Tháng mười một năm Kiến An thứ mười hai, Tào Tháo ra khỏi địa phận quận Liêu Tây, hội họp với đại quân đóng tại huyện Dịch. Người đi nghênh giá ngoài đám Tuân Du, Tào Nhân, Vu Cấm ở lại đồn trú, còn có Thiền vu Nan Lâu của người Ô Hoàn ở quận Thượng Cốc và Thiền vu Phổ Phú Lô của người Ô Hoàn ở quận Đại.
Tin Đạp Đốn chết trận, bọn Viên Thượng bỏ chạy, liên quân ba quận Ô Hoàn phút chốc tan rã nhanh chóng truyền đi, khiến các bộ lạc khác vô cùng khiếp hãi. Nan Lâu, Phổ Phú Lô như ngồi trên nệm gai, sợ rằng kẻ tiếp theo gặp họa chính là mình, nên vội vã chạy đến huyện Dịch tỏ thành ý. Bọn họ không chỉ dâng tặng chiến mã, quân tư mà còn chủ động xin đưa toàn bộ gia quyến đến Nghiệp Thành làm con tin. Nhưng những việc này cũng không làm Tào Tháo phấn khởi, bởi trong đoàn nghênh giá thiếu mất một người - đó là Quách Gia, mưu sĩ được ông coi trọng nhất, đã qua đời từ hai tháng trước.
Quách Gia đi theo Tào Tháo hơn mười năm, tham tán việc quân, nhiều lần hiến kế, lập được đại công trong trận chiến đoạt lấy Hà Bắc. Tuy đến lúc chết vẫn chỉ là một quân sư tế tửu, nhưng ông ta lại nhận được sự đãi ngộ hơn hẳn các đồng liêu. Trên thực tế, địa vị của Quách Gia chỉ đứng sau quân sư Tuân Du. Bởi lẽ ông ta túc trí đa mưu, có nhiều diệu kế, lại luôn đoán đúng tâm tư của Tào Tháo, biết can gián mà không phạm thượng, biết đón ý mà không xu nịnh, thông tuệ mà không gian trá. Tào Tháo nhận thấy Quách Gia có tiền đồ rộng mở, có ý trao quan cao chức trọng cho ông ta, thậm chí còn muốn ủy thác hậu sự của mình. Ngờ đâu trời xanh đố kỵ anh tài, Quách Gia đột ngột qua đời khi mới chỉ ba mươi tám tuổi.
Tào Tháo chìm trong nỗi thương xót, nào có tâm trạng tiếp đãi Nan Lâu, Phổ Phú Lô? Ông vỗ về qua loa, nhận cống phẩm cùng với con tin rồi cho bọn họ lui, ngày hôm sau lập tức đưa linh cữu của Quách Gia về Nghiệp Thành. Trên đường đi Tào Tháo cưỡi ngựa, thi thoảng lại ngoái đầu nhìn cỗ quan tài, có lúc ông còn nghĩ rằng Quách Gia chỉ giả chết, có thể thình lình chui ra từ bên trong.
Nhưng phép màu không xuất hiện, đại quân về tới Nghiệp Thành, đám mạc liêu đi nghênh giá ở ngay phía trước, vậy mà Tào Tháo vẫn chẳng dứt được nỗi bi ai. Ông ghì cương ngựa, thở dài sườn sượt, cả đoàn quân cũng dừng lại theo.
Tuân Du mấy ngày nay không rời ông nửa bước:
— Người chết không thể sống lại, xin chúa công bớt đau buồn. Chúng nhân đang đứng cả bên đường đợi nghênh giá, chớ để họ phải chờ lâu.
Dù sao Tào Tháo cũng thắng trận trở về, quần liêu muốn nồng nhiệt nghênh đón, chúc mừng công lao của ông.
Tào Tháo cũng không muốn mang vẻ mặt đưa đám vào thành, nhưng chẳng tài nào vui lên được:
— Ta không thể ngừng thương tiếc Phụng Hiếu. Ông ta thân mang trọng bệnh vẫn nguyện xuất chinh, bỏ mạng để làm nên việc lớn cho ta, sao khiến ta quên được?
— Tiếc rằng ông trời không cho ông ấy sống thọ. - Tuân Du nói vẻ chua xót, - Ông ấy còn một người con tên Quách Dịch, chưa đến tuổi thành niên. Chúa công thương tiếc thì hãy hậu đãi cậu ta.
— Phong tặng con cháu sao bù đắp được cho người đã chết? - Tào Tháo nhìn chòng chọc Tuân Du, - Phụng Hiếu không chỉ giỏi hiến kế mà còn hiểu được tâm tư của ta. Nếu như ai cũng hiểu ý ta giống Phụng Hiếu, đại sự của thiên hạ còn không thành sao?
Lời này ám chỉ: Quách Gia hiểu được tâm tư của ta, ủng hộ ta làm hoàng đế, vì sao các ngươi lại không thuận theo? Nếu các ngươi cũng có thể đoán ra tâm tư của ta giống như Quách Gia thì ta còn phải đau lòng thế này hay sao?
Tuân Du lại bị giày vò, Tào Tháo hết lần này đến lần khác ép ông phải thể hiện quan điểm, gần như cạn tình cạn nghĩa. Nếu ông còn tiếp tục chống đối thì sẽ có kết cục thế nào đây? Tư lự một hồi, Tuân Du nói vẻ bất lực:
— Thuộc hạ nguyện theo chí của Phụng Hiếu, đồng tâm đồng đức với chúa công...
Mấy lời cuối nghẹn ứ ở cổ họng, ông ta thấy mình đã đi ngược lại chí hướng nửa đời người, chỉ muốn tìm cái lỗ nẻ để chui xuống.
Tào Tháo nhận ra vẻ van lơn của một người bị dồn vào bước đường cùng trong ánh mắt của Tuân Du. Ông rốt cuộc đã hài lòng, chỉ cần quân sư chịu nghe theo, những tế tửu khác không còn gì đáng lo, người có thể can dự vào việc của ông giờ chỉ còn một mình Tuân Úc. Ông đang suy tính, chợt nghe loáng thoáng từ đằng xa vọng lại tiếng hát dìu dặt, dường như của những thôn đinh sau vụ mùa:
Tôi sinh ra bản tính vô vi,
Tôi vào đời nhà Hán suy vi.
Trời ác độc chừ làm chia cắt,
Đất ác độc chừ gặp thời loạn ly.
Gươm giáo đầy rẫy chừ khắp nơi nguy hiểm,
Dân chúng lưu vong chừ ai cũng sầu bi...
Nhung Yết buộc tôi hề thành gia thất,
Dẫn dắt tôi đi hề về phía trời xa.
Mây núi trùng trùng hề đường về mờ mịt,
Gió dữ ngàn dặm hề thổi tung bụi bay.
Người quá hung bạo hề như rắn rít,
Giương cung mặc giáp hề thật kiêu kỳ...[1]
Tiếng hát bi ai, thống thiết, Tào Tháo nhắm mắt, lắng tai nghe: bài hát kể lại chuyện một cô gái người Hán gặp phải thời loạn, bị người Hồ cướp đi. Tuy chỉ là nỗi buồn xa quê của một người, nhưng lời hát đã lột tả đến tận cùng nỗi thống khổ của những người dân lưu vong trong lúc thiên hạ đại loạn, bốn bề khói lửa. Từng lời đều là máu lệ, xé ruột xé gan.
— Tiếng hát bi ai thay... - Tào Tháo đang thương tiếc Quách Gia, nghe tiếng hát lại càng não nề, nhưng ông vẫn tinh tế nhận ra bài hát có lời lẽ trong sáng, câu từ uyển chuyển, nên lấy làm lạ, - Chốn thôn dã mà cũng có lão nông hát được thế này sao? Hẳn là người am hiểu thơ phú. Ở đây còn có văn sĩ nào chưa được phát hiện không?
Tuân Du không để tâm, lắc đầu quầy quậy. Lúc này một duyện thuộc trẻ, tuổi ngoài đôi mươi bước ra khỏi hàng nói:
— Tại hạ ở gần biên cương nhiều năm, có hiểu chút ít.
Người này là Lưu Phóng, người quận Trác, vốn là một công tào dưới trướng Viên Hi, có công khuyên Thái thú Ngư Dương Vương Tùng quy hàng Tào Tháo nên được thu nhận,
— Khúc hát này không phải của một nhân sĩ ẩn cư, mà do thê tử của Tả Hiền Vương[2], người Hung Nô viết ra.
— Thê tử của Tả Hiền Vương? - Tào Tháo không tin vào tai mình, - Hung Nô cũng có bậc tài nữ như vậy sao?
— Người này không phải dân tộc Hung Nô, là người quận Trần Lưu, hậu duệ của Sái Bá Giai - danh sĩ đại Hán ta, tên là Sái Diễm, tiểu tự Chiêu Cơ[3].
— Sái Ung còn một người con gái nữa sao?
Tào Tháo ngạc nhiên. Thời trẻ ông kết giao với Sái Ung nên biết rõ con cháu trong nhà ông ta. Khi ông làm chủ Duyện Châu, thương hai người con một trai một gái của Sái Ung còn nhỏ, còn chiếu cố chăm sóc bọn họ. Nay, người con trai đã ra làm quan, còn người con gái gả cho Dương Đạo - con trai của danh thần Dương Tục, ở đâu lại xuất hiện thêm một người con gái nữa?
Lưu Phóng nói:
— Chiêu Cơ là trưởng nữ của Sái Bá Giai, đã hơn ba mươi tuổi, ban đầu lấy một tài tử Hà Đông là Vệ Trọng Tạo. Không may phu quân mất sớm, nàng ta trở về nhà mình, khi Sái Ung làm quan ở Trường An, nàng ta đi theo chăm sóc cha. Sau này, Vương Doãn giết Đổng Trác, Sái Ung cũng gặp họa mất đầu, bọn Lý Thôi và Quách Dĩ lại làm loạn kinh sư, Thiền vu Hung Nô Ư Phu La nhân cơ hội cướp phá của cải, cưỡng bức dân lành, từ đó Chiêu Cơ rơi vào tay người Hồ, được Tả Hiền Vương lấy làm vương cơ. Nghe nói, nàng ta đã sinh cho Tả Hiền Vương hai người con.
— Còn có chuyên ly kỳ thế này sao? Sái Bá Giai là học giả uyên bác bậc nhất triều trước, trong nhà chứa đến hơn hai ngàn quyển sách, tiếc là kém số. - Nói đến đây, Tào Tháo lại quay đầu nhìn quan tài của Quách Gia, - Ây dà! Quả là anh tài trên đời đều bất hạnh cả.
Lưu Phóng lại nói:
— Tào công chớ buồn, hiện nay trong thiên hạ vẫn còn hai người nhận được chân truyền của Sái công.
— Đó là những ai?
— Một người là con của Vương Khiêm, Trưởng sử của Hà Tiến năm xưa, tên Vương Xán, thuở nhỏ theo học Sái Ung, hiện đang làm thuộc hạ dưới trướng Lưu Biểu ở Kinh Châu. Còn người kia chính là Sái Chiêu Cơ. Nàng ta là phận nữ lưu nhưng học rộng biết nhiều, thuộc làu thi từ ca phú, có sở trường về âm luật đàn sáo. Bài hát ngài đang nghe vốn của người Hồ, nàng ta soạn lời theo điệu sáo của họ.
Tào Tháo chăm chú nghe, quả nhiên điệu nhạc khác với của người Trung Nguyên:
— Một tài nữ như vậy mà phải lưu lạc nơi tái ngoại chẳng đáng tiếc sao? Nay binh đao đã dần lắng xuống, rất nhiều việc bỏ bê đợi ngày dựng lại, có thể đón nàng ta về truyền lại sở học của Sái thị cũng là một điều tốt.
