Uy hiếp Giang Đông

Tào Tháo - Thánh Nhân Đê Tiện

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 491 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi Thứ 107
Hai Nhà Tôn-lưu Hợp Sức Chống Tào

❊ ❊ ❊

Sau khi Từ Thứ hàng Tào, Tào Tháo từng triệu kiến ông ta, tiếc rằng hỏi gì Từ Thứ cũng nói là không biết, không chịu tiết lộ nửa lời về quân tình bên phía Lưu Bị. Tào Tháo trong lòng phẫn nộ, nhưng niệm tình ông ta vì mẹ già bị bắt mới quy hàng, là người con có hiếu nên không trách tội, còn cho ông ta một chức quan nhỏ là Tòng sự Ký Châu, đuổi về mãi phương bắc. Còn hai con gái của Lưu Bị, Tào Tháo chẳng thèm nhìn đến, thưởng luôn cho người bắt được, hai cô bé rơi vào tay binh sĩ, đủ biết có kết cục đáng thương nhường nào.

Quân Tào không bắt được Lưu Bị, nhưng thuận lợi tiếp quản Giang Lăng, giữ được quân nhu, lương thảo, đồng thời nắm giữ con đường huyết mạch của sông Trường Giang đi qua bốn quận Trường Sa, Võ Lăng, Linh Lăng và Quế Dương. Bảy cánh quân của bọn Tào Nhân, Tào Hồng, Vu Cấm ở phía sau đã lục tục kéo đến Tương Dương, giữ vững cục diện. Thái thú Phòng Lăng là Khoái Kỳ cũng sai sứ giả tới Giang Lăng xin quy thuận. Đến đây, ngoại trừ một nửa quận Giang Hạ mà Lưu Kỳ đang trú chân, các quận huyện Kinh Châu còn lại đều về tay Tào Tháo.

Tào Tháo tưởng rằng đại cục đã định, cho nên sau khi tới Giang Lăng ông không vội tiến binh tru diệt Lưu Bị, mà vỗ về nhân tâm trước. ông dâng biểu phong mười lăm hàng thần là bọn Khoái Việt làm liệt hầu cùng một lúc, lại vời Vương Xán, Phó Tốn, Bùi Tiềm làm duyện thuộc. Ngoài ra, ông còn dành thời gian giữa lúc bận rộn làm việc riêng, đó là đưa linh cữu của vị bằng hữu là Vương Tuấn về Giang Bắc.

Vương Tuấn sinh thời ẩn cư tại Vũ Lăng, do hai miền nam bắc giao tranh nên đành chết ở nơi quê người, an táng sơ sài, nay Tào Tháo nói muốn đưa hài cốt ông ta về quê nhà Nhữ Nam đã làm kinh động đến các quan nam Kinh Châu. Thái thú Vũ Lăng Lưu Tiên, Thái thú Trường Sa Trương Cơ, Thái thú Linh Lăng Lưu Độ, Thái thú Quế Dương Triệu Phạm đều là bộ hạ cũ của Lưu Biểu, giờ Kinh Châu đổi chủ, tạo ra một sự thay đổi quá lớn, bọn họ muốn giữ được chỗ ngồi của mình thì phải biết điều hầu hạ chủ nhân mới thật tốt, cho nên đều dốc sức thu xếp ổn thỏa nhiệm vụ đầu tiên này. Bốn vị Thái thú bàn bạc với nhau, cuối cùng cử Lưu Tiên làm đại diện, dẫn công tào của bốn quận đi đào mộ, sửa sang quan quách của Vương Tuấn, chở về Giang Bắc. Dọc đường thuyền xe, nghi trượng còn uy nghiêm hơn cả việc đưa rước linh cữu của cống khanh trong triều - có lẽ vị ẩn sĩ cả đời chưa từng làm quan này cũng chẳng thể ngờ được, sau khi mình chết còn được vẻ vang nhường ấy.

Bên phía Giang Bắc còn tổ chức long trọng hơn, Tào Tháo dựng đàn tế, dẫn chúng quan văn võ di nghênh đón, tinh kỳ san sát sắp hàng bên bờ sông. Khi thuyền của Lưu Tiên chầm chậm tiến lại, Tào Tháo đứng ở trên cao nhìn xa xa, trong lòng muôn vàn cảm xúc, một lần từ biệt mà xa cách những hơn hai mươi năm, không ngờ rằng ngày gặp lại thì đã người sống kẻ chết chia đôi ngả, ông không ngăn được dòng nước mắt tuôn xuống sông Trường Giang.

Lưu Tiên đích thân khiêng quan tài lên bờ, Tào Tháo cùng với Hứa Du, Lâu Khuê đứng đón hai bên tả hữu, đưa đến đàn tế, một đám quan văn võ lũ lượt thắp hương, vái lạy, đọc điếu văn, dâng rượu cúng, sau cùng Lâu Khuê nhận việc đưa quan quách về Nhữ Nam hạ táng. Đợi làm xong các việc này, Lưu Tiên mới cùng công tào của bốn quận dâng biểu chương quy hàng. Tào Tháo rất độ lượng, cho bốn vị Thái thú cai quản bốn quận như cũ, đến khi chiến sự kết thúc sẽ còn có phong thưởng khác. Bốn công tào đã hoàn thành mỹ mãn nhiệm vụ, rối rít tạ ơn rồi đứng dậy, chỉ có mình Lưu Tiên vẫn cúi đầu không nhúc nhích.

— Lưu quận tướng vì sao không đứng lên? - Tào Tháo ân cần hỏi.

Lưu Tiên dập đầu nói:

— Năm xưa, thuộc hạ từng mạo phạm Thừa tướng, nên muốn thỉnh tội.

Khi đó, Lưu Tiên vâng lệnh Lưu Biểu đi sứ Hứa Đô, đã tranh biện với Tào Tháo, còn mắng ông là sài lang; nay Tào Tháo là thượng ty, Lưu Tiên há có thể an tâm?

Tào Tháo cười nhạt:

— Lão phu đã có lệnh, quan dân Kinh Châu từ nay làm lại từ đầu, những chuyện trước kia đều không truy cứu. Năm đó, ngươi lên tiếng tranh biện xuất phát từ lòng trung với Lưu Cảnh Thăng, chẳng những không có tội, ngược lại còn rất đáng khen, không ít đại thần trong triều đều rất khâm phục. Ta thấy ngươi cũng không cần làm Thái thú nữa, hãy đến Hứa Đô nhận chức Thượng thư, xử lý việc triều chính với Tuân Lệnh quân.

Thái thú hưởng bổng lộc hai ngàn thạch, còn Thượng thư chỉ hưởng sáu trăm thạch, nhưng được tham dự vào những chính vụ quan trọng của quốc gia, giữ trách nhiệm lớn hơn nhiều. Lưu Tiên không ngớt lời cảm tạ, rồi lại tiến cử với Tào Tháo một danh sĩ Linh Lăng là Lưu Ba cùng theo ông ta đến. Vị Lưu tiên sinh này tuổi tác không lớn lắm, nhưng khá có tiếng tăm, Lưu Biểu đã mấy lần trưng vời, thậm chí còn cử ông ta làm mậu tài mà ông ta cũng không chịu xuất sĩ, nay Tào Tháo vừa làm chủ Kinh Châu đã nguyện ra góp sức. Tào Tháo cảm thấy vẻ vang, lại nghĩ Lưu Ba là người đầu tiên từ Giang Nam đến làm thuộc hạ cho mình, nên trọng đãi để làm gương cho kẻ khác, vì vậy lập tức nhận mệnh Lưu Ba làm quân mưu duyên. Tào Tháo vừa phong quan cho chúng nhân xong, lại có Văn Sính, Trương Doãn đến báo tin, chiến thuyền của các quận Kinh Châu đều đã được điều động đến nơi. Ông mừng rỡ, dẫn mọi người cùng đi xem thủy quân.

Văn võ Tào doanh có nhiều kinh nghiệm lăn lộn trên sa trường, nhưng phần lớn không am hiểu thủy chiến. Năm xưa, họ chống lại Viên Thiệu trên sông Hoàng Hà, có thể chỉ huy những chiếc thuyền nhỏ được huy động từ trong dân đã thấy giỏi lắm rồi, đây là lần đầu tiên nhìn thấy những chiến thuyền đạp gió rẽ sóng trên sông Trường Giang. Đúng là được mở rộng tầm mắt - có đến mấy trăm chiến thuyền lớn nhỏ tấp vào bờ sông rộng lớn, có chiếc cao mấy trượng, bên trên có lầu gác, lại có chiếc vừa dài vừa nhỏ tựa như con thoi, tinh kỳ san sát, cánh buồm rợp trời, phủ kín cả một bãi sông. Tào Tháo nhìn hoa cả mắt, chỉ vào chiếc thuyền lớn nhất, khen rằng:

— Chiếc thuyền đó uy phong quá, lại còn có ba tầng lầu cao!

Trương Doãn cười ha hả, tiến lại nói:

— Thừa tướng trước đây chỉ chinh chiến ở phương bắc, sông ngòi nhỏ hẹp nên thuyền bè cũng nhỏ, còn đánh trận trên sông lớn tất nhiên phải cần dùng thuyền lớn. Chiếc thuyền đó được gọi là “thuyền lầu”, dài mười sáu trượng, có bốn cột buồm với ba tầng lầu, có thể chứa được vài trăm người. Nó dành riêng cho ngài, tương đương với đại doanh của trung quân. Còn mấy chiếc thuyền nhỏ hơn, có thể chia cho các vị tướng quân.

Tào Tháo gật đầu sung sướng:

— Tốt lắm! Lão phu tung hoành nửa đời người rốt cuộc cũng có thể cho ngựa uống nước sông Trường Giang... Kia là thuyền gì? - Ông lại chỉ vào mấy chiếc thuyền lớn phía xa xa, dài những mấy trượng, trùm da trâu trên nóc.

Trương Doãn lại đáp:

— Thuyền đó gọi là “mông đồng”, được bọc bằng da trâu, hai bên có gắn mái chèo, phía trước, phía sau, bên tả, bên hữu đều dựng chòi dự sẵn nỏ, mâu. Loại thuyền này quân địch không bắn được tên vào, cũng khó có thể tiến lại gần, nên là loại thuyền bảo vệ tốt nhất cho chủ soái.

Tào Tháo chưa từng đánh dưới nước, nhưng cũng đoán ra ưu nhược điểm của loại thuyền này:

— Quân địch tất nhiên không thể tiếp cận, song quân ta cũng không dễ xông ra. Nó không phải là chiếc thuyền thiện chiến.

— Thừa tướng thật cơ trí, vừa nhìn một cái đã nói trúng! - Trương Doãn ngoài lời giới thiệu ra, còn không quên nói nịnh, - Thuyền mông đồng chuyên chở binh lính và phòng ngự, hai quân giao tranh cần phải dựa vào “đấu hạm”. Chính là loại kia! - Ông ta chỉ tay, - Trên mạn thuyền dựng tường chắn cao năm thước, bên trên có mái che, phía trước cắm cờ răng cưa, phía sau đặt trống vàng. Binh sĩ đứng ở giữa, dùng trường mâu, đại kích. Khi đánh trận chủ yếu phải trông cậy vào loại thuyền này. Thủy quân Kinh Châu có hơn trăm đấu hạm, có thể bày trận ba bốn vạn người...

