Sử Ký III. Thế Gia

Lượt đọc: 272 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUYỂN 42 TRỊNH THẾ GIA

❊ ❊ ❊

Trịnh Hoàn công tên là Hữu, là con út của Chu Lệ vương, em dòng thứ của [Chu] Tuyên vương. Tuyên vương lên ngôi được hai mươi hai năm, Hữu mới bắt đầu được phân phong ở đất Trịnh. Nhận phong được ba mươi ba năm, dân chúng đều yêu mến ông. U vương cho [Hữu] làm Tư đồ. [Hữu khiến] dân nhà Chu hòa mục, quần tụ, dân nhà Chu thảy đều vui mừng, dân ở vùng sông Hà và sông Lạc ai nấy đều nhớ đến ông. Làm Tư đồ được một năm, U vương vì việc của Bao hậu[1], khiến việc cai trị của vương thất sinh nhiều tà vạy, chư hầu có nước làm phản nhà Chu. Thế rồi Hoàn công hỏi Thái sử Bá rằng: “Vương thất [nhà Chu] nhiều biến cố, ta có thể trốn được tử nạn không?” Thái sử Bá đáp rằng: “Chỉ có đất phía đông sông Lạc và đất phía nam sông Hà sông Tế là có thể ở được.” Hoàn công hỏi: “Tại sao?” Đáp rằng: “Đất gần nước Quắc và Cối, vua nước Quắc và Cối tham lam hám lợi, trăm họ không quy phục. Nay ngài là Tư đồ, dân chúng đều yêu mến, nếu ngài xin ra đó, vua nước Quắc và Cối thấy ngài đang nắm quyền sẽ dễ dàng chia đất cho. Nếu ngài ở đó, dân chúng nước Quắc và Cối sẽ đều là dân của ngài.” Hoàn công hỏi: “Ta muốn phía nam lên đến phía trên sông Trường Giang thì sao?” Đáp rằng: “Xưa kia Chúc Dung làm quan Hỏa chính cho họ Cao Tân, công lao to lớn, nhưng con cháu đến thời Chu vẫn chưa hưng khởi, Sở chính là hậu duệ của Chúc Dung vậy. Nhà Chu suy, Sở ắt sẽ hưng thịnh. Sở hưng thịnh, đó không phải điều lợi của Trịnh.” Hoàn công hỏi: “Ta muốn ở phía tây thì sao?” Đáp rằng: “Dân nơi đó tham lam mà hám lợi, khó lòng ở lâu được.” Hoàn công hỏi: “Nhà Chu suy, vậy nước nào sẽ hưng khởi?” Đáp rằng: “Tề, Tần, Tấn, Sở chăng? Xét lẽ, Tề họ Khương, là hậu duệ của Bá Di, Bá Di giúp việc điển lễ cho Đế Nghiêu. Tần họ Doanh, là hậu duệ của Bá Ế, Bá Ế vỗ về trăm vật giúp đế Thuấn. Đến tổ tiên nước Sở, đều từng có công với thiên hạ. Mà sau khi Chu Vũ vương đánh bại vua Trụ, Thành vương phân phong Thúc Ngu đất Đường, đất đó hiểm trở, các hậu duệ có đức ở đấy, lại nhân khi nhà Chu suy, nhất định sẽ hưng thịnh vậy.” Hoàn công nói: “Phải.” Thế rồi rốt cuộc nói với U vương, dời dân của mình sang phía đông, đến phía đông sông Lạc, còn vua nước Quắc và vua nước Cối hiến mười ấp, cuối cùng dựng nước ở đó.

Được hai năm, Khuyển Nhung giết U vương ở dưới chân núi Ly Sơn, rồi giết cả Hoàn công. Người Trịnh cùng lập người con của Hoàn công là Quật Đột, đó là Vũ công.

Vũ công năm thứ mười, lấy con gái của Thân hầu làm phu nhân, đó là Vũ Khương. [Vũ Khương] sinh Thái tử Ngu Sinh, khó sinh, sau khi sinh, phu nhân không yêu [Ngu Sinh]. Sau này sinh con nhỏ là Thúc Đoạn, Đoạn dễ sinh, phu nhân yêu quý Đoạn. Năm thứ hai mươi bảy, Vũ công ốm. Phu nhân xin với Vũ công, muốn lập Đoạn làm Thái tử, Vũ công không nghe. Năm đó, Vũ công chết, Ngu Sinh lên thay, đó là Trang công.

Trang công năm thứ nhất, phân phong cho em là Đoạn ở đất Kinh, hiệu là Thái Thúc. Sái Trọng nói: “Đất Kinh lớn hơn quốc đô, không phải chỗ để phong cho dòng thứ.” Trang Công nói: “Vũ Khương muốn như vậy, ta không dám trái ý.” Đoạn đến đất Kinh, sửa sang quân bị, cùng mẹ là Vũ Khương âm mưu đánh úp Trịnh. Năm thứ hai mươi hai, quả nhiên Đoạn đánh úp Trịnh, Vũ Khương làm nội ứng. Trong công phát binh thảo phạt Đoạn, Đoạn bỏ chạy. Đánh đất Kinh, người đất Kinh phản bội Đoạn, [Đoạn] chạy ra ấp Yên. Ấp Yên vỡ, Đoạn chạy sang nước Cung. Thế rồi Trang công đày mẹ là Vũ Khương ra Thành Dĩnh, thề rằng: “Không đến suối vàng, không nhìn nhau nữa.” Được hơn năm, thấy hối hận, nhớ mẹ. Khảo thúc ở Dĩnh Cốc dâng [lễ vật] lên Trang công, Trang công tặng cho đồ ăn. Khảo Thúc nói: “Thần có mẹ, xin nhà vua ban đồ ăn cho mẹ thần.” Trang Công nói: “Ta rất nhớ mẹ, nhưng sao trái lời thề được, phải làm thế nào đây?” Khảo thúc đáp: “Đào xuyên đất đến suối vàng thì có thể gặp nhau rồi.” Thế là [Trang công] bèn theo cách đó để gặp mẹ.