— Việc này chỉ e không thích hợp. - Tuân Du chen ngang, - Nàng ta là vương cơ Hung Nô, lại đã sinh con nối dõi cho người ta, sao có thể chia rẽ phu thê họ?
Tào Tháo không nghĩ nhiều như thế:
— Nàng ta vốn là người Hán, bị cướp đi trong lúc hoạn nạn, nay trở về cố hương quốc thổ là lẽ đương nhiên. Chúng ta có thể tặng vàng bạc cho Tả Hiền Vương để chuộc nàng ta về! Nghị lang Chu Cận thông hiểu tiếng Hung Nô, việc này cứ giao cho hắn làm.
Tuân Du vẫn thấy không hợp tình hợp lý:
— Chu Cận là trọng quan triều đình, không hợp làm việc này, ta nên viết thư bàn với Lệnh quân trước.
— Chuyện ta quyết định còn phải đợi Lệnh quân phê chuẩn sao?
Tuân Du giật nảy mình, không dám làm trái ý Tào Tháo:
— Thuộc hạ không dám, không dám... Tất cả xin nghe theo lệnh của chúa công. Thuộc hạ là quan quân, không có quyền hỏi đến những chuyện khác, sau này sẽ chú ý giữ đúng chừng mực.
Tào Tháo thấy ông ta kính cẩn nghe lời, cũng không làm khó:
— Quân sư chớ lo, chỉ cần ông hiểu ý của ta là được. - Dứt lời liền kéo dây cương, - Bài hát này bi ai quá, ta không muốn nghe thêm, chúng ta mau vào thành thôi.
Tuân Du lau mồ hôi túa ra trên trán. Cho dù ông có nhẫn nhịn cung thuận, cũng không tránh khỏi mối quan hệ với Tuân Úc, chức quân sư này ngày càng khó ngồi.
Bọn Hạ Hầu Đôn, Trọng Trường Thống, Thôi Diễm, Đổng Chiêu phụ trách lưu thủ quỳ sẵn bên đường cả nửa ngày trời, trông thấy đại quân đang tiến gần đột nhiên dừng lại, không rõ nguyên do vì sao mà không dám đứng lên. Họ đợi mãi đến lúc Tào Tháo và Tuân Du nói xong, đoàn quân đi tiếp mới thở phào, đồng thanh hô to:
— Thuộc hạ cung nghênh chúa công, mừng quân ta thắng trận trở về!
Tào Tháo vẫn buồn rười rượi, chỉ phất tay cho họ đứng dậy. Hạ Hầu Đôn tiếp quản binh mã đồn trú ngoài thành, quần liêu theo Tào Tháo hồi phủ, quan tài của Quách Gia cũng được đưa vào, đặt tạm trong sân châu phủ.
Kẻ dưới đã chuẩn bị sẵn nước nóng và rượu mừng nhưng Tào Tháo đều không dùng đến, cứ đứng ngây ra trong sân, vuốt ve cỗ quan tài. Chúng nhân lại càng không dám đi nghỉ, thảy đều đứng ngay ngắn cạnh ông. Trọng Trường Thống, Thôi Diễm và Tuân Diễn đưa mắt nhìn nhau, cùng bước ra khỏi hàng, quỳ xuống nói:
— Thuộc hạ ngu dốt, đã ngăn cản chúa công trước ngày dụng binh, lại không thể theo hầu xa giá, xin chúa công trách phạt.
Tiếp đến một loạt tiếng sột soạt, tất cả những người trước đó từng phản đối việc viễn chinh đều quỳ rạp xuống xin nhận tội. Tào Tháo ngơ ngẩn nhìn hết một lượt, thản nhiên nói:
— Đứng lên cả đi, chư vị đều không có tội. Người nào ngăn cản ta xuất chinh cũng đều có thưởng.
Mọi người ngơ ngác không hiểu nguyên do.
Tào Tháo nói lời sâu xa:
— Lần dụng binh này là mạo hiểm mà gặp may, tuy đắc thắng nhưng phải rơi vào tình thế rất hung hiểm, không thể coi là bình thường được. Giờ nghĩ lại trận đánh trên núi Bạch Lang, ta vẫn còn kinh sợ, lời can gián của các vị chính là kế vạn toàn, bởi vậy tất cả đều có thưởng. Sau này vẫn mong các vị biết gì thì cứ nói, đã nói thì nói hết... Chỉ tiếc là không được nghe kế hay của Phụng Hiếu nữa.
— Chúa công đại ân đại đức, chúng thuộc hạ nào dám không tận sức? - Chúng nhân thấy ông độ lượng, lại thương tiếc thuộc hạ nên đều xúc động, không ít người rơi nước mắt.
Hứa Du cũng có mặt ở đó nhưng không thỉnh tội, còn hớn hở lại gần, rỉ tai ông:
— A Man huynh, sống chết của con người ta đều do ý trời, có gì không nén được lòng? Ai cũng đều biết ngài thương xót thuộc hạ, hà tất cứ phải vương vấn mãi?
Tào Tháo thật lòng thương tiếc Quách Gia, nhưng cũng cố ý làm quá lên nhằm lấy lòng chúng nhân; lúc này bị Hứa Du nói trúng tim đen, khẽ trừng mắt nhìn ông ta, song không trở mặt ngay mà xoay người nói với Lâu Khuê:
— Tử Bá, từ nay tấn phong làm tướng quân!
Lâu Khuê đột ngột được thăng quan, nhất thời kinh ngạc:
— Việc này, việc này...
— Chớ từ chối. Ông đặt mình vào nguy hiểm, vất vả tòng quân, đáng được thăng quan. Đâu giống một số kẻ chỉ biết nói suông, không chịu dụng tâm, thật chẳng ra gì!
Tào Tháo nói câu này khiến Hứa Du ngượng chín mặt. Lâu Khuê từ trước đến nay luôn phụ trách việc quân nhưng chưa từng được lĩnh binh tốt, giờ ông ta được thăng làm tướng quân vẫn không có binh quyền như trước. Tào Tháo không hề đả động tới việc này, ông ta cũng chấp nhận, đổi sang chuyện khác:
— Huynh đệ Viên thị trốn tới Liêu Đông, chẳng khác nào nhổ cỏ chưa tận gốc. Nếu bọn chúng thông đồng với Công Tôn Khang làm loạn, chúng ta làm sao trừ được? Mạnh Đức nhất định phải tăng cường phòng bị.
Lời còn chưa dứt, Hàn Hạo chạy ùa vào sân:
— Chúa công, Lương... Lương...
Ông ta lắp ba lắp bắp như thể gặp ma. Chúng nhân chưa kịp phản ứng đã trông thấy một vị quan tóc bạc phơ bước vào sau ông ta. Đó chính là Thái thú Lạc Lãng Lương Mậu bị cha con Công Tôn Độ, Công Tôn Khang giam giữ hơn ba năm nay.
— Lương Bá Phương! Làm sao ông trốn được về đây?
Mọi người vô cùng sửng sốt. Nhưng Tào Tháo lại tỏ ra bình thản như đã sớm đoán được từ trước:
— Cuối cùng chúng cũng chịu thả người. Mấy năm nay ông đã chịu khổ không ít rồi!
Hai mắt Lương Mậu đỏ ngầu:
— Bỉ chức tưởng rằng đời này không còn được gặp lại minh công nữa, thực không dám tin...
Nói đến đây lại nghẹn họng. Sống trong cảnh bị giam lỏng, một ngày dài tựa cả năm, nhất là khi Tào Tháo khai chiến với Công Tôn thị ở Thanh Châu, Lương Mậu luôn trăn trở nghĩ rằng, liệu mình còn có thể sống sót mà rời khỏi Liêu Đông không. Vậy nên ông ta mới năm mươi tuổi mà tóc đã bạc trắng đầu.
— Ây dà! Đừng buồn nữa. - Không biết Tào Tháo khuyên ông ta hay khuyên chính mình, - Công Tôn Khang không để ông về tay không chứ?
Lương Mậu quệt nước mắt, vẫy tay về phía ngoài sân, năm tên tiểu lại từ ngoài đi vào, mỗi tên bưng một chiếc hộp gỗ đen sì. Tào Tháo không cần mở ra xem cũng đoán được bên trong đựng thứ gì: đầu của năm con cá lọt lưới, gồm người con kế vị Viên Thiệu là Viên Thượng, con thứ hai của Viên Thiệu là Viên Hi, thủ lĩnh người Ô Hoàn ở quận Liêu Tây là Lâu Ban, thủ lĩnh người Ô Hoàn ở quận Hữu Bắc Bình là Tô Phó Diên và thủ lĩnh người Ô Hoàn ở quận Liêu Đông là Ô Diên.
Chúng nhân không hiểu sự tình, mở hộp ra xem, tất thảy đều giật mình kinh hãi. Lương Mậu lấy ra hai cuốn thẻ tre:
— Đây là hàng thư do Công Tôn Khang tự viết, còn có tấu chương dâng lên thiên tử. Huynh đệ Viên Thượng và phản tặc ba quận tới nương nhờ quân Liêu Đông, Công Tôn Khang cùng với đệ đệ là Công Tôn Cung lập mưu, giả vờ mở tiệc khoản đãi rồi bất ngờ lấy đầu năm người bọn chúng, sai tại hạ mang thủ cấp về. Công Tôn thị quyết ý quy thuận triều đình, từ nay về sau xin nghe lệnh sai phái của chúa công, thề trấn giữ mạn Đông Bắc, vĩnh viễn không gây hại cho triều đình.
Tào Tháo không buồn đọc thư:
— Công Tôn Khang chẳng đã tự ý phong tước Vĩnh Ninh hầu cho Công Tôn Cung sao? Ta niệm tình lần này hắn có công giết giặc, trao cho hắn tước Tương Bình hầu, phong làm Tả Tướng quân, lĩnh chức Thái thú Liêu Đông như cũ. Chỉ cần hắn không chống đối triều đình, lão phu sẽ không làm khó. Ông bị khốn ở Liêu Đông đã lâu, thông hiểu tình hình, biết nhiều khổ nhiều, hãy vất vả đi chuyến nữa.
Vĩnh Ninh hầu chỉ là hương hầu, còn Tương Bình hầu là huyện hầu, sự thay đổi tước hầu này đối với Công Tôn Khang mà nói chỉ tăng chứ không giảm. Liêu Đông cách Trung Nguyên quá xa, chiếm được cũng không có nhiều ý nghĩa, chi bằng giữ lại Công Tôn thị để uy hiếp người Cao Câu Ly, giúp Tào Tháo bớt được một nỗi lo.
— Rõ. - Lương Mậu tuân lệnh định đi.
— Đợi đã! Bính Nguyên, Quản Ninh, Vương Liệt đã ở Liêu Đông nhiều năm, hạ lệnh triệu bọn họ về.
Tào Tháo ngưỡng mộ ba vị hiền sĩ này, nhiều lần trưng vời nhưng Công Tôn thị không chịu thả người, giờ hẳn là không dám giữ nữa.
Lâu Khuê tấm tắc khen:
— Chẳng trách ngài không vội vã phát binh đánh Liêu Đông, thì ra đã liệu trước việc Công Tôn Khang tự nộp đầu huynh đệ Viên thị.
— Công Tôn thị từ trước luôn cúi đầu trước Viên thị, nếu ta cố truy diệt Viên Thượng, tất sẽ khiến hai nhà hợp sức chống lại ta, cho nên cứ từ từ để chúng tự tàn sát lẫn nhau.
