Mùa xuân năm Kiến An thứ mười sáu (năm 211 sau Công nguyên), chiếu thư thiên tử sắc phong quan tước cho Tào Phi cuối cùng đã truyền đến Nghiệp Thành. Mặc dù trước đó Tào Phi đã nhận được thư của Trần Quần, hay tin mình sắp được đảm nhận chức Ngũ quan trung lang tướng, nhưng không ngờ trong chiếu thư, sau cụm từ “Ngũ quan trung lang tướng” còn viết thêm ba chữ “phó thừa tướng”, và viết rõ rằng có thể mở phủ. Điều này không chỉ khiến Tào Phi kinh ngạc mà cũng làm tất cả quan liêu Nghiệp Thành kinh ngạc.
Ngũ quan trung lang tướng vốn dĩ chỉ là một trong Nam quân thất thử[1], thuộc quan của Quang lộc huân, phụ trách thống lĩnh ngũ quan lang, thủ vệ cửa điện của hoàng cung, khi thiên tử đi tuần thì phụ trách nghi trượng hộ giá. Tuy nhiên, chức Ngũ quan trung lang tướng của Tào Phi có vẻ như hoàn toàn không cần chạy đến tận Hứa Đô làm thị vệ cho thiên tử, mà dường như được đặt vào một cơ cấu khác, còn có thể mở phủ, chiêu mộ duyện thuộc. Xem ra ý tứ của Tào Tháo rất rõ ràng, ông đã bắt đầu coi Tào Phi là người tiếp nối để bồi dưỡng, không chỉ ban chức quan cho, còn cấp quyền chiêu nạp một bộ phận thuộc hạ. Nhưng điều làm người ta suy nghĩ là, trong chiếu thư gửi Tào Phi đã chỉ rõ cả chức “phó thừa tướng”, cũng đồng nghĩa với việc vị Ngự sử đại phu đang ở Hứa Đô là Hy Lự, giờ không chỉ không có quyền lực của một phó Thừa tướng nữa, mà ngay đến hư danh cũng đã mất.
Tào Phi vui mừng hơn cả mong đợi, để chúc mừng việc này, y mời Tào Chân, Tào Hưu, Hạ Hầu Thượng, Ngô Chất, Lưu Trinh cùng du hý Thanh Châu. Bọn họ đến ngoại thành huyện Nam Bì, quận Bột Hải du lãm vài ngày, uống rượu làm thơ, đối ẩm ca xướng, bình phẩm các sĩ nhân Nghiệp Thành, ai nấy đều vô cùng cao hứng. Nhưng khi vừa trở về Nghiệp Thành có tin xấu truyền đến, Đô đốc Tào Thuần của đội hổ báo kỵ lâm bệnh nặng đã mất, hưởng thọ bốn mươi tuổi. Tào Thuần là đệ đệ của Tào Nhân, nhưng quan hệ với Tào Tháo còn thân cận hơn Tào Nhân.
Năm xưa Hà Tiến chấp chính, hoạn quan làm loạn, Đổng Trác vào kinh, Tào Tháo nhận chức Điển quân hiệu úy trong triều đình, Tào Thuần đảm nhận chức Hoàng môn thị lang, huynh đệ hai người cùng nhau trải qua những ngày tháng gian nan khi đó, Tào Thuần cũng là một trong những người khởi phát sự kiện Trần Lưu cử binh. Đội kỵ sĩ hổ báo từ ngày thành lập cũng do Tào Thuần thống lĩnh, ông ta tòng quân hai mươi mốt năm, đông chinh tây thảo lập nhiều chiến công, Nam Bì chém Viên Đàm, Liễu Thành giết Đạp Đốn, đánh bại Lưu Bị ở dốc Trường Bản, quả là bậc đại công trong Tào doanh. Con trai của ông ta là Tào Diễn vẫn chưa đến tuổi nhược quán cũng được nhậm tước Cao Lăng đình hầu, thực ấp ba trăm hộ. Tào Tháo lại lệnh cho con trai của Tào Nhân là Tào Sái cùng anh ta trở về quê lo việc mai táng, sau đó còn đích thân ra ngoài thành mười dặm để đưa tiễn, tử tôn Tào gia và các tướng sĩ hổ báo đến tùy tiễn rất đông.
Trên đường trở về thành, Tào Tháo vẻ mặt âm trầm không nói một câu, cái chết của Tào Thuần tuyệt đối không đơn giản là mất đi một viên tướng giỏi, điều này còn mang tới một nỗi ám ảnh cho Tào Tháo - Thời gian thấm thoắt trôi đi, tuổi già đã cận kề, cuộc đời ông cách cái chết ngày càng gần.
Tào Phi, Tào Thực, Tào Chân, Tào Hưu theo hầu phía sau, thấy sắc mặt phụ thân nặng nề, cũng không dám tùy tiện nói năng, ai nấy đều mải đuổi theo dòng suy nghĩ của riêng mình. Duy có Tào Chương không biết phép tắc gì, oang oang nói:
— Tử Hòa thúc thúc qua đời, ngày sau hổ báo kỵ nên giao cho ai thống lĩnh đây? Theo ta thấy các thúc thúc, bá phụ của chúng ta tuổi đều đã cao, cũng sắp không dùng được nữa, chẳng bằng để đám người trẻ chúng ta quản thì hơn.
Câu “không dùng được nữa” chạm đúng vào tâm bệnh của Tào Tháo, ông lập tức phản bác:
— Người trẻ? Trong đám các ngươi, kẻ vũ dũng nhất chính là ngươi, cả ngày chỉ biết săn bắn trong Nghiệp Thành. Ta vốn nghe ngươi có tài xạ điêu bắt hổ, hẳn là chức Đô đốc quân hổ báo kỵ không thoát khỏi tay ngươi rồi?
Tào Chương thô lỗ đến mấy cũng nghe ra đây là mỉa mai:
— Con không dám.
— Không dám? - Tào Tháo đột nhiên nổi trận lôi đình, - Ngươi có gì không dám? Ai chẳng biết ngươi là công tử bá đạo của Nghiệp Thành này? Ai không biết ngươi phi ngựa trong thành, săn bắn ngoài thành, cả ngày mang theo đám ác nô phá làng phá xóm, quan viên thấy ngươi cũng phải nhường tránh ba phần! Kẻ làm cha như ta giáo huấn, ngươi có để vào đầu bao giờ không? Như nay huynh trưởng ngươi làm quan, đệ đệ ngươi được phong hầu, ngay cả Cứ nhi, Lâm nhi còn nhỏ như vậy cũng đều có chức phận, chỉ duy ngươi chẳng có, lẽ nào không biết nghĩ xem là vì sao?
— Con biết sai rồi ạ.
Tào Chương vội vàng xuống ngựa, quỳ mọp dưới đất. Tào Tháo vẫn chưa nguôi cơn giận:
— Mau cút đi! Cút về trạch đệ của ngươi! Ta cũng đã già, không dùng được nữa rồi, từ nay về sau chớ vào phủ gặp ta. Ngươi cứ tiêu diêu tự tại, lão phu cũng bớt bực dọc được ít ngày, may ra còn sống được lâu hơn!
Còn có bao nhiêu ngoại thần đi theo, há lại không lên tiếng khuyên can? Mao Giới, Thôi Diễm, Dương Tu vội vàng nói hộ, đám Tào Phi cũng hùa theo khuyên. Tào Tháo bấy giờ mới nguôi giận, dõng dạc nói:
— Một tướng trung dũng như Tào Thuần có thể tìm đâu trong thiên hạ? Giờ ông ta mất rồi, lão phu sẽ làm thống soái kỵ quan hổ báo, các ngươi ai có ý kiến?
Ai dám có ý kiến đây? Chúng nhân đồng thanh vâng dạ, lúc này không khí mới yên tĩnh trở lại. Sắc mặt Tào Tháo càng trở nên khó coi, dẫn theo đám nhi tử, thuộc liêu vào Trung Dương môn (cửa chính nam của Nghiệp Thành), men theo đại đạo về phủ ở hướng bắc. Trạch đệ của Tào Phi, Tào Chương, Tào Thực đều ở bên đường đối diện của mạc phủ, tấm bảng “Bình Nguyên hầu phủ”, “Ngũ quan trung lang tướng phủ” đều đã được treo lên.
Tào Tháo đột nhiên dừng ngựa nói với Tào Thực:
— Tử Kiến, con về trước đi.
Lại đưa mắt nhìn Tào Chương:
— Ngươi cũng đi đi, chớ làm ta chướng mắt!
— Vâng.
Tào Chương nuốt nước bọt, giục ngựa toan đi.