Năm thứ hai mươi tư, Tống Mục công chết, công tử Phùng chạy sang Trịnh. Trịnh xâm chiếm đất nhà Chu, cướp lúa. Năm thứ hai mươi lăm, Châu Hu nước Vệ giết vua nước mình là Hoàn công, rồi tự lập làm vua, vì việc của Phùng nên cùng Tống đánh Trịnh. Năm thứ hai mươi bảy, bắt đầu vào chầu Chu Hoàn vương. Hoàn vương giận Trịnh đã cướp lúa, không tiếp đãi đúng lễ nghi. Năm thứ hai mươi chín, Trang công giận nhà Chu không tiếp đúng lễ, cùng Lễ trao đổi đất ấp Bang lấy Hứa Điền[2]. Năm thứ ba mươi ba, Tống giết Khổng Phủ. Năm thứ ba mươi bảy, Trang công không vào chầu nhà Chu, Chu Hoàn vương thống lĩnh các nước Trần, Sái, Quắc, Vệ đánh nước Trịnh. Trang công cùng Sái Trọng, Cao Cừ Di phát binh tự cứu, quân của Chu vương đại bại. Chúc Đam bắn trúng cánh tay Chu vương. Chúc Đam xin đuổi đánh, Trịnh bá ngăn lại nói: “Phạm đến bậc tôn trưởng đã khó xử trí rồi, huống chi dám lăng nhục thiên tử?” Bèn thôi. Ban đêm, [Trang công] sai Sái Trọng thăm hỏi vết thương của Chu vương.

Năm thứ ba mươi tám, Bắc Nhung đánh nước Tề, Tề sai người cầu cứu, nước Trịnh sai Thái tử Hốt đem quân đến cứu Tề. Tề Hy công định gả con cho [Thái tử Hốt], Hốt từ chối rằng: “Tôi là nước nhỏ, không xứng với nước Tề.” Bấy giờ Sái Trọng cùng đi, khuyên Thái tử nên đồng ý, nói: “Trong nước nhà vua sủng ái nhiều người, Thái tử không có nước lớn ủng hộ sẽ không được lập, ba công tử đều có thể làm vua.” Ba công tử tức Thái tử Hốt, em là Đột, em nữa là Vi.

Năm thứ bốn mươi ba, Trịnh Trang công chết. Trước đây, Sái Trọng rất được Trang công tin yêu, Trang công sai làm quan khanh; Trang công lấy người con gái nước Đặng, rồi sinh Thái tử Hốt, cho nên Sái Trọng lập Hốt, đó là Chiêu công.

Trang công lại lấy người con gái họ Ung nước Tống, sinh Lệ công Đột. Họ Ung được nước Tống sủng ái. Tống Trang công nghe tin Sái Trọng lập Hốt, bèn sai người dụ triệu Sái Trọng đến rồi bắt, nói: “Không lập Đột, sẽ phải chết.” Cũng bắt Đột để đòi hối lộ. Sái Trọng đồng ý với Tống, cùng Tống kết minh. Đưa Đột về, lập Đột. Chiêu công Hốt nghe tin Sái Trọng theo yêu cầu của Tống lập em mình là Đột, ngày Đinh Hợi tháng Chín, Hốt chạy sang Vệ. Ngày Kỷ Hợi, Đột về đến Trịnh, lên ngôi, đó là Lệ công.

Lệ công năm thứ tư, Sái Trọng chuyên quyền chính sự trong nước. Lệ công lo sợ về việc đó, ngầm sai con rể của Sái Trọng là Ung Củ định giết Sái Trọng. Vợ Củ là con gái của Sái Trọng, biết chuyện đó, hỏi mẹ rằng: “Cha và chồng, ai thân hơn?” Mẹ đáp: “Cha chỉ có một thôi, chồng lấy ai chả được.” Người con gái liền cáo giác với Sái Trọng, Sái Trọng bèn giết Ung Củ, phanh thây ngoài chợ. Lệ công không làm gì được Sái Trọng, giận Củ, nói: “Bàn mưu với đàn bà, chết là phải lắm!” Mùa hạ, Lệ công ra ở ấp Lịch tại vùng biên giới. Sái Trọng đón Chiêu công Hốt về, ngày Ất Hợi tháng Sáu, [Chiêu công] lại về Trịnh, lên ngôi vua.

Mùa thu, Trịnh Lệ công Đột dựa vào dân ấp Lịch giết đại phu ấp đó là Đan bá, rồi ở lại đó. Chư hầu hay tin Lệ công chạy ra ngoài, [đem quân] đánh Trịnh, không hạ được nên rút về. Nước Tống cấp nhiều quân cho Lệ công, để tự giữ ở ấp Lịch, vì thế Trịnh cũng không đánh ấp Lịch.

