Sử Ký III. Thế Gia

Lượt đọc: 262 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUYỂN 53 TIÊU TƯỚNG QUỐC THẾ GIA

❊ ❊ ❊

Tướng quốc Tiêu Hà là người ở ấp Phong, huyện Bái. Nhờ thông hiểu pháp luật, làm việc công bằng, nên được làm Chủ lại duyện[1] huyện Bái.

Khi Cao tổ còn mặc áo vải[2], Hà nhiều lần dựa vào chức vị để bảo vệ Cao tổ. Cao tổ làm chức Đình trưởng[3], [Hà] thường trợ giúp. Cao tổ làm viên lại, đi lao dịch ở Hàm Dương, các viên lại khác đều đưa ba trăm tiền tiễn chân, riêng Hà đưa năm trăm.

Ngự sử nhà Tần vâng lệnh đi giám sát ở quận, Hà theo giúp việc, thường biên giải công việc sáng rõ. Hà bèn được giao làm Tốt sử[4] ở Tứ Thủy, [khảo xét được] đứng hạng nhất. Quan Ngự sử nhà Tần muốn về triều nói triều đình trưng dụng Hà, Hà cố từ tạ mới không phải đi.

Đến khi Cao tổ khởi binh xưng là Bái công, Hà làm Huyện thừa, giám sát mọi việc. Bái công đến Hàm Dương, các tướng đều tranh nhau chạy đến kho chứa vàng lụa của cải để chia nhau, riêng Hà vào cung trước thu lấy các sách luật lệnh, bản đồ của Thừa tướng, Ngự sử nhà Tần, rồi đem cất giữ. Bái công làm Hán vương, phong Hà làm Thừa tướng. Hạng vương cùng chư hầu ra tay tàn sát, thiêu đốt Hàm Dương rồi rút. Sở dĩ Hán vương biết hết những quan ải hiểm yếu trong thiên hạ, hộ khẩu bao nhiêu, chỗ mạnh chỗ yếu, nỗi khốn khổ của dân chúng, đều nhờ Hà có được sách vở địa đồ nhà Tần. Hà tiến cử Hàn Tín, Hán vương phong cho Tín làm Đại tướng quân. Việc này chép trong phần “Hoài Âm hầu”[5].

Hán vương dẫn quân sang phía đông bình định Tam Tần, Hà lấy thân phận Thừa tướng ở lại thu phục Ba Thục, vỗ về hiểu dụ dân chúng, khiến họ cung ứng lương thực cho quân. Hán vương năm thứ hai, Hán vương cùng chư hầu đánh Sở, Hà giữ Quan Trung, hầu cận Thái tử, trị sở ở Lịch Dương. [Hà] chế định pháp lệnh ước thúc dân chúng, xây dựng tông miếu, đền thờ xã tắc, cung thất, huyện ấp, rồi tâu lên, được chấp thuận, cho thực thi công việc; nếu việc gì không kịp tâu lên thì được tùy nghi thi hành, [khi nào] Hán vương về [Hà] sẽ báo lại. Việc ở Quan Trung gồm cả thống kê hộ khẩu, vận chuyển [lương thảo] theo đường thủy cung ứng cho quân đội, Hán vương nhiều lần thua trận mất quân phải chạy trốn, Hà thường phát động quân sĩ Quan Trung, bổ sung ngay vào chỗ quân bị thiếu. Hán vương vì thế ủy thác mọi việc ở Quan Trung cho Hà.

Nhà Hán năm thứ ba, Hán vương và Hạng Vũ cự nhau ở vùng huyện Kinh và thành Sách, Hán vương nhiều lần sai sứ úy lạo Thừa tướng. Bão Sinh nói với Thừa tướng rằng: “Hán vương dãi gió dầm sương, nhiều lần sai sứ về úy lạo ngài, là có lòng ngờ ngài đấy. Kế cho ngài, không gì bằng sai con cháu anh em ngài ai có thể làm lính, thảy đều đến chỗ quân doanh Hán vương, Hán vương ắt càng tin tưởng ngài.” Thế là Hà theo kế đó, Hán vương cả mừng.