— Khoan đã... - Tào Tháo khẽ thở dài, lại gọi anh ta trở lại, - Bắt đầu từ ngày mai ngươi đến hành dinh làm một quân lại, cho bớt ngày ngày rảnh rỗi sinh chuyện thị phi!
Hiểu con không ai bằng cha, Tào Tháo mặc dù giáo huấn một trận nhưng cũng thuận theo ý nguyện của anh ta. Mặc dù chỉ là một chân tiểu lại, nhưng nơi đó cũng có thể giúp anh ta thỏa mân tâm nguyện tòng quân, Tào Chương muốn nói lời cảm tạ, nhưng thấy phụ thân hai mày nhíu chặt, lại không dám nói nữa, vội kéo ngựa mà đi.
Tào Phi thấy Tào Tháo đuổi các huynh đệ của mình đi, dự cảm rằng phụ thân có điều quan trọng muốn nói với mình, bèn vội vàng bước lên phía trước. Quả đúng như vậy, Tào Tháo sau đó cũng đuổi cả bọn Mao Giới đi, chỉ giữ lại vài tên thân binh, rồi ông xuống ngựa, nói:
— Dẫn ta vào xem phủ của con.
Có câu “vua không đến nhà tôi, cha không vào nhà con”, đây có thể nói là một vinh dự rất lớn. Tào Phi thầm vui sướng, bước vội lên trước toan đỡ tay phụ thân, nhưng lại bị Tào Tháo đẩy ra:
— Cả con cũng thấy ta không dùng được nữa sao?
Vào trong phủ, Tào Phi mới hiểu ra, phụ thân không phải có ý quan tâm đặc biệt gì đến mình, trông ông có vẻ đến tuần tra hơn. Con dâu Chân thị đến kiến lễ, ông chỉ gật gật đầu, Tào Duệ chạy lại ôm ông nội, ông cũng chỉ vuốt ve khuôn mặt cậu bé một chút. Ông đi hết một lượt sân trước nhà sau, hai bên tả hữu, rồi mới trở về chính đường ngồi nghỉ, trông thấy trên tường treo bảo đao mấy hôm trước mình vừa ban thưởng, ông gật gù:
— Tạm được, không có đồ kim ngân xa xỉ gì, gia thất ăn vận cũng rất giản dị, ra dáng một kẻ làm quan.
Tào Tháo vốn tính tiết kiệm, không chỉ bản thân ông không ưa thói xa xỉ mà cũng không thích kẻ khác quá cầu kỳ, hào nhoáng. Tào Phi coi như có thể thở phào, vội vàng tự mình bưng tới một bát nước. Tào Tháo uống một ngụm, chậm rãi nói:
— Bậc thánh nhân quân tử, tuy không thu đoạt vạn vật, nhưng lại biết được sự cần thiết của vạn vật. Người làm quan quý ở tính cẩn thận, ham hiểu biết, sau này con phải lĩnh ngộ nhiều hơn.
Dù nói như vậy, nhưng những lần bản thân Tào Tháo bất cẩn e là cũng không ít. Người làm cha trên thế gian giáo huấn con cái thì đâu đâu cũng là đạo lý, song bản thân mình cũng chưa chắc có thể thông đạt.
— Vâng.
Tào Phi ngoan ngoãn đứng hầu một bên. Tào Tháo nhìn đứa con trai trông vẻ ngoài lúc nào cũng cung thuận của mình, trong lòng vẫn không cảm thấy yên tâm là bao. Mặc dù ông đã cho Tào Phi đảm nhận chức Ngũ quan trung lang tướng, nhưng thực tế chỉ là một kế sách để tự củng cố quyền hành của bản thân, từ sâu thẳm đáy lòng ông vẫn không mãn nguyện, chưa kể Tào Phi vừa mới được ban chức, bằng hữu đã đua nhau chúc tụng cũng khiến ông phản cảm.
Kỳ thực, đâu chỉ riêng Tào Phi, Tào Tháo đối với Tào Thực, Tào Chương cũng không mấy hài lòng. Theo ông, Tào Phi chỉ có tài năng tầm thường, bụng dạ cũng hẹp hòi; Tào Thực có tài hoa nhưng hành sự bất cẩn, lại quá ham thích phù hoa; Tào Chương lại càng chẳng cần phải nói! Lựa chọn tốt nhất vẫn mãi là hai dứa con đã chết Tào Ngang và Tào Xung. Đôi khi ông cũng tự khai mở cho chính mình, nếu Tào Ngang sống đến bây giờ cũng chưa chắc có tài năng, Tào Xung lớn lên cũng chưa chắc giữ được sự thông minh, nhưng nỗi đau mất con thực sự đã khắc cốt ghi tâm. Con cái mãi mãi vẫn đáng yêu như hồi còn bé, ví như Tào Lâm, kỳ thực đâu có gi khác với Tào Xung? Nếu như thiên hạ thống nhất, ông được làm bậc cữu ngũ chí tôn, độc đoán triều cương thì những lời bàn tán nào là phế trưởng lập ấu, không phân biệt đích thứ đều là vớ vẩn! Ông muốn lập đứa con nào, ai dám không phục? Chỉ cần có thể giao phó cho một hai kẻ đáng tin cậy, dẫu ông giống như Hán Vũ đế lập một đứa trẻ mới ba tuổi lên ngôi vua cũng đâu có ai nói được gì?
Nhưng vấn đề nằm ở chỗ thiên hạ vẫn chưa thống nhất, Tào Tháo cũng không thể dự tính được rằng liệu mình có thể hoàn thành việc thống nhất trong lúc còn sống hay không. Cho nên việc ông lựa chọn người kế thừa sẽ không còn đơn giản như việc chọn lấy một đứa con nữa, ông cần chọn ra một người có đức hạnh, có tài năng, có khí phách, có thể kế thừa sự nghiệp của ông, lại có thể trấn áp được thiên tử nhà Hán. Thật khó khăn! Xét từ một ý nghĩa nào đó, dù cho Tào Xung không chết sau đại bại Xích Bích, với số tuổi của đứa bé đó cũng khó có thể tiếp quản đại quyền. Những mơ mộng viển vông sớm đã lụi tàn, hiện giờ chỉ còn lại hiện thực tàn khốc. Vậy cứ để cho bọn họ tranh giành, để cho bọn họ đọ sức, không tranh giành, không đọ sức sao có thể phán đoán cao thấp?
Tào Tháo định thần lại, thở dài:
— Cái chết của Xung nhi là nỗi bất hạnh của cha, nhưng cũng là may mắn của huynh đệ các con.
Tào Phi giật nảy mình, vội vàng quỳ xuống:
— Phụ thân nói những lời này, con sao có thể chịu nổi.
— Không nhắc nữa, không nhắc nữa... - Tào Tháo vội vàng xua tay, - Chiếu thư đã nói con được phép mở phủ, con định như thế nào?
Việc này Tào Phi đã bắt đầu trù tính, thậm chí còn cùng Ngô Chất bí mật bàn bạc viết ra một danh sách, trong đó kể ra không ít những kẻ thân tín, hiện cất sẵn trong tay áo. Nhưng thấy phụ thân vẻ mặt nghiêm túc, Tào Phi định nói nhưng lại thôi, ngoan ngoãn thưa:
— Con xin nghe theo ý kiến của phụ thân.
— Cũng được. - Đây chính là điều Tào Tháo muốn, - Cam Lăng tướng là Lương Mậu tài đức vẹn toàn, năm xưa xuất xứ Liêu Đông dẹp loạn mà không sợ. Ta sẽ để ông ta đến phủ con nhận chức Trưởng sử, ý con thế nào?
Tào Phi không mấy hài lòng: Trưởng sử là quan chính vụ quan trọng nhất trong phủ đệ, Lương Mậu này thanh danh không cần phải nói, lại là một người cẩn thận, đôn hậu, thỉnh giáo chính vụ thì còn được, nhưng hẳn sẽ không thể bày mưu hiến kế giúp ta giành được ân sủng của phụ thân. Trong lòng y tuy không vừa ý nhưng cũng khó nói thành lời, bèn ậm ừ:
— Phụ thân chọn người thấu đáo, Lương Bá Phương rất hợp với việc này. Nhưng một vị quận tướng hạ mình đến nhận chức Trưởng sử dưới quyền con, e rằng không thích hợp lắm?
— Cứ như vậy đi. - Tào Tháo chẳng hề đếm xỉa, - Còn Công tào thì sao... Con thấy Thứ sử U Châu Thường Lâm thế nào?
Lại là một kẻ thật thà, tài khinh đức trọng, Tào Phi như dẫm phải gai, không dám thoái thác nữa:
— Mọi sự xin thuận theo ý phụ thân.