Chiêu công năm thứ hai, từ khi Chiêu công còn làm Thái tử, cha là Trang cũng muốn cho Cao Cừ Di làm quan khanh, Thái tử Hốt ghét ông ta, nhưng Trang công không nghe, rốt cuộc vẫn cho Cừ Di làm quan khanh. Đến khi Chiêu công lên ngôi, [Cừ Di] sợ Chiêu công giết mình, ngày Tân Mão tháng Mười mùa đông, Cừ Di cùng Chiêu công ra ngoài đi săn, [Cừ Di] bắn giết Chiêu công ngoài đồng. Sái Trọng cùng Cừ Di không dám đưa Lệ công về, bèn đổi lập em của Chiêu công là Tử Vỉ làm vua, đó là Tử Vỉ, không có thụy hiệu.

Tháng Bảy năm Tử Vỉ thứ nhất, Tề Tương công hội chư hầu ở Thủ Chỉ, Tử Vỉ nước Trịnh đến hội họp, Cao Cừ Di phụ tá, đi theo, Sái Trọng thác bệnh không đi. Sở dĩ như vậy vì từ khi Tề Tương công còn là công tử, Tử Vỉ từng đánh nhau, gây thù oán, đến khi hội chư hầu, Sái Trọng đề nghị Tử Vỉ không đi. Tử Vỉ nói: “Tề mạnh, mà Lệ công ở đất Lịch, nếu không đi, Tề sẽ thống lãnh chư hầu đánh ta, rồi đưa Lệ công về. Chẳng bằng ta cứ đi, đi thì dẫu nhục thế nào chăng nữa, cũng đâu đến nỗi như ông nghĩ!” Rốt cuộc lên đường. Thế rồi Sái Trọng sợ Tề giết luôn mình nên thác bệnh. Tử Vỉ đến nơi, không tạ lỗi với Tề hầu, Tề hầu tức giận, bèn mai phục giáp sĩ rồi giết Tử Vỉ. Cao Cừ Di trốn về nước, bàn mưu với Sái Trọng, triệu em của Tử Vỉ là công tử Anh ở nước Trần rồi lập làm vua, đó là Trịnh tử. Năm đó, Tề Tượng công sai Bành Sinh nhân lúc Lỗ Hoàn công uống rượu say dìu đỡ rồi giết chết[3].

Trịnh từ năm thứ tám, bọn Quản Chí Phủ người Tề làm loạn, giết vua nước mình là Tương công. Năm thứ mười hai, Trường Vạn người Tống giết vua nước mình là Mẫn công. Sái Trọng nước Trịnh chết.

Năm thứ mười bốn, Lệ công Đột nước Trịnh Vốn lưu vong ở đất Lịch sai người lừa rồi uy hiếp đại phu nước Trịnh là Phủ Giả[4], ép giúp mình trở về. Giả nói: “Thả ta, ta vì ngài giết Trịnh tử rồi đưa ngài về.” Lệ công cùng thề, rồi thả ra. Ngày Giáp Tý tháng Sáu, Giả giết Trịnh tử cùng hai người con, rồi đón Lệ công Đột, Đột từ ấp Lịch lại về lên ngôi. Trước đây, có con rắn trong thành và con rắn ngoài thành đánh nhau ở cổng nam đô thành nước Trịnh, con rắn trong thành chết. Được sáu năm, Lệ công quả nhiên lại về. Trở về, Lệ công trách người bác là Nguyên rằng: “Ta trốn ra sống bên ngoài nước, bá phụ không có ý đưa ta về, cũng thực quá lắm!” Nguyên nói: “Thờ vua không hai lòng, đó là chức phận của bề tôi. Nguyên biết tội rồi.” Bèn tự sát. Lệ công nhân đó nói với Phủ Giả rằng: “Ngài thờ vua hai lòng đấy.” Bèn giết Phủ Giả. Giả nói: “Đại đức không báo đáp được, thì phải thế thôi!”

Năm thứ nhất sau khi Lệ công Đột trở lại làm vua, Tề Hoàn công bắt đầu xưng bá.

Năm thứ năm, Yên và Vệ cùng em của Chu Huệ vương là Đồi tấn công Chu vương, Chu vương chạy ra nước Ôn, lập em là Đồi làm vương. Năm thứ sáu, Huệ vương cấp báo với nước Trịnh, Lệ công phát binh đánh Vương tử nhà Chu là Đồi, không thắng, thế là cùng Chu Huệ vương về nước, Huệ vương ở đất Lịch. Mùa xuân năm thứ bảy, Trịnh Lệ công cùng Quốc thúc đánh úp giết Vương tử Đồi rồi đưa Huệ vương về Chu.

Mùa thu, Lệ công chết, con là Văn công Tiệp lên thay. Lệ công mới lên ngôi được bốn năm, lưu vong ở đất Lịch, ở đất Lịch mười bảy năm, lại trở về, lên ngôi được bảy năm, cùng thời gian lưu vong, cả thảy hai mươi tám năm.

Văn công năm thứ mười bảy, Tề Hoàn công đem quân phá nước Sái, rồi thảo phạt Sở, kéo đến Thiệu Lăng.

Năm thứ hai mươi tư, tiện thiếp của Văn công là Yên Cật mơ thấy trời trao cho cỏ lan, nói: “Ta là Bá Điều. Ta là tổ của ngươi đây. Đem hoa này đặt tên cho con ngươi, lan là quốc hương.” [Yên Cật] đem chuyện giấc mộng nói với Văn công, Văn công ân ái với nàng, rồi trao cho cỏ lan làm bằng chứng. Sau sinh con, đặt tên là Lan.

