinh.
[24] Lập chính: sau cũng trở thành một thiên trong Kinh Thư.
[25] Bài Lập chính, Chu công có ý dạy Thành vương phải làm sáng đức của mình, thận trọng trong hình phạt, yêu thương chăm lo cho bách tính.
[26] Mộ của Văn vương ở đất Tất, cho nên táng Chu Công ở đây để cho công theo hầu Văn vương.
[27] Tế giao: điển lễ tế tự đối với đế vương thời cổ, tế lễ ngoài thành. Ở đây, Thành vương cho phép nước Lỗ được dùng nghi thức tế giao để tế Chu công, đó là ân điển đặc biệt dành cho Chu công, đồng thời cũng là niềm vinh dự đặc biệt cho nước Lỗ.
[28] Bí thệ: lời thề ở đất Bí, cũng gọi là Phí thệ, sau thành một thiên trong Kinh Thư.
[29] Ý nói ba mặt tây, nam và bắc, là các mặt không tiếp giáp với Từ Nhung.
[30] Ý nói kẻ nào trái lệnh sẽ bị giết.
[31] Tức giai đoạn được gọi là “Cộng hòa”.
[32] Tên thật là Trọng Sơn Phủ, một khanh sĩ triều Chu được phong ở đất Phàn nên còn được gọi là Phàn Mục Trọng (Mục Trọng là tên thụy của Trọng Sơn Phủ) hay Phan Trọng Sơn Phủ.
[33] Di Cung là miếu thờ Chu Di vương, ông nội của Chu Tuyên vương. Thời cổ, khi ban tước thì đều tổ chức ở tổ miếu.
[34] Ấp Bang là chỗ tế trời ở Thái Sơn được thiên tử giao cho Trịnh bá, lúc này chư hầu tự ý trao đổi cho nhau, như thế là vô lễ với thiên tử. Hứa Điền: Có tài liệu hiểu là ruộng đất ở ấp Hứa thuộc nước Lỗ.
[35] Sử ký tập giải chú Chung vu là tên một lễ tế.
[36] Đại phu nước Lỗ.
[37] Đất Hứa Điền trước đó đã được thiên tử nhà Chu chuyển giao cho nước Lỗ. Trước đó Trịnh lấy đất Bang để trao đổi với Lỗ, nhưng ấp Bang chưa tương xứng với Hứa Điền nên lại kèm theo ngọc bích.
[38] Trong Xuân Thu Cốc Lương truyện chép rằng: “Hoàn công trong nước thì giết vua mình, bên ngoài thì làm loạn nước người, nhận hối lộ rồi rút lui, đem của hối lộ để phụng thờ tổ tiên, đó là phi lễ vậy.” Vì thế người quân tử chê cười việc đó.
[39] Cháu của Lỗ Huệ công.
[40] Tề Hoàn công mượn danh nghĩa tế thần xã để duyệt binh, thị uy sức mạnh. Lỗ Trang công sang Tề xem lễ tế thần xã. Tào Mạt can gián Trang công không nên đi, nhưng Trang công không nghe.
[41] Con gái Đảng thị. Nhà Đảng thị có hai con gái, Mạnh là con gái lớn.
[42] Vi là cửa nhỏ ở trong cung, thường ở hai bên cung thất.
[43] Nước Chu: ở đây không phải nước của thiên tử nhà Chu, mà là một nước nhỏ, đến thời Chiến quốc đổi thành nước Trâu, nay thuộc vùng huyện Trâu, tỉnh Sơn Đông.
[44] Chỉ Chu xã và Bạc xã, ý nói ở vị trí của bậc đại thần, nắm giữ trọng trách triều đình.
[45] Xuân Thu Tả truyện, trong phần Hy Công nguyên niên có chép: “Hy công ban cho Quý Hữu ruộng Vấn Dương và ấp Phí”.
[46] Chủ tướng nước Lỗ là Thúc Tôn Đắc Thần vì muốn đời sau ghi nhớ chiến công này nên dùng tên của Kiều Như đặt tên cho con mình là Tuyên Bá.
[47] Duyên Tư là ông của Kiều Như.