Nào ngờ Tào Tháo lại nói:
— Vậy sao có thể được? Người trong phủ con có thể để ta quyết định? Con cảm thấy Thường Lâm rốt cuộc thế nào?
Tào Phi nào dám chê bai? Đành thuận theo lương tâm nói:
— Thường Bá Hòe có tài có đức, là bậc hiền sĩ.
— Ừm, vậy thì chọn hắn.
Tào Tháo thuận gió đẩy thuyền. Tào Phi thấy ông xử trí như vậy, chỉ sợ không lựa được người mình mong muốn, vội vã cầu xin:
— Phụ thân, gần đây con trau dồi kinh sách cảm thấy tài cán chưa đủ, muốn mời vài vị tiên sinh có tài học đến...
— Ta đang định nói đến điều này. - Tào Tháo cắt lời, - Ta cũng thấy tài học của con vẫn còn chưa đủ, nên tìm vài kẻ học nhiều hiểu rộng. Hãy để Từ Cán, Lưu Dực, Tô Lâm đến nhận chức Văn học[2].
Tào Phi vừa nghe đá cảm thấy hụt hẫng: Từ Cán là người trầm lặng nhất trong đám Ký thất của mạc phủ, không thể sánh với Lưu Trinh, Vương Xán vốn tính phóng khoáng, vui vẻ, viết văn chương toàn là những đạo nghĩa cổ lỗ, sức khỏe cũng không tốt. Nghe nói gần đây ông ta đang soạn một bộ văn chương đạo đức có tên là Trung luận. Lưu Dực năm xưa vốn từ Kinh Châu quy hàng Tào Tháo, là học trò của Tống Trọng Tử, Tư Mã Huy, thuộc phái quan học Kinh Châu, rất chuyên tâm nghiên cứu thiên văn, lịch pháp, là một viên thư sinh mặt trắng. Còn Tô Lâm càng không cần nhắc đến, đó là một kẻ ham mê nghiên cứu cổ văn, công việc cả ngày chính là chú giải cổ thư. Tào Tháo bỗng dưng phái ba tên mọt sách cho con trai mình - Rất rõ ràng, trong mắt ông ý nghĩa hình tượng của phủ Ngũ quan trung lang tướng này quan trọng hơn ý nghĩa thực tế rất nhiều, bất quá chỉ bày ra cho người khác thấy mà thôi!
Tào Phi âm thầm cảm thán: Ta căn bản chẳng phải phó Thừa tướng, mà chỉ là “tiểu Thừa tướng” thôi! Nhưng vẫn thấy không cam tâm:
— Con muốn mời Hàm Đan lão phu tử đến phủ, ý phụ thân thế nào?
Hàm Đan Thuần tài danh xuất chúng, đã qua tuổi bảy mươi, là bậc văn sĩ có thanh danh lớn nhất, tuổi tác cao nhất trong mạc phủ Nghiệp Thành, không những vậy còn rất mưu trí. Trong danh sách duyện thuộc mà Ngô Chất liệt ra cho Tào Phi, người đầu tiên chính là ông ta.
Tào Tháo xua xua tay:
— Có đám Từ Cán là đủ rồi, ta định phái Hàm Đan Thuần đến Bình Nguyên hầu phủ.
— Phái đến phủ của Tử Kiến? - Tào Phi nghe như sét đánh ngang tai.
— Có gì kỳ lạ đâu. Xét cho cùng, nó cũng là tước hầu, có thêm vài thuộc hạ cũng không sao. Các con đều là con của ta, người làm cha như ta há có thể thiên vị?
Tào Phi thầm cảm thấy bất an: Nếu như Tào Thực cũng được quyền chọn duyện thuộc, thì có khác gì với Ngũ quan trung lang tướng ta đây? Xem ra ngay cả cái danh “tiểu Thừa tướng” cũng không đáng nhắc đến nữa.
— Hụ hụ...
Tào Tháo nhận thấy thần sắc của y đổi khác, khẽ ho hai tiếng rồi nói:
— Mã Siêu, Hàn Toại nối nhau khởi binh, hơn nữa còn đang mật nghị, định tập kích Hoằng Nông. Ta đã lệnh cho Chung Do chuẩn bị binh mã ở Hoằng Nông, Tào Nhân dẫn binh lên phía bắc tăng viện. Vài hôm nữa ta cũng sẽ khởi binh...
— Phụ thân muốn đích thân xuất chinh?
Tào Tháo tuổi đã gần lục tuần, sức khỏe không còn được như trước, lại thường bị đau đầu, Tào Phi sợ ông không chịu được đường dài vất vả, nhưng không dám nói những lời về tuổi tác, chỉ thưa:
— Đã có ba bộ nhân mã của Hạ Hầu Uyên, Tào Nhân, Chung Do, phụ thân hà tất phải đi?
— Mã, Hàn tạo phản ở Quan Trung khí thế vô cùng hung mãnh, binh mã e không dưới mười vạn, lần chinh thảo này ta buộc phải tự mình xuất mã. Ta đã sắp xếp rồi, lựa ba vạn quân tinh nhuệ từ trung quân, Đậu Phụ làm tham quán, Trần Kiều làm Trưởng sử, Giả Hủ, Lâu Khuê làm mưu sĩ, Tử Kiến, Tử Văn cũng sẽ cùng xuất chinh.
Quân sư Tuân Du từ sau lần đại bại ở Xích Bích sức khỏe không tốt, lại thêm mối quan hệ với Tuân Úc nên dẫn dần bị Tào Tháo xa lánh. Giả Hủ vốn là người Lương Châu, Lâu Khuê khi còn trẻ từng du lịch Quan Trung, vì vậy họ đều là những lựa chọn tốt nhất chon việc tham mưu. Thế nhưng, cớ sao ông lại mang theo Tào Thực? Lại còn đem theo cả Tào Chương, kẻ hôm nay vừa mới bị giáo huấn một trận.
Tào Tháo nhìn thấu tâm tư của con trai, vờ than thở:
— Không chỉ huynh đệ của con, lần này ngay cả mẫu thân con cũng phải đi. Một là để chăm sóc ta, hai là bệnh của Hùng nhi khiến bà ấy muộn phiền quá nhiêu, ra ngoài một chuyến cũng tốt. Nghiệp Thành ta sẽ phó thác toàn quyền cho con.
— Phụ thân yên tâm, con nhất định không phụ sự trông đợi.
Tào Phi hưng phấn tràn trề, phụ mẫu huynh đệ đều đi cả, đây chính là cơ hội tốt nhất để thể hiện bản thân. Thế nhưng câu nói của Tào Tháo vẫn còn vế sau:
— Ta thấy con lần đầu làm quan, uy vọng chưa nhiều nên sẽ để lại vài trợ thủ đắc lực cho con. Quốc Uyên làm Lưu phủ Trưởng sử, Từ Tuyên làm Tả hộ quân, có sự vụ quân chính nào con hãy cùng họ thương lượng, bàn bạc. Ngoài ra Trình Dục tự xin giao nạp binh quyền, ta đã đồng ý rồi, ông ta nhàn cư tại Nghiệp Thành, có chuyện gì khẩn cấp con có thể đến tìm ông ta.
Tào Tháo sắp xếp như vậy đối với Trình Dục không phải bắt nguồn từ bản ý của mình. Hiện giờ Vu Cấm, Trương Liêu, Nhạc Tiến, Lý Điển đều đang phòng ngự Tôn Quyền, Hạ Hầu Đôn đồn trú ở Hứa Đô, trong quân đang thiếu một vị thượng tướng có danh vọng, thế mà Trình Dục lại xin từ chức vào đúng lúc này. Nhưng ông ta nói tuổi tác đã già, khó lòng đảm nhận trọng trách, Tào Tháo cũng không thể ép ông ta tiếp tục làm, đành cho ông ta một chức quan nhàn rỗi để tham tán việc quân.
— Con hiểu rồi ạ.
Tào Phi bắt đầu phấn chấn, chuẩn bị dốc sức một phen. Tào Tháo nuốt nước bọt, đứng dậy nói:
— Kinh thi có câu: “Chiến chiến căng căng, như lâm thâm uyên, như lý bạc băng.”[3] Làm người như vậy, làm quan cũng như vậy. Quan mới nhận nhiệm vụ, điều tối kỵ là độc đoán chuyên quyền, phàm mọi chuyện đều cần khiêm tốn, cẩn thận.
Ông vừa nói vừa đi ra ngoài.