— Ba bốn vạn người? - Tào Tháo cắt ngang lời Trương Doãn, - Tôn Quyền ở Giang Đông có bao nhiêu thủy quân?

Trương Doãn nói vẻ coi thường:

— Dưới trướng Tôn Quyền có tất thảy ba bốn vạn thủy quân thiện chiến, chỉ riêng số quân chúng ta bày bố trên đấu hạm đã bằng ngần ấy, nên thủy quân của ta vượt xa quân Ngô! Ngài nhìn xem, mấy chục chiến thuyền đó, dài nhỏ kiên cố, phía trước có chông chà, bên trên cắm đao sắc, gọi là thuyền “mạo đột”, chỉ cần di chuyển dựa vào sức nước mà có thể đâm thủng chiến hạm của địch.

So với những tướng lĩnh phương bắc không hiểu thủy chiến, Trương Doãn chẳng khác nào bậc thánh nhân, chỉ chỉ trỏ trỏ như đếm của quý trong nhà:

— Ngài nhìn tiếp hơn chục chiếc thuyền này, thân sơn màu đỏ, nhỏ nhắn linh hoạt, lướt đi nhanh nhất, có tên là thuyền “xích mã”, dùng để tuần tra và dẫn đường, có thể ví như quân xích hầu trên cạn. Còn kia là những chiếc thuyền bình thường, chiếc lớn nhất dài mười hai trượng, rộng một trượng sáu, mỗi thuyền có hai mươi sáu binh sĩ thiện chiến, năm mươi người khua mái chèo, ba người cầm bánh lái, chưa kể binh sĩ cầm cung nỏ, rìu lớn, câu liêm. Nó có thể chở gần một trăm người.

Nhạc Tiến đứng phía sau, vẻ mặt ngơ ngác, không nhịn được hỏi:

— Hai quân lâm trận, lấy chiều dài và độ sắc bén của binh khí làm lợi thế, nhưng đám binh sĩ cầm rìu, câu liêm chẳng có tý hữu dụng nào thì làm được gì?

Trương Doãn cười nói:

— Tướng quân nói sai rồi! Thủy chiến, trước hết phải bắn cung nỏ từ xa, đến gần thì đánh bằng thương, mâu. Còn khi hai quân giao tranh, cần tung câu liêm kéo mạn thuyền của quân địch, dùng rìu chặt gẫy ván che, binh sĩ mới xông lên trên được. Phép thủy chiến thiên biến vạn hóa, ảo diệu lắm...

Hắn càng nói càng đắc ý, mặt mày hớn hở, văng cả nước miếng ra ngoài. Không chỉ đám võ nhân như Nhạc Tiến, Hạ Hầu Uyên nhăn mày, đến cả bọn Tuân Du, Hứa Du, Trình Dục cũng như lạc vào sương mù, trong lòng dấy lên nỗi bất an - hai mươi năm kinh nghiệm chinh chiến trên cạn chẳng có tác dụng gì khi xuống dưới nước, đây rõ ràng là một chiến pháp khác.

Nhưng Tào Tháo không hề để tâm, tiến lại hỏi:

— Tóm lại, có thể trang bị tất cả bao nhiêu thủy quân?

Trương Doãn ngẫm nghĩ một lát, nói:

— Tất cả thuyền chiến, cộng với thuyền con, thuyền chài được đều động, có thể chở hết sáu bảy vạn binh sĩ.

— Thế là đủ rồi.

Tào Tháo đã có tính toán: sáu bảy vạn quân ở trên thuyền, bộ binh còn lại ba bốn vạn người, ngoài ra còn có bảy bộ quân của bọn Vu Cấm đồn trú tại thành Tương Dương. Quân Tào có tất cả gần mười lăm vạn binh, đánh Giang Hạ dễ như di chết con kiến.

— Mời chúa công lên thuyền.

Trương Doãn sai thân binh bắc một chiếc thuyền con đưa mọi người lên một chiếc thuyền lầu. Tào Tháo bước lên trước, theo sau là một đoàn người.

Đứng trên thuyền lầu, tầm nhìn càng rộng, Tào Tháo nhìn sông Trường Giang cuồn cuộn chảy về đông, tàu thuyền san sát, rừng cây hai bờ rậm rạp, càng cảm thấy hào sảng. Hứa Chử chỉ tay về phía bắc, nói:

— Chúa công mau nhìn xem, các công tử đã đến!

Tào Tháo đứng ra mạn thuyền nhìn: một đám tử điệt lớn nhỏ vui vẻ phi ngựa chạy lại phía này dưới sự bảo vệ của thị vệ.

Trên danh nghĩa, các công tử theo quân đánh trận, nhưng kỳ thực là muốn xí công lao, chứ họ không hề ra tiền phương, chỉ đi nửa đường rồi ở lại huyện Tiều, du sơn ngoạn thủy. Họ không phải động vào đao kiếm, không những thế tướng quân Tào Du đóng giữ huyện Tiều còn phải phái người theo sát bảo vệ. Tào Xung trông thấy phụ thân đứng trên một chiếc thuyền đồ sộ, hớn hở gào to:

— Thuyền lớn quá! Phụ thân thật uy phong!

— Ha ha ha!...

Tào Tháo gật gù đắc ý, vẫy tay gọi bọn họ tới. Tào Xung đã được ngầm định là người kế vị, lần này Tào Tháo dẫn theo vì muốn cậu ta có tên trong danh sách những người xuất chinh. Tuy Tào Xung chỉ mới mười bốn tuổi nhưng đã làm lễ đội mũ, cũng có thể coi là người trưởng thành. Trước đó, Tào Xung búi tóc thành chỏm, trông khá khôi ngô, Tào Tháo còn có cảm giác không đành lòng khi nhìn cậu bé phải tết tóc, cài trâm. Nào ngờ sau khi sửa soạn xong, nhìn Tào Xung đội mũ lại càng toát lên vẻ tuấn tú, ra dáng người lớn, Tào Tháo lại không yêu quý hơn sao?

Các công tử vừa bước lên thuyền, Tào Tháo liền kéo Tào Xung lại chỗ mình:

— Lão phu đã quyết định, hai quân thủy bộ tiến thẳng đến Giang Hạ. Lần này bày trận ở Giang Biểu, cha con ta phải kề vai chiến đấu!

Một đứa trẻ mới mười bốn tuổi đầu hiểu thế nào là đánh trận? Nhưng nghe Tào Tháo nói vậy, không ai dám bác lại, có người nhìn ra ẩn tình còn phụ họa:

— Tiểu công tử thiếu niên thần dũng, đúng là có dáng dấp của bậc lương tướng.

Tào Tháo lại chỉ vào Hạ Hầu Thượng:

— Bá Nhân, ta nhận mệnh ngươi làm Tư mã trung quân, từ hôm nay theo quân nghe lệnh.

Tư mã trung quân là trợ thủ quan trọng của chủ soái, Hạ Hầu Thượng mới ngoài hai mươi tuổi, chưa có kinh nghiệm thực chiến mà đã được giao cho trọng trách này, cố nhiên là vì có chút tài năng, nhưng lý do quan trọng hơn là anh ta lấy muội muội của Tào Chân, là con rể Tào gia. Bọn Tuân Du thầm tặc lưỡi, nhưng cũng không nói gì - dù sao cả quân ngũ cũng đều là của Tào Tháo.

Tào Thực thích kết giao với văn sĩ, vừa thi lễ với phụ thân và các vị trưởng bối xong đã vồn vã hỏi:

— Tống Trọng Tử, Hàm Đan Thuần, hai vị lão tiên sinh có ở đây không? Vãn sinh tới bái yết!

Dứt lời vái một vái dài với quần liêu Kinh Châu.

— Công tử sao có thể làm đại lễ được, thật khiến lão hủ tổn thọ.

Tống Trung, Hàm Đan Thuần vội bước ra đáp lễ chàng trai trẻ này - đứng trước người quyền quý, danh sĩ ngày càng chẳng có giá trị gì.

Tào Thực vui mừng nói:

— Vị này là Trọng Tử tiên sinh sao? Cuốn Lục kinh do ngài hiệu đính được người ta sao lại, truyền tới tận phương bắc, vãn sinh may mắn được đọc, cảm thấy kính phục từ tận đáy lòng. Ngài ở trong thời loạn mà vẫn bảo tồn cái học của các bậc tiên hiền, ấy là có công tạo phúc cho hậu thế.

— Công tử quá khen. - Tống Trung cũng rất khách khí, - Năm xưa, Sái Bá Giai đã từng đính chính kinh sách ở Đông Quán, Lạc Dương, cho khắc bia đá, dựng ngoài nhà Thái học. Tiếc rằng, Đổng Trác phóng hỏa, tất thảy đều bị hủy trong chốc lát. Vào buổi loạn lạc, ít người nghiên cứu học vấn, nên gọi là chu sa không đủ, đất đỏ lên ngôi. Tại hạ chỉ muốn giúp hậu học được thuận tiện hơn, nếu đời này không làm, e là sách vở đời sau truyền lại cũng có nhầm lẫn. Kỳ thực, tại hạ tài trí tầm thường, kém xa Hàm Đan tiên sinh.

Hàm Đan Thuần mà ông ta nhắc tới tự Tử Thục, người Dĩnh Xuyên, thời trẻ nổi tiếng có tài văn chương, khi ông ta được sĩ lâm ca ngợi, Tào Thực còn chưa ra đời. Nay ông hơn bảy tươi tuổi, nét tài hoa, tiêu sái năm xưa đã tan biến, văn sĩ quá nửa đời người sống trong cảnh thái bình, tính tình bộc trực, phong lưu khoáng đạt, không ngờ lúc về già còn vướng vào đại loạn của thiên hạ, phải trốn đến Kinh Châu lánh nạn. Tào Thực liên tục chắp tay, nói năng khiêm nhường:

— Vãn sinh rất ngưỡng mộ Tào Nga bi của lão tiền bối, còn từng dập một bản về đọc.

Nghe vãn bối nhắc tới Tào Nga bi, khuôn mặt nhăn nheo của Hàm Đan Thuần không giấu được vẻ đắc ý, ông ta vốn tính khôi hài, lại nghĩ trên thuyền không có ai lớn tuổi hơn mình, nên cao ngạo nói:

— Năm đó, Sái Bá Giai bị hoạn quan hãm hại, bỏ quan lưu lạc bên ngoài, khi đi qua quận Cối Kê, cũng từng sang sông thăm tấm bia. Lúc đó, trời đã tối, nhìn không rõ, ông ta lại không mang theo đèn đuốc, bèn sờ bằng tay, đọc thầm trong lòng. Đọc xong còn khắc tám chữ bình ở mặt sau tấm bia.