[48] Tả truyện chép Kiều Như có bốn người em: Phần Như, Vinh Như, Giản Như và Duyên Như.
[49] Nguyên văn là “quý đệ”, tức người em út. Nhưng nếu theo Tả truyện thì Giản Như là người em thứ ba của Kiều Như.
[50] Tam Hoàn: ba nhà quyền thần ở nước Lỗ, hậu duệ của Lỗ Hoàn công là: Mạnh Tôn thị (cũng gọi là Trọng Tôn thị), Thúc Tôn thị và Quý Tôn thị.
[51] Tuyên Công, Thành công và Tương Công.
[52] Quân: phiên chế quân đội thời xưa. Thiên tử có sáu quân, nước chư hầu lớn có ba quân, Lỗ là nước phong của Bá Cầm, xưa có ba quân, sau chỉ còn hai quân. Quý Vũ tử muốn nắm quyền trong cung thất, cho nên tăng thêm một quân, thành ba quân, mỗi họ nắm một quân.
[53] Tức năm sinh Khổng tử, người khai sáng học thuyết Nho gia.
[54] Vì Lỗ là nước phong của Chu công, lại được tế giao cho Chu công nên thừa kế được âm nhạc của nhà Chu.
[55] Theo Sách ẩn, Lỗ Tương Công có người thiếp là phu nhân Kính Quy, người đàn bà nước Hồ, Kính Quy sinh Tử Dã. Tử Dã được phong làm Thái tử, sau khi Tương công chết đi, Tử Dã lên ngôi, nhưng được ba tháng sau thì chết.
[56] Ý nói vui chơi, đùa giỡn vô độ nên phải nhiều lần thay tang phục.
[57] Tấn Bình công lấy con gái của Tề Cảnh công, sử gọi là nàng Thiếu Khương (người Tấn gọi nàng là Thiếu Tề). Lấy nàng vào tháng Tư [Tả truyện chép là năm Chiêu công thứ hai] thì đến tháng Bảy nàng ta chết. Lỗ Chiêu công muốn đích thân sang điếu tang, hành động này khiến nước Tấn rất đỗi kinh ngạc. Vì thế khi Lỗ Chiêu công mới đến bên Hoàng Hà, người nước Tấn liền từ chối. Bởi theo lễ dù là chính thất của vua qua đời, thì quốc quân của nước khác cũng không được đích thân sang điếu tang, huống hồ đây là thiếp. Do đó với nước Lỗ việc này thật đáng hổ thẹn.
[58] Ý nói không phải chim ở Trung nguyên mà bay đến ở, là điềm báo đất nước sẽ bị nước khác xâm lược, vì thế nhà vua bị bức bách mà phải ra ngoài ở.
[59] Xã: một xã là 25 hộ. 1000 xã tương đương 25000 hộ.
[60] Dữu: đơn vị đong, 1 dữu bằng 16 đấu. 5 nghìn dữu tương đương 8 vạn đấu.
[61] Đại phu xưng là "chủ", Tề Cảnh công coi Chiêu Công chỉ như hàng đại phu, nên xưng là “chủ quân”.
[62] Sử Mặc: tức sử quan Sái Mặc nước Tấn.
[63] Tức Tương Trọng, ở Đông Môn, nên gọi là Đông Môn Toại.
[64] Quý Bình tử chết. Con trai của Quý Bình tử là Quý Hoàn tử có người bề tôi là Trọng Lương Hoài vốn có hiềm khích với Dương Hổ. Vì thế Dương Hổ mới bắt Trọng Lương Hoài. Quý Hoàn tử tức giận nhân đó định trị tội Dương Hổ. Chính vì oán hận cá nhân này nên Dương Hổ mới bắt Quý Hoàn tử.
[65] Sau khi nhận nữ nhạc của nước Tề, vua tôi cùng nhau thưởng thức âm nhạc, ba ngày liền vua không thiết triều nghe chính sự.
[66] Có thuyết chép là năm thứ mười hai.
[67] Nhiễm Hữu là học trò của Khổng tử.
[68] Tức là họ Hữu Sơn.
[69] Có thuyết ghi là Văn công năm thứ bảy.