— Phụ thân xin hãy ở lại, dùng bữa ở chỗ con. - Tào Phi vội mời, - Hôm kia Lưu Uy vừa tặng một giỏ táo to như quả trứng gà, rất hợp để nhắm rượu. Bảo con dâu phụ thân tự tay xuống bếp, còn con châm tửu cho phụ thân, được không ạ?
Những điều cần nói đều đã nói, Tào Tháo vẫn không nở lấy một nụ cười, nói:
— Những lời ngọt nhạt ngoài miệng không thể coi là đại hiếu, con cứ sắp xếp ổn thỏa mọi việc ở Nghiệp Thành là ta đã mãn nguyện. Táo để lại cho đứa cháu của ta ăn đi.
Tào Phi vâng vâng dạ dạ, cung kính tiễn phụ thân ra khỏi cửa đại môn, định tự tay đỡ ông lên ngựa. Tào Tháo lại nói:
— Đừng tiễn nữa, con quay về chuẩn bị thảo lệnh đi, sáng sớm mai ta sẽ bảo đám Từ Cán đến. Sau ngày ta xuất binh, con có thể chuyển vào mạc phủ, xử lý công việc cũng thuận tiện hơn.
— Vâng.
Tào Phi lùi lại cạnh bậc thềm, quỳ mọp bái tiễn. Nào ngờ Tào Tháo không hề theo hướng bắc về phủ, mà men theo đường lớn đi về hướng nam, rẽ thẳng vào phủ Bình Nguyên hầu của Tào Thực. Tào Phi ngầm cảm thấy một dự cảm không lành, tựa hồ việc y được ban chức Ngũ quan trung lang tướng không có nghĩa thắng lợi, cuộc chiến tranh quyền đoạt vị vẫn còn rất dài ở phía trước.
Ai mưu việc nấy
Mùa hạ năm Kiến An thứ mười sáu, Tào Tháo chính thức quyết định thân chinh thảo phạt Quan Trung, dẫn binh mã trung quân xuất phát từ Nghiệp Thành, hành quân về phía tây đến Đồng Quan để hợp binh với ba cánh quân của Tư lệ hiệu úy Chung Do, Chinh Tây hộ quân Hạ Hầu Uyên và An Tây Tướng quân Tào Nhân. Ngoài ra, ông giao cho trưởng tử Tào Phi, người vừa nhận chức Ngũ quan trung lang tướng lưu thủ Nghiệp Thành, Quốc Quyên nhận chức Lưu phủ Trưởng sử, cùng tham gia xử lý chính sự; Từ Tuyên nhận chức Tả hộ quân, thống lĩnh binh mã lưu thủ; còn có Phấn Uy Tướng quân Trình Dục tham tán việc quân. Nhưng ngoài Tào Phi ra, con thứ hai của Tào Tháo là Tào Chương, con thứ ba là Bình Nguyên hầu Tào Thực và ngay cả phu nhân Thừa tướng là Biện thị cũng xuất chinh cùng quân.
Tối trước ngày xuất phát, phủ đệ của Tào Phi đèn đuốc sáng rõ như ban ngày. Nhân vật số hai của triều đình này tổ chức đại yến linh đình, Ngô Chất, Đậu Phụ, Lưu Uy, Chu Thước, Hạ Hầu Thượng và Ký thất mạc phủ Lưu Trinh, Nguyễn Vũ đều tể tựu cả. Tổ chức cỗ yến vào lúc này, dường có thâm ý...
Tối nay Tào Phi tỏ ra cực kỳ hưng phấn, gần như cạn chén với tất cả những người đến dự tiệc, cuối cùng mặt mày hớn hở bước đến trước vị tân Tham quân Đậu Phụ:
— Đậu huynh, tiểu đệ kính ngài một chén.
— Không dám, không dám!
Đậu Phụ hôm sau sẽ phải xuất chinh cùng quân nên không dám uống nhiều, thấy Ngũ quan trung lang tướng xưng hô với mình như vậy, sợ thất lễ vội vàng đứng dậy:
— Đại nhân chớ nên hạ mình.
Tào Phi lại nói:
— “Đại nhân” cái gì chứ? Chúng ta cứ xưng hô như cũ, ngài là Đậu huynh của ta, ta là hiền đệ của ngài.
Đậu Phụ tất nhiên không dám nhận:
— Lễ là gốc của quốc gia, tại hạ há dám vượt quá phép tắc? Nay công tử là mệnh quan của triều đình, tại hạ thân là thần liêu, tất nhiên phải...
— Không nói việc này nữa!
Tào Phi chỉ khắp các bàn, giọng cảm khái:
— Đậu huynh, tiểu đệ quen biết huynh muộn hơn những người ở đây nhiều, nhưng chí khí tương hợp, thân tình hậu ý (Câu này cũng quả không sai, năm xưa đại bại ở Xích Bích, Tào Phi và Đậu Phụ cùng nhau hầu hạ Tào Tháo trên đường trốn chạy, có thể nói là mối giao tình hoạn nạn). Sống ở trên thế gian để làm gì? Theo thiển ý của ta, không phải vì phú quý cũng chẳng phải vì sĩ lộc, mà phải sống vì tình nghĩa.
Chu Thước lần này không tòng quân, nên uống hơi quá chén, cười nói:
— Công tử thiên sinh phú quý, cẩm y ngọc thực, kẻ hầu người hạ, tất nhiên không phải lo lắng vì phú quý rồi... Ây dà dà!
Vẫn chưa nói xong đã bị Hạ Hầu Thượng véo tai:
— Tiểu tử ngươi chõ mồm gì thế?
Đoạn đổ đầy một chén rượu vào miệng hắn, khiến chúng nhân cười vang. Tào Phi tiếp tục nói:
— Vinh hoa phú quý không phải sinh ra đã có, chết cũng chẳng mang được theo, hương ấm ngọc lành cũng chỉ lóe sáng giây lát, công đức cái thế sau cùng cũng không tránh khỏi về với cát bụi. Duy chỉ có mối thâm tình giữa người với người mới có thể trường tồn! Người như đệ đây, tuy sinh ra trong nhà danh gia vọng tộc, nhưng khó có được vài bằng hữu tri kỷ. Đậu huynh, xin hãy uống cạn chén rượu này, đây là tình nghĩa của đệ.
Tào Phi lời lẽ vô cùng chân thành, chúng nhân cũng phụ họa theo:
— Đậu tham quân hãy nhận đi, chớ phụ hậu ý của công tử.
Đậu Phụ cũng thấy cảm kích, tay run run bưng chén rượu lên:
— Tại hạ nguyện lĩnh nhận hậu ý của công tử.
Nói đoạn dốc cạn chén.
— Hay lắm. - Tào Phi lập tức rót đầy thêm chén thứ hai, - Nào, chén rượu này đệ vẫn phải kính huynh. Lần xuất chinh này kỳ khai đắc thắng, mã đáo thành công, cùng phụ thân đệ kiến công lập nghiệp, đại triển hồng đồ!
— Cái này...
Đậu Phụ hơi cảm thấy khó xử, không phải vì sợ uống say, mà là lời của Tào Phi quá nặng, tự cảm thấy mình vượt lễ chủ khách. Anh ta vẫn còn đang do dự, Chu Thước đã chen ngang:
— Mau uống đi! Công tử kính ngài, ngài không uống thì không hay đâu.
Đậu Phụ không biết làm sao, đành lại uống cạn. Tào Phi lại tiếp tục rót đẩy:
— Nào nào nào, chén thứ ba này...
— Công tử xin đừng rót nữa. - Đậu Phụ vội vàng ngăn lại, - Không phải tại hạ không muốn lĩnh nhận, thực tình sợ uống rượu lỡ việc, sáng mai lỡ giờ điểm quân.
Tào Phi cười nói:
— Đây là chén cuối cùng, tiểu đệ có việc cần nhờ.
— Công tử tuyệt đối đừng xưng hô như vậy, tại hạ thực không dám nhận!
— Huynh trưởng nghe ta nói hết đã.
Tào Phi thở dài một hơi, chắp tay sau lưng nói:
— Kẻ làm con về lý nên ở bên cạnh phụ thân để tận hiếu, nhưng ta lưu thủ Nghiệp Thành cũng là ra sức vì nước. Có câu “Làm người chớ làm quan, làm quan mất tự tại”, quả là trung hiếu không thể lưỡng toàn. Phụ thân năm nay tuổi gần lục tuần vẫn chinh chiến sa trường, mà ta lại không thể ở bên cạnh, cảm phiền Đậu huynh thay ta tận đạo làm con, quan tâm săn sóc, chớ phụ tấm lòng của ta.
Hạ Hầu Thượng khen ngợi:
— Công tử chí trung chí hiếu, chén rượu này tham quân nhất định phải uống.