Năm thứ ba mươi sáu, công tử Trùng Nhĩ nước Tấn qua Trịnh, Văn công không tiếp đúng lễ. Em của Văn công là Thúc Chiêm nói: “Trùng Nhĩ hiền năng, lại cùng họ với nhau, cùng khốn mới qua chỗ nhà vua, không thể không dùng lễ để tiếp đãi.” Văn công nói: “Các công tử của chư hầu lưu vong qua chỗ ta rất đông, sao có thể tận lễ hết được!” Chiêm nói: “Nếu nhà vua không theo lễ, hãy giết y đi; không giết, nếu [Trùng Nhĩ] được về nước, sẽ thành mối lo của Trịnh vậy.” Văn công không nghe.

Mùa xuân năm thứ ba mươi bảy, công tử Trùng Nhĩ nước Tấn về nước, lên ngôi, đó là Văn công. Mùa thu, Trịnh vào nước Hoạt, nước Hoạt nghe lệnh [của Trịnh], rồi lại phản để theo Vệ, thế là Trịnh đánh Hoạt. Chu Tương vương sai Bá Phục đi nói đỡ cho nước Hoạt. Trịnh Văn công oán vì khi Chu Huệ vương lưu vong ở ấp Lịch, cha Văn công là Lệ công đưa Huệ vương về nước, nhưng Huệ vương không ban tặng tước lộc cho Lệ công; lại oán Tương vương chống lưng cho Vệ và nước Hoạt, cho nên không nghe theo yêu cầu của Tương Vương, nhân đó bỏ tù Bá Phục. Tương vương giận, cùng người Địch tấn công Trịnh, không hạ được. Mùa đông, nước Địch đánh Tương Vương, Tương vương chạy sang nước Trịnh, Trịnh Văn công cho Tương vương ở ấp Phiếm. Năm thứ ba mươi tám, Tấn Văn công đưa Tương vương về Thành Chu.

Năm thứ bốn mươi mốt, giúp Sở đánh Tấn. Từ khi Tấn Văn công qua nước Trịnh, Trịnh không dùng lễ tiếp đãi, nên lúc này Trịnh quay lưng với nước Tấn để giúp nước Sở. Năm thứ bốn mươi ba, Tấn Văn công cùng Tần Mục công bao vây Trịnh, hỏi tội Trịnh giúp Sở đánh Tấn, cùng tội vô lễ khi Văn công sang Trịnh. Trước đây, Trịnh Văn công có ba phu nhân, có năm người con trai được sủng ái, đều có tội, chết sớm. Trịnh Văn công giận, đuổi các công tử. Tử Lan chạy sang Tấn, theo Tấn Văn Công bao vây Trịnh. Bấy giờ Lan thờ Tấn Văn công rất nghiêm cẩn, được Văn công sủng ái, bèn ngầm tạo quan hệ ở Tấn, để mong được về Trịnh làm Thái tử. Thế rồi Tấn muốn bắt Thúc Chiêm giết đi. Trịnh Văn công sợ, không dám nói với Thúc Chiêm. Chiêm nghe chuyện, nói với Trịnh quân rằng: “Thần đã nói với nhà vua, nhà vua không chịu nghe thần, rốt cuộc Tấn thành mối lo. Nhưng sở dĩ Tấn bao vây Trịnh là do Chiêm, Chiêm chết mà xá được cho Trịnh, đó là tâm nguyện của Chiêm vậy.” [Chiêm] liền tự sát. Người Trịnh đem xác Chiêm cho Tấn. Tấn Văn công nói: “Nhất định phải gặp mặt Trịnh quân một lần, làm nhục ông ta rồi mới rút.” Người Trịnh lo sợ việc đó, bèn sai người lén sang nói với Tần rằng: “Trịnh bị phá thì Tấn mạnh thêm, không có lợi cho Tần.” Tần liền bãi binh. Tấn Văn công muốn đưa Lan về làm Thái tử, bèn báo cho Trịnh. Đại phu nước Trịnh là Thạch Quý nói: “Tôi nghe nói họ Cật là dòng nguyên phi của Hậu Tắc, hậu duệ đáng được hưng thịnh. Mẹ của Tử Lan là hậu duệ của nguyên phi Hậu Tắc vậy. Vả lại các con của phu nhân đã chết hết, các con ngành thứ còn lại không ai hiển năng bằng Lan. Nay nước bị bao vây nguy cấp, Tấn đã yêu cầu như thế, còn lợi nào lớn hơn!” Bèn đồng ý với Tấn, cùng kết minh ước, rồi rốt cuộc lập Tử Lan làm Thái tử, Tấn bèn bãi binh rút về.

Năm thứ bốn mươi lăm, Văn công chết, Tử Lan lên thay, đó là Mục công.

Mùa xuân năm [Trịnh] Mục công thứ nhất, Tần Mục công sai ba tướng đem quân định tập kích nước Trịnh, kéo đến đất Hoạt, gặp người lái buôn nước Trịnh là Huyền Cao, [Huyền Cao] vờ đem mười hai con bò úy lạo quần chúng, cho nên quân Tần [tưởng Trịnh biết việc Tần xuất quân] không kéo đến nữa mà rút về, bị quân Tấn đánh bại ở Hào Sơn. Vốn là năm trước, Trịnh Văn công chết, quan Ty thành nước Trịnh là Tăng Hạ đem tình hình nước Trịnh báo cho Tần, vì thế quân Tần kéo sang. Năm thứ ba, Trịnh phát binh theo Tấn đánh Tần, đánh bại quân Tần ở ấp Uông.