Nhà Hán năm thứ năm, sau khi giết Hạng Vũ, bình định thiên hạ, luận công phong thưởng. Quần thần tranh công, hơn một năm chưa quyết được. Cao tổ cho Tiêu Hà có công lớn nhất, phong làm Tán hầu, hưởng nhiều thực ấp. Các công thần đều nói: “Bọn thần mặc giáp cầm binh khí, người nhiều đánh trên trăm trận, người ít cũng mấy chục trận, đánh thành cướp đất, lớn nhỏ khác nhau. Nay Tiêu Hà chưa từng có công hãn mã, chỉ cần giấy mực luận bàn, không phải chinh chiến, thế mà lại ở trên bọn thần là cớ làm sao?” Cao đế đáp: “Các ông biết việc đi săn không?” Đáp: “Biết chứ.” “Biết con chó săn không?” Đáp: “Biết chứ.” Cao đế nói: “Khi đi săn, đuổi giết con thú con thỏ là chó săn, nhưng phát hiện dấu vết rồi chỉ cho biết chỗ con thú [để chó săn đuổi bắt] là con người. Nay các ông chỉ có thể đuổi bắt được con thú thôi, là công của con chó săn vậy. Còn như Tiêu Hà, phát hiện tung tích và ra hiệu, là công của con người vậy. Hơn nữa các ông chỉ một mình theo ta, nhà nào nhiều thì đôi ba người. Còn Tiêu Hà đem cả họ mấy chục người đều theo ta, công lao không thể quên được.” Quần thần đều không dám nói.

Sau khi liệt hầu đã đều được phong thưởng, đến khi xếp thứ bậc, đều nói: “Bình Dương hầu Tào Tham thân bị bảy mươi vết thương, đánh thành cướp đất, công lao lớn nhất, đáng đứng đầu.” Cao tổ đã chế áp công thần, phong thưởng nhiều cho Tiêu Hà, đến khi xếp thứ bậc không muốn lại làm khó họ, nhưng trong lòng vẫn muốn cho Hà đứng đầu. Quan nội hầu Ngạc quân tiến lên nói: “Quần thần bàn đều nhầm. Xét lẽ, Tào Tham tuy có công dã chiến cướp đất, đó chỉ là việc nhất thời. Hoàng thượng cùng Sở cự nhau năm năm, thường tổn thất quân binh, mấy lần bản thân phải chạy trốn. Nhưng Tiêu Hà luôn điều quân từ Quan Trung bổ sung chỗ thiếu, không có chiếu lệnh của hoàng thượng mà mấy vạn quân lại được mấy lần bổ sung đúng lúc hoàng thượng thiếu quân. Hán và Sở chống nhau mấy năm ở Huỳnh Dương, quân không có lương, Tiêu Hà chuyển lương theo đường thủy từ Quan Trung đến, khiến quân không thiếu lương ăn. Bệ hạ dẫu nhiều lần bị mất vùng phía đông Hào Sơn, còn Tiêu Hà luôn bảo toàn Quan Trung để chờ bệ hạ, đó là công lao muôn đời vậy. Nay tuy mất hàng trăm người như bọn Tào Tham, thì thiếu khuyết gì cho nhà Hán? Nhà Hán có được họ cũng không nhất định được vẹn toàn. Sao lại muốn đem công lao một sớm mà đặt lên trên công lao muôn đời được! Tiêu Hà đứng nhất, Tào Tham thứ nhì.” Cao tổ nói: “Phải lắm.” Thế rồi bèn xếp Tiêu Hà đứng nhất, ban cho được phép đeo kiếm, mang hài lên điện, vào chầu không cần rảo bước[6].

Hoàng thượng nói: “Ta nghe nói tiến cử người hiền thì được trọng thưởng. Tiêu Hà tuy có công cao, được Ngạc quân [nói ra] thì càng thêm rõ ràng." Thế là nhân ấp phong quan nội hầu của Ngạc quân trước đây, nay phong làm An Bình hầu. Hôm ấy, phong hết thảy cha con anh em của Hà hơn chục người, đều được thực ấp. Bèn phong thêm cho Hà hai nghìn hộ, vì riêng Hà khi tiễn Cao tổ đi lao dịch ở Hàm Dương đưa tặng nhiều hơn người khác hai trăm tiền.