Lưu Uy cũng đứng đậy:
— Đậu huynh, huynh cứ thay công tử tận trung báo hiếu, còn việc trong nhà huynh tại hạ sẽ lo liệu thay. Nếu cần tiền tài, đồ đạc gì, tiểu đệ nhất định sẽ giúp.
Đậu Phụ bưng chén rượu nhìn quanh bàn tiệc, trong lòng lờ mờ hiểu ra: Săn sóc gì chứ? Báo hiếu gì cơ chứ? Đại công tử lưu thủ Nghiệp Thành, tam cống tử theo quân tòng chinh, việc săn sóc báo hiếu cũng không đến lượt người ngoài như ta! Cho dù lần này ta được trọng dụng, đám người này cũng đâu cần phải cung kính đến vậy. Hạ Hầu Thượng là rể của Tào gia; Lưu Trinh, Nguyễn Vũ là cận thần trong mạc phủ; Lưu Uy nghe nói đã được sắp xếp làm Thứ sử Dự Châu, không lâu nữa sẽ được bổ nhiệm. Đám người này sao bỗng thắm thiết đến vậy... Ây dà! Ta hiểu rồi, đại công tử không ở trong quân, chỉ sợ tam công tử thi triển tài hoa, được phụ thân sủng ái, uy hiếp chức Ngũ quan trung lang tướng của mình. Những kẻ đang ngồi đây đều là thuộc hạ thân cận, cũng sợ tam công tử buông lời dèm pha trước mặt Thừa tướng. Họ đang muốn ta theo sát Thừa tướng, trông chừng Tào Thực!
Đậu Phụ đã tường tỏ, lập tức đáp lời:
— Công tử yên tâm, tại hạ sẽ hết lòng hầu hạ Thừa tướng. Trong quân có chuyện nhỏ chuyện lớn gì, tại hạ sẽ viết thư phái thân binh tâm phúc gửi về cho công tử đỡ lo.
Nói đoạn bèn ngửa cổ uống cạn.
— Đa tạ, đa tạ. - Tào Phi vô cùng cảm kích.
Ngô Chất từ đầu tới cuối không nói năng gì, lúc này mới cầm chén đứng dậy:
— Chớ để mình công tử kính chúng ta, chúng ta cũng nên kính công tử một chén.
Việc cần làm cũng đã xử trí xong, hắn khéo léo chuyển chủ đề. Lưu Trinh là một văn nhân, tính tình phóng khoáng, nghe vậy vỗ đùi đứng dậy:
— Đúng! Công tử đối xử với chúng ta không bạc, còn nhớ năm trước ở huyện Hứa công tử đã rất quan tâm đến chúng ta. Tại hạ nguyện làm một bài phú để chúc mừng công tử.
Nói đoạn liền ngâm:
Xưa tôi theo Thừa tướng,
Đóng xe xuôi Nam phương.
Qua đất Bái, đất Phong,
Cùng ngài đây ruổi rong.
Tháng ngày đuổi nhau tới,
Đông thời gió thê lương.
Khách nhân cùng tụ họp,
Đèn sáng tựa ánh dương.
Thanh ca tiếng thật hay,
Nhảy múa ngay chính đường.
Chén vàng đựng mỹ tửu,
Sóng sánh mất phương hướng.
Say sưa quên lối về,
Lại bàn chuyện thái thường.
Sức bốn ngựa kéo dậy,
Niềm vui vẫn vấn vương.[4]
Trong tiếng ngâm dặt dìu, Tào Phi chầm chậm ngồi xuống cạnh Ngô Chất, khẽ nói:
— Đậu Phụ đã đồng ý thông báo quân tình, chắc không sao rồi chứ?
Ngô Chất trầm ngâm nói:
— Đây chỉ là chuyện vặt, mấu chốt còn phải trông chờ ở công tử. Có câu “Quân tử vụ bản, bản lập nhi đạo sinh”[5], người có thể hành đạo, chứ đạo không thể hành người. Ngài cứ sắp xếp xong xuôi mọi việc ở Nghiệp Thành, thiện đãi quần thần, chịu nghe lời phải, Thừa tướng tự khắc sẽ vui lòng, quần thần tự khắc sẽ ủng hộ. Bất tất phải nhọc công tốn sức đấu trí với tam công tử.
— Đúng vậy. - Tào Phi tuy đồng ý nhưng trong lòng lại không nghĩ vậy, - Ta cũng gửi thiệp mời cho đám Tử Đan, sao bọn họ không tới?
— Hừ. - Ngô Chất cười nhạt, - Nếu tại hạ đoán không nhầm, phủ của tam công tử cũng đang bày yến mở tiệc.
— Ồ? Ý ông là họ đều sang bên đấy rồi? - Tào Phi thoáng giật mình.
— Không, luận về tuổi tác bọn họ đều trạc tuổi đại công tử, luận về giao tình cũng nhiều hơn. Nhưng xét cho cùng đây là huynh đệ đồng tông, ngoài mặt không thể nồng hậu với bên này mà sợ bạc với bên kia, hai bên đều mời, vậy tốt nhất là không đến dự bên nào cả. Đây mới chính là chỗ anh minh của Tào Chân, Tào Hưu!
— Tư Mã Ý sao cũng không tới? - Tào Phi vẫy tay gọi Chu Tước lại, - Tiểu tử ngươi chỉ biết rượu chè, bảo ngươi mời Trọng Đạt tới dự yến, ngươi đã mời chưa?
Chu Thước vừa rót rượu vừa nói:
— Tại hạ đi rồi, ông ta không đến được. Hôm qua huynh đệ của ông ta là Tư Mã Phu từ huyện Ôn đến thăm, hai anh em ra ngoài thăm thú, ông ta chẳng may bị nhiễm lạnh, hôm nay còn không làm nổi việc, đang nằm bệt ở nhà.
Ngô Chất bụm miệng cười, suýt chút nữa phun cả rượu ra ngoài, lòng thầm nghĩ: Tên tiểu tử này giảo hoạt thật! Biết rằng nhất cử nhất động lúc này đều rất nhạy cảm, vừa xuống nước thì không nên nhúng chân quá sâu, nên ở nhà giả ốm đây mà...
Đúng như dự liệu của Ngô Chất, phủ Bình Nguyên hầu lúc này cũng đang mở tiệc. Bên này tuy không náo nhiệt bằng phủ Tào Phi, nhưng lại toát lên một bầu không khí phong nhã. Tào Thực chỉ mời bốn vị khách - Đinh Nghi, Đinh Dực, Dương Tu và Hàm Đan Thuần. Tiệc bày trên hai chiếc bàn nhỏ làm bằng gỗ nam mộc chạm trổ tinh xảo, ở giữa đặt một lư hương, có vài món nhắm như thịt hươu, chân ngỗng, gân bò, canh cá, trong rượu còn ngâm cả hoa mai. Tào Thực ngồi đối diện với Hàm Đan Thuần, bên kia là Đinh Nghi, Dương Tu, còn Đinh Dực ngồi bên cạnh gảy đàn trợ hứng.
Đinh Nghi, Dương Tu và Tào Thực chỉ nói chuyện văn chương thơ phú, không có câu nào đả động đến triều thần. Hàm Đan Thuần tuổi ngoài thất tuần, râu tóc bạc phơ nhưng vẫn cúi đầu ăn tì tì, tuổi như ông ta mà răng miệng vẫn còn tốt hơn cả đám trai tráng!
Đinh Dực nhìn lão nhân gia chợt thấy buồn cười, tay lơ đãng đánh chệch nhịp, tiếng đàn vang lên tạp âm, phá hỏng cả nhã hứng. Dương Tu dừng lại cười nói:
— Trình độ của ngươi còn kém lắm, chẳng bằng huynh trưởng ngươi, còn dám mua vui trước mặt công tử?
Đinh Dực than thở:
— Ta đâu chỉ đánh đàn kém, thanh danh cũng chẳng bằng ai. Mấy lần công tử tiến cử với Mao Hiếu Tiên, Thôi Quý Khuê, định cho ta đến mạc phủ làm chức Lệnh sử gì đó, nhưng người ta chẳng cần.
— Ây dà, nhầm rồi! - Dương Tu xua xua tay, - Càng là công tử tiến cử, Mao Giới và Thôi Diễm càng không thể dùng. Không phải việc công thì ắt là việc tư, mà đã có việc tư thì ắt có hại, tốt nhất là ngươi cứ chăm chỉ đèn sách, đặng mưu cầu cho sau này thôi.