Năm trước, Thái tử Thương Thần nước Sở giết cha mình là Thành vương rồi lên thay. Năm thứ hai mươi mốt, cùng Hoa Nguyên nước Tống đánh nước Trịnh. Hoa Nguyên giết dê cho quân sĩ ăn, nhưng không cho người đánh xe là Dương Châm, [Dương Châm] giận rồi phóng xe vào quân Trịnh, người Trịnh bắt bỏ tù Hoa Nguyên. Tống chuộc Hoa Nguyên, Nguyên cũng bỏ trốn. Tấn sai Triệu Xuyên đem quân đánh Trịnh.

Năm thứ hai mươi hai, Trịnh Mục công chết, Tử Di lên thay, đó là Linh công.

Mùa xuân năm Linh công thứ nhất, Sở dâng lên Linh công con giải. Tử Gia, Tử Công sắp triều kiến Linh công, ngón trỏ của Tử Công từng máy động, Tử Công bảo Tử Gia rằng: “Hôm nọ ngón trỏ máy động, ắt được ăn vật lạ.” Đến khi vào triều, thấy Linh công cho ăn canh thịt giải, Tử Công cười nói: “Quả nhiên!” Linh công hỏi tại sao cười, bèn kể lại đầy đủ với Linh công. Linh công triệu đến, duy Tử Công không được ăn canh. Tử Công giận, nhúng ngón tay vào canh, nếm rồi đi ra. Linh công giận, định giết Tử Công. Tử Công cùng Tử Gia bàn mưu với nhau trước. Mùa hạ, giết Linh công. Người Trịnh định lập em của Linh công là Khứ Tật, Khứ Tật chối rằng: “Nếu nhất định phải lập người hiền thì Khí Tật là kẻ kém cỏi; nếu nhất định lập người cung thuận thì công tử Kiên lớn tuổi hơn.” Kiên là em ngành thứ của Linh công, anh của Khí Tật. Thế là bèn lập Tử Kiên, đó là Tương công.

Tương công lên ngôi, định trừ khử hết người họ Mậu. Họ Mậu giết Linh công, chính là gia tộc của Tử Công. Khứ Tật nói: “Nếu nhất định phải giết họ Mậu, ta sẽ bỏ đi.” Bèn thôi. Đều được cho làm đại phu.

Tương công năm thứ nhất, Sở giận Trịnh nhận hối lộ của Tống rồi thả Hoa Nguyên, bèn đánh Trịnh. Trịnh phản bội Sở, kết thân với Tấn. Năm thứ năm, Sở lại đánh Trịnh, Tấn đến cứu viện. Năm thứ sáu, Tử Gia chết, người trong nước lại xua đuổi gia tộc của Tử Gia, vì tội đã giết Linh công.

Năm thứ bảy, Trịnh và Tấn kết minh ở Yên Lăng. Năm thứ tám, Sở Trang vương lấy lý do Trịnh và Tấn kết minh, đem quân đến đánh, bao vây Trịnh ba tháng, Trịnh đem thành hàng Sở. Sở vương từ của Hoàng Môn tiến vào, Trịnh Tương công cởi trần dắt dê nghinh đón, nói: “Cô không biết phụng sự ở biên ấp, khiến quân vương ôm giận rồi kéo đến tệ ấp, đó là tội của cô. Sao dám không nghe mệnh lệnh? Quân vương đày đi Giang Nam, hay [đem nước] tặng cho chư hầu, ban lệnh nào cũng xin nghe. Nếu như quân vương không quên các vị Lệ Dương, Tuyên vương, Hoàn công, Vũ công, xót mà không nỡ đoạn tuyệt xã tắc nước Trịnh, ban cho mảnh đất không tày mảy lông, cho lại được sửa đổi để thờ quân vương, thì đó là ước nguyện của cô vậy, song không dám hy vọng vậy. Dám xin phô bày gan ruột, thảy đều nghe theo mệnh lệnh.” Trang vương vì thế lui ba mươi dặm rồi mới đóng quân. Quần thần nước Sở hỏi: “Từ đất Dĩnh đến đây, sĩ đại phu cũng vất vả lâu rồi. Nay được nước mà lại bỏ là cớ làm sao?” Trang vương nói: “Sở dĩ xuất quân thảo phạt là thảo phạt kẻ không thần phục. Nay họ đã phục, còn mong gì nữa?” Cuối cùng rút quân. Tấn nghe tin Sở đánh Trịnh, phát binh cứu Trịnh. Tấn tiến quân nhưng do dự nước đôi, cố ý chậm chạp, đến Hoàng Hà thì quân Sở rút rồi. Tướng Tấn có người muốn vượt sông, có người muốn về, cuối cùng vượt Hoàng Hà. Trang vương nghe tin, quay lại đánh Tấn. Trịnh trở mặt giúp Sở, đại phá quân Tấn ở trên sông Hoàng Hà. Năm thứ mười, Tấn sang đánh Trịnh vì Trịnh phản lại Tấn để kết thân với Sở.