Mọi khi mưu kế mà thành, Tào Tháo vui mừng hớn hở, nói mãi không dứt, nhưng hôm nay lại chẳng hào hứng, nói như hết hơi.
Lâu Khuê xuýt xoa thán phục:
— Dĩ lợi tương giao, lợi tận tắc tán. Dĩ thế tương giao, thế khứ tắc khuynh.[4] Sao tôi lại không nghĩ ra diệu kế này? Mạnh Đức ơi Mạnh Đức, ta thực sự phục ngài!
Nào ngờ Tào Tháo nghe xong không vui hơn, trái lại giọng còn nghẹn ngào:
— Đó đâu phải chủ ý của ta? Là kế của Phụng Hiếu trước lúc đi xa... - Còn chưa nói hết câu, ông đã đấm thùm thụp vào ngực, khóc lóc thảm thiết, - Thương thay Phụng Hiếu! Xót thay Phụng Hiếu! Tiếc thay Phụng Hiếu! Ông trời sao lại bất công, chặt đứt cánh tay phải của ta... Phụng Hiếu ơi...
Ông khóc được vài tiếng, bỗng thấy trời đất quay cuồng, suýt nữa thì ngã. Lâu Khuê, Hứa Du vội đỡ lấy:
— Mạnh Đức, ngài làm sao vậy?
— Đầu ta...
Bệnh đau đầu của Tào Tháo đã khỏi được hai năm giờ đột nhiên tái phát. Đầu ông đau dữ dội, hai mắt hoa lên, lại thêm đau buồn quá độ nên chưa nói dứt lời đã ngất lịm đi... Không biết qua bao lâu Tào Tháo mới tỉnh lại, thấy mình nằm ở hậu đường, cơn đau đã hết. Ông cựa người, chợt nghe bên tai có một giọng nói:
— Xin minh công chớ động đậy, trên đầu ngài có kim.
— Ừ.
Tào Tháo đáp lời rồi nhắm mắt lại, nhưng chợt nhận ra người trị bệnh cho mình chính là Hoa Đà, ông ngồi bật dậy:
— Hoa tiên sinh!
Hoa Đà vội nói:
— Vẫn chưa rút kim...
Tào Tháo nào để ý nhiều như vậy, ông túm cổ tay ông ta, hỏi:
— Tiên sinh quay lại Hà Bắc khi nào? Vì sao không chữa trị cho Phụng Hiếu?
— Trên đầu ngài có kim, chớ nên cử động.
— Ta không hỏi chuyện đó. - Tào Tháo giọng đầy phẫn nộ, - Tại sao ông không chữa khỏi bệnh của Quách Gia?
Huynh đệ Tào Phi, Tào Chương, Tào Thực đều đang đứng hầu ở ngoài, nghe bên trong có tiếng nói vội chạy vào:
— Phụ thân trách nhầm Hoa tiên sinh rồi, lúc ông ấy quay lại Quách Gia đã mất.
Tào Tháo không chịu nghe lý do, vung tay đẩy Hoa Đà loạng choạng, thét lên:
— Sớm không về muộn không về, lại chọn về đúng lúc đó! Nếu ngươi không bỏ đi, Phụng Hiếu đâu đến nỗi phải chết?
Hoa Đà làm sao trả lời được? Chỉ biết khấu đầu nhận tội. Tào Phi và Tào Thực thấy phụ thân tức giận khôn nguôi, cũng quỳ xuống nói:
— Xin phụ thân bớt giận, giữ gìn quý thể.
Mấy huynh đệ Tào Hưu, Tào Bưu còn nhỏ, sợ hãi khóc ré.
— Khóc lóc cái gì, tất cả im hết cho ta! - Tào Tháo nhổ cây kim trên đầu, quay lại gặng hỏi Hoa Đà, - Chuyện của Phụng Hiếu tạm thời không nhắc tới, ngươi trị bệnh cho ta kiểu gì? Vì sao cơn đau đầu lại tái phát?
Hoa Đà hiểu rất rõ về bệnh lý:
— Chúa công tích bệnh lâu ngày, không thể chữa khỏi trong một sớm một chiều. Ngài chinh chiến vất vả, lại thêm tâm tình đau buồn nên bệnh tái phát. Tại hạ kê đơn điều dưỡng vài tháng, chắc chắn có thể...
— Thuốc thang gì hả, ta thấy rõ ràng ngươi có thể chữa được bệnh của ta bằng thuật châm cứu, nhưng vẫn không chịu dốc sức!
Tào Tháo vốn không hiểu gì về y thuật nhưng lại rất đa nghi.
— Tại hạ không dám... Châm cứu chỉ chữa được phần ngọn, không thể chữa được tận gốc.
— Đám lang băm các ngươi chỉ giỏi lòe người! - Tào Tháo càng nói càng giận, - Ta cho ngươi thời hạn một tháng, phải trị được tận gốc bệnh này. Nếu sau một tháng bệnh còn tái phát, ta ắt lấy mạng ngươi!
Chữa bệnh chứ đâu phải đánh trận, há có thể ấn định thời gian? Hoa Đà dập đầu nói:
— Bệnh của chúa công cần được chữa trị từ từ, sao có thể...
Tào Tháo thấy ông ta còn dám cãi lại, càng phẫn nộ:
— Còn lý sự nữa, ta giết ngươi ngay tức khắc! Ngươi có chịu chữa hay không thì bảo?
Hoa Đà có bản lĩnh bằng trời cũng không thể chữa khỏi hoàn toàn căn bệnh này trong vòng một tháng:
— Xin chúa công cho tại hạ thêm thời gian... Chỉ cần nửa năm nhất định có chuyển biến tốt...
Tào Phi, Tào Thực đều thấy phụ thân vì cái chết của Quách Gia mà giận lây sang người khác, ầm ĩ vô lý nhưng không biết phải khuyên giải thế nào, chợt nghe bên ngoài vọng lại tiếng trẻ con khóc oe oe - Tào Xung bế một đứa bé quấn tã bước vào:
— Phụ thân xin chớ nổi giận, người mau nhìn tiểu đệ đệ này.
— Tiểu đệ đệ? - Tào Tháo giật mình, - Ta, ta còn một đứa con nữa? - Lúc này ông mới nhớ ra trước khi xuất chinh, Biện thị đã mang thai, cũng phải đến kỳ sinh rồi.
Tào Xung đặt đứa bé vào lòng phụ thân:
— Phu nhân vì sinh tiểu đệ đệ mà ngã bệnh, may có Hoa tiên sinh cứu chữa. Mấy bữa nay ông ấy bắt mạch, sắc thuốc cho phu nhân, chịu không ít vất vả.
Chúng huynh đệ sực tỉnh: Xung nhi thật lanh lợi, biết ôm em bé tới làm nguôi cơn giận của phụ thân.
Tình phụ tử vốn lẽ tự nhiên, Tào Tháo trông thấy nhi tử, liền ném cơn giận ban nãy đi tận đâu, nghe những lời Tào Xung nói còn dần chuyển giận thành vui:
— Tốt lắm, tốt lắm... Đứa trẻ này hơi nhỏ, có tên chưa?
Tào Chương ngây ngô nói:
— Hôm qua nhi tử đi săn có bắt được một con gấu, hay gọi là Tào Hùng...
Lời này còn chưa dứt, Tào Phi vội nháy nháy mắt ra hiệu với em: phụ thân đang nổi giận, còn dám nhắc tới chuyện đi săn!
Tào Chương vội lấy tay bịt miệng, Tào Thực nói lảng sang chuyện khác:
— Mẫu thân đã lớn tuổi còn có thể sinh nở là nhờ Hoa tiên sinh kê thuốc điều dưỡng. Phụ thân nên độ lượng hơn với ông ấy!
Biện thị sinh con khi tuổi ngoài bốn mươi, cơ thể không được như trước kia nên cậu bé này từ lúc sinh ra đã yếu ớt, qua đầy tháng mà vẫn bé như con mèo. Tào Tháo nắn nắn cánh tay bé xíu của cậu bé:
— Yếu ớt quá, gọi là Tào Hùng đi. Hy vọng sau này nó sẽ khỏe mạnh hơn. - Dứt lời, ông bế trả cậu bé cho Tào Xung, - Trời đang lạnh, mau bế về cho phu nhân. Đây chính là cốt nhục trong tim nàng ấy.
— Phụ thân không trách tiên sinh chứ. - Tào Xung chớp đôi mắt nhỏ nhìn cha.
Tào Tháo đã tỉnh táo hơn nhiều, liếc mắt nhìn Hoa Đà:
— Xem ra ông đã phải chịu ấm ức, thôi bỏ đi! Hãy chăm sóc tốt cho mẹ con phu nhân trước, bệnh của ta cứ từ từ chữa.
— Dạ. Tại hạ đi sắc thuốc cho phu nhân ngay.
Hoa Đà vội vàng lui xuống, đi tới hành lang mới sực nhớ ra mình quên mang theo hộp thuốc. Ông ta lại trở vào run rẩy nhặt những cây kim vãi đầy dưới đất, để chúng chọc cả vào tay. Làm tiểu lại trong Tào phủ quả chẳng dễ dàng gì!
Tào Tháo sai nhi tử lấy bút mực, định viết tấu biểu truy phong Quách Gia. Tào Thực sợ ông mệt, xin được chấp bút thay, ông không từ chối, dựa vào thành giường đọc chậm rãi:
Thần từng nghe, việc phong thưởng trung thần, sùng đãi hiền sĩ, không cứ phải giới hạn ở bản thân kẻ ấy, nghĩ tới công trạng của họ mà có thể ban ân huệ cho cả đời sau. Ví như, Tôn Thúc[5] nước Sở, vẻ vang đến tận con cháu; Sầm Bành đã chết, tước lộc đến tận chi thứ[6]. Vua hiền ân cần với bề tôi liêm chính, thánh tổ hậu đãi với người có công cao. Cố quân tế tửu Vị Dương Đình hầu Dĩnh Xuyên Quách Gia, lập thân hành đạo, rạng rỡ tiếng tăm. Tận tâm với thần, tận sức vì nước, trung thành chính trực, học thức uyên bác, đức hạnh sáng ngời, thấu tình đạt lý. Mỗi lần nghị bàn đại sự, chín người mười ý, ông ta luôn giải quyết ổn thỏa, sách lược chẳng hề sai. Gia từ ngày nhận mệnh trong quân đã hơn chục năm, thường đi chung một xe, ngồi cùng một chiếu với thần. Đông chinh bắt Lã Bố, tây phạt diệt Huy Cố, chặt thủ cấp Viên Đàm, yên định Sóc thổ[7], vượt qua biên ải hiểm nguy, phá tan quân Ô Hoàn, uy danh chấn động Liêu Đông, treo đầu Viên Thượng trên ngọn sào. Thần chỉ cần mượn quyền uy của bệ hạ cũng dễ dàng chỉ huy, nhưng khi đối mặt với địch, sở dĩ có thể phát dương hiệu lệnh, diệt trừ hung nghịch, ấy thực là công lao của ông ta. Lần này, thần tránh được sai lầm cũng là nhờ có ông ta. Nào hay đang lúc dâng biểu ban thưởng, Gia lại bạc mệnh chết sớm, nên không thể thực hiện ý muốn tốt đẹp. Trên thì bệ hạ thương tiếc hiền thần, dưới thì thần tiếc hận vì mất đi kỳ tài. Xưa, Hoắc Khứ Bệnh đoản mệnh, Hán Vũ Đế than khóc khôn nguôi; Tế Tuân mất khi chưa hoàn thành công nghiệp, Quang Vũ Đế đau buồn nhìn quan tài. Thiên tử nhân ái ân đức, truy niệm từ tận trong tim. Giờ Gia qua đời, thực là đáng thương. Bệ hạ nên truy phong cho ông ta, tăng thêm thực ấp đủ một ngàn hộ[8], để cổ súy người đời nay, khích lệ người đời sau.