Hán Cao tổ năm thứ mười một, Trần Hy làm phản, Cao tổ đích thân cầm quân, tiến đến Hàm Đan. Chưa dẹp xong [Trần Hy], Hoài Âm hầu [lại] mưu phản ở Quan Trung, Lã hậu theo kế của Tiêu Hà, giết Hoài Âm hầu, việc này đã chép trong Hoài Âm hầu liệt truyện. Cao tổ nghe tin Hoài Âm hầu bị giết, sai sứ phong Thừa tướng Tiêu Hà làm Tướng quốc, phong thêm cho năm nghìn hộ, lệnh năm trăm lính và một viên Đô úy làm hộ vệ cho Tướng quốc. Mọi người đều chúc mừng, riêng Thiệu Bình chia buồn. Thiệu Bình vốn là Đông Lăng hầu thời Tần. Nhà Tần bị diệt, làm kẻ áo vải, nghèo đói, trồng dưa ngoài cửa đông thành Trường An, dưa ngon, cho nên người đời gọi dưa đó theo tên của Thiều Bình là “Dưa Đông Lăng”, từ ấy Thiệu Bình lấy đó làm tên. Thiệu Bình nói với Tướng quốc rằng: “Họa bắt đầu từ đây vậy. Hoàng thượng dãi gió dầm sương bên ngoài còn ngài giữ tại Quan Trung, không phải chịu cảnh hòn tên mũi đạn mà lại được tăng thêm ấp phong, đặt quân túc vệ cho ngài, vì nay Hoài Âm hầu mới làm phản ở Quan Trung, [nên hoàng thượng] có lòng nghi ngờ ngài đấy. Xét lẽ, đặt quân túc vệ cho ngài, không phải vì sủng ái ngài đâu. Xin ngài từ chối phong thưởng, chớ nhận, đem hết của cải trong nhà giúp cho quân đội, như thế hoàng thượng sẽ đẹp lòng.” Tướng quốc theo kế đó, Cao đế bèn cả mừng.

Hán Cao tổ năm thứ mười hai, mùa thu, Kình Bố làm phản, hoàng thượng đích thân cầm quân đi đánh, nhiều lần sai sứ hỏi Tướng quốc đang làm gì. Tướng quốc vì hoàng thượng đang cầm quân bên ngoài, bèn vỗ về khuyến khích trăm họ, đem hết của cải giúp cho quân đội, như khi hoàng thượng đi đánh dẹp Trần Hy. Khách có kẻ nói với Tướng quốc rằng: “Không lâu nữa ngài sẽ bị diệt tộc thôi. Xét lẽ, ngài ở địa vị Tướng quốc, công lao đứng đầu, còn có thể gia phong nữa không? Khi ngài mới vào Quan Trung, được lòng trăm họ, hơn chục năm rồi, thảy đều theo ngài, lại luôn miệt mài chính sự, được dân ủng hộ. Hoàng thượng nhiều lần sai người hỏi về ngài, là sợ ngài khuynh đảo Quan Trung. Nay sao ngài không mua nhiều ruộng đất, cho vay kiếm lời, tự làm hoen ố mình? Hoàng thượng sẽ yên tâm.” Thế rồi Tướng quốc bèn theo kế đó, hoàng thượng cả mừng.

Hoàng thượng dẹp xong Kình Bố, đưa quân trở về, dân chúng đón đường dâng thư, nói Tướng quốc ép mấy nghìn mấy vạn hộ phải bán ruộng nhà với giá thấp. Hoàng thượng về tới, Tướng quốc đến yết kiến. Hoàng thượng cười nói: “Ôi, Tướng quốc làm lợi cho dân thế đấy!” Các thư do dân trình lên đều đưa cho Tướng quốc, nói: “Ông hãy tự tạ lỗi với dân.” Tướng quốc nhân đó vì dân xin rằng: “Trường An đất hẹp, trong vườn Thượng Lâm còn nhiều đất trống, bỏ hoang, xin cho dân được vào làm ruộng, [chỉ được thu hoạch lương thực] không được lấy rơm rạ, để còn làm thức ăn cho cầm thú.” Hoàng thượng cả giận nói: “Tướng quốc nhận nhiều của cải của thương nhân, bèn vì họ xin vườn thượng uyển của ta ư?” Bèn giao Tướng quốc cho Đình úy, cùm trói lại. Mấy hôm sau, Vương Vệ úy hầu hoàng thượng, tiến lên hỏi: “Tướng quốc phạm tội lớn gì mà bệ hạ cùm trói gắt gao vậy?” Hoàng thượng nói: “Ta nghe nói khi Lý Tự làm Tướng quốc cho Tần Thủy Hoàng đế, có việc gì tốt thì quy cho chúa, có việc gì xấu tự nhận về mình. Nay Tướng quốc nhận nhiều tiền vàng của thương nhân rồi vì dân chúng xin vườn thượng uyển của ta, để tự được tiếng tốt với dân, cho nên giam lại trị tội.” Vương Vệ úy nói: “Xét lẽ, về chức phận nếu có việc tiện lợi cho dân thì phải cầu xin cho họ, đó đích thực là phận sự của Tể tướng, sao bệ hạ lại nghi Tướng quốc nhận tiền của thương nhân! Hơn nữa bệ hạ cự nhau với Sở mấy năm, Trần Hy, Kình Bố làm phản, bệ hạ đích thân cầm quân đi đánh, lúc bấy giờ, Tướng quốc giữ Quan Trung, [chỉ cần] huơ chân thì từ Hàn Cốc về phía tây không còn là của bệ hạ nữa. Tướng quốc không nhân lúc đó toan lợi, nay lại ham lợi tiền vàng của thương nhân ư? Thêm nữa, Tần vì không chịu nghe lỗi lầm của mình, nên mất thiên hạ, Lý Tư vượt phận, đâu đủ để làm khuôn phép. Sao bệ hạ lại khinh suất nghi ngờ Tướng quốc vậy.” Cao đế không hài lòng. Hôm ấy, sai sứ cầm phù tiết đến xá tội rồi thả Tướng quốc. Tướng quốc tuổi cao, vốn cung kính cẩn thận, vào cùng, đi chân trần tạ tội. Cao đế nói: “Tướng quốc nghỉ đi thôi! Tướng quốc vì dân xin vườn thượng uyển, ta không cho, ta bất quá là chúa như Kiệt, Trụ, còn Tướng quốc là hiền tướng. Ta sở dĩ giam Tướng quốc, là muốn khiến trăm họ biết lỗi lầm của ta vậy.”