— Sao? - Đến cả Tào Tháo cũng bị câu chuyện của ông ta thu hút, - Ông ấy viết chữ gì?

Hàm Đan Thuần vuốt vuốt chòm râu bạc, nói vẻ thần bí:

— Hoàng quyên ấu phụ, ngoại tôn tê cữu.

— Những chữ này chẳng liên quan gì đến nhau mà!

Chúng nhân ai cũng lắc đầu.

— Đó là một câu đố, các vị cứ đoán thử.

Cha con Tào Tháo chau mày suy nghĩ, những người khác cũng cố động não, nhưng mãi vẫn không tài nào đoán ra được.

— Tại hạ biết!

Bỗng có một duyện thuộc trẻ bước ra từ giữa đám người. Tào Tháo ngẩng lên nhìn, người đó là Dương Tu, con trai Gián nghị đại phu Dương Bưu. Dương Tu mới được vời vào mạc phủ trước lúc xuất chinh, nói Tào Tháo dùng vì coi trọng tài năng của anh ta, chẳng bằng nói là vì muốn khống chế cha anh ta.

Dương Tu vái một vòng, rồi mới cười nói:

— Hoàng quyên là sợi tơ màu vàng, ghép chữ sắc với chữ ti được chữ “tuyệt”. Ấu phụ là thiếu nữ, ghép chữ thiêu với chữ nữ được chữ “diệu”. Ngoại tôn là con của con gái, ghép chữ nữ với chữ tử được chữ “hảo”. Tê cữu, tê là vật cay, cữu là đồ chứa, ý nói chịu cay, ghép chữ thụ với chữ tân được chữ “từ”. Nói tóm lại là...

— Tuyệt diệu hảo từ![1] - Tào Thực nói thẳng ra, - Thảo nào lão tiên sinh vẻ vang như vậy!

Tào Tháo vỗ tay cười:

— Tuyệt diệu! Văn bia của Hàm Đan tiên sinh tuyệt diệu, câu đố của Sái Bá Giai tuyệt diệu, Đức Tổ giải được cũng tuyệt diệu.

— Hậu sinh khả úy, hậu sinh khả úy...

Hàm Đan Thuần tán thưởng Dương Tu. Tào Thực càng ưu ái, khẽ chắp tay với anh ta, Dương Tu cũng thi lễ với Tào Thực - hai chàng trai trẻ nhìn nhau, chỉ tiếc không gặp được nhau sớm hơn.

Tào Tháo lại nói:

— Không biết thời gian lão tiên sinh ở Kinh Châu có sáng tác mới nào không?

Hàm Đan Thuần thở dài, vẻ cao ngạo trước đó bỗng chốc biến mất, cơ hồ còn có chút bất lực:

— Lão hủ tuổi cao, tay chậm mắt mờ, cũng ngại viết văn nghiêm chỉnh, mấy năm nay chỉ tập trung trích dẫn truyện cười, muốn soạn lại thành một cuốn gọi là Tiếu lâm.[2]

Tiếu lâm? - Tào Phi thích nhất thể loại này, - Hẳn là lời lẽ rất đáng cười, lão tiên sinh có thể kể lại một truyện không? Chúng vãn sinh xin rửa tai lắng nghe.

— Được chứ, lão hủ xin kể một mẩu truyện giải khuây cho Thừa tướng và chư vị đại nhân. - Hàm Đan Thuần cao giọng nói, - Chuyện kể rằng, ở quận Bình Nguyên có một anh chàng họ Đào Khâu, lấy một người con gái quận Bột Hải. Người con gái ấy rất xinh đẹp, vợ chồng hòa hợp, tương kính như tân. Bỗng một hôm, bà mẹ vợ đến thăm con gái, Đào Khâu nhìn thấy rất không vui, không lâu sau liền bỏ vợ...

— Vì sao? - Tào Phi tò mò nói chen vào, - Do bà mẹ vợ chọc giận anh ta chăng?

— Không phải. - Hàm Đan Thuần nhẹ nhàng nói, - Vợ anh ta cũng không biết nguyên do, vì vậy đã hỏi Đào Khâu nàng đã làm gì sai. Chồng nàng thản nhiên đáp, “Ta thấy mẹ nàng già khọm, xấu xí, con gái đều giống mẹ, ta nghĩ sau này nàng hẳn cũng như thế. Cho nên sớm bỏ đi thì hơn!”

Ai nấy đều bật cười, bọn võ phu như Nhạc Tiến, Hạ Hầu Uyên còn cười ngả nghiêng.

Hàm Đan Thuần cũng mỉm cười:

— Đại để Tiếu lâm là như thế, chỉ mong lấy được tiếng cười của người khác. Nhưng ngẫm kỹ thì chuyện nào cũng đều có đạo lý cả, giống như anh chàng Đào Khâu này vốn chẳng phải kẻ ngu vậy. Lão hủ chưa chắc hiểu hết được anh ta, chỉ thấy rằng anh ta rất hiểu câu “Cư an tư nguy”[3].

Mọi người nghe cách giải thích như vậy càng cười lớn hơn, song ông ta vẫn nói tiếp:

— Tuy đạo lý trên không thể dùng với tình cảm phu thê, nhưng người trị nước luôn phải nhớ kỹ điều này. Nếu cậy mình đang cường thịnh mà coi thường thiên hạ, chỉ e sẽ chịu thua thiệt!

Mắt Tuân Du chợt sáng lên: ông ta đúng là gừng càng già càng cay, có phong thái của Mạn Thiền[4].

Trên đời này có một loại người, đạo lý nào cũng hiểu được, chỉ tiếc là thói đời rối ren, không ai chịu tin lời của họ, nên đành mượn tiếng cười để nói lên sự bất mãn. Bề ngoài chỉ là những câu chuyện hài hước mua vui, nhưng thực ra lại ẩn chứa huyền cơ ngầm châm biếm, đả kích thời cuộc. Triều trước có Đông Phương Sóc, nay Hàm Đan Thuần cũng thuộc kiểu người đó.

Tào Tháo đang mải cười, không nghe được mấy lời đằng sau, còn vui vẻ nói với chúng nhân:

— Hay hay hay, chúng ta coi như đã được lĩnh hội Tiếu lâm của Hàm Đan tiên sinh, mấy bữa nữa lão phu sẽ dẫn các vị đi xem Tào Nga bi.

Hứa Du cười khà khà:

— A Man, ngài nói mê à? Tào Nga bi nằm ở huyện Thượng Ngu, Giang Đông, thuộc đất của Tôn Quyền, làm sao đi tới đó được?

— Chẳng mấy chốc nơi đó không còn là của y nữa. - Tào Tháo cười nhạt, - Lão phu quyết định khai chiến với Giang Đông, nhân đà này diệt cả Lưu Bị và Tôn Quyền.

Ông đột nhiên thốt ra câu này, khiến cho nụ cười trên mặt mọi người vụt tắt.

Chúng nhân ngẩn người ra hồi lâu, Tuân Du mới nhớ ra cần phải can gián:

— Tôn thị chiếm giữ mé đông nam, nhiều lần chinh chiến đều thắng trận, không thể coi thường được. Xin chúa công diệt trừ Lưu Bị trước, sau đó hãy bàn việc xuất binh đánh Giang Đông.

Tào Tháo lạnh lùng nói:

— Quân sư nói vậy không đúng rồi. Lão phu có hơn mười vạn quân, gộp cả quân của Tôn Quyền với Lưu Bị mới chưa bằng một nửa quân ta, có gì phải sợ?

Tuân Du thầm nghĩ: “Trước đây ở Quan Độ, binh lực của ngài cũng không bằng một nửa Viên Thiệu, kết quả ra sao?” Nhưng ông ta không dám nói thẳng ra, ngẫm lại nói:

— Đánh trận với Tôn Quyền phải dùng thủy chiến, không phải sở trường của quân ta, e là không thể... E là nhất thời không thể thắng được.

Từ ngày bị Tào Tháo nghi kỵ vì là người họ Tuân, Tuân Du ngày càng ăn nói cẩn thận.

— Quân sư thận trọng quá rồi. - Tào Tháo chỉ vào Trương Doãn, Văn Sính, - Ông nói quân ta gặp bất lợi khi xuống dưới nước, vậy tướng tá Kinh Châu cũng không giỏi thủy chiến sao? Bọn họ làm tiên phong, binh hùng của lão phu đi theo hai bên, há lại không thể san bằng Giang Đông?

Văn Sính dũng mãnh hiếu chiến, còn Trương Doãn chỉ muốn được phú quý, nên đều không ngớt lời phụ họa. Nhưng trong lòng Khoái Việt lại lo lắng, thủy quân Kinh Châu tuy đông nhưng chỉ chuyên phòng ngự, rất ít xuất kích, trước kia giao chiến với Tôn thị chưa bao giờ chiếm được thế thượng phong. Huống hồ Kinh Châu vừa mới đổi chủ, binh sĩ thiếu ý chí chiến đấu, dựa vào bọn họ không thể đảm bảo phần thắng. Tuy nhiên, ông ta là một hàng thần, lại được người ta đưa lên cao, sao có thể nói lời xui xẻo?

Tào Tháo vẫn rất lạc quan:

— Có lẽ cũng không cần giao chiến! Thế lớn của thiên hạ đã định, nói không chừng Tôn Quyền thức thời không đánh mà hàng. Hôm qua có tin nói Lưu Bị đã phái người sang sông, muốn câu kết với Tôn Quyền. Ta đoán rằng Lưu Bị thế yếu tất muốn nương nhờ Tôn Quyền, có lẽ không lâu sau Tôn Quyền sẽ dâng đầu của Lưu Bị cho lão phu. Năm ngoái Công Tôn Khang không phải đã làm vậy ư!

Phấn Vũ Tướng quân Trình Dục bước ra khỏi hàng can gián:

— Mạt tướng không dám gật bừa với lời của Thừa tướng, không thể so Tôn thị với Công Tôn thị. Liêu Đông ở nơi xa xôi, Công Tôn Khang biết rõ Thừa tướng không đánh đến được; còn Tôn thị xưa nay dũng mãnh thiện chiến, giờ đại nạn đang ở trước mặt, há lại chịu khoanh tay ngồi yên? Tôn Quyền mới kế vị, người trong cõi chưa sợ uy hắn. Thừa tướng không có địch thủ trong thiên hạ, lại mới bình định Kinh Châu, uy chấn Giang Biểu, Tôn Quyền muốn chống lại chúng ta cũng không thể đứng đơn độc. Lưu Bị có tiếng anh hùng, Quan Vũ, Trương Phi ở dưới trướng hắn đều là mãnh tướng sức địch vạn người, Quyền tất sẽ giúp chúng chống lại quân ta, sao có thể giết Bị?