Viết xong, Tào Tháo đọc lại mấy lượt mới dần nguôi ngoai: người đã chết không nghĩ tới nữa, dù sao cũng thắng trận, phương bắc không còn khói lửa, tiếp đến phải chuẩn bị nam tiến. Nhưng còn vài việc quan trọng hơn cần được sắp xếp trước.
Tào Phi thấy sắc mặt ông đã tốt lên nhiều so với khi nãy, vui vẻ nói:
— Phụ thân đã khỏe lại, nhi tử xin ra ngoài báo với các vị đại nhân một tiếng để họ đỡ lo lắng.
— Tốt lắm, con rất hiểu chuyện. - Tào Tháo hiếm khi khen ngợi Tào Phi, - Phải biết kính trọng các đại nhân trong quân phủ. Năm sau có thể ta sẽ nam tiến đánh Kinh Châu, đến lúc đó các con đều được theo quân xuất chinh.
Tào Thực vô ý hỏi:
— Các đệ đệ đều còn nhỏ, cũng phải đi đánh trận ạ?
— Hay là ta cho chúng ra chiến trường thật? - Tào Tháo mỉm cười, - Tòng quân tích lũy công lao, trải đường cho ngày sau, bọn Xung nhi nhất định phải đi.
Huynh đệ Tào Phi suy xét lời này: Xung nhi nhất định phải đi. Xem ra trong lòng phụ thân đã ngầm xác định người kế vị.
Mơ ngôi cửu ngũ
Trên đường hồi quân, tướng sĩ luôn cảm thấy lạ lùng, bởi lẽ Tào Tháo trước nay làm việc gì cũng nhanh như gió, mạnh như sấm, nhưng lần này lại đủng đà đủng đỉnh. Giờ rốt cuộc họ đã hiểu, thì ra trước lúc xuất binh, Tào Tháo đã lệnh cho Đổng Chiêu đào một hồ nước ở mé tây bắc Nghiệp Thành, dẫn nước từ sông Chương Hà vào, gọi là “Huyền Vũ trì”, mặt khác điều một lượng lớn thuyền bè tới đây. Ông thong thả rút quân cho mọi người tranh thủ nghỉ ngơi dọc đường, về đến Nghiệp Thành, thủy quân phải bắt tay ngay vào thao luyện.
Binh sĩ Tào doanh đều là người phương bắc, vốn giỏi tác chiến ở đồng bằng hoặc vùng núi, còn đánh trận trên sông nước, sức chiến đấu giảm đi đáng kể. Mục tiêu tiếp theo của Tào Tháo là Lưu Biểu ở Kinh Châu, tiếp đến đối chọi với Tôn Quyền ở Giang Đông, nghĩa là sẽ phải dụng binh trên sông Trường Giang và sông Hán Thủy. Quân Tào không giỏi đánh dưới nước thì làm sao thắng được? Cho nên, thủy quân phải khẩn trương thao luyện. Tào Tháo chỉ nghỉ ngơi hai ngày, rồi ra Huyền Vũ trì coi việc huấn luyện, Hạ Hầu Đôn cầm cờ lệnh đích thân chỉ huy, tướng sĩ ba quân chèo thuyền dàn trận, tiến bộ rất nhanh.
Một hôm, Tào Tháo bất ngờ nhận được quân báo, Tôn Quyền lại điều binh tới Giang Hạ một lần nữa, dường có ý muốn chiếm đoạt Kinh Châu. Tào Tháo không thể để cho Tôn thị ra tay trước, vì vậy tạm dừng việc thao luyện, cho gọi bảy vị tướng quân gồm Vu Cấm, Trương Liêu, Trương Cáp, Chu Linh, Lý Điển, Lộ Chiêu, Phùng Giai tới nghe lệnh:
— Trong lúc ta viễn chinh, bỏ trống Trung Nguyên, Tôn Quyền đã dòm ngó Kinh Châu. Nay ta quyết định phái bảy người các ngươi dẫn quân về đồn trú Dĩnh Xuyên, uy hiếp quân địch ở phía đông nam.
Vu Cấm nói:
— Thủy quân chưa luyện tập kỹ càng, e là khó giao tranh với địch.
Tào Tháo đã có dự tính:
— Ta đưa bộ quân của Lưu Huân, Trương Hi, Trình Dục vào trung quân, tiếp tục luyện đánh dưới nước. Các ngươi tạm về trước, hôm sau hợp quân cùng nam tiến.
Ông còn đặc biệt dặn dò Chu Linh:
— Bộ quân dưới trướng tướng quân đều là những binh sĩ Hà Bắc mới được chiêu mộ đã phải xa quê hương bản quán, nên có thể chưa quen. Ngươi phải năng vỗ về bọn họ, không được hành động theo cảm tính.
— Rõ! Mạt tướng tuyệt sẽ không để xảy ra sai sót. - Chu Linh hùng hồn đáp.
— Giờ các ngươi cho quân rút khỏi Huyền Vũ trì, nghỉ ngơi một ngày, sáng mai bắt đầu hành quân về Dĩnh Xuyên.
Tào Tháo nghĩ rằng cách sắp xếp này rất hoàn hảo, nhưng Hạ Hầu Đôn đứng cạnh lại nói:
— Mạnh Đức, có điều này tại hạ muốn nhắc nhở ngài, nước sông Trường Giang và sông Hán Thủy khác một trời một vực với nước ao Huyền Vũ. Hai con sông đó vô cùng nguy hiểm, sóng to gió lớn, còn ao Huyền Vũ chỉ là đầm nước tù, luyện binh kiểu này liệu có hiệu quả không?
— Có luyện thêm cũng chẳng mạnh lên được. Binh mã của chúng ta không dưới mười vạn, cứ tấn công ồ ạt lại không thắng hay sao? - Tào Tháo nghĩ rất lạc quan.
Hạ Hầu Đôn vẫn còn lo lắng, đang định nói tiếp thì Đổng Chiêu và Triệu Đạt lật đật chạy lại:
— Chúa công! Có người tự ý nhặt thủ cấp của huynh đệ Viên Thượng.
Tào Tháo treo đầu huynh đệ Viên Thượng trước cửa nam để thị chúng, đồng thời hạ lệnh kẻ nào dám vái lạy sẽ bị khép là đồng đảng, tuy nhiên vẫn có nhiều người trái lệnh. Hôm qua, Khiên Chiêu áp giải những con tin Ô Hoàn về tới Nghiệp Thành, trông thấy thủ cấp treo trên tường thành, liền nhảy xuống ngựa khóc lạy chủ cũ. Tào Tháo niệm tình ông ta không biết nên không bắt tội, nay lại có kẻ không chỉ vái lạy mà còn dám lấy những thủ cấp đó xuống, ông không thể dễ dàng bỏ qua được:
— Kẻ nào dám to gan như vậy?
Triệu Đạt thêm mắm dặm muối, nói rằng:
— Chính là Điền Trù - Điền Tử Sái. Chúa công ban quan, ông ta không nhận, còn dám thu liệm tội nhân. Không trừng trị kẻ này thì không sửa chính uy nghiêm!
Nghe tên Điền Trù, Tào Tháo liền thay đổi thái độ: không có ông ta dẫn đường ra quan ngoại, ta há có thể dễ dàng thắng trận được sao? Nghĩ đoạn bèn tặc lưỡi:
— Chớ bắt ông ta vội, đưa ta đi xem thử.
Hứa Chử muốn đi theo hộ giá, nhưng bị Tào Tháo ngăn lại, ông không cho thân binh nào đi theo, chỉ dẫn hai người là Đổng Chiêu và Triệu Đạt đi qua tây môn tới nam môn, nhìn thấy chỗ treo đầu bỗng dừng lại:
— Theo ta lên thành.
— Điền Trù đang ở ngoài thành kia mà. - Đổng Chiêu cảm thấy khó hiểu.
— Ta biết. Ta có chuyện muốn nói với ngươi.
Dứt lời, Tào Tháo trèo lên lầu thành trước, binh lính giữ thành quỳ xuống vấn an đều bị ông đuổi đi hết.
Đứng trên lầu thành có thể nhìn được một khoảng rất rộng. Điền Trù mình mặc áo vải, đầu chít khăn tang, tay cầm một cây cung, vừa mới bắn rơi thủ cấp treo trên ngọn sào cao vút. Ông ta kiếm được hai mảnh vải, cẩn thận bọc chúng lại. Không ít binh sĩ lăm le binh khí vây quanh nhưng không kẻ nào dám xông vào bắt. Chúng sĩ đều biết Điền Trù có công, ngộ nhỡ bắt nhầm, Tào Tháo trách tội thì ai gánh nổi?
Triệu Đạt trông thấy cảnh này, lên giọng quát:
— Điền Tử Sái thật to gan! Ngươi...
Tào Tháo giơ tay chặn lại:
— Ông ta là nghĩa sĩ, nhớ ơn trưng vời của Viên thị năm xưa nên đi nhặt xác bọn chúng. Bỏ đi, ta thuận cho ý tốt của ông ta.
Điền Trù trông thấy Tào Tháo nhưng chỉ chắp tay qua loa về phía lầu thành, chẳng thèm nói năng gì, lại bọc tiếp thủ cấp, đeo lên sau lưng, bước thẳng tới chỗ con lừa của mình. Chúng sĩ thấy Tào Tháo mặc kệ ông ta, nào dám ngăn cản? Tất cả mở ra một lối, trơ mắt nhìn ông ta hiên ngang bỏ đi.
— Người này phẩm giá thanh cao, e là không chịu dốc sức cho chúa công. - Đổng Chiêu ngầm nhắc.
Nhưng Tào Tháo lại độ lượng:
— Thuận cho ông ta cũng là thuận cho chính mình. Ta sẽ ban cho ông ta tước hầu để cả thiên hạ biết rằng, Tháo ta là người có công ắt thưởng.
Đổng Chiêu thầm lắc đầu: người cổ quái này đến chức quan còn không muốn làm, há lại chịu nhận phong thưởng? Lại nghe Tào Tháo đổi sang chuyện khác:
— Ta đưa các ngươi lên lầu thành vì có chuyện bí mật muốn nói... Gần đây kinh sư có động tĩnh gì chăng?
Triệu Đạt tranh nói trước:
— Gần đây trăm quan trong triều đều vâng theo ý của chúa công, tập trung bàn việc sửa đổi hình luật. Chỉ có Khổng Dung ăn nói bừa bãi, kháng nghị lệnh cấm rượu. - Hắn móc ra một mảnh lụa, - Ông ta viết một phong thư, muốn tranh luận về chuyện cấm rượu với ngài nhưng bị Lệnh quân giữ lại. Tại hạ lén sao lại một bản, xin chúa công xem qua. Nếu có lời nào phản nghịch sẽ trị tội ông ta!