Tiêu Hà và Tào Tham vốn không ưa nhau, đến khi Hà bệnh nặng, Hiếu Huệ đế đích thân đến thăm bệnh Tướng quốc, nhân hỏi rằng: “Sau khi ông trăm tuổi, ai có thể thay ông?” Đáp rằng: “Biết bề tôi không ai bằng chúa.” Hiếu Huệ đế hỏi: “Tào Tham thế nào?” Hà dập đầu thưa: “Hoàng thượng chọn được người rồi, thần chết không ân hận nữa.”

Hà xếp đặt ruộng đất nhà cửa nhất quyết phải ở nơi xa xôi hẻo lánh, dựng nhà không cần làm tường, nói: “Đời sau hiền năng, học theo cách tiết kiệm của ta; không hiền năng, cũng không bị nhà có quyền thế cướp đoạt.”

Hiếu Huệ đế năm thứ hai, Tướng quốc Tiêu Hà chết, thụy là Văn Chung hầu.

Con cháu đời sau vì phạm tội bị mất tước hầu, cả thảy bốn lần, mỗi lần không người kế thừa thì thiên tử liền tìm hậu duệ của Hà, phong cho để tiếp nối tước Tán hầu, các công thần khác không ai sánh bằng.

Thái sử công bàn rằng: Tướng quốc Tiêu Hà thời Tần làm viên thư lại, rất tầm thường, chưa thấy tài cán gì lạ. Đến khi triều Hán hưng khởi, dựa vào chút dư quang của nhật nguyệt[7], Hà cẩn trọng giữ nơi then khóa[8], nhân lúc người dân ghét pháp luật nhà Tần, thuận theo thế thời, cùng dân thay cũ đổi mới. Bọn Hoài Âm[9], Kình Bố đều bị diệt, còn công tích của Hà càng thêm rạng rỡ. Địa vị đứng đầu các bề tôi, thanh danh lưu truyền hậu thế, cùng tranh đua hiển hách với bọn Hoằng Yêu, Tán Nghi Sinh[10] vậy.

[1] Hán thư cho là “Hà làm Chủ lại”. Chủ lại: tức là Công tào. Công tào có duyện và lại, duyện là chánh, lại là phó. Tiêu Hà ban đầu làm Chủ lại duyên, tức là chức lại giúp việc cho Huyện lệnh huyện Bái. Ở phần “Tào Tướng quốc thế gia” kế sau, Tư Mã Thiên cũng viết "... còn Tiêu Hà làm Chủ lại”.

[2] Ý nói khi Hán Cao tổ Lưu Bang còn là thường dân.

[3] Theo chế độ thời Tần-Hán, mười lý gọi là một đình (mỗi lý gồm 25 nhà), mỗi đình có Đình trưởng, phụ trách việc bắt trộm cướp.

[4] Tốt sử: một dạng thuộc quan giúp việc ở các quận, hưởng trật một trăm thạch. Đầu thời Tây Hán, mỗi quận thường có mười viên Tốt sử giúp việc.

[5] Tức phần “Hoài Âm hầu liệt truyện” trong Sử ký.

[6] Theo quy định đương thời, bề tôi vào triều kiến Hoàng đế phải đi bước ngắn mà nhanh.

[7] Ý nói được nương dựa vào uy phong của Hán Cao tổ Lưu Bang.

[8] Ý nói việc Tiêu Hà giữ vùng Quan Trung hiểm yếu.

[9] Hoài Âm: tức Hoài Âm hầu Hàn Tín.

[10] Hoằng Yêu và Tán Nghi Sinh đều là các mưu thần của Chu Văn vương. Xem thêm ở phần “Chu bản kỷ".

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.