Nhưng Tào Tháo trong lòng đã có tính toán:

— Nói thật cho các ngươi biết, ta vừa đến Giang Lăng đã bắt đầu chuẩn bị. Hôm trước ta dâng biểu lên triều đình, phong Thái thú Dự Chương Tôn Bí làm Chinh Lỗ Tướng quân, lệnh cho hắn đưa nhi tử tới làm con tin.

Tôn Bí là tòng huynh của Tôn Quyền, trước đây Tôn Sách bị ám hại, nên hai nhà Tôn, Tào nghị hòa, Tào Tháo cho Tào Chương lấy con gái Tôn Bí, đã làm lễ hợp cần. Ông thăng quan cho thông gia, lại đòi họ đưa người đến làm con tin, thực ra là muốn ra hiệu cho Tôn thị quy hàng.

— Tôn thị chịu hàng thì ta chấp thuận, còn không chịu hàng thì ta tự đoạt Giang Đông về. Mềm mỏng không được, ta sẽ cứng rắn, Trung Nguyên đông như thế chẳng lẽ không làm gì được Giang Đông nhỏ bé?

Chúng nhân đều cảm thấy Tào Tháo đã quá xem thường kẻ địch khi coi sáu quận Giang Đông là “nhỏ bé”, nhưng cũng không dám bác bỏ. Lúc này có một giọng trầm thấp cất lên:

— Minh công nói đều có lý, thế lực của quân ta hiện nay đủ để uy chấn thiên hạ, há lại không lấy được Giang Đông? - Giả Hủ vốn luôn kiệm lời, lúc này lại chịu lên tiếng.

— Vẫn là Văn Hòa hiểu biết hơn người. - Tào Tháo nghe ông ta khen mình, nên rất đắc ý.

— Nhưng... - Giả Hủ dần chuyển ý, - Đã như vậy, cần gì phải động binh đao nữa? Minh công ngày trước phá tan Viên thị, nay lại thu về cả một dải phía nam sông Hán Thủy, uy danh vang xa, binh lực lớn mạnh. Chỉ cần đem sự giàu có của đất Sở chia cho quan lại, vỗ về bách tính, để họ an cư lạc nghiệp thì không cần phải vất vả đến chúng sĩ cũng có thể khiến Giang Đông khuất phục.

Tào Tháo cảm thấy kinh ngạc:

— Ý ông là không đánh trận nữa?

— Đúng vậy, minh công chỉ cần giữ đất hiện nay, an ủi bách tính, buông bỏ thiên hạ, làm cho hào kiệt trong bốn biển đều quy về Trung Nguyên cả, chí sĩ ở ẩn lũ lượt hưởng ứng. Không đến hai ba năm, Tôn thị ở Giang Đông tất sẽ suy bại, không dám tranh với minh công mà sợ hãi xin hàng.

— Ha ha ha!... - Tào Tháo ngửa mặt cười lớn, - Văn Hòa huynh, ai cũng nói ông trí mưu sâu xa, sao hôm nay cũng suy nghĩ kỳ lạ? Cho dù muốn bức Tôn Quyền quy hàng ngay lập tức, cũng phải diễu oai bày binh khiến hắn khiếp sợ. Chỉ dùng nhân nghĩa tài vật thì đến khi nào mới được như ý? - Câu sau có lý do mà ông không thể nói ra: an định thiên hạ sớm ngày nào thì làm hoàng đế sớm ngày đó, ông không muốn đợi thêm nữa.

Giả Hủ là người cơ trí, thấy Tào Tháo không thèm để ý đến ẩn ý đằng sau lời mình nói, bèn mỉm cười:

— Thuộc hạ ngu dốt, xin minh công tự quyết định.

Rồi không nói gì nữa, cúi đầu lui lại vào trong hàng. Tuân Du nghĩ đi nghĩ lại, không thấy yên tâm, định can gián tiếp, lại nghe Tào Tháo hằm hằm nói:

— Trước kia ta quyết ý viễn chinh Ô Hoàn, các ngươi cũng đứng ra ngăn cản, kết quả thế nào? Bao nhiêu việc lớn đang đợi lão phu giải quyết, các ngươi không cần nhiều lời!

Tuân Du chợt thấy căng thẳng: “Thiên hạ đã an định, ‘bao nhiêu việc lớn’ ám chỉ những việc gì?” Ông ta không can ngăn nữa, nói nhiều lại khiến Tào Tháo sinh lòng đa nghi, không khéo còn rước họa vào thân, Tuân gia càng khó sống.

Vào khoảnh khắc này, Tào Tháo đã quên mất rằng chính ông là người mở đường ngôn luận, gọi người soạn hịch văn ngay lập tức. Ông ôm Tào Xung đằng trước:

— Con ta viết chữ ngày càng đẹp, bài hịch này để ta đọc, con chép.

Ông nắm chặt tay cậu bé, vừa cầm bút vừa nói:

— Bấy lâu nay, ta phụng lệnh thiên tử thảo phạt nghịch thần, giương cờ về phương nam, Lưu Tông phải trói tay quy hàng. Nay, ta luyện được tám mươi vạn thủy quân, sắp cùng tướng quân hội săn tại đất Ngô!

— Đã hết rồi ạ? - Tào Xung chớp chớp mắt hỏi. Mặc dù còn nhỏ, nhưng cậu bé cũng biết các bài hịch đều nói thao thao bất tuyệt, phân tích rõ thời cuộc, nào có ngắn cũn như thế?

— Hết rồi, từng ấy là đủ khiến Tôn Quyền sợ vỡ mật.

Tào Tháo ném cây bút đi. Quần liêu nhìn bài hịch chỉ có hai câu, cảm thấy ông đã quá ngạo mạn. Chỉ có hơn chục vạn binh mã mà thổi phồng tận tám mươi vạn binh mã, quá khoác lác rồi chăng?

— Vậy thôi, giải tán cả đi! - Tào Tháo không nghe ý kiến của ai nữa, kéo Tào Xung ra mạn thuyền, - Xung nhi con nhìn xem, phía đông kia chính là địa bàn của Tôn Quyền, mấy bữa nữa sẽ thuộc về phụ thân. Của phụ thân cũng chính là của con, tất cả những việc ta làm đều là vì con đấy!

Tào Xung cũng lờ mờ hiểu được ý này:

— Phụ thân anh minh nhất, uy phong nhất, chúng nhi tử lớn lên nhất định hiếu kính phụ thân, không phụ sự kỳ vọng của người.

Tào Tháo xoa xoa đầu cậu bé, ông ngoảnh mặt nhìn sông Trường Giang, vui vẻ cười lớn. Lúc này ông tin chắc rằng, người thành công nhất cũng chính là người hạnh phúc nhất trên đời.

— Thừa tướng...

Có người khẽ gọi ông ở phía sau, giọng run run. Tào Tháo quay lại:

— Hoa tiên sinh, có chuyện gì không?

Hoa Đà dường khó mở miệng, chậm rãi nói:

— Tại hạ muốn xin ngài cho nghỉ ít ngày, lão thê ở nhà...

— Lại đổ bệnh hả? - Ánh mắt Tào Tháo toát lên vẻ ngờ vực.

— Tại hạ lần này chỉ đi nửa tháng, nửa tháng sau nhất định quay lại.

Hoa Đà ngẩng đầu nhìn Tào Tháo với vẻ van nài. Tào Xung thường ngày gần gũi với lão y lại này, cũng nói giúp:

— Gần đây bệnh cũ của phụ thân không tái phát, người để cho Hoa tiên sinh đi đi, ông ấy chỉ đi nửa tháng lại về. Sau này vẫn phải phiền Hoa tiên sinh điều dưỡng cho Hùng nhi đệ đệ.

Tào Tháo nghe vậy, cũng thuận theo:

— Được rồi, ông đi nhanh về nhanh.

— Tạ ơn Thừa tướng. - Hoa Đà vái một vái dài sát đất, - Thừa tướng độ lượng với tại hạ, sau khi trở lại tại hạ sẽ chuyên tâm nghiên cứu y đạo. Nghe nói Kinh Châu thường có bệnh thương hàn, mấy ngày nay tại dành thời gian tìm...

— Được rồi, được rồi. ông lui xuống đi. - Tào Tháo nhanh chóng đuổi ông ta đi.

Tào Xung tựa vào mạn thuyền, cười nói:

— Hoa tiên sinh không chỉ là danh y mà còn là người đọc sách, nhi tử nghĩ phụ thân nên nghe ông ấy nói nhiều hơn.

— Tiểu tử ngươi đã học đòi quản chuyện của phụ thân rồi. Chớ đứng quá gần mạn thuyền, nguy hiểm đấy...

Tào Tháo mỉm cười, quay người nhìn khắp chúng nhân. Lúc này đã bàn xong việc, quần liêu cũng hứng thú ngắm cảnh, Tào Tháo thấy Triệu Đạt đứng cách đó không xa, nói chuyên với Ôn Khôi, liền vẫy tay gọi hắn lại.

— Chúa công có gì căn dặn?

Tào Tháo ghé sát tai hắn:

— Hoa Đà hai ba lần xin nghỉ phép, ta nghi ngờ hắn không nói thật. Ngươi sai vài người bám theo hắn, dò hỏi xem có phải vợ hắn đổ bệnh thật không. Nếu đúng thì thưởng cho hắn bốn mươi hộc lương thực, cho nghỉ nửa tháng. Còn như hắn dám lừa dối lão phu, hãy nhốt vào đại lao! Ta thấy lão già này cố ý nói mình chữa được bệnh đau đầu để khống chế lão phu. Hừ! Ta đường đường là Thừa tướng, dưới một người mà trên vạn người, há có thể bị một tên lang băm thao túng?

Triệu Đạt vâng dạ, trong lòng thầm nghĩ: “Dưới một người mà trên vạn người gì chứ? Đó chẳng qua chỉ là cái mặt nạ, thắng trận này thì cũng không cần dùng tới nữa.”

Tôn, Lưu kết minh

Gia Cát Lượng theo Lỗ Túc sang sông, bái kiến Tôn Quyền ở huyện Sài Tang, ngỏ ý rằng: Lưu Bị mặc dù bại trận, nhưng Quan Vũ ở dưới trướng còn một vạn thủy quân, Lưu Kỳ đóng tại Giang Hạ cũng nắm một vạn binh mã. Tào Tháo từ xa tới, vì muốn truy kích Lưu Bị mà tướng sĩ đi suốt một ngày một đêm hơn ba trăm dặm, nay đã là “nỏ mạnh mất đà, không thể xuyên thủng mảnh lụa”. Binh pháp có câu “Bách lý nhi xu lợi giả, quyết thượng tướng”[5], Tào Tháo đã phạm vào đại kỵ của nhà binh. Hơn nữa, binh sĩ phương bắc không quen đánh dưới nước, còn quân Kinh Châu vừa mới quy hàng, nhân tâm chưa ổn định. Nếu như Giang Đông xuất binh cứu viện Lưu Bị, hai nhà hợp sức chắc chắn có thể đánh bại quân Tào.