Khi Tào công vừa mới vào triều, dân chúng vui mừng nhảy múa, coi ngài là bậc lương đống, chẳng ngờ về sau lại không ra làm sao, tự dưng đi ban lệnh cấm rượu. Rượu có đức với con người từ lâu. Đế vương đời trước, tế lễ trời đất, cúng bái tổ tông, thỉnh cầu quỷ thần, an định nhân tâm, chỉnh trị vạn quốc, không có rượu sao làm được. Cho nên, trên trời có sao Tửu Kỳ, dưới đất có quận Tửu Tuyền, nhân gian có tửu đức. Đế Nghiêu uống nghìn chung rượu, dựng nên thái bình. Khổng Tử uống trăm bầu rượu, thành bậc thánh nhân. Không có rượu thịt thúc đẩy cơn giận, Phàn Khoái há có thể giải vây tại Hồng Môn yến. Không có chén rượu kích thích dũng khí, nô bộc nước Triệu sao có thể nghênh đón nhà vua. Cao Tổ không uống say rồi chém rắn trắng, thì đâu cử binh khởi nghĩa. Cảnh Đế không uống say rồi lâm hạnh Đường cơ, thì đâu có thời kỳ trung hưng. Viên Áng nhờ binh sĩ bị chuốc say mới có đường thoát mạng. Vu Định Quốc nhờ uống hết hộc rượu mới đoán ra tội trạng của phạm nhân. Lệ Thực Kỳ là sâu rượu Cao Dương, mới có thể lập công cho nhà Hán. Khuất Nguyên vì không uống rượu, nên mới gặp nạn tại nước Sở. Từ đó xét thấy, rượu có bao giờ hại đến việc trị lý quốc gia?
Tào Tháo vốn chẳng quan tâm việc này, thế mà đọc xong lại không khỏi tán thưởng:
— Đế Nghiêu uống nghìn chung rượu, dựng nên thái bình. Khổng Tử uống trăm bầu rượu, thành bậc thánh nhân... Cao Tổ không uống say rồi chém rắn trắng, thì đâu cử binh khởi nghĩa. Cảnh đế không uống say rồi lâm hạnh Đường cơ, thì đâu có thời kỳ Trung hưng... Khổng Văn Cử đúng là tài hoa hơn người, đến việc uống rượu mà cũng vẽ ra được lý lẽ, điển tích phong phú, câu từ bóng bẩy, khiến người ta bội phục. - Nhưng ngay sau đó lại phẫn nộ, - Tiếc là cái tài này lại không để cho ta dùng. Vừa đáng hận, vừa đáng tức, vừa đáng thương, vừa đáng tiếc! Lão phu nên làm thế nào mới được đây...
Đáng hận, đáng tức có thể hiểu được, nhưng sao còn nói đáng thương, đáng tiếc? Đổng Chiêu xét kĩ biểu hiện nhỏ của Tào Tháo, không dám nói năng khinh suất. Triệu Đạt cười gian xảo:
— Hành văn tuy hay nhưng rặt những lời giảo biện. Ông ta là hậu duệ của thánh nhân, chẳng lẽ lại không biết thiên Thượng thư - Tửu cáo[9] sao? Theo ý tại hạ, sao chúa công không mượn lời thánh hiền mà bác lại, nhân tiện sỉ nhục ông ta một trận?
— Hậu duệ của thánh nhân? - Tào Tháo dường nghĩ ra điều gì đó, định nói lại thôi, im lặng hồi lâu mới lên tiếng, - Ông ta đã phản đối việc cấm rượu thì cứ thu lại lệnh cấm, cho ông ta được uống thỏa thuê đi.
— Sao ạ? - Triệu Đạt trố mắt ngạc nhiên, không hiểu vì sao Tào Tháo quay ngoắt thái độ, - Chúa công sao có thể nhân nhượng cho kẻ lắm điều ấy được? Khổng Văn Cử mặc dù không gây nên chuyện lớn nhưng có thể mê hoặc chúng nhân. Nếu nuôi chí của người này ngày sau ắt có nhiều kẻ dám ngang nhiên bàn luận việc triều chính...
Đổng Chiêu đã nhìn ra tâm tư của Tào Tháo nên không nói gì, chỉ thầm cười Triệu Đạt không hiểu chuyện: Khổng Dung sắp rơi đầu rồi!
Thực ra, Tào Tháo ghi hận Khổng Dung đã lâu, chỉ muốn sớm giết chết ông ta. Thế nhưng, Khổng Dung nổi tiếng hiền đức, lại là hậu duệ của thánh nhân, ông cần mượn tiếng của ông ta để chiêu mộ danh sĩ nên chưa thể xuống tay được. Nay, Hoa Hâm, Vương Lãng, Trần Quần đều đã thần phục, Trương Phạm gửi thân ở Giang Đông, Bính Nguyên lánh nạn ở Liêu Đông cũng sắp vào kinh, chỉ còn bọn Trương Chiêu, Tôn Hoằng, Hứa Tĩnh chưa chịu quy phục, nhưng không phải vì bọn họ có thành kiến với Tào Tháo, mà vì họ là bè đảng cũ của Tôn thị. Nói cách khác, Khổng Dung lúc này như quả chanh đã bị vắt kiệt nước, không còn giá trị, lại còn lắm mồm nhiều chuyện thì giữ ông ta lại làm gì? Ngược lại, giết Khổng Dung có thể rung cây dọa khỉ, thị uy với những kẻ phản đối việc Tào thị tiếm quyền. Mà một khi Tào Tháo quyết định giết ông ta thì cần gì phải tính toán chuyện cỏn con là có cấm rượu hay không? Cho ông ta uống, dù sao cũng chẳng vui vẻ được bao lâu nữa.
Triệu Đạt vẫn lải nhải không dứt, Tào Tháo bực mình quát:
— Đã là mệnh lệnh của lão phu còn cần ngươi tham gia hả? Lo cho tiền đồ của mình đi!
Ông dùng bọn hiệu sự Triệu Đạt nhưng không cho phép chúng tùy tiện can dự chính sự, cứ gọi tới gọi lui như sai bảo nô bộc. Triệu Đạt hốt hoảng quỳ xuống thỉnh tội. Tào Tháo ném trả mảnh lụa cho hắn:
— Chớ đứng đây làm chướng mắt ta nữa! Đi gọi Hình Ngung tới, ta có việc giao phó cho ông ta.
Triệu Đạt len lét rời đi. Tào Tháo quay người nhìn ngoài thành, lúc lâu sau mới lầm rầm nói:
— Sĩ dân quy thuận, ngoại phiên hàng phục, bước tiếp theo nên làm gì?
Đổng Chiêu cẩn trọng nói:
— Thao luyện thủy quân, sớm ngày nam tiến.
— Chuyện đó còn cần ngươi nói sao? - Tào Tháo không quay đầu lại, nói tiếp, - Giờ chỉ còn lại hai chúng ta, lời từ miệng ngươi sẽ vào tai ta, còn giả bộ hồ đồ gì chứ?
Tất nhiên Đổng Chiêu thừa biết “bước tiếp theo” ở đây ám chỉ điều gì, nhưng vì liên quan đến đại kỵ trong mối quan hệ quân thần, nên ông ta không dám chủ động bàn nghị. Giờ nghe Tào Tháo chịu nói rõ ra, ông ta không còn kiêng dè gì nữa:
— Chúa công thống nhất phương bắc, phế bỏ tông quốc của Lưu thị mới chỉ là một bước đi rất nhỏ. Theo ý tại hạ, có hai việc nên xem xét.
— Hai việc nào?
— Mở rộng Nghiệp Thành, tấn thăng chức quan. - Đổng Chiêu nói toạc ra.
Việc mở rộng Nghiệp Thành mà ông ta nói tới không đơn thuần chỉ là tu bổ, mà ngầm chỉ Tào Tháo phải xây dựng thành quốc đô của Tào thị. Thay đổi hoàng đế thì cũng phải thay đổi quốc đô, một là thể hiện mọi thứ đều mới cả, hai là thoát ly trung tâm chính trị trước đó. Hứa Đô vốn chỉ là một huyện nằm trong quận Dĩnh Xuyên, dù đã không ít lần sửa sang, mở rộng nhưng vẫn chưa đủ uy nghiêm. Lạc Dương nhiều năm chìm trong khói lửa, thành trì đổ nát, dân chúng thưa thớt, muốn khôi phục hiện trạng trước kia cần mất rất nhiều thời gian. Còn Trường An lại quá xa Quan Trung, hào cường hoành hành, bách tính nghèo đói, cũng không thích hợp. Xét đi xét lại, chỉ có Nghiệp Thành đất đai rộng rãi, nhân khẩu đông đúc, chữ “nghiệp” trong Nghiệp Thành lại đồng ấm với chữ “nghiệp” trong đại nghiệp. Hơn nữa, Ngụy quận còn ứng với lời sấm vỹ “Đại Hán giả, đương đồ cao.[10]” Từ khi Tào Tháo bình định Hà Bắc, Nghiệp Thành là đại bản doanh mới, ông không chỉ lấy thân phận là Ký Châu mục để bổ nhiệm một loạt phụ tá, còn đưa cả gia quyến tới đây mà chẳng thèm ngó ngàng phủ Tư không ở Hứa Đô. Bởi vì ở Hứa Đô, trên đầu ông còn một thiên tử, dẫu là bù nhìn nhưng lúc nào cũng vẫn phải ra vẻ cung kính, còn ở Nghiệp Thành ông có thể tự tung tự tác, ngay đến Tuân Úc cũng chẳng làm gì được. Xét từ góc độ nào, Nghiệp Thành cũng là lựa chọn phù hợp nhất cho vị trí quốc đô mới.
— Nói những lời ấy bây giờ có vẻ còn quá sớm. - Tào Tháo nói giọng ngập ngừng.
Đổng Chiêu đã sớm nghĩ ra lời đáp lại:
— Chúa công đã dẹp yên phương bắc, lại chuẩn bị nam phạt Kinh Châu, tiễu trừ Giang Đông, ngày thiên hạ thái bình đến nhanh như cái chớp mắt. Việc gì cũng phải tính trước mới thành, không tính trước ắt hỏng, vì vậy ta nên sớm chuẩn bị.
— Ngươi nói có lý. Thế nhưng Lạc Dương đang tiến hành tu bổ, tốn kém không ít. Việc mở rộng Nghiệp Thành cũng cần đến một số tiền lớn, trong khi phương bắc vừa mới ổn định, thuế khóa của Ký Châu lại giảm xuống rất thấp, dựng nhiều công trình như vậy một lúc... Ây dà, xem ra lão phu phải lấy gia tài của mình ra.
Gia tài của Tào Tháo chỉ của cải ông thu được từ phong ấp. Ông có công nghênh đón thiên tử, được phong là Vũ Bình hầu, ấp phong một vạn hộ, về sau nhiều lần lập công lớn, liên tiếp được gia phong, hiện đất phong gồm bốn huyện Vũ Bình, Dương Hạ, Chá, Khổ với ba vạn hộ. Đúng là phú ông bậc nhất thiên hạ. Thế nhưng, ông luôn sống rất giản dị, tiết kiệm chi dùng, gần như chưa hề động đến chỗ của cải này, phần ông chia cho các tướng sĩ trong lần xuất chinh trước chẳng đáng gì. Gia tài khổng lồ ấy cộng với số của cải ông lấy được khi đào mộ Lương vương và tiếp quản kho phủ của Viên Thiệu thừa sức xây thành, chưa kể triều đình cũng không thể không bỏ ra một xu nào. Viên Thiệu, Viên Thuật cũng từng là phú hào, nhưng lại đem cho quá nửa gia tài, còn Tào Tháo có bao nhiêu đều để dành đến lúc thật cần thiết. Đó là một kiểu thông minh, cũng là “truyền thống” của Tào thị. Năm đó, phụ thân ông là Tào Tung một mặt vơ vét của cải, mặt khác sinh hoạt tiết kiệm nên mới có thể chi một ức vạn[11] quan tiền mua chức Thái úy. Tào Tháo cũng thừa hưởng cách tiêu tiền của cha.