Đinh Nghi là kẻ tinh ý, không muốn ra vẻ tiền bối để nói tiếp chuyện này, lại muốn khoe khoang học vấn của Tào Thực, bèn nói:
— Ta và công tử giao tình đã lâu, nhưng lại không biết ngài đàn nghệ điêu luyện, đang định thỉnh giáo công tử thử xem sao.
Tào Thực biết dụng ý của hắn, liền nói:
— Cũng được, ngươi hỏi, ta ắt đáp lời. Hàm Đan lão phu tử, mời ngài làm chứng xem ta đáp đúng hay sai, cảm phiền ngài chỉ giáo.
Vị Hàm Đan lão phu tử hai mắt vẫn dán vào đồ ăn, miệng nhồm nhoàm nhai thịt, chẳng nói được câu nào, chỉ vội gật gật đầu.
Đinh Nghi xắn tay áo ngồi xuống:
— Xin hỏi công tử, chiếc đàn xá đệ vừa chơi có tên là gì? Do ai chế tác?
— Cái này có gì khó? - Tào Thực cười nói, - Đây là đàn do Thái Hạo Phục Hy thị làm ra. Năm xưa Phục Hy bỗng nhiên trông thấy năm sắc sao rơi xuống cây ngô đồng, là tượng phượng hoàng xuất hiện. Ngẫm rằng phượng hoàng là vua của loài chim, không ăn gì khác ngoài trúc, không đậu nơi nào khác ngoài cây ngô đồng, không uống gì khác ngoài nước suối. Phục Hy cho rằng ngô đồng hấp thu tinh khí của trời đất, là loại gỗ linh có thể chế được đồ nhã khí, bèn sai người chặt lấy. Cây đó cao ba trượng ba tấc, trong vòng ba mươi ba ngày chặt làm ba đoạn, tượng trưng cho thiên, địa và nhân. Khi dùng đoạn ngọn để chế tác, thấy âm sắc quá trong, nhẹ nên đành bỏ đi; dùng đoạn gốc để chế tác lại thấy âm sắc trầm, nặng nên cũng bỏ đi; sau lấy đoạn giữa để chế tác thi thấy âm sắc thanh trọc tương tề, vừa trầm vừa nhẹ, bèn lấy làm đàn. Lấy khúc giữa đó ngâm trong suối bảy mươi hai ngày, tượng trưng cho bảy mươi hai hậu[6]. Đợi đủ ngày thì vớt lên, phơi khô ở chỗ mát, chọn ngày lành tháng tốt, mời thợ tốt đến chế tạc thành nhạc khí. Đó chính là nhạc Dao trì, nên đàn ấy gọi là Dao cầm.
Tào Thực tuôn một tràng, nói rõ lai lịch điển cố của chiếc đàn, quay đầu lại nhìn Hàm Đan Thuần - Ông ta vừa nuốt xong miếng gân bò, lại bưng bát canh cá lên, hoàn toàn chẳng để tâm nghe.
Đinh Nghi khẽ lắc đầu, tiếp tục hỏi:
— Vậy kích thước của Dao cầm, cách chế tác có gì đặc biệt? Trong bảy dây đàn có huyền cơ gì?
Tào Thực tay cầm hoa mai, miệng thao thao bất tuyệt:
— Dao cầm dài ba thước sáu tấc một phân, ứng với ba trăm sáu mươi mốt độ của vòng trời. Mặt trước rộng tám tấc, hợp với tám tiết; mặt sau rộng bốn tấc, ứng với bốn mùa; dày hai tấc, hợp với lưỡng nghi. Đồ trang trí có Kim đồng đầu, Tiên nhân bội, Long trì, Phượng chiêu, Ngọc chẩn, Kim huy, đại diện cho tám phương trên trời dưới đất. Đàn có mười hai phím, phân theo mười hai tháng; lại có thêm một phím giữa là tháng nhuận. Năm dây ở phía trên, hợp với ngũ hành - kim, mộc, thủy, hỏa, thổ trong thiên Hồng phạm; và ngũ âm - cung, thương, giác, chủy, vũ. Thời vua Nghiêu, vua Thuấn đều là đàn Năm dây, thơ ca Nam phong, thiên hạ đại trị. Vì Chu Văn Vương bị cầm tù, con của ngài là Bá Ấp Khảo bị giết, Văn Vương thương nhớ con nên thêm một dây nữa, tiếng của nó thanh u, ai oán, gọi là Văn huyền. Sau này Vũ Vương phạt Trụ, tụ hợp chư hầu, tiền ca hậu vũ nên lại thêm một dây nữa, âm sắc phấn chấn, hào sảng, người đời gọi là Vũ huyền. Tất cả có bảy dây, ngày sau hậu thế gọi là Văn Vũ thất huyền cầm. Hàm Đan lão phu tử, vãn sinh nói đúng chứ?
— Ừ ừ ừ... Đúng!
Hàm Đan Thuần húp hết bát canh cá, đoạn liếc trái ngó phải, gắp thêm hai miếng chân ngỗng. Đinh Nghi thấy tình thế này đã bắt đầu sốt ruột, bỗng nghe Tào Thực hỏi lại:
— Ngươi đã hỏi ta, ta cũng phải thỉnh giáo ngươi xem sao. Ngươi biết sáu điều kỵ, bảy điều không khi chơi đàn chứ?
Hai người họ tỉ thí học vấn không phải đùa vui, Đinh Nghi quả thực không biết, xấu hổ nói:
— Tại hạ học thức khó bằng công tử, thật đáng chê cười, đáng chê cười... Mong công tử chỉ giáo.
Tào Thực nghiêng mặt đắc ý, nói:
— Sáu điều đại kỵ gồm, một kỵ tiết đại hàn, hai kỵ tiết đại thử, ba kỵ lúc gió to, bốn kỵ lúc mưa lớn, năm kỵ lúc sấm sét, sáu kỵ lúc tuyết rơi dày.
— Vậy còn bảy điều không?
— Bảy điều không là, không đàn cho người có tang, không đàn để tấu nhạc, không đàn lúc gặp chuyện phiền nhiễu, không đàn nếu y phục không chỉnh tề, không đàn nếu không đốt hương, không đánh lúc chưa gặp người tri âm. - Nói đoạn Tào Thực đứng dậy phủi tay, - Hôm nay chư vị tới đây đều là tri âm, ta sẽ đàn một bài mời chư vị thưởng nhĩ. Lão tiền bối, cũng xin ngài chỉ giáo.
Hàm Đan Thuần vẫn vừa ăn vừa nhai, Đinh Nghi thực sự không nhịn nổi nữa:
— Lão phu tử, ngài chí ít cũng nên nói câu gì đi chứ! Có câu “Tự hành thúc tu dĩ thượng, ngô vi thương vô hối”[7], công tử dã hậu đãi tiên sinh như vậy, ngài há có thể chẳng nói chẳng rằng?
Hàm Đan Thuần đặt miếng chân ngỗng vừa gặm một nửa xuống, đưa bàn tay dính đầy mỡ lên vuốt chòm râu bạc, ra vẻ trịch thượng, cười nói:
— Nói gì chứ? Lão hủ gặp thời loạn, tránh nạn đến Kinh Châu tưởng rằng phải chết nơi đất khách quê người, nào ngờ Thừa tướng chịu thu nhận, lại được công tử quý mến, cho ta ở trong hầu phủ ngày ngày no cơm ấm cật. Trong lòng ta thấy may mắn vô cùng, cứ như vậy mà an hưởng tuổi già, chỉ cần có đồ ăn thức uống thì cần gì phải lo nghĩ nữa?
Lời ông ta nói khiến mọi người đều câm lặng. Tào Thực xét cho cùng cũng là người biết điều hay lẽ phải, mỉm cười nói:
— Lão ngài hà tất phải tự khinh như vậy? Ở đây uống rượu hàn huyên, không phải luận bàn việc đại sự quân quốc, cứ tùy ý chuyện trò là được. Chẳng phải ngài đang soạn bộ Tiếu lâm sao, kể một câu chuyện tiếu cũng được mà!
— Chuyện tiếu... - Hàm Đan Thuần hai mắt chợt sáng lên, - Gần đây, quả thực ta có nghe được một chuyện thú vị. Nơi nọ có hai người Giáp, Ất tranh đấu với nhau, Giáp cắn vào mũi Ất, Ất bèn chạy đi báo quan. Quan lại muốn xử nhanh vụ này, nhưng Giáp lại nói rằng Ất tự cắn đứt mũi mình. Quan hỏi: “Con người đều có mũi trên miệng dưới, há có thể tự cắn được mũi mình?” Giáp đáp: “Bẩm quan, hắn ta đứng ở trên ghế rồi cắn ạ.”