Tôn Quyền nghe xong bớt được không ít phiền muộn, lập tức phái người đến Phàn Dương triệu Chu Du đang dẹp loạn ở đó về, còn mình dẫn Lỗ Túc và Gia Cát Lượng ngày đêm quay lại Ngô huyện, chuẩn bị bố trí binh mã. Không ngờ vừa về tới nơi, tin xấu cũng truyền đến.

Hứa Đô phái sứ giả đến Dự Chương, tấn phong Tôn Bí làm Chinh Lỗ Tướng quân, Tôn Bí tiếp nhận chiếu thư, muốn đưa nhi tử đi làm con tin, may mà lão thần Chu Trị kịp thời chạy tới khuyên ngăn mới dừng lại. Đại địch còn chưa đến, huynh đệ trong nhà đã khác lòng sẽ gây ra ảnh hưởng rất xấu. Việc này còn chưa lắng xuống lại có quân báo, người Sơn Việt ở huyện Y, huyện Hấp vốn đã chịu hàng phục, nghe tin quân Tào sắp đánh tới lại nổi dậy làm phản. Hạ Tề vất vả đi dẹp, Tôn Quyền đành phải phát binh chi viện. Tiếp đến, Tôn Quyền lại nhận được hịch văn của Tào Tháo: Bấy lâu nay, ta phụng lệnh thiên tử thảo phạt nghịch thần, giương cờ về phương nam, Lưu Tông phải trói tay quy hàng. Nay, ta luyện được tám mươi vạn thủy quân, sắp cùng tướng quân hội săn tại đất Ngô!

Tuy rằng bài hịch chỉ có vài dòng ngắn ngủi, nhưng đã nói lên hết sự kiêu ngạo, ngang ngược của Tào Tháo, coi việc hai quân quyết một trận sống mái nhẹ nhàng như cuộc đi săn. Bài hịch cơ hồ thả một tảng đá xuống mặt hồ yên lặng, quần liêu Giang Đông dấy lên hoang mang. Tôn Quyền nôn nóng, không đợi Chu Du trở về đã triệu tập văn võ cùng bàn việc dụng binh.

— Tào Tháo đánh tan Lưu Bị, đưa quân đến Giang Lăng, tiếp quản thủy quân Kinh Châu, bốn quận Giang Nam như Vũ Lăng cũng đã dâng biểu xin quy thuận, thế ấy lấn dần đến sông Trường Giang. - Tôn Quyền ngồi ngôi chủ soái, ăn nói dõng dạc, vẻ mặt nặng nề nhưng trong lòng đã có dự tính, - May là Lưu Bị đã trốn được đến Giang Hạ, hội họp với Lưu Kỳ. Nay Tào Tháo xuống hịch với Giang Đông ta, ý muốn nuốt cả chín châu, hành ác khắp thiên hạ. Vào lúc nguy nan này, tử đệ Giang Đông chúng ta phải cùng Lưu Bị chống lại kẻ thù chung, phát binh...

— Thuộc hạ có chuyện muốn bẩm tấu!

Một giọng nói sang sảng cất lên. Người nào dám cắt ngang lời chúa công? Văn võ Giang Đông đang chăm chú lắng nghe đều giật mình, liếc mắt nhìn xung quanh, một duyên lại trẻ chui ra khỏi đám người - đó là Tấu tào duyện Lục Tích, tự Công Kỷ. Người này là con của Lục Khang, nguyên Thái thú Lô Giang. Năm xưa, Tôn Sách ở dưới trướng Viên Thuật, phụng lệnh đi đánh Lô Giang, Lục Khang cố thủ một năm, đổ bệnh mà chết, thành trì cũng bị mất. Về sau Tôn Quyền mở rộng ân đức, lôi kéo nhân sĩ, còn vời con của kẻ oan gia ấy vào mạc phủ. Có điều, Lục Tích thân ở Giang Đông, nhưng lúc nào cũng coi mình là bề tôi nhà Hán nên không được Tôn thị trọng dụng.

Tôn Quyền vừa nhìn thấy hắn, sắc mặt sa sầm:

— Công Kỷ có chuyện gì quan trọng? Không thể đợi ta nói hết rồi hãy bẩm tấu sao?

Lục Tích vốn có giọng nói to trời sinh:

— Thuộc hạ cho rằng, ngàn vạn lần không thể cứu Lưu Bị!

— Vì sao?

— Lưu Bị là kẻ bội tín, phản phúc, hết phản Lã Bố lại phản Tào Tháo, nương nhờ Viên Thiệu, rồi lại theo Lưu Biểu, những đất hắn đi qua đều suy bại cả, đúng là kẻ mang điềm gở. Còn tên Lưu Kỳ vốn ăn chơi trác táng, huynh đệ bất hòa, sao chúa công có thể giúp kẻ bất nghĩa ấy?

Tôn Quyền cười nhạt nói:

— Ông nói đức riêng của hai người họ, không liên quan gì đến tình thế.

— Đức riêng còn thiếu, nói gì đến nghĩa chung? - Lục Tích quay lại chuyện chính, - Chúa công và Lưu Biểu đối địch suốt nhiều năm, mới có biến động đã quay sang giúp phe của hắn, há chẳng khiến người trong thiên hạ chế giễu chúng ta tráo trở?

Tôn Quyền thấy hắn chỉ toàn bẻ cong lý lẽ, không nén được giận:

— To gan! Kẻ nào dám nói như vậy? Theo lý của ông, chẳng phải là ngồi nhìn Tào Tháo lấy hết Kinh Châu sao hả?

Lại có một người trẻ tuổi lên tiếng:

— Vào lúc này, nếu không ngồi nhìn Tào Tháo tru diệt Kinh Châu, e là đến đất Giang Đông của chúng ta cũng khó giữ.

Tôn Quyền lại giật mình, quay sang nhìn: người vừa cất lời là chủ bạ Ngô Xán, tự Khổng Hưu. Chàng trai trẻ đó bước ra trước những cái nhìn trân trối của quần liêu:

— Các châu quận ở phương bắc đều đã an định, Lưu Chương ở Ích Châu, Sĩ Nhiếp ở Giao Châu cũng đã tôn kính triều đình, phần lớn thiên hạ nằm trong tay Tào Tháo. Chúa công độc chiếm mé đông nam, ngoan cố chống lại, há có thể lâu dài?

Tôn Quyền cau mày, gằn giọng nói:

— Nuôi chí khí của kẻ khác, diệt uy phong nhà mình, ông không được nói những lời đó nữa.

— Tai họa đang ở ngay trước mắt, có thể không nói hay sao? - Ngô Xán lại thi lễ lần nữa, - Xin thứ cho thuộc hạ nói thẳng, chuyện đến nước này, Giang Đông ta chỉ có cách quy hàng thôi.

Tôn Quyền phòng trước phòng sau, cuối cùng vẫn để cho ý đầu hàng lộ ra. Tôn Quyền nhìn chằm chằm Lục Tích và Ngô Xán, trong lòng không khỏi nghi hoặc: “Hai tên tép riu này làm sao dám khơi chuyện? Phía sau chắc chắn có kẻ chống lưng!” Nghĩ đến đó, bèn cố ý đập soái án:

— Hai người các ngươi lộng ngôn trước mặt mọi người, làm dao động nhân tâm, đánh mỗi người năm mươi gậy, đuổi khỏi mạc phủ!

— Chúa công bớt giận. - Quân mưu duyện Trần Đoan vội bước ra thi lễ, - Chuyện hai người họ nói đều xuất phát từ thiện ý, không đáng trách tội.

Tần Tùng cũng đứng dậy:

— Thuộc hạ thiết nghĩ, hai người họ nói cũng có lý.

Sự việc dần sáng tỏ: người chống lưng cho họ chính là đám nhân sĩ Giang Bắc. Tần Tùng và Trần Đoan là những mưu sĩ theo quân chinh chiến từ thời Tôn Sách. Nhưng bọn họ đều có nguyên quán ở Từ Châu, vào thời khắc trọng yếu, họ muốn bỏ mặc Giang Đông, quay về cố hương chăng? Đám người này công lao hiển hách, uy vọng rất cao, lại đề bạt không ít kẻ sĩ tiếp bước, tất nhiên sẽ có kẻ chịu ra mặt thay họ.

Tôn Quyền ngại trở mặt với hai lão thần, chỉ cố nói lý:

— Giang Đông còn mấy vạn quân có thể tham chiến, sao lại nói quy hàng?

— Không phải vậy. - Tần Tùng hốt hoảng thưa, - Giang Đông có chút binh mã, nhưng chẳng đáng kể. Người Sơn Việt ở bốn cõi nổi dậy, họa bên trong còn chưa dẹp được, làm sao chống lại ngoại địch? Một khi chiến sự xảy ra, lê dân gặp nạn, sự anh minh của cha con chúa công đều mất hết! Thuộc hạ nghĩ cho chúa công, cũng nghĩ cho bách tính, nên cởi giáp quy hàng để giữ toàn thánh đức.

Trần Đoan nói đế vào:

— Tiên chủ cử binh vốn vì lê dân bách tính, nay thiên hạ sắp yên ổn, binh đao sắp tắt, xin chúa công nghĩ lại.

— Hừ! - Tôn Quyền cười khẩy, chỉ tay vào khắp chúng tướng trong sảnh đường, - Chư vị tướng quân nghĩ sao?

Lão tướng Hoàng Cái nóng tính nhất, quát ầm lên:

— Thật hoang đường! Lão phu theo tiên chủ bôn ba bốn biển, há có thể chịu khuất phục kẻ khác?

Hàn Đương cũng tức giận nói:

— Người làm tướng phải dốc sức trên sa trường đến chết mới thôi, sao lại nói hàng địch?

Đãng Khấu Trung lang tướng Trình Phổ là người đứng đầu chư tướng, năm xưa từng theo Tôn Kiên, Tôn Sách mấy lần vào sinh ra tử, lời nói rất có sức nặng:

— Hai vị cho rằng Giang Đông chỉ là giang sơn của một mình chúa công thôi sao? Đất đai của sáu quận chỉ là của Thảo Nghịch Tướng quân[6] hả? Đó cũng là do bọn ta liều mạng giành lấy, ai muốn cướp đi cũng phải xách đao thương để mà cướp, bằng không phải chặt gãy những khúc xương già này trước đi đã!

Phù Nghĩa Tướng quân Chu Trị, Chinh Lỗ Trung lang tướng Lã Phạm đều là lão tướng cố cựu của Tôn thị, nên lũ lượt xin đánh, còn có cả các tiểu tướng cũng nhấp nhổm muốn thử sức.

Trần Đoan lại nói:

— Các vị tướng quân chớ nóng vội, phàm việc gì cũng phân ra nặng nhẹ. Nếu như Trung Nguyên rối ren mà kẻ địch tới xâm phạm, quân ta còn có thể chống lại. Nhưng hiện giờ Tào Tháo đã gom hết những tướng sĩ dũng mãnh ở bắc châu, lại có được thủy quân Kinh Châu, gộp lại tám mươi vạn quân, người lớn như rồng, ngựa khỏe như hổ, tinh kỳ rợp trời, chiến thuyền như giao long, thế như cuốn đất xông vào, Giang Đông nguy ngập như trứng để đầu đẳng. Địch đông ta ít, mạnh yếu đã phân, làm sao thắng được?