Đổng Chiêu nghe ông nói vậy, trong bụng cảm thấy nực cười: tục ngữ có câu “nhà giàu keo kiệt”, tất nhiên lần này ngài phải bỏ ra không ít tiền, nhưng lại thu được cả thiên hạ. Song ông ta vẫn nói nịnh:
— Để chúa công phải bỏ tiền riêng, bỉ chức thấy thực áy náy.
— Vậy giao cho ngươi giải quyết đấy. Hãy mời những tay thợ giỏi tới bàn bạc, trước hết tạm phác thảo bản vẽ cho ta xem. - Bàn xong chuyện này, Tào Tháo vân vê chòm râu, chợt dừng lại nói, - Ban nãy ngươi còn nói tới việc tấn thăng chức quan. Lão phu đã ở ngôi Tam công, có quyền cầm tiết việt, lẽ nào vẫn chưa phải quan to?
— Chúa công làm quan Tư không, cấp bậc tối cao, nhưng dù sao vẫn giống trăm quan. Cổ nhân nói: “Tước vị không cao, thì dân không kính; bổng lộc không hậu, thì dân không tin.” Chỉ khi ngài đứng trên trăm quan mới dựng được uy danh trùm trời, phải... - Đổng Chiêu ngưng lại tìm lời, - Phải xác định danh phận cho ngày sau, mọi việc mới như nước đổ thành sông.
— Chức Tư không chưa thể đứng ra hiệu lệnh thiên hạ, vậy phải kiếm địa vị nào?
— Công lao phò tá triều đình, lập lại xã tắc của ngài sánh ngang với các bậc vương công đời trước. Nay binh đao mới dứt, không tiện xin thiên tử phá lệ phong vương cho người ngoài họ Lưu. Chi bằng, giữ ngôi Thừa tướng trước, rồi bước dần lên tước vương.
— Thừa tướng?
Ngay đến bản thân Tào Tháo cũng giật nảy mình.
— Không sai, cần phải bãi bỏ chế độ Tam công, khôi phục phép tắc triều trước. Chúa công một mình ở ngôi Thừa tướng, thâu tóm mọi việc trong thiên hạ. Văn võ bá quan nghiễm nhiên đều là thuộc hạ của ngài, ngài có thể trực tiếp cắt cử quan lại tại các quận huyện, tấu sớ dâng lên cũng không cần thông qua các vị Thượng thư.
Đổng Chiêu muốn nói đến chế độ cho Thừa tướng, Thái úy và Ngự sử đại phu cai quản trăm quan, có trước chế độ Tam công. Trong đó, Thừa tướng quản lý tất cả chính vụ, Thái úy nắm việc quân nhung, còn Ngự sử đại phu là phó Thừa tướng, phụ trách giám sát quan lại. Bởi vì chế độ này đe dọa quá lớn đến quyền lực của nhà vua, cho nên từ sau đời Hán Vũ Đế, triều đình đặt ra quan Thượng thư để chia nhỏ quyền lực. Đến đời Quang Vũ Đế trung hưng nhà Hán thì bỏ hẳn chức Thừa tướng và Ngự sử đại phu, đổi thành chế độ Tam công gồm Thái úy, Tư đồ, Tư không, đưa hết mọi quyết sách và chính lệnh về Thượng thư đài, nếu Tam công không kiêm quản chức vụ của Thượng thư thì không có chút quyền lực nào. Sở dĩ Tào Tháo là Tư không mà vẫn có quyền can dự chính sự là do ông kiêm chức “Lục thượng thư sự”, có thể sai phái Thượng thư lệnh Tuân Úc và kiểm soát Thượng thư đài. Việc khôi phục chức Thừa tướng chẳng khác nào thoát ly quan lại, giúp Tào Tháo có quyền nhúng tay vào mọi việc, không gì không làm được, chỉ thiếu mỗi danh phận là thiên tử. Đáng nói là chế độ cũ có ba chức quan Thừa tướng, Thái úy, Ngự sử đại phu, nhưng Đổng Chiêu không hề đề cập tới. hai chức vị kia, như muốn ám chỉ rằng Tào Tháo chỉ cần lập lại chức Thừa tướng, còn không cần thiết tái lập những chức vị khác. Trên danh nghĩa là khôi phục chế độ cũ, nhưng thực tế là biến tướng của việc tập trung quyền lực vào một người.
— Thừa tướng, Thừa tướng... - Tào Tháo lẩm bẩm mấy lần, bỗng cau mày nói, - Không hiểu sao vừa nhắc tới chức Thừa tướng, ta lại nhớ chuyện năm xưa Đổng Trác tự xưng là Tướng quốc. Ta làm vậy liệu có ai đem ra so với Đổng Trác không?
Đổng Chiêu nói vẻ hùng hồn:
— Đổng Trác là hung đồ bạo ngược, còn chúa công trừ gian diệt ác, cứu dân đen thoát khỏi bể khổ, so với ngài có khác gì lấy bùn đọ tuyết, sao có thể đánh đồng?
Lấy bùn đọ tuyết hay đánh đồng đều được, dẫu sao cũng chẳng khác gì nhau. Tào Tháo thấy bước đi này quá lớn nên có chút hụt hẫng. Ông ngần ngừ một lát, thở dài nói:
— Tam lược nói “Thích cận mưu viễn giả, lao nhi vô công”[12], binh đao chưa tắt mà đã chiếm địa vị cao, thử hỏi người trong thiên hạ nghĩ như thế nào?
Đổng Chiêu không phủ nhận cách nghĩ của ông, chỉ lựa lời nói:
— Cổ nhân có câu: “Bất đăng sơn cao, bất tri thiên chi cao, bất lâm thâm khê, bất tri địa chỉ hậu. Đăng cao nhi chiêu, tý phi gia trường, nhi kiến giả viễn; thuận phong nhi hô, thanh phí gia tật, nhi vắn giả chương.”[13] Chúa công không ở địa vị tôn quý, làm sao quỵ tụ nhân tâm để bình định thiên hạ? Xưa, Tề Hoàn Công nhiều lần hội họp các chư hầu, giúp cho thiên hạ thái bình, đó đều là nhờ công của Quản Trọng. Quản Di Ngô phò tá vua một nước chư hầu làm nên nghiệp bá, thế mà còn được ở ngôi Tể tướng. Chúa công phò tá thiên tử, giữ gìn cơ nghiệp của đương kim hoàng đế, còn không xứng làm Thừa tướng hay sao?
Lời này thực khéo léo, rõ ràng hai người đang âm mưu đưa Tào thị lên thay nhà Hán, nhưng Đổng Chiêu lại giải thích là Tào Tháo có công với Hán thất. Điều này cũng ngầm nói với Tào Tháo rằng: Thiên hạ do ngài phù trợ, việc ngài lên làm Thừa tướng hay bất cứ hành động nào của ngài sau này đều hợp tình hợp lý.
Tào Tháo ngây ra một lúc, rồi nói:
— Công Nhân này, bữa trước Tang Bá sai người dâng tặng bào ngư, ta chia cho mọi người, ông cũng có phần chứ?
— Dạ? - Đổng Chiêu không hiểu vì sao ông lại nói chuyện tầm phào, trong lòng lấy làm lạ song vẫn phải đáp lại, - Đa tạ chúa công. Bỉ chức cũng được nếm thử.
— Bào ngư rất ngon, lại tốt cho sức khỏe. Nhưng ta đang nghĩ, mang cho bọn võ phu như Diêm Nhu ăn trông sẽ khó coi thế nào? - Tào Tháo quay đi chỗ khác, trên mặt lộ ý vui vẻ nhưng lại nhấn giọng, - Miếng ngon mà bốc bải, liệu có bị coi là khiếm nhã chăng?
Hai mắt Đổng Chiêu chợt sáng lên như đã hiểu ra ngụ ý: Tào Tháo có thể làm Thừa tướng, nhưng muốn đặt lại chức Thừa tướng, trước hết phải bãi bỏ chế độ Tam công. Ở Hứa Đô còn một vị Tư đồ Triệu Ôn đấy! Tuy rằng ông ta là nhân sĩ đất Thục, không có vây cánh, hiền lành ba phải nhưng cũng không dễ đạp đổ. Không có lý do chính đáng mà bãi miễn Triệu Ôn, dân chúng và triều đình hẳn sẽ dị nghị, từ đó lại có nhiều người bàn tán; còn ngầm ép ông ta chủ động xin từ chức cũng không ổn, bởi ai cũng hiểu là ông ta bị Tào Tháo bức ép. Làm thế nào bãi miễn Triệu Ôn mà không bị chỉ trích? Muốn đưa miếng ngon vào miệng nhưng cũng phải giữ hình tượng tao nhã.
Tào Tháo nhìn ra đằng xa, thở ngắn than dài:
— Phụng Hiếu còn sống thì tốt biết mấy? Có ai giỏi bày mưu tính kế bằng ông ta? Người nào cũng không dùng được...
Đổng Chiêu nghe vậy thì cảm thấy chua chát, ông ta vắt óc suy nghĩ một hồi, đột nhiên quỳ xuống:
— Bỉ chức bất tài, xin được hoàn thành việc này thay chúa công!
Con người ta phải bị dồn vào thế bí mới có thể phát huy tài năng, Tào Tháo đang đợi câu này của ông ta, vội quay lại cười nói:
— Ngươi có cách gì?
— Chúng ta làm như này... - Đổng Chiêu bò dậy nói nhỏ vào tai Tào Tháo.
Tào Tháo nghe xong gật gù:
— Cách đó rất hay, nhưng phải cẩn thận. Nếu lộ ra ngoài, không những làm mất mặt lão phu mà còn hủy hoại danh tiếng của ta.
— Bỉ chức nhất định cẩn thận, sau khi quay về Hứa Đô bỉ chức sẽ đi gặp Tuân Lệnh quân trước...
Đổng Chiêu chưa nói hết câu lại nghe sau lưng vọng lại tiếng bước chân. Triệu Đạt dẫn Hình Ngung lên lầu thành, theo sau còn có Lý Điển. Tào Tháo đằng hắng một tiếng, cố ý cao giọng nói với Đổng Chiêu:
— Ngày mai ngươi trở về Hứa Đô nói lại việc truy phong Quách Gia, chuộc Sái Diễm với Tuân lệnh quân. Tất cả giao hết cho ngươi, đã hiểu chưa?
— Rõ! - Đổng Chiêu biết ông không thể nói toạc ra trước mặt chúng nhân, hai từ “tất cả” ở đây cũng ngầm bao hàm cả kế sách của ông ta.
— Còn nữa... - Tào Tháo móc từ ống tay áo ra một mảnh lụa, nhét vào tay Đổng Chiêu, - Đây là thư ta viết cho Lệnh quân, ngươi phải đưa tận tay ông ta. Lui xuống đi.
— Dạ.
Đổng Chiêu thi lễ cáo lui, khi đi qua ba người Hình Ngung, chỉ hơi mỉm cười chứ không nói gì. Tào Tháo cũng cười hiền:
— Sao Mạn Thành cũng tới vậy? Việc dời quân về Dĩnh Xuyên gặp trở ngại gì chăng?
Lý Điển vẻ mặt nghiêm túc, tay giữ chặt một quyển trúc bọc gấm, tiến lại trước mặt Tào Tháo, đoạn quỳ sụp xuống dâng quyển trúc lên quá đầu:
— Mạt tướng xin dâng vật này lên chúa công.
Tào Tháo nói đùa:
— Ta từ lâu đã nghe ngươi ở trong quân không quên việc học, chẳng lẽ đây là thi văn ngươi viết sau khi miệt mài đọc sách?