Năm thứ mười một, Sở Trang vương đánh nước Tống, Tống cấp báo với nước Tấn. Tấn Cảnh công định phát binh cứu Tống, Bá Tông can Tấn quân rằng: “Trời đang khai mở cho Sở, chưa thể đánh được.” Bèn tìm tráng sĩ, tìm được Giải Dương người đất Hoắc, tự là Tử Hổ, đi lừa nước Sở, bảo nước Tống không đầu hàng. Qua nước Trịnh, Trịnh và Sở kết thân, Trịnh bèn bắt Giải Dương dâng cho Sở. Sở vương ban tặng trọng hậu rồi giao ước, sai nói ngược những gì Tấn nói, khiến Tống mau chóng đầu hàng, mấy lần uy hiếp Giải Dương mới đồng ý. Thế là Sở cho Giải Dương lên lâu xa[5], sai nói lớn cho Tống biết. Giải Dương bèn phụ ước với Sở mà theo lệnh của Tấn quân rằng: “Tấn đang huy động hết quân trong nước để cứu nước Tống, Tống dẫu nguy cấp cũng thận trọng chớ hàng Sở, quân Tấn hôm nay đến nơi rồi!” Sở Trang vương cả giận, định giết Giải Dương. Giải Dương nói: “Nhà vua hạ lệnh phải theo nghĩa, bề tôi thừa lệnh phải thủ tín. Nhận mệnh vua tôi ra đi, có chết cũng không từ bỏ.” Trang vương hỏi: “Ngươi đã đồng ý với ta, rồi lại phản bội, thế thì thủ tín ở đâu?” Giải Dương đáp: “Sở dĩ đồng ý với nhà vua là muốn hoàn thành quân mệnh thôi.” Sắp chết, quay lại nói với quân Sở: “Làm bề tôi đừng quên tận trung dẫu là phải chết!” Các em của Sở vương đều can Sở vương, xin tha cho Giải Dương, thế là Sở vương xá tội của Giải Dương rồi cho về. Nước Tấn ban tước [cho Giải Dương] đến bậc Thượng khanh.

Năm thứ mười tám, Tương công chết, con là Điệu công Bí lên thay.

Điệu công năm thứ nhất, Hứa Công nói xấu Trịnh với Sở, Điệu công sai em trai là Cổn sang Sở tự biện bác. Biện bác quanh co, Sở bỏ tù Cổn. Thế là Trịnh Điệu công sang nghị hòa với Tấn, rồi kết thân. Cổn có quan hệ riêng với Tử Phản nước Sở, Tử Phản nói cho Cổn về Trịnh.

Năm thứ hai, Sở đánh Trịnh, quân Tấn đến cứu. Năm này, Điệu công chết, lập em là Cổn lên thay, đó là Thành công.

Thành công năm thứ ba, Sở Cung vương nói: “Cô đây có ân đức với Trịnh Thành công”, sai người sang cùng kết minh. Thành công ngầm kết minh [với Sở]. Mùa thu, Thành công vào triều kiến nước Tấn, Tấn nói: “Trịnh ngầm hòa hiếu với Sở”, bắt Thành công. Sai Loan Thư đánh Trịnh. Mùa xuân năm thứ tư, Trịnh sợ Tấn bao vây, công tử Như bèn lập anh ngành thứ của Thành công là Tu làm vua. Tháng Tư năm đó, Tấn nghe tin Trịnh lập vua mới, bèn thả Thành công về. Người Trịnh hay tin Thành công về, cũng giết Tu, đón Thành công. Quân Tấn rút.

Năm thứ mười, bội minh với Tấn, kết minh với Sở. Tấn Lệ công giận, phát binh đánh Trịnh. Sở Cung vương cứu Trịnh. Tấn và Sở giao chiến ở Yên Lăng, quân Sở thua, quân Tấn bắn khiến Sở Cung vương bị thương ở mắt, rồi đều bãi binh rút về. Năm thứ mười ba, Tấn Điệu công đánh Trịnh, đóng quân ở Vị Thượng. Trịnh dựa vào thành phòng giữ, quân Tấn cũng rút.

Năm thứ mười bốn, Thành công chết, con là Uẩn lên thay, đó là Hy công.

Hy công năm thứ năm, Tướng quốc nước Trịnh là Tử Tứ vào chầu Hy công, Hy công không dùng đúng lễ tiếp đãi. Tử Tứ giận, sai đầu bếp đầu độc giết Hy công, các phó với chư hầu rằng “Hy công bị bạo bệnh chết”. Lập con của Hy công là Gia, lúc đó Gia mới năm tuổi, đó là Giản công.

Giản công năm thứ nhất, các công tử bàn mưu định giết Tướng quốc Tử Tứ, Tử Tứ phát giác được, quay lại giết hết các công tử. Năm thứ hai, Tấn đánh Trịnh, Trịnh kết minh ước với Tấn, Tấn rút về. Mùa đông, lại kết minh ước với Sở. Tử Tứ sợ bị giết, nên kết thân với cả Tấn và Sở. Năm thứ ba, Tướng quốc Tử Tứ định tự lập làm vua, công tử Tử Khổng sai Úy Chỉ giết Tướng quốc Tử Tứ rồi lên thay chức. Tử Khổng lại định tự lập. Tử Sản nói: “Tử Tứ làm việc không thể làm, giết ông ta, nay lại bắt chước theo ông ta, thế thì loạn chẳng bao giờ dứt vậy.” Thế là Tử Khổng nghe theo rồi phò tá Trịnh Giản công.