Lời này đã chọc giận các lão tướng, Hoàng Cái nghiến răng nghiến lợi, chòm rầu bạc run lên:

— Lấy đâu ra tám mươi vạn quân lắm thế, ngươi chưa nhìn thấy tận mắt kia mà! Còn nói lung tung nữa, lão phu một đao chém chết!

Ông ta nói là làm, những người bên cạnh vội giữ lại:

— Lão tướng quân bớt giận!

Trần Đoan không dám đối chất với ông ta nữa, sợ hãi lui lại, nhưng vẫn cố thì thầm với người đứng cạnh:

— Cái dũng của kẻ thất phu, phỏng có ích gì?

Người trên đại đường cãi nhau ồn ào, chia thành hai phe chủ chiến và chủ hàng, hai đầu lông mày Tôn Quyền nhíu chặt lại, nếu như trước đó không điều ba vị lão tướng về, e là khó mà chống đỡ được cục diện này. Nhưng, dù cho đã áp chế được Tần Tùng, Trần Đoan, song còn chưa đánh trận đã náo loạn thế này cũng không phải chuyện tốt đẹp. Tôn Quyền đang định chấm dứt cuộc tranh luận, chợt nghe một giọng nói thâm trầm cất lên:

— Thuộc hạ cũng có lời muốn nói.

Giọng nói không lớn nhưng át hết những tiếng ồn ào, đại đường trong mạc phủ chật cứng người lập tức im lặng - người nói là Phủ Quân Trung lang tướng, mạc phủ Trưởng sử Trương Chiêu.

Trương Chiêu tự Tử Bố, nhân sĩ Quảng Lăng, là người được Tôn Sách coi trọng nhất, ông ta cùng với Trương Hoành ở Bành Thành được gọi là “Giang Đông nhị Trương”. Không chỉ địa bàn của Giang Đông do hai người họ bày mưu tính kế mà có, ngay đến phép tắc làm chính sự cũng do họ đặt ra, có đến gần một nửa quan lại được họ tiến cử, còn những danh sĩ ở lại Giang Đông, mười người thì tám người nghiêng về phía họ. Đặc biệt trong lúc Tôn Sách qua đời, Trương Chiêu nắm hết mọi việc trong ngoài, người trong thiên hạ đều biết ông ta ngang với một nửa cơ nghiệp của Tôn Quyền.

— Tử Bố, ông chủ chiến hay chủ hàng? - Giọng Tôn Quyền khẽ run.

Trương Chiêu mới ngoài năm mươi nhưng dáng người khô gầy, khuôn mặt nhiều nếp nhãn, trông già hơn tuổi. Ông ta bước lên phía trước vài bước, chậm rãi quỳ sụp xuống:

— Thuộc hạ... chủ hàng.

Đầu Tôn Quyền như vỡ tung, trước mặt mờ đi, như thể bầu trời tự dưng tối sầm lại: Trương Chiêu không chỉ là nguyên lão quan trọng, những năm qua ông ta còn là người thầy giúp ta xử lý chính sự, thậm chí còn là tấm gương về đối nhân xử thế. Phụ thân ta mất sớm, huynh trưởng cũng bỏ mạng khi đương tráng niên, Trương Chiêu thương yêu, dạy dỗ ta chẳng khác nào một người cha. Sao ông ta cũng nỡ vứt bỏ tất thảy?

— Tử Cương, ý ông thì sao? - Tôn Quyền ngây ra giây lát, lại hỏi Trương Hoành.

Trương Hoành cũng có ý đầu hàng, nhưng ông ta từng đi sứ Hứa Đô, lại trở về Giang Đông dưới danh nghĩa được triều đình ủy phái, làm sao có thể thốt ra từ “hàng”? Ông ta nghĩ đi nghĩ lại, cuối cùng nói:

— Đánh không thể đánh, hàng cũng không thể hàng, chi bằng... giảng hòa với họ.

Ai cũng hiểu ra: có điều ước nghị hòa nào đáng bàn đâu? Làm vậy không khác gì Lưu Chương, gián tiếp đầu hàng.

Ngay đến Trương Chiêu, Trương Hoành cũng chủ trương đầu hàng, những người khác đang xem xét tình hình liền không còn do dự nữa. Trưởng sử Tôn Thiệu, Tòng sự Cố Ưng, công tào Ngu Phiên quỳ xuống trước tiên:

— Chúa công nên theo kiến nghị của Trương công!

Tiếp đến một loạt người rào rào quỳ xuống, có tướng tá cũng bắt đầu dao động, hệt như cảnh chúng thần Kinh Châu khuyên Lưu Tông đầu hàng.

Tôn Quyền không nhu nhược như Lưu Tông, nhưng cũng túa mồ hôi, nhìn khắp sảnh đường xem còn ai đồng lòng với mình - ngoài ba vị lão tướng và Chu Trị, Lã Phạm vẻ mặt lo lắng, những người khác cơ hồ đều không đáng tin. Tôn Quyền chợt nhìn thấy Tư mã trung quân Gia Cát Cẩn, biết ông ta là người thân cận của mình, liền hỏi:

— Tử Du, ông muốn nói gì không?

Gia Cát Cẩn ngập ngừng hồi lâu mới nói:

— Bỉ chức chỉ biết nghe theo lệnh của chúa công!

Kỳ thực, ông ta chủ chiến, nhưng đệ đệ của ông ta là Gia Cát Lượng đang dốc sức cho Lưu Bị, vào lúc này, ông ta nói gì cũng bị quy là vì tình riêng, phe chủ hàng tất xúm lại phản bác, cho nên chẳng bằng không nói.

Tôn Quyền thở dài một tiếng, gục xuống soái án - dù biết thế nào cũng có người lên tiếng đầu hàng, nhưng không ngờ lại có nhiều thuộc liêu ủng hộ đến vậy. Ngay cả trọng thần phò tá bao năm qua cũng ra sức bảo vệ ý kiến đầu hàng. Nhân tâm đã mất, còn muốn kiên trì nữa không? Tôn Quyền lòng vững như bàn thạch mà lúc này cũng không khỏi dao động.

— Chúa công... - Lỗ Túc đứng cạnh đột nhiên mở miệng, - Mời thay y phục.

— Sao? - Tôn Quyền thoáng giật mình, rồi kịp phản ứng lại, - Được, được... Các vị đợi ta một lát. - Sau đó đứng lên nắm chặt tay Lỗ Túc như vớ được cọng rơm cứu mạng, lảo đảo đi sang phòng bên.

Đợi đến khi bước vào bậu cửa, sau bức bình phong, Tôn Quyền cho nô bộc lui xuống hết, Lỗ Túc mới thốt ra những lời mà mình đã nín nhịn nửa ngày:

— Kiến nghị mà quần liêu mới nói ban nãy đều là vì bản thân mình, không đủ để cùng mưu đại sự.

— Sao cơ? - Tôn Quyền dường không dám tin vào tai mình.

Lỗ Túc chăm chú nhìn vào mắt Tôn Quyền:

— Người như chúng tại hạ có thể hàng Tào, nhưng chúa công thì không thể được. Nếu tại hạ hàng Tào, không mất chức Tòng sự, vẫn được cưỡi xe bò, dẫn theo sai dịch, giao du với sĩ lâm, nếu có thể làm hết chức trách, nói không chừng sau này còn có thể lên làm trưởng quan ở châu quận... - Nói đến đây, ông ta chuyển ý, vái Tôn Quyền một vái dài sát đất, - Nhưng chúa công hàng Tào, liệu có được những gì?

Tôn Quyền không khỏi run rẩy: hai đời nhà họ Tôn tung hoành, nếu như rơi vào tay Tào Tháo, há có thể giữ lại quyền thế? Nếu may còn được ban tước huyện hầu, có một cỗ xe ngựa với một tòa phủ đệ, mấy tên nô bộc, nhưng con cháu giữ chức quan nhàn rỗi, đời nào mới ngóc đầu lên được. Còn như chẳng may bị Tào Tháo chém một đao, thì từ đây tuyệt tự.

Xưa nay, lợi riêng thường dễ làm nhân tâm dao động hơn nghĩa công, Lỗ Túc hiểu rõ điều ấy:

— Mong chúa công sớm định kế lớn, chớ nghe lời bàn của mọi người.

Tôn Quyền thở một tiếng nặng nề, gật gật đầu, sửa lại mũ áo, quyết tâm dẫn Lỗ Túc trở lại đại đường lần nữa - bên trong thật náo nhiệt! Bọn Lục Tích, Ngô Xán vây quanh Hoàng Cái, phân bua không dứt; Hàn Đương đối lý với Trần Đoan; Trình Phổ lớn tiếng chất vấn Trương Chiêu, Trương Hoành, hai người họ chỉ im lặng; chỉ khổ Chu Trị, Lã Phạm, hết khuyên người này lại khuyên người kia.

— Im hết cho ta! Cãi nhau ầm ĩ còn ra thể thống gì? - Tôn Quyền giận dữ gầm lên, sải bước tới chỗ soái án, - Ý ta đã quyết, phải cùng Lưu Bị hợp sức chống Tào.

Bọn Tần Tùng, Trần Đoan không hiểu vì sao chỉ trong chốc lát mà chúa công lại nói năng dứt khoát, kiên định như vậy, họ đều nhìn Lỗ Túc với ánh mắt trách móc.

— Xin chúa công nghĩ lại... - Trương Chiêu quỳ xuống lần thứ hai, phân trần, - Tào Tháo đúng là kẻ sài lang gian hùng, nhưng ông ta ở ngôi Thừa tướng, ép thiên tử để thảo phạt bốn phương, động chút là nói làm vì triều đình, nay chúng ta chống lại là không thuận lẽ. Vả lại, chỗ dựa của Giang Đông ta là sông Trường Giang. Mà Tào Tháo lại đã lấy được Kinh Châu, nắm giữ thủy quân do Lưu Biểu huấn luyện, thuyền mông đồng, đấu hạm có đến mấy nghìn chiếc, men theo sông mà vào, thanh thế to lớn, còn có bộ binh, hai quân thủy bộ cùng tràn xuống. Vậy là ông ta đã cùng chúng ta chia sẻ thế hiểm của Trường Giang. Địch đông ta ít, thực lực chênh lệch, lúc này không quy thuận, e rằng Giang Đông của chúng ta sẽ mất tất!

Chỉ cần Trương Chiêu đứng ra nói trước, những người khác cùng đều hưởng ứng:

— Xin chúa công thu hồi mệnh lệnh!