Bốn người nghe xong ôm bụng cười nghiêng ngả, Dương Tu cười đến nỗi rượu sánh ra ướt hết người, xoa bụng nói:
— Tên đó thực lanh lợi, nhưng cuối cùng cũng vẫn phải ăn vài chục trượng. Ha ha ha!...
Đinh Nghi mặc dù cũng cười, nhưng lại bất giác lắc đầu - Uổng công huynh trưởng mời đến một lão già vô tích sự, chỉ biết làm trò mua vui.
Nào ngờ Hàm Đan Thuần tiếp tục nói:
— Lão hủ cho rằng người này tuy mồm miệng nhanh nhảu, nhưng đầu óc thì không thông minh cho lắm. Cần phải biết rằng, mũi ở trên, miệng ở dưới. Miệng dù tốt đến mấy xét cho cùng cũng ở dưới mũi, mãi mãi không thể trèo lên trên được. Đây không phải là đạo lý gì to tát, ai sinh ra cũng như vậy, đó chính là quy củ!
Trong thoáng chốc, cả bốn người đều ý thức được ông ta đang nói về điều gì, tám mắt nhìn nhau không biết nói gì. Hàm Đan Thuần thường ngày vui giận đều lộ ra ngoài, nhưng kỳ thực lại là một bậc trí sĩ nho gia thuần túy, bảo thủ, coi trọng lễ nghi, tông pháp còn cao hơn trời!
Tào Thực chỉ cười mà không nói, vẫn điềm nhiên ngồi xuống bên chiếc đàn, nhẹ nhàng đưa tay gảy. Mọi người yên tĩnh lắng nghe - Âm thanh khi thì thánh thót tựa nước suối chảy tràn; khi thì trầm mặc tựa cây rừng xen lá; lúc thì dồn dập, mãnh liệt như sóng triều lên xuống, lúc thì thảnh thơi, khoan thai như mây trời vờn gió, khi thì dặt dìu, lãng đãng, khi lại quấn quýt, du dương, đến cuối cùng âm sắc tựa mưa rào trút xuống, trời nổi cuồng phong, khiến người nghe như mê như đắm.
Hàm Đan Thuần nghe xong, kinh ngạc đưa mắt nhìn vị công tử phong lưu tuấn tú, đa tài đa nghệ trước mắt. Nhưng ông ta chỉ sững sờ giây lát, rồi lại thở dài một hơi, nhấc đũa lên tiếp tục gắp...
Không kịp trở tay
Ngọn gió tây cuồng bạo cuốn cát vàng thổi qua cao nguyên hoang vắng, tiếng ù ù vang lên từng hồi, nghe thê lương tựa ma than quỷ khóc. Đưa mắt nhìn ra xa, dù đã chính ngọ nhưng bầu trời vẫn một màu xám xịt, vạn vật đều chìm trong màu hoàng thổ mênh mông. Trên cổ đạo dẫn đến Đồng Quan, một đoàn binh mã chỉnh tề đang gấp rút hành quân, ít cũng phải năm ngàn người, các tướng lĩnh đều dùng khăn vải che mặt để ngăn gió cát, kỵ binh sáu lưng đeo cung tên, bộ binh tay giữ trường mâu, đoàn quân đượm màu phong trần tiến thẳng về đông.
Phía trước nhất đội quân có một con chiến mã cao lớn màu trắng, người ngồi trên ngựa đầu đội kim khôi, thân mặc ngân giáp, ngoài khoác chiến bào, tuy mũi miệng đều bị che sau lớp vải, nhưng nhìn gò trán đầy nếp nhăn thì không khó đoán ra, vị tướng quân này tuổi không còn trẻ nữa - Người ấy tên là Lưu Hùng, là nhân sĩ Lam Điền đất Kinh Triệu, tuổi đã quá lục tuần nhưng vẫn vũ dũng thiện chiến. Vốn dĩ ông ta chỉ là một thợ săn tráng kiện, mưu sinh bằng nghề hái thuốc, săn bắn. Do núi Phúc Xa nằm ở phía nam dãy Ly Sơn quanh năm mây mù phủ trắng, Lưu Hùng ngày ngày hành tẩu chưa từng bị lạc, nên được người trong vùng gọi là kỳ nhân, thậm chí người ta còn truyền miệng nhau rằng ông có thể phun mây nhả sương. Sau này Đổng Trác vào kinh, thiên hạ đại loạn, Lưu Hùng muốn bảo vệ đất hương thổ nên đã tập hợp một đội dân binh, lại giết chết đám phản quân dưới trướng Lý Thôi, cướp được không ít lương thảo, tiếp tục khuếch trương thanh thế, chiêu mộ binh mã, dần dần có được một chút thế lực.
Lưu Hùng xét cho cùng cũng đã có tuổi, chuyện dấy binh phản loạn vốn không muốn tham gia, nhưng ông ta lại có giao tình với các tướng lĩnh Quan Trung, đặc biệt rất tâm đầu ý hợp với Mã Đằng, hai người trước nay luôn xưng huynh gọi đệ. Lần này chư tướng phản loạn, không ít tướng lĩnh đến mời ông gia nhập, còn luôn miệng gọi là lão tiền bối. Nếu như không theo bọn chúng thì cũng khó ăn nói, bươn chải cả đời cuối cùng để lại cái tiếng không trượng nghĩa; còn nếu theo bọn chúng, chưa cần biết đánh thắng hay không, tuổi già thế này còn ra ngoài chém chém giết giết, hẳn cũng chẳng hay ho gì. Lưu Hùng đang lưỡng lự không biết làm sao, nhi tử của Mã Đằng là Mã Siêu bỗng gửi thư đến, nói rằng phụ thân hắn đã bị Tào Tháo tống giam vào ngục, chẳng bao lâu nữa sẽ bị xử tử, tin này khiến ông ta đùng đùng tức giận, lập tức đồng ý gia nhập. Nếu như có thể đánh đến đất Hà Lạc, uy hiếp Trung Nguyên thì coi như đã có điều kiện để thương lượng với Tào Tháo, ép ông ta phải trả người.
Sau này Lưu Hùng mới hay tin, quy mô của lần phản loạn này ở Quan Trung lớn chưa từng có trong hai mươi năm trở lại đây, hơn mười cánh quân của Hàn Toại, Mã Siêu, Trình Ngân, Thành Nghị, Lương Hưng, Mã Ngoạn, Hầu Tuyển, Trương Hoành, Dương Thu, Lý Kham đều lần lượt khởi binh, còn có Thương Diệu ở Thái Nguyên hưởng ứng, Tống Kiến người Bao Hãn, tự xưng là “Hà Thủ Bình Hán Vương” tăng viện ở phía sau. Người Khương Hồ cũng đồng ý tiếp ứng bất cứ lúc nào, Dương Thiên Vạn, thủ lĩnh Đê tộc ở một dải Hưng quốc cũng tỏ ý muốn tham gia. Tổng binh lực đã vượt quá mười vạn, tạm thời có thể tự tin. Nay hai nhà Hàn, Mã cùng nhau cử binh, các lộ quân khác cũng sắp sửa hành động. Địa bàn của Lưu Hùng ở Lam Điền, là lộ quân nằm gần Đồng Quan nhất, chỉ cần tiến vào Đồng Quan, uy hiếp Hoằng Nông là có thể đánh cho Chung Do trở tay không kịp, đợi những lộ binh mã phía sau tiếp ứng là có thể đoạt lấy quận Hoằng Nông. Tiếp đến đánh chiếm Lạc Dương, vào Quan Đông, công phá Hứa Đô.
Quan Trung vốn là vùng đất trù phú nhất trong thiên hạ, hai đời Tần, Hán đều dựng đô ở đây, nhưng gần một trăm năm trở lại đây dần dần suy lạc. Bắt đầu từ thời Hiếu An Đế, người Khương dấy binh tạo phản mấy lần đều đánh tới đất này, các thế lực hào cường cũng ngày càng hung hãn. Đặc biệt là trong thời gian Lý Thôi, Quách Dĩ chủ trì triều chính, trong đấu ngoài đá, chinh chiến liên miên, lại gặp lúc hạn hán, ngũ cốc bán tận năm mươi vạn tiền một đấu, đậu mạch hai mươi vạn một đấu. Dẫn tới cảnh người ăn thịt người, xương trắng đầy đường. Dù mấy năm nay không có chiến tranh, nhưng các thế lực cũ ở Lương Châu và thổ hào Quan Trung vẫn tự phân chia địa bàn, chỉ quy phục triều đình trên danh nghĩa. Những kẻ này tuy thiện chiến nhưng lại không biết trị dân, thế nên việc trồng trọt, phát triển ở Quan Trung khôi phục rất chậm, nhiều nơi do nhân khẩu quá ít, cuối cùng đã biến thành hoang nguyên.