Năm thứ tư, Tấn giận Trịnh kết minh với Sở nên đánh Trịnh, Trịnh kết minh ước với Tấn. Sở Cung vương cứu Trịnh, đánh bại quân Tấn. Giản công định giảng hòa với Tấn, Sở lại bỏ tù sứ giả nước Trịnh.

Năm thứ mười hai, Giản công giận Tướng quốc Tử Khổng chuyên quyền chính sự trong nước, giết Tử Khổng, rồi phong Tử Sản làm quan khanh. Năm thứ mười chín, Giản công sang Tấn xin cho vua Vệ về nước, rồi phân phong cho Tử Sản sáu ấp. Tử Sản từ chối, chỉ nhận ba ấp. Năm thứ hai mươi hai, nước Ngô sai Diên Lăng Quý tử sang Trịnh, gặp Tử Sản mà như gặp bạn cũ, bảo Tử Sản rằng: “Người chấp chính nước Trịnh xa xỉ, họa nạn sẽ kéo đến, chính sự sẽ rơi vào tay ngài. Ngài thi hành chính sự ắt dùng lễ; nếu không, Trịnh sẽ suy bại.” Tử Sản tiếp đãi Quý tử rất trọng hậu. Năm thứ hai mươi ba, các công tử tranh sủng nên tàn sát lẫn nhau, lại định giết Tử Sản. Trong các công tử có người can rằng: “Tử Sản là người có đức nhân, Trịnh sở dĩ còn là nhờ Tử Sản vậy, chớ giết!” Bèn thôi.

Năm thứ hai mươi lăm, Trịnh sai Tử Sản sang nước Tấn hỏi thăm bệnh tình của Bình công. Bình công hỏi: “Bói quẻ cho hay [bệnh do] Thực Thẩm và Đài Thai tác quái, nhưng sử quan không ai biết [là gì], dám xin hỏi ngài?” Tử Sản đáp: “Cao Tân thị có hai con, trưởng là Át bá, út là Thực Thẩm, ở nơi rừng rộng, không dung được nhau, suốt ngày cầm mộc cầm qua đánh nhau. Đế Nghiêu cho họ không tốt, bèn đầy Át bá ra Thương Khâu, chủ về sao Thần, người đất Thương dựa vào ông ta, cho nên Thần là sao ứng với đất Thương; đày Thực Thẩm ra Đại Hạ, chủ về sao Sâm, người đất Đường dựa vào ông ta, phụng sự nhà Hạ nhà Thương, đời cuối [của đất Đường] là Đường thúc Ngu. Bấy giờ đúng lúc vợ Vũ vương là Ấp Khương đang mang thai Đại thúc, mộng thấy thượng đế nói với mình rằng: 'Ta đặt tên con ngươi là Ngu, lại ban cho đất Đường, thuộc về sao Sâm, khiến con cháu về sau sinh sôi đông đúc.' Đến khi sinh con có chữ 'Ngu’ ở bàn tay, bèn lấy chữ đó đặt tên cho con. Tới khi Thành vương diệt đất Đường, đem nước đó phân phong cho Đại thúc. Cho nên sao Sâm là sao ứng với địa phận nước Tấn. Từ đó mà xét, Thực Thẩm là thần sao Sâm vậy. Xưa kia, Kim Thiên thị có con cháu là Muội, là trưởng quan của các thủy quan, sinh ra Doãn Cách và Đài Thai. Đài Thai khéo kế thừa chức nghiệp của cha, khơi thông sông Phần và sông Thao, đắp đập ngăn chằm lớn, cư trú ở Thái Nguyên. Hoàng đế [Chuyên Húc] khen ngợi Đài Thai, phong đất Phần Xuyên để dựng nước. Các nước Thẩm, Tự, Nhục, Hoàng chính là các nước lo tế tự ông ta. Nay, Tấn làm chủ vùng Phần Xuyên rồi diệt các nước đó. Từ đó mà xét, Đài Thai là thần của sông Phần và sông Thao vậy. Thế nhưng hai thần đó không hại đến nhà vua. Thần của núi sông gây hụt hay hạn thì tế thần [để cầu xin]; thần về mặt trời, mặt trăng và tinh tú gây tuyết sương mưa gió không đúng thời tiết thì tế thần [để cầu xin]; như bệnh của nhà vua, là do ăn uống, buồn, vui và nữ sắc gây nên vậy.” Bình công và Thúc Hướng nói: “Phải lắm, thực là bậc quân tử quảng bá vậy!” Dùng hậu lễ tiếp đãi Tử Sản.

Mùa hạ năm thứ hai mươi bảy, Trịnh Giản công triều kiến nước Tấn. Đến mùa đông, sợ sự hùng cường của Sở Linh vương, lại sang triều kiến nước Sở, Tử Sản đi theo. Năm thứ hai mươi tám, Trịnh quân ốm, sai Tử Sản hội kiến chư hầu, cùng Sở Linh vương kết minh ước ở ấp Thân, [Sở vương] giết Khánh Phong nước Tề.

Năm thứ ba mươi sáu, Giản công chết, con là Định công Ninh lên thay. Mùa thu, Định công triều kiến Tấn Chiêu công.

Định công năm thứ nhất, công tử Khí Tật nước Sở giết vua nước mình là Linh vương rồi tự lập, đó là Bình vương. [Bình vương] muốn thi hành ân đức với chư hầu nên trả lại các đất của nước Trịnh đã bị Linh vương xâm chiếm cho Trịnh.