Tôn Quyền chẳng thể ngờ được, bề tôi đắc lực của mình lại chính là trở ngại lớn nhất, lần này Trương Chiêu giải thích hùng hồn, có căn cứ hẳn hoi, làm sao bác bỏ? Đang mải tư lự, chợt nghe ngoài đại đường vọng lại một tràng cười sảng khoái:

— Ha ha ha!... Trương công trước giờ luôn lo nghĩ sâu xa, sao hôm nay lại đem mấy lời vớ vẩn, chẳng đáng bác lại ra nói với chúa thượng thế?

Tiếng cười vừa dứt lại có một hồi rầm rập, rất nhiều quân binh, tướng tá ùa vào trong sân mạc phủ, người nào người nấy đao thương sáng lóa. Thế nhưng, người bước ra từ rừng áo giáp là một công tử trẻ tuổi, cử chỉ nhẹ nhàng.

Người đó tuổi ngoài ba mươi, thân cao tám thước, lưng vượn eo ong, dáng vẻ phóng khoáng, dung mạo đẹp đẽ; mặt trắng như ngọc, mày dài như vẽ, mắt như ánh sao, mũi thẳng miệng ngay, môi đỏ như son, răng đều tăm tắp, vẻ mặt tươi tắn; đầu chít khăn xanh, mình khoác áo gấm, lưng thắt dải lụa bạc, tay phe phẩy chiếc quạt lông ngỗng, trông trang nghiêm mà lại không mất đi vẻ tao nhã. Anh ta nói năng khẽ khàng, cử chỉ tiêu sái, tựa như một văn sĩ du học bốn phương, ngồi bàn chuyện phong nhã - chẳng thể ngờ người này lại là Chu Du, tự Công Cẩn, từng theo Tôn Sách gây dựng cơ nghiệp, nắm việc binh nhung nhiều năm.

Tôn Quyền bỗng phấn chấn hẳn lên: “Chu Du đã dẫn quân tới, tốt rồi!”

Gia Cát Cẩn giả câm nửa ngày, giờ mới mở miệng:

— Công Cẩn, ngài tới rồi. Bọn họ luôn miệng nói muốn hàng...

— Ta nghe cả rồi. - Chu Du liếc nhìn Trương Chiêu, - Những lời Trương công mới nói là thật lòng sao?

Trương Chiêu biết người bước vào không tốt đẹp gì, không thèm trả lời mà hỏi ngược lại:

— Công Cẩn nghĩ như thế nào?

— Đúng là cái nhìn của hủ nho! - Mặt Chu Du đổi sắc, - Tào Tháo giả danh tướng nhà Hán, thực ra là giặc nhà Hán! Tướng quân thần vũ hùng tài, lại dựa vào công nghiệp của cha anh mà chiếm giữ Giang Đông, đất đai vuông mấy ngàn dặm, binh mạnh đủ dùng, anh hùng vui nghiệp, còn đang tung hoành thiên hạ, trừ gian diệt ác cho Hán thất. Huống chi Tào tặc tự đến tìm cái chết, sao lại chịu quỳ gối xin hàng?

Khẩu khí của Chu Du thật lớn, chỉ thẳng Tào Tháo là “giặc nhà Hán”, còn nói ông tự đến tìm cái chết. Lời ấy thốt ra, trên đại đường lại ồn ào, phần lớn vẫn là tiếng phản đối. Chu Du nói hợp ý Tôn Quyền, anh ta đưa mắt với Lỗ Túc, hai người đều thở phào.

— Hịch văn mới tới, trong lòng các vị đã khiếp sợ, để ta cởi nỗi lo cho chư vị! - Chu Du chắp tay sau lưng, đi đi lại lại trên đại đường, nói giọng giáo huấn, - Tào Tháo chưa đứng vững ở đây, nhưng ta chỉ bàn về những điều kỵ của nhà binh mà hắn phạm vào: đất bắc chưa yên, bọn Mã Siêu, Hàn Toại còn ở Quan Tây, là mối lo sau lưng Tào Tháo, đó là đều kỵ thứ nhất. Quân phương bắc không quen đánh dưới nước, Kinh Châu liên tiếp bại trận, sĩ khí uể oải, Tào Tháo bỏ yên ngựa mà khua mái chèo, tranh giành với Ngô Việt, đó là đều kỵ thứ hai. Nay đang vào mùa đông, thời tiết giá lạnh, ngựa không có cỏ ăn, đó là điều kỵ thứ ba. Đem binh sĩ Trung Nguyên tiến vào nơi sông hồ, không hợp thủy thổ, tất sinh bệnh tật, đó là điều kỵ thứ tư. Bốn đều ấy là những điều cấm kỵ khi dụng binh, thế mà Tào Tháo cố mạo hiểm làm, cho nên dù nhiều binh cũng có gì đáng sợ? - Nói rồi quay người vái một vái dài với Tôn Quyền, nói vẻ hùng hồn, - Chúa công bắt được giặc chính là vào lúc này. Du xin lĩnh năm vạn tinh binh, đến đóng ở Hạ Khẩu, phá tan quân giặc cho chúa công!

Đám người Trương Chiêu mặt xám như tro, còn các tướng Trình Phổ, Hoàng Cái phấn chấn tinh thần, lũ lượt chắp tay xin lệnh:

— Chúng tôi cũng nguyên xin đánh, quyết một trận sống mái với Tào tặc!

Chúng tướng chưa nói dứt lời, dưới đại đường vang lên tiếng hô ầm ĩ:

— Nguyện bảo vệ phụ lão Giang Đông, vì chúa công quyết một trận sống mái!

Chúng sĩ đồng thanh, tiếng hô làm rung chuyển mái nhà, vọt lên tận trời cao, sĩ khí mạnh mẽ ấy vấn quanh xà nhà một lúc lâu.

Tôn Quyền vô cùng mừng rỡ, đứng phắt dậy:

— Lão tặc muốn phế nhà Hán, tự lập mình làm hoàng đế đã lâu, nhưng còn kiêng dè hai nhà họ Viên, Lã Bố, Lưu Biểu và ta. Nay những kẻ anh hùng kia đã bị diệt, duy còn Giang Đông ta, ta với Tào tặc, thế chẳng cùng đứng. Công Cẩn nói nên đánh, rất hợp ý ta, trên dưới Giang Đông đồng tâm, phải quyết một trận sống mái với Tào tặc!

Phe chủ hàng của Tần Tùng, Trần Đoan tan rã, ai nấy quay đầu nhìn lại: binh sĩ bên dưới đều cầm vũ khí, đao to kiếm sắc, đằng đằng sát khí, đứng trấn giữ sân. Họ biết rõ, nếu còn dám nhắc tới chuyện đầu hàng thì sẽ gặp họa ngay tức khắc, nên kẻ trước người sau đều phụ họa:

— Nguyện theo ý chúa công...

Chỉ có Trương Chiêu hai mắt nhìn xuống, không nói gì. Chu Du không chịu bỏ qua, lại nói:

— Mạt tướng vì chúa công ra trận, dẫu chết vạn lần cũng không chối từ. Nhưng chỉ sợ có người còn lưỡng lự làm hỏng việc lớn của mạt tướng.

— Việc đó không khó! - Tôn Quyền rút bội kiếm bên hông ra, chém mạnh xuống bàn, chỉ nghe một tiếng “phập”, liền sau đó soái án gãy mất một góc, - Chư tướng duyện thuộc còn ai nói đến việc hàng Tào sẽ giống như cái bàn này!

Quần thần đều kinh sợ: chống Tào chưa nắm chắc được phần thắng, nhưng hàng Tào sẽ lập tức mất mạng, nào dám nói gì nữa? Đại đường im phăng phắc. Cuối cùng không còn dị nghị, Tôn Quyền lập tức truyền lệnh, Chu Du, Trình Phổ làm tả hữu Đô đốc, Lỗ Túc làm Tán quân hiệu úy, Chu Trị phụ trách vận chuyển lương thảo, hai ngày sau xuất binh. Nghị sự đã xong, người nào vào việc người ấy, bãi trướng tại đó.

Quân lệnh như sơn, không thể xoay chuyển, bọn Tần Tùng, Trần Đoan vâng vâng dạ dạ, tiếc nuối bỏ đi - đây không phải là một cuộc tranh luận công bằng, Tôn Quyền muốn đánh trận này, tay cầm dao mổ, những văn thần kia làm sao có thể lay chuyển?

Tôn Quyền nói với Gia Cát Cẩn:

— Làm khó Tử Du phải nhịn một bụng lời. Phiền ông tới dịch quán gặp lệnh đệ, nói rõ việc xuất binh.

Gia Cát Cẩn mỉm cười, chắp tay nói:

— Tử Kính là người đi đón xá đệ, thì việc trao đổi qua lại vẫn nên phiền Tử Kính. Ha ha ha!...

Dứt lời mặt mày hoan hỷ, thi lễ cáo lui. Gia Cát Lượng đã tới mấy ngày, nhưng hai huynh đệ họ chưa hề gặp nhau một lần. Kỳ thực, huynh đệ ruột gặp riêng cũng là chuyện thường tình, khổ nỗi họ đều là người công tư phân minh, biết tránh tị hiềm.

Đại đường huyên náo dần tan, không ít người khi bước qua ngưỡng cửa còn khẽ cảm thán “Giang Đông khó giữ”. Chỉ mình Chu Du ở lại, vội tiến lại trước soái án:

— Chúa công chớ lo lắng, ban nãy quần liêu thấy hịch văn nói Tào tặc có tám mươi vạn quân thủy bộ, cứ ngờ là thật. Kỳ thực, số quân Tào Tháo có thể tập hợp được ở Trung Nguyên không quá mười lăm mười sáu vạn, huống chi bọn họ đánh đông dẹp bắc đã mỏi mệt, há có thể mang theo cả? Còn hàng binh Kinh Châu nhiều nhất cũng chỉ sáu bảy vạn, mà nhân tâm chưa quy phục, còn có sự hồ nghi. Lão tặc mang đám binh sĩ mỏi mệt, hồ nghi đó tới xâm phạm Giang Đông, binh mã dù đông cũng chẳng có gì phải sợ.

Chu Du rõ ràng đang chỉ trích phe chủ hàng, nhưng cũng cố ý nói cho Tôn Quyền nghe, sợ vị chúa công trẻ tuổi tâm tư dao động.

Tôn Quyền thông minh nhường nào? Đương nhiên hiểu được dụng ý của ông ta:

— Công Cẩn không cần khuyên, trong lòng ta đã có chủ ý. Tiếc rằng quần thần đều tính cho bản thân, ngay đến Trương Tử Bố cũng chủ trương hàng Tào, thực khiến ta quá thất vọng. Chỉ có ông và Tử Kính nói hợp ý ta, đúng là trời giúp ta! Nhưng ông cần có năm vạn binh, hiện ta chưa thể rút ngay ra được, Hạ Tề đang giao chiến với người Sơn Việt, bọn chúng chính là mối họa sát sườn, không thể không phòng. Trước mắt có ba vạn tinh binh, lương thảo, chiến thuyền có thể điều động bất cứ lúc nào, ông và Trình lão tướng quân cứ đi trước, ta sẽ dẫn binh mã theo sau chi viện. Có thể thắng được là tốt nhất, còn nếu như chiến sự bất lợi... - Tôn Quyền cắn răng, - Nếu như chiến sự bất lợi, ta sẽ đích thân xông trận, thề cùng tồn vong với tướng sĩ ba quân! - Tôn Quyền cũng biết việc lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh là cực kỳ mạo hiểm, nên đã ôm quyết tâm liều chết. Có điều, bây giờ vẫn chưa phải lúc cần ra trận, nếu anh ta rời khỏi Ngô huyện, còn ai áp chế đám quần thần chủ hàng kia?