— Mạt tướng để chúa công phải chê cười. Đây là danh sách người nhà họ Lý của mạt tướng ở các huyện Duyện Châu, tất thảy hơn ba ngàn hộ. Mạt tướng xin được đưa người trong tộc tới Nghiệp Thành, dốc sức cho chúa công!
Lý Điển có tài học, hiểu biết hơn nhiều so với bọn Nhạc Tiến, Trương Liêu. Lý thị ở các huyện Thừa Thị, Cự Dã được rất nhiều người ủng hộ, từng giúp Tào Tháo đánh đuổi Lã Bố. Nhưng hiện nay Tào Tháo không cần sự giúp sức của hào cường, trái lại còn để phòng Lý thị có thể trở thành một mầm họa. Lý Điển suy nghĩ nhiều ngày, ngay đến bọn Tang Bá cũng muốn đưa gia quyến tới làm con tin, sao ông ta có thể kháng lại? Chỉ khi giải trừ thế lực riêng mới cởi bỏ được những nghi kỵ trong lòng Tào Tháo.
Tào Tháo nhận quyển trúc, cân nhắc kỹ lưỡng, một cuốn thẻ tre bé tí mà lại khiến ông có cảm giác nặng trĩu tay. Đúng là có phân lượng không nhẹ! Ba ngàn hộ đó là những tá điền của Lý thị, không phải nộp thuế ruộng, không phải đi lao dịch, nhưng nếu dời đến Nghiệp Thành, họ sẽ trở thành những thường dân có hộ tịch. Lý Điển dâng quyển trúc này chẳng khác nào dâng ba ngàn hộ nộp thuế, ba ngàn hộ sung lính cho Tào Tháo, từ nay không còn cường hào họ Lý từng tung hoành một thời!
Tào Tháo nhìn Lý Điển, có phần cảm phục trước kiến văn và khí phách của ông ta:
— Lẽ nào ngươi muốn học theo Cảnh Thuần?
Cảnh Thuần là danh tướng phò tá Lưu Tú thời trung hưng, Lưu Tú vâng lệnh Canh Thủy đế dẹp loạn Hà Bắc đúng lúc Vương Xương tạo phản tại Hàm Đan, huynh đệ Cảnh Thuần đã xin đi theo Lưu Tú. Nhưng lúc bấy giờ, thế lực của Lưu Tú còn mỏng, Cảnh Thuần sợ người trong gia tộc nảy sinh ý khác nên phóng hỏa đốt sạch nhà cửa trong cả họ, cắt đứt ý nghĩ quay đầu lại của mọi người, để họ một lòng phụng sự Lưu Tú. Tào Tháo đem Lý Điển so với Cảnh Thuần là có ý khen ngợi.
Lý Điển dè dặt nói:
— Mạt tướng ngu hèn, công nhỏ nhưng lại nhận được quá nhiều ân sủng và phong thưởng, nên phải đem cả tộc dốc toàn lực cho chúa công mới an tâm. Hơn nữa, mạt tướng nghĩ hiện giờ binh đao chưa dứt, cần phải củng cố Nghiệp Thành để bảo vệ vùng đất phụ cận kinh đô, lấy đó chế ngự bốn phương, chứ mạt tướng có tài đức gì mà đòi học theo danh tướng tiền triều?
Thúc phụ của Lý Điển là Lý Càn vì Tào Tháo mà chết, ông ta có thù với Trương Liêu nhưng không thể báo, còn quyên tăng lương thảo cho quân đội trong trận Quan Độ, giờ lại đem cả gia tộc ra cống hiến. Bất cứ sự phong thưởng nào vào lúc này cũng là quá nhỏ, Tào Tháo không giả bộ vờ vịt, trầm ngâm một lát, than rằng:
— Đã vậy, lão phu xin thu nhận. Xét tới công lao này, ta thăng ngươi làm Phá Lỗ Tướng quân.
— Tạ ơn chúa công!
Tiếng tạ ơn của Lý Điển chứa nhiều cảm xúc vui buồn lẫn lộn. Tào Tháo vỗ vỗ vai ông ta, nói lời sâu xa:
— Cảnh Thuần phò tá Quang Vũ Đế làm nên nghiệp đế, được xếp vào hàng công thần ở gác Vân Đài[14]. Mạn Thành tuổi còn trẻ, tiền đồ như gấm, chỉ cần chịu khó hơn nữa, tước lộc sau này có thể vượt qua tiền nhân.
Lý Điển thông minh, vừa nghe đã hiểu:
— Mạt tướng dốc sức cho chúa công, dù chết vạn lần cũng không từ.
Hình Ngung đứng cạnh liền khen:
— Chúa công hậu đãi Lý tướng quân, Lý tướng quân tận tâm tận lực phò tá ngài, đúng là chúa sáng tôi hiền. Bỉ chức xin chúc mừng chúa công đã nhìn ra lương tướng, cũng chúc mừng Mạn Thành có được minh chủ!
Triệu Đạt liếc mắt nhìn ông ta: xu nịnh hơn cả ta, còn nói là ẩn sĩ gì chứ? Tào Tháo xua xua tay:
— Hình tiên sinh quá khen, lão phu cho gọi tiên sinh tới vì có việc muốn báo. Lão phu đã viết xong biểu chương nhận mệnh tiên sinh làm Huyện lệnh Quảng Tông.
— Tạ ơn chúa công cất nhắc.
Hình Ngung vô cùng hoan hỷ. Người lọt vào mắt xanh của Tào Tháo đều phải xuống các địa phương làm Huyện lệnh hoặc Quận thú, rèn giũa hai ba năm rồi sau mới được điều về giao cho những chức trách quan trọng. Huyện Quảng Tông nằm trong quản hạt của Ký Châu, Hình Ngung lại là người Hà Bắc, rất dễ thi triển tài năng, đó là ý Tào Tháo đặc biệt sắp xếp.
— Còn một chuyện nữa. - Tào Tháo chỉ ra ngoài thành, - Điền tiên sinh vừa mới nhặt đầu Viên Thượng, Viên Hi.
Hình Ngung bỗng giật nảy mình: Tào Tháo đã ban quân lệnh “Kẻ nào trong quân dám khóc thương phản tặc sẽ bị chém đầu ngay tức khắc”, hôm qua Khiên Chiêu khóc lạy, phạm vào quân lệnh, may là Tào Tháo đặc cách không trách tội. Thế mà Điền Trù không chỉ vái lạy, còn tự ý thu liệm huynh đệ Viên thị, chẳng phải cố tình đối nghịch với Tào Tháo ư?... Ông ta hốt hoảng nói đỡ:
— Năm xưa cha con Viên Thiệu từng trưng vời huynh ấy, tuy rằng huynh ấy không nhận chức nhưng cũng có chút ân tình. Dù sao việc Viên thị truy sát Công Tôn Toản cũng giúp Tử Sái huynh rửa được mối thù cho Lưu Ngu. Xin chúa công nghĩ đến tấm lòng trung nghĩa của huynh ấy mà rộng lượng khoan thứ.
— Tử Ngang coi thường ta rồi. - Khi danh phận người trên, kẻ dưới đã phân định, Tào Tháo gọi thẳng tên tự của ông ta, đến hai từ “tiên sinh” cũng chẳng thấy đâu nữa, - Ta không có ý trách cứ, chỉ muốn nhờ ngươi chuyển lời đến ông ta.
— Chúa công có gì dạy bảo?
— Không phải dạy bảo, hãy thay ta cảm tạ Điền Trù. Ông ta có công đầu trong việc dẹp giặc khi dẫn đường ra quan ngoại, ta quyết định dâng tấu xin phong ông ta làm Đình hầu.
— Bỉ chức xin thay Tử Sái huynh đa tạ chúa công.
— Còn nữa, - Tào Tháo chuyển ý, - Hình như ông ta không muốn làm quan, ngươi thay ta khuyên nhủ một chút. Ông ta lập công lớn như vậy mà không ra làm quan, người biết thì khen ngợi ông ta thanh tâm quả dục, còn kẻ không biết lại tưởng rằng lão phu không biết trọng dụng nhân tài! Có công ắt thưởng, có tội ắt phạt là quy định của triều đình, không phải việc ông ta có thể tùy ý xoay chuyển, ta cũng vậy. - Nói đến đây, Tào Tháo ngẩng đầu nhìn sắc trời, - Sắp tới chính ngọ, lão phu còn phải đến Huyền Vũ trì xem xét... Tóm lại, ngươi nói với Điền Trù, có thể chọn làm Quận thú, Huyện lệnh tại đất Ký Châu, U Châu. Còn nếu không thích mấy công việc bình thường ấy, cũng có thể cân nhắc vào kinh nhận chức Thị trung, Nghị lang nào đó. Nhưng tuyệt đối không được phụ lại ý tốt của lão phu!
Mỗi người một đường
Hình Ngung nhận lời phân phó của Tào Tháo, cơm trưa cũng không kịp ăn, vội vàng chạy đi báo tin cho Điền Trù, nhưng tìm khắp trong ngoài thành nửa ngày vẫn chẳng thấy tăm hơi ông ta đâu. Lúc này, ông mới chợt nhớ ra chuyện Điền Trù nhặt đầu Viên Thượng, Viên Hi, liền chạy tới phần mộ của Viên Thiệu, cách Nghiệp Thành mười sáu dặm về phía tây bắc. Quả nhiên trông thấy Điền Trù đang quỳ gối đắp đất cho hai nấm mộ thấp lè tè.
— Tử Sái huynh đúng là muốn chôn huynh đệ Viên thị trước mộ Viên Thiệu. - Hình Ngung nhảy xuống ngựa, nói giọng châm chọc, - Viên Bản Sơ trưng vời huynh, nhưng huynh chưa từng xuống núi phò tá hắn, sao phải đối đãi tử tế với cha con hắn?
Điền Trù không đáp lại, cố ém đất thật chặt, đứng lên nhìn mộ Viên Thiệu. Khu mộ lớn đó cao hơn ba trượng, vừa dài vừa rộng, trông hoàn toàn đối lập so với hai nấm mồ bé tẹo phía dưới. Điền Trù đứng ngây ra hồi lâu mới lẩm bẩm nói:
— Ta không phải vì nhớ tới ân tình năm xưa của Viên thị, mà chỉ cảm khái trước nhân tình thế thái. Viên Bản Sơ gieo giống tốt thu hạt lép, thói đời thay đổi quá nhanh, chỉ mong sao những người đã bị giết được yên nghỉ khi nằm trong lòng đất...
— Huynh trưởng hà tất phải thương cảm những kẻ không liên quan tới mình? - Hình Ngung tươi cười, - Nói cho huynh biết một tin tốt, Tào công chuẩn bị dâng tấu phong huynh làm Đình hầu, hưởng thực ấp năm trăm hộ. Huynh sắp thành người có tước vị rồi đấy! Ngài ấy còn nhờ đệ nói lại, huynh có thể tùy ý làm Quận thú tại quận nào cũng được, còn nếu muốn có thể vào triều nhận chức Thị trung. Tiểu đệ vất vả như thế mà chỉ được làm Huyện lệnh, đủ thấy Tào công đặc biệt ưu ái Điền huynh!
Điền Trù lắc đầu, chỉ vào một thân cây cạnh phần mộ. Ở đó đang buộc con lừa nhỏ màu đen, trên lưng nó có túi nải đựng tất cả đồ đạc của ông ta khi xuống núi.
— Huynh muốn về núi Từ Vô?
— Hình Ngung không khỏi kinh ngạc.