Lão tướng quân nhìn một vùng núi đồi hoang vu, thảo nguyên vắng lặng phía trước, trong lòng vừa mừng vừa lo. Mừng là vì không gặp phải quân Tào, xem ra việc thám báo rất đáng tin cậy; còn lo là vì đất hương thổ hoang tàn đến vậy, khiến người ta cảm thấy chua chát. Dù sao đi nữa hành quân cũng rất thuận lợi, binh mã tiến đến Đồng Quan một cách bình an.
Kỳ thực, người xưa nhắc đến Quan Đông, Quan Tây không phải chỉ Đồng Quan, mà là Hàm Cốc Quan nằm giữa núi Hy Sơn và Đông Đại Môn của nước Tần thời Chiến Quốc. Nhưng cùng với sự xoay vần của thời vận, Hàm Cốc Quan giờ đã hoang phế đến nỗi chẳng thể nhận ra, Đổng Trác ép thiên tử dời về phía tây, để đề phòng nghĩa quân tiến phạm, bèn ra lệnh tu bổ tường thành trong rừng đào cổ thụ, nằm ở giáp giới giữa địa phận Kinh Triệu và Hoằng Nông. Phía bắc dãy tường thành này chính là nơi giao dòng của hai con sông Vị Thủy và Hoàng Hà, nước sông đổ vào Hàm Cốc Quan, nên từ đó có tên gọi Đồng Quan, nơi đây địa thế cực kỳ hiểm trở. Nhưng dù hiểm yếu đến mấy cũng chỉ dùng để cự địch, Đồng Quan vì thế không còn hữu dụng trong việc khác. Nghĩa quân nội bộ tương tàn, cuối cùng tan tác như đất sụt ngói vỡ, Đổng Trác chết dưới tay Lã Bố, chỉ tiếc thay cho cửa ải này, tường thành tốn công tu bổ thành ra vô dụng, lại một lần nữa chìm trong hoang phế.
Lý do không phải là Chung Do không thể khôi phục, mà sợ nảy sinh hiềm khích với chư tướng Quan Trung nên cố ý bỏ mặc, chỉ phái hơn một trăm quan binh đến đồn trú. Lưu Hùng vốn tưởng rằng đến đây sẽ phải đánh một trận, nào ngờ xung quanh cửa quan chỉ còn lại một tòa quân doanh trống trải, mục nát, nửa tên lính cũng chẳng thấy đâu - Ông ta đoán chắc có thám mã đã phát hiện ra động tĩnh của mình, bọn họ thân cô thế cô nên sợ hãi chuồn mất.
Lưu Hùng phấn chấn hẳn lên, lập tức truyền lệnh tăng tốc tiến về phía trước. Trong lòng ông ta thầm tính toán, Hoằng Nông mặc dù đã chuẩn bị chiến tranh nhưng cũng chỉ có hơn ba ngàn binh mã, trang bị không được tinh nhuệ, huống hồ Chung Do chỉ là một văn nhân, cho dù không thể công hạ được thành trì thì cũng có thể đánh bại được ông ta. Còn binh mã của Hạ Hầu Uyên hiện vẫn đang giằng co với Thương Diệu, trước mắt không thể đến cứu viện, cho dù đến kịp ông cũng có thể cắm doanh, kiên thủ không đánh; đợi đại quân của Mã Siêu, Hàn Toại đến nơi, quân Tào chắc chắn đại bại.
Vừa ra khỏi Đồng Quan cảnh vật bỗng hoàn toàn khác biệt, tuy cũng có núi non trùng điệp, đường mòn lối cổ, nhưng phía xa xa lác đác đồn điền. Chung Do biết cách trị dân, Yết giả bộc xạ Vệ Ký lại cho xây dựng đồn điền, chiêu tập lưu dân đến khai khẩn, bách tính an cư lập nghiệp - Quả nhiên là một vùng có vương pháp, hoàn toàn khác biệt! Hành quân được năm sáu dặm đã có thám mã đến báo:
— Phía trước có một toán binh mã chạy về hướng đông.
— Chạy về hướng đông? Bao nhiêu người?
— Chưa đầy một trăm.
Lưu Hùng cười nói:
— Hẳn là đám lính chạy trốn từ Đồng Quan. Mau đuổi theo giết sạch, cho chúng khỏi về Hoằng Nông báo tin!
Đám lính Quan Trung đều biết lần tạo phản này thanh thế cực lớn, trên đường lại chưa từng gặp quan quan triều đình nên kẻ nào kẻ nấy bừng bừng khí thế, hùng hục theo lão tướng quân truy kích. Vòng qua lưng núi đã nhìn thấy cờ hiệu quan quân nháo nhác chạy trốn. Ỷ đông nạt ít, kẻ nào lại chẳng khoái chí? Ai nấy đều gào thét khản cổ, ào ào đuổi lên phía trước.
Xét cho cùng, gừng càng già càng cay, đuổi được khoảng một dặm, Lưu Hùng bỗng cảm thấy có điều dị thường: Chưa đầy một trăm tên lính tan tác tháo chạy, há lại không vứt bỏ cờ hiệu? Sao vẫn cố sống cố chết cầm theo?
Lưu Hùng lập tức ghì dây cương, quay đầu dặn dò phó tướng Dương Quỳ:
— Mau hạ lệnh dừng binh!
— Vâng.
Dương Quỳ lĩnh mệnh đi ngay, may mà kỵ binh ở phía trước, bộ binh chậm chân hơn nên chỉ có hơn một ngàn người đuổi kịp. Lưu Hùng thở phào, chưa kịp hoàn hồn bỗng thấy hai bên tả hữu tiếng hô giết vang trời lở đất - Thì ra trong rừng có mai phục!
— Bộ binh lui trước, lão phu tự mình chặn hậu, để ta xem Chung Do kia bản lĩnh ra sao!
Lưu Hùng vẫn chưa thấy gì đáng sợ, ông ta vẫn nghĩ Hoằng Nông chỉ có ba ngàn tân binh chưa được huấn luyện kỹ lưỡng, hơn nữa không thể điều hết ra ngoài thành, nên dù có gặp mai phục cũng chẳng có gì đáng sợ.
Nhưng trong khoảnh khắc Tào quân lao xuống, Lưu Hùng ý thức được rằng mình đã lầm. Quân Tào tràn ngập rừng núi, không đến một vạn thì cũng phải tám ngàn, trên đại đạo phía trước cũng thấp thoáng xuất hiện quan quân. Lưu Hùng liệu rằng có trốn cũng không kịp nữa, chỉ thấy người ngựa tràn đến như sóng xô bờ, chẳng bao lâu đã vây chặt hơn một ngàn kỵ binh của ông ta.
Họa rơi xuống đầu đành phải liều mạng, Lưu Hùng cắn răng cắn lợi đoạt lấy trường thương toan đột phá vòng vây. Nào ngờ vẫn chưa kịp nhìn ra phương hướng thì một trận mưa tên đã bay đến, một mũi tên xuyên thấu cánh tay ông ta khiến trường thương rơi xuống; ngay sau đó ba bốn tên lính hùng hổ lao đến, dùng trường mâu đâm thẳng vào cổ chiến mã. Trong khoảnh khắc rơi xuống đất, Lưu Hùng thoáng nhìn thấy ngọn đại kỳ có hai chữ “Hạ Hầu”, nhưng chưa kịp ngẩng đầu lên, hai tay hai chân đã bị quân Tào ghì lại trói chặt....
❀ ❀ ❀
[1] Lui về ở ẩn sau khi làm nên nghiệp lớn là đạo của trời.
[2] Thời Chu, quan lại được chia làm chín bậc, từ nhất mệnh đến cửu mệnh, trong đó nhất mệnh là cấp quan thấp nhất, tương đương với quan cửu phẩm.
[3] Trữ quân chỉ người kế thừa vương vị sau này, đôi khi cũng gọi là trữ cung, đứng đầu các hoàng tử trong hoàng tộc và thường giúp đỡ hoàng đế trong việc chính sự.
[4] Hảo hán thì không nhắc lại cái dũng năm xưa.
[5] Chỉ khi không màng tranh giành, thiên hạ mới không ai tranh giành với mình.
[6] Kinh thi - Quan thư, đời sau thường dùng “quan thư” để ví với đức hạnh của quân vương, hậu phi.
[7] Thời xưa, khi vào cung điện, miếu đường, nếu không phải thiên tử thì đều phải bỏ giày, để biểu thị sự khiêm nhường, kính sợ.