Chu Du thấy chúa công tâm chí kiên định, cũng thầm thở phào nhẹ nhõm: đánh trận chỉ sợ chủ soái nghi ngờ, nếu cứ sợ nọ sợ kia, tướng sĩ còn dám liều mình xông trận được sao? Nay, đem ba vạn binh mã địch lại mười mấy vạn quân của người ta, nếu chúa công ở phía sau còn do dự thì trận này không thể đánh được.

— Gió mạnh biết cỏ cứng, nước loạn hiển trung thần. Nếu không có chuyện hôm nay, ta sao có thể nhận ra ai một lòng đi theo... - Tôn Quyền nói nửa chừng, bỗng ngẩng đầu lên nhìn thấy dáng người gầy khô của Trương Chiêu vẫn còn đứng cạnh cửa, hẳn là ông ta đã nghe được lời vừa rồi, nên hơi khó xử, - Tử Bố còn có chuyện gì sao?

Trương Chiêu chậm rãi đi tới trước mặt Tôn Quyền:

— Thuộc hạ có mấy lời muốn nói...

Tôn Quyền cúi xuống nhìn soái án đã bị phạt mất một góc:

— Chuyện dụng binh ý ta đã quyết, không cần nói nữa.

Anh ta đã nói người nào còn dám phản đối sẽ bị giết, nhưng dù có giết ai cũng không thể giết Trương Chiêu được. Trương Chiêu vẻ mặt u ám:

— Thuộc hạ có mấy lời tâm huyết nhất định phải nói.

— Tử Bố ông... Ây dà... - Tôn Quyền thoáng lưỡng lự, tặc lưỡi nói, - Ông nói đi.

— Thuộc hạ đi sắp xếp việc quân, xin được cáo lui trước. - Chu Du biết ý trở ra.

Tôn Quyền cũng không thèm nhìn Trương Chiêu, thờ ơ lật xem tấu báo, chỉ mở lỗ tai nghe ông ta nói. Trương Chiêu im lặng một hồi, đột nhiên lớn tiếng hỏi:

— Chúa công! Ngài còn nhớ lời dặn dò của lệnh huynh trước khi mất không?

Sợ điều gì thì điều ấy lại đến, Tôn Quyền kỵ nhất đề cập đến chuyện này, đành phải bỏ tấu báo xuống nói:

— Trong lòng ta không lúc nào dám quên! Mấy năm nay, ta cố gắng làm hết bổn phận, giữ gìn một dải Giang Đông, có gì sai ư?

Trương Chiêu khẽ lắc đầu:

— Chúa công vỗ về bách tính, cất nhắc tướng lĩnh, cử binh báo thù, tất nhiên không có gì sai cả. Nhưng lệnh huynh trong lúc lâm chung đã nói với thuộc hạ, nếu như việc cát cứ Giang Đông không được thuận lợi, thì cứ thong thả về tây, trở lại Trung Nguyên. Lẽ nào ngài đã quên sao? - Nguyên quán của Tôn thị ở Ngô quận, nhưng vì đi theo Viên Thuật lập nghiệp, lại đem quân về đánh chiếm quê mình, cho nên trong mắt rất nhiều nhân sĩ địa phương, họ không khác gì người ngoài. Cũng chính vì vậy, quan lại địa phương mới nghiêng theo phe Giang Bắc. - Còn có lời này, thuộc hạ muốn giữ thể diện cho ngài nên chưa hề nhắc lại nửa câu.

Tôn Sách trước lúc lâm chung sợ Tôn Quyền còn nhỏ, không thu phục được nhân tâm nên ủy thác mọi việc quân chính cho Trương Chiêu toàn quyền xử lý, ngoài ra còn dặn dò:

— Nếu Trọng Mưu không đảm nhận được việc, ông hãy tự nhận lấy. Vạn nhất sự việc không thuận lợi, cứ thong thả về tây, chớ nên lo lắng.

Vậy là trên thực tế, Tôn Sách đã giao cả quyền phế lập cho ông ta. Trương Chiêu chắp tay nói:

— Thuộc hạ một lòng trung thành, không dám làm càn.

— Lúc ta đến tuổi nhược quán, ông đã giao lại hết quyền bính, có thể thấy Tử Bố hết mực trung thành. - Tôn Quyền gật gù, nhưng lại chuyển ý, - Nhưng lui về mé tây không có nghĩa là hàng Tào! Ông bảo ta vứt bỏ cơ nghiệp của cha anh để làm tôi tớ cho Tào Tháo sao? Các ông không phải nghĩ cho tiền đồ sau này ư?

Lời này khiến tim Trương Chiêu nhói đau, trong lòng trào lên cơn giận:

— Thuộc hạ khuyên ngài quy hàng là vì nghĩ đến lợi ích riêng sao? Chúa công cũng quá xem thường thuộc hạ rồi! Từ khi xảy ra loạn Khăn Vàng đến nay, thiên hạ rối loạn đã ba mươi năm, có biết bao nhân sĩ gặp nạn? Bao nhiêu bách tính phơi thây ngoài đồng? Còn chưa đủ sao? Nay phương bắc đã an định, các vùng phên dậu đã chịu quy thuận, chỉ còn lại một góc Đông Nam này, chẳng lẽ ngài còn muốn tiếp tục tranh đấu, khiến cho nhiều người nữa phải bỏ mạng vì binh đao, khiến cho sáu quận Giang Đông tan nát trong khói lửa sao! - Ông ta càng nói càng giận, không kiềm chế được tâm tình, - Khổng Tử chủ trương thành tựu đức nhân, Mạnh Tử chủ trương chọn lấy điều nghĩa, đấng quân tử đặt đại nghĩa lên trước, dẫu phải chết cũng không né tránh. Huống chi việc cởi giáp quy thuận không làm mất đi tước hầu, có gì không làm được? Ngài nói thuộc hạ nghĩ đến lợi riêng, nhưng thuộc hạ thấy người thật sự nghĩ đến lợi riêng, không chịu buông tay chính là ngài! - Trong số quần liêu Giang Đông chỉ có Trương Chiêu mới dám chỉ trích chúa thượng với những lời lẽ gay gắt đến thế, nếu là người khác chắc chắn sẽ mất đầu.

— Ông im miệng!

Trương Chiêu vẫn cứ nói:

— Năm xưa lệnh tôn cử binh thảo phạt Đổng Trác vì muốn an định thiên hạ, nay ngày thiên hạ thống nhất đã đến trước mặt, ngài lại...

— Câm ngay cho ta! - Tôn Quyền bị chọc giận, đá tung soái án, định rút kiếm giết người, nhưng Trương Chiêu không thèm tránh, cứ đứng im trừng trừng nhìn anh ta.

Tôn Quyền mặc dù phẫn hận, nhưng sao có thể ra tay với một người vừa là trung thần vừa là sư phó, và còn giống như một người cha nghiêm khắc của mình? Anh ta quay mặt đi chỗ khác, không dám nhìn Trương Chiêu nữa, vì sợ bản thân nhất thời phẫn nộ lại gây ra sai lầm lớn. Bàn tay cầm chuôi kiếm run rẩy hồi lâu, đoạn ném mạnh thanh kiếm xuống đất:

— Ông nói đúng! Ta chính là không cam tâm! Bảo vệ Hán thất, giữ gìn tổ nghiệp, đều là những lời dối gạt người khác! Ta muốn hưng bang lập nghiệp, xưng bá thiên hạ! Ông làm gì được ta?

Lần này đến lượt Trương Chiêu không thốt nên lời: đạo lý mãi chỉ là đạo lý, không có quyền lực để chống đỡ thì chẳng thế nào đối lại được những lời lẽ ngang ngược.

Tôn Quyền dần nguôi giận:

— Chớ nói đạo lý với ta, trên đời đâu có lắm chuyện đúng sai thế. - Dứt lời phẩy tay áo bỏ đi, đến cạnh cửa lại ngoái đầu nói rành rọt từng từ, - Thiên hạ không phải của một người, Tào Tháo có dã tâm của hắn, ta cũng muốn tranh đoạt quyền lực của mình! Trời sinh muôn vật vốn đều như nhau, vương, hầu, tướng quân, Thừa tướng, há phải có dòng dõi mới nên? Đám người các ông hãy chống mắt mà xem ta lên ngôi chí tôn!

Trương Chiêu kinh ngạc nhìn chàng trai trẻ lòng đầy dã tâm ấy: trời ơi! Đây là đứa trẻ ngày đó đã khóc lóc không ngừng trước linh đường của huynh trưởng ư? Là thiếu chủ mà ta đã dốc hết tâm sức phò tá ư? Rõ ràng chẳng khác nào một Tào Tháo thứ hai!

❀ ❀ ❀

[1] Thời Hán Hoàng Đế, Sái Ung dâng tấu kiến nghị, điều lệ đầu tiên là: nếu người của địa phương A phải làm quan ở địa phương B, người của địa phương B phải làm quan ở địa phương C, thì người ở địa phương C đều phải tránh làm quan ở ba địa phương A, B, C. Sau đó phát triển thành người của địa phương không được làm quan ở quê mình, người có quan hệ thân thích không được làm quan tại nơi mà người thân ở, với mục đích để các quan không phát triển thế lực cá nhân, đảm bảo sự trong sạch, liêm khiết trong chốn quan trường, hạn chế thế lực cường hào địa phương.

[2] Muốn hạn định bách tính không thể dựa vào việc khoanh đường biên giới, củng cố quốc lực không thể dựa vào thế hiểm trở của núi sông, uy danh thiên hạ cũng không thể dựa vào vũ khí sắc nhọn.

[3] Đông chinh phú, Tào Thực. Bản dịch thơ của dịch giả Thanh An, đăng trên trang thivien. net.

[4] Phong là tế trời, thiện là tế đất, phong thiện chỉ việc đế vương thời xưa lên núi Thái Sơn làm lễ tế trời đất khi đất nước thái bình, hoặc trời giáng điềm lành.

[5] Tạp thi, Tào Phi. Bản dịch thơ của dịch giả Điệp luyến hoa, đăng trên trang thivien. net

[6] Ta cũng không thể sánh được với ngươi.

g Hộc, đều là những nét bút mà những kẻ đọc sách tranh nhau sưu tầm, học theo, những người bình thường tốn công nhọc kế cũng không xin được, hôm nay Chung Do lại chủ động đề tặng. Nhưng Đinh Nghi không những không vui, trái lại mặt mày thất
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Vương Hiểu Lỗi

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.