Năm thứ tư, Tấn Chiêu công chết, thế lực các quan Lục khanh hùng mạnh, tông thất nước Tấn suy yếu. Tử Sản nói với Hàn Tuyên tử rằng: “Làm chính sự ắt phải dùng đức, đừng quên gốc của việc dựng nước.”

Năm thứ sáu, Trịnh bị hỏa tai, Định công định cầu đảo. Tử Sản nói: “Chẳng bằng sửa đức.”

Năm thứ tám, Thái tử nước Sở là Kiến chạy sang. Năm thứ mười, Thái tử Kiến cùng Tấn âm mưu đánh úp nước Trịnh. Trịnh giết Kiến, con trai của Kiến là Thắng chạy sang nước Ngô.

Năm thứ mười một, Định công sang Tấn. Tấn và Trịnh bàn mưu, giết các loạn thần nhà Chu, đưa Kính vương về triều Chu.

Năm thứ mười ba, Định công chết, con là Hiến công Mại lên thay. Hiến công đến năm thứ mười ba thì chết, con là Thanh công Thắng lên thay. Lúc đó, quan Lục khanh nước Tấn hùng mạnh, xâm chiếm Trịnh, Trịnh trở nên suy yếu.

Thanh công năm thứ năm, Tướng quốc nước Trịnh là Tử Sản chết, người Trịnh đều khóc, đau buồn như mất người thân thích. Tử Sản là con út của Trịnh Thành công, là người có lòng nhân, yêu người, thờ vua giữ lòng trung hậu. Khổng tử từng qua nước Trịnh, đối đãi với Tử Sản như anh em. Đến khi nghe tin Tử Sản chết, Khổng tử khóc nói: “[Tử Sản chính là người] nhân ái thời xưa còn lại vậy!"

Năm thứ tám, họ Phạm và họ Trung Hàng ở Tấn phản lại nhà Tấn, cấp báo với Trịnh, Trịnh cứu viện họ. Tấn đánh Trịnh, đánh bại quân Trịnh ở đất Thiết.

Năm thứ mười bốn, Tống Cảnh công diệt nước Tào. Năm thứ hai mươi, Điền Thường nước Tề giết vua nước mình là Giản công, rồi Thường làm Tướng quốc nước Tề. Năm thứ hai mươi hai, Sở Huệ vương diệt nước Trần. Khổng tử chết.

Năm thứ ba mươi sáu, Trí bá nước Tấn đánh Trịnh, chiếm chín ấp.

Năm thứ ba mươi bảy, Thanh công chết, con là Ai công Dịch lên thay. Ai công năm thứ tám, người Trịnh giết Ai công rồi lập em Thanh công là Sửu, đó là Cung Công. Cung công năm thứ ba, Tam Tấn diệt Trí bá. Năm thứ ba mươi mốt, Cung công chết, con là U công Dĩ lên thay.U công năm thứ nhất, Hàn Vũ tử đánh Trịnh, giết U công. Người Trịnh lập em trai U công là Thai, đó là Tu công.

Tu công năm thứ mười lăm, Hàn Cảnh hầu đánh Trịnh, chiếm Ung Khâu. Trịnh xây đắp thành ở ấp Kinh.

Năm thứ mười sáu, Trịnh đánh Hàn, đánh bại quân Hàn ở Phụ Thử. Năm thứ hai mươi, Hàn, Triệu và Ngụy được liệt vào hàng chư hầu. Năm thứ hai mươi ba, Trịnh bao vây Dương Địch nước Hàn.

Năm thứ hai mươi lăm, Trịnh quân giết Tướng quốc Tử Dương. Năm thứ hai mươi bảy, bè đảng của Tử Dương cùng giết Tu công Thai rồi lập em trai U công là Ất làm vua, đó là Trịnh quân.

Trịnh quân Ất lên ngôi được hai năm, người ấp Phụ Thử nước Trịnh làm phản, rồi lại theo Hàn. Năm thứ mười một, Hàn đánh Trịnh, chiếm Dương Thành.

Năm thứ hai mươi mốt, Hàn Ai hầu diệt Trịnh, chiếm lấy nước.

Thái sử công bàn rằng: Có câu rằng, “Kẻ kết hợp với nhau vì quyền và lợi, quyền và lợi hết thì giao tình cũng nhạt”, Phủ Hà chính là như thế. Phủ Hà dẫu uy hiếp rồi giết Trịnh tử, đưa Lệ công về nước, cuối cùng Lệ công trở mặt giết Phủ Hà, thế thì khác nào Lý Khắc nước Tấn? Thủ tiết như Tuân Tức, bản thân phải chết mà không thể bảo tồn cho Hề Tề. Biến loạn phát sinh, nguyên do thực lắm!

[1] Bao hậu: tức Bao Tự.

[2] Hứa Điền: cũng có khi hiểu là ruộng ở ấp Hứa nước Lỗ.

[3] Trong phần “Lỗ Chu Công thế gia” có viết: “Ngày Bính Tý tháng Tư mùa hạ, Tề Tương công đãi tiệc Hoàn công, Hoàn công say, [Tề Tương công] sai công tử Bành Sinh dìu Lỗ Hoàn công, nhân đó lệnh Bành Sinh bẻ gãy xương sườn, Hoàn công chết trong xe”.

[4] Tả truyện ghi tên là Hà.

[5] Lâu xa: xe có lầu, thường dùng để quan sát trận địa địch.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.