— Đúng vậy, ta đi ngay đây. Đời này sẽ không bước vào Tào doanh nửa bước nữa.
— Vì chuyện giết người trên đường hành quân sao? Chúng ta đã đánh giặc xong, huynh còn tính toán chuyện đó làm gì? Tào công ban tước hầu cho huynh là có lòng tốt, thật tâm thật ý muốn báo đáp huynh. Vả lại, huynh lập công rõ rành, có gì phải hổ thẹn đâu mà một mực từ chối?
— Ta sao có thể đem ải Lô Long ra đổi lấy phú quý? - Điền Trù thở dài, - Ta đã không còn muốn tiến vào đường sĩ hoạn, trong mắt ta quan cao lộc hậu, phong hầu tấn tước gì đó đều như đống phân. Bậc chí sĩ không uống nước đi lấy trộm về, người liêm chính không ăn của được bố thí. Ta chỉ muốn làm một bách tính bình thường, quay về trong núi sống yên ổn nốt phần đời còn lại, không muốn nhảy vào hố nước đục này nữa.
— Huynh nghĩ mình muốn đi là đi được sao? - Hình Ngung nói rõ thiệt hơn, - Chuyện huynh trưởng có công dẫn đường, cả thiên hạ đều biết. Nếu huynh không nhận phong thưởng, người ta hẳn sẽ nói rằng Tào Tháo không thưởng cho người có công, thực thiếu nhân đức. Việc này liên quan tới danh dự, há ngài ấy lại dễ dàng thả huynh đi? Huống hồ U Châu nay đã an định, không thể sống trong sơn thôn được nữa, một khi triều đình ban lệnh di dời, huynh có thể trốn trong đó không ra sao? Không tin huynh thử đi xem, chỉ e huynh vừa về đến núi Từ Vô, chính lệnh của quận huyện kêu gọi toàn thôn dời đến Nghiệp Thành cũng truyền tới nơi, lúc đó huynh có thể làm được gì?
— Làm được gì... - Điền Trù buồn bã cúi đầu, đúng như Hình Ngung nói, ông ta không thể thoát khỏi lòng bàn tay của Tào Tháo, - Dù cho có phải dời đến Nghiệp Thành, ta cũng chỉ làm người dân áo vải, quyết không ra làm quan.
— Huynh nói nghe dễ lắm, Tào công ắt sẽ nghĩ cách lôi kéo huynh thôi. Những danh sĩ như Trương Kiệm, Trần Kỷ, Hoàn Điển vị nào cũng chỉ muốn làm một bá tánh bình thường, nhưng cuối cùng chẳng bị ép ra làm quan đó sao? Tới Bính Nguyên, Quản Ninh, Vương Liệt ở mãi quận Liêu Đông xa xôi mà ngài ấy còn trưng vời, liệu huynh trưởng có trốn tránh được không?
Điền Trù biết rõ có tránh cũng không tránh được, bèn cắn răng hạ quyết tâm:
— Thực sự không tránh được thì còn con đường chết!
Hình Ngung vẫn muốn khuyên tiếp, nhưng nhìn Điền Trù tỏ vẻ kiên quyết không đổi, ông chỉ biết thở dài, nói:
— Chúng ta đã có giao tình hơn chục năm, luận về tài học, mưu trí hay phẩm hạnh của huynh trưởng, tiểu đệ đều vô cùng bái phục, lẽ nào huynh không thể thử sửa cái tính ngang ngạnh một mực ấy sao? Dù huynh giữ mình cao khiết thì làm quan cũng không phải chuyện xấu, bởi chưa chắc đã đi ngược lại với nhân nghĩa. Sao huynh không chịu nghĩ thông?
Điền Trù lắc đầu quầy quậy:
— Muốn biết việc làm quan có đi ngược lại với nhân nghĩa hay không, còn phải xem mình dốc sức cho người nào đã.
— Dốc sức cho Tào công, khôi phục thiên hạ của nhà Hán, chẳng lẽ không tốt?
— Khôi phục thiên hạ của nhà Hán? - Điền Trù cười nhạt, - Tử Ngang hiền đệ, đệ không phải người ngu muội. Tào Tháo rốt cuộc muốn làm gì, đáng lẽ đệ phải hiểu rõ chứ? Đệ thực sự không nhìn ra, hay là đang tự lừa mình dối người?
Câu này đánh trúng vào điểm yếu của Hình Ngung - Ông đã ở trong Tào doanh hơn một năm, há lại không nhìn ra Tào Tháo muốn cướp giang sơn nhà Hán? Đúng như lời Điền Trù, ông chỉ không muốn thừa nhận mà thôi. Bởi lẽ, ông làm duyện thuộc của Tào Tháo là hoàn toàn được lợi, tiền đồ sau này vô cùng rộng mở. Nhất là Tào Phi đang tuổi xuân thu đỉnh thịnh, lại rất tán thưởng ông, đó là cơ duyên tốt nhường nào? Đứng giữa lợi ích và tiết tháo, sau cùng Hình Ngung vẫn chọn cách chôn sâu nỗi hổ thẹn với vương triều của Lưu thị xuống đáy lòng, coi như không biết gì về những âm mưu, dối trá. Ông không còn là nhân sĩ thanh cao từng ở ẩn trong núi Từ Vô năm nào, mà đã bị cuốn vào vòng xoáy của quyền lực và dục vọng, không thể quay đầu lại được nữa.
Điền Trù thu lại vẻ chế giễu, chỉ bình thản nói:
— Chớ làm những việc chẳng nên làm, chớ muốn những điều chẳng nên muốn. Ta đã không khuyên được đệ quay đầu, vậy đệ cũng không cần níu giữ ta ở lại. Có điều, ngu huynh vẫn muốn cho đệ một lời khuyên chân thành, sau này ở trong Tào doanh phải hết sức cẩn trọng. Lúc đầu ta bảo đệ đi thăm dò đức hạnh của Tào Tháo, đệ hồ đồ bênh vực ông ta. Nay ta nhắc nhở đệ: Tào Mạnh Đức là kẻ bạc ác, vô tình, nham hiểm, xảo trá!
Hình Ngung giật mình kinh sợ, lắp bắp nói:
— Không đến nỗi như huynh trưởng nói chứ. Nếu đúng như vậy, làm sao ngài ấy có thể đánh bại Viên Thiệu, hùng cứ phương bắc? Nhân chi sơ tính bản thiện, còn có những chỗ bất thiện là do chịu ảnh hưởng từ bên ngoài.
— Con người sẽ thay đổi theo hoàn cảnh. Trước đây, ta và đệ cùng ẩn cư trong núi sâu, làm sao biết được sẽ có ngày hôm nay mỗi người đi một đường? - Trong lời nói của Điền Trù chứa đầy vẻ tiếc hận, - Năm xưa, Tào Tháo cử binh xuất phát từ điều nghĩa, nên chí sĩ trong thiên hạ đều tương trợ ông ta. Nay, ông ta dòm ngó kim loan, còn có được nhân tâm quy tụ như trước không? Còn siêng năng mẫn cán, rộng rãi tiếp nhận ý kiến của chúng nhân không? Cố chấp xuất chinh, bắt dân chúng đục băng, thông đường vận lương, giết người qua đường vô tội, một phép lệnh trái ý dân thì trăm phép lệnh đều mất tác dụng, thực thi một điều ác ắt sẽ kết thành trăm trái đắng. Kinh dịch có câu: “Tích thiện chi gia, tất hữu dư khánh; tích bất thiện chi gia, tất hữu dư ương.”[15] Ta thấy Tào Tháo đã hết tích điều thiện, còn liên tục làm điều bất thiện, ngày sau ắt chuốc lấy tai họa. Cổ nhân thường nói như thế nào về thiên mệnh? Phải biết rằng con người không thể lấy việc làm tốt đẹp của mình để cảm động ông trời, thì ông trời cũng không thể báo ứng con người bằng những việc tốt đẹp ấy!
Những lời này khiến Hình Ngung bàng hoàng, không còn lời nào đối lại.
— Ta đã nói đã đến mức này, hiền đệ hãy tự định liệu.
Điền Trù tháo dây thừng ra, nhảy lên lưng lừa.
— Khoan đã! Huynh trưởng không để lại thư cho Tào công ư?
— Kẻ bất nhân còn chịu nghe lời phải chăng?
Điền Trù không thèm quay đầu lại, vung nhẹ cây roi, con lừa chở ông chậm rãi rời đi. Lúc này đã qua chính ngọ, mặt trời rực rỡ sắp ngả về chiều. Vậy mà Hình Ngung không hay biết gì, vẫn cứ đứng ngây ra bên đường nghiền ngẫm lời cảnh tỉnh đáng sợ ấy...
❀ ❀ ❀
[1] Việc phân chia đất đai được ghi chép trong Thượng thư - Vũ cống là do người thời Chiến Quốc mượn danh Đại Vũ làm. Chín châu gồm: Dự Châu, Ký Châu, Duyện Châu, Từ Châu, Thanh Châu, Dương Châu, Kinh Châu, Lương Châu và Ung Châu.
[2] Bài Danh đô thiên của Tào Thực, bản dịch thơ của Điệp Luyến Hoa đăng trên trang thivien. net
[3] Chỉ thái tử hoặc quan đại thần được cử ở lại coi giữ kinh sư khi nhà vua đi tuần, xuất chinh.
[4] Thực hành đạo lý mà còn dư sức thì mới học văn.
[5] Thê tử nghĩa cùng nhất thể với phu quân. Trên từ thiên tử, dưới xuống thứ dân, đều là như vậy. Ý nói thê thiếp phải nhất nhất nghe theo sự sắp xếp của phu quân.
[6] Thái Sử Công chỉ Tư Mã Thiên, còn Ban Mạnh Kiên chỉ Ban Cố, cả hai người đều là những sử gia nổi tiếng của Trung Quốc.
[7] Chấp chính hà khắc thì còn tàn ác hơn hổ.
[8] Nghĩa là: Buổi sáng hay tin ngươi ăn trộm chiếu, tội đáng phải chết.
[9] Nghĩa là: Buổi sáng nghe giảng đạo lý, buổi chiều chết cũng được. Ở đây, do Lưu Từ ngắt câu sai và nhận nhầm từ đồng âm khác nghĩa, từ đạo 道 (đạo lý) với đạo 盗 (đạo chích), từ tịch 夕 (buổi chiều) với tịch 席 (cái chiếu), nên hiểu câu nói của Khổng Tử thành “Buổi sáng hay tin ngươi ăn trộm chiếu, tội đáng phải chết.
[10] Trời thần thông vì có nhật nguyệt chiếu sáng; đất linh thiêng là do núi sông biến hóa.
[11] Bậc trị dân giỏi là làm cho dân không biết là có mình, thấp hơn một bậc là làm cho dân yêu quý và khen ngợi.
[12] Đất phong của người mang tước công.
[13] Chỉ chín loại lễ khí mà hoàng đế ban cho những chư hầu, đại thần có công lao to lớn, để thể hiện sự hậu đãi cao nhất. Xin xem thêm đoạn sau, tác giả có giải thích chi tiết về cửu tích.
[14] Chỉ chung ba triều đại Hạ, Thương, Chu trong lịch sử Trung Quốc.
[15] Chu Vũ Vương khi xưa phong đất Khúc Phụ của Thiếu Hạo cho Chu Công để cai quản Lỗ quốc. Nhưng sau đó Chu Công lại làm phụ chính ở Cảo Kinh, nên để con là Bá Cầm làm Lỗ Công. Khúc Phụ ở đây chỉ Lỗ quốc, ý muốn so sánh nước được phong của Chu Công với nước được phong của Tào Tháo.