Quân phiệt Quan Trung

Tào Tháo - Thánh Nhân Đê Tiện

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 433 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi Thứ 113
Thôn Tính Vũ Uy, Hàn Toại Làm Loạn Hậu Phương

❊ ❊ ❊

Một đêm muộn mùa xuân năm Kiến An thứ mười lăm (năm 210 sau Công nguyên), ánh trăng tỏa ánh sáng mờ ảo xuống cả một vùng đất Quảng Mậu, Lương Châu, như trải một tấm lụa mỏng phía trên hoang nguyên bao la, thảy đều hiện lên vẻ bình lặng. Nhưng ngay trên đại đạo dẫn đến huyện Cô Tàng, quận Vũ Uy, một đội binh mã đang hành quân từ đông sang tây, ai nấy đều cầm bó đuốc bập bùng, tiếng quất ngựa và giục giã phá vỡ bầu không khí tĩnh lặng nơi này.

Trong thời tao loạn, cảnh binh mã qua lại không phải hiếm, nhưng đội quân này có vẻ khác lạ - Tổng cộng mới khoảng hơn một ngàn người với hơn trăm chiến mã, quân khí trang bị không đầy đủ. Một số tướng lĩnh không có khôi giáp, chỉ quấn tạm chiến bào trong tiết trời giá lạnh đầu xuân, cũng không có đai gài kiếm, mà phải dùng cỏ dại bện lại thành thừng, rồi quấn quanh lưng để treo kiếm. Những tên lính còn thảm hại hơn, không ít người ngay cả giày cũng chẳng có, đi độc chân trần trên con đường bụi bặm; số khác thì mặc lộn tấm da dê, những sợi lông dài rủ xuống phơ phất, chỉ cần nhìn là biết không phải người Hán. Hành quân vội vã xuyên đêm, sĩ binh sớm đã mệt không thở ra hơi, đám binh mã ít ỏi này kéo nhau đi trải dài gần nửa dặm, căn bản không có trận thế, sức chiến đấu vô cùng rệu rã. Có một tướng lĩnh tuổi độ trung niên, khôi giáp chỉnh tề có vẻ là thống soái, cưỡi trên ngựa không ngừng quát giục:

— Nhanh lên, nhanh lên! Chúng ta phụng mệnh triều đình đi dẹp loạn, mau phấn chấn lên cho ta!

Đám tạp binh thất thểu đó lại tự xưng đi dẹp loạn cho triều đình, há không phải chuyện cười?

Trước khi giặc Khăn Vàng khởi nghĩa, thiên hạ nhà Hán vững chắc, duy chỉ có Lương Châu chiến loạn liên miên, từ khi người Khương bắt đầu khởi bĩnh tạo phản vào năm Vĩnh Sơ nguyên niên, thời Hán An đế (năm 107 sau Công nguyên), Hán Khương vẫn chưa bao giờ dứt cơn binh lửa, đến nay đã kéo dài cả trăm năm. Bọn Đặng Chất, Bàng Tham, Ngu Hủ, Hoàng Phủ Quy, Trương Hoán, Đoàn Ổi, Hoàng Phủ Cao, Đổng Trác sau này không ai chưa từng phải vất vả đánh trận ở Lương Châu, máu xương của mấy thế hệ đều bị chôn vùi ở đó. Nhưng dường như người Khương đã kết mối tử thù với người Hán, bị thảo phạt rồi lại phản, phản rồi lại bị thảo phạt, cứ mãi như vậy không có hồi kết, cho đến khi Linh Đế băng hà, thiên hạ đại loạn vẫn chưa kết thúc.

Cuộc nổi loạn do hai thủ lĩnh của người Khương Hồ là Lý Văn Hầu và Bắc Cung Bách Ngọc cầm đầu cuối thời Linh Đế có thể tính là lần cuối cùng, thanh thế lớn mạnh lan khắp cả Lương Châu, nhưng kết quả lại có chút nằm ngoài dự liệu, người Khương chưa kịp làm loạn đã bị quan quân người Hán đoạt mất đại quyền trong quân. Bọn họ kinh qua công chiến với bên ngoài và tranh đấu với nội bộ bên trong, sau cùng chỉ còn lại hai thế lực quân phiệt lớn mạnh nhất là Hàn Toại và Mã Đằng cát cứ xưng hùng ở Lương Châu, về sau khuếch trương thế lực đến một dải Quan Trung, Thứ sử triều đình chỉ là bù nhìn. Ngoại trừ hai nhà Hàn, Mã, còn có Tống Kiến, Trình Ngân, Hầu Tuyển, Lương Hưng mười mấy thế lực nhỏ, hoặc ở Lương Châu hoặc ở Quan Trung, binh mã mỗi phương không đều, nhiều thì một vạn ít thì vài nghìn, thề thốt vào sinh ra tử cùng huynh đệ. Xuất thân của đám quân phiệt này gồm ba loại: phản tướng, cường đạo, thổ hào.

Đầu mục của đội quân trước mặt này tên gọi Dương Thu, cũng xuất thân phản tướng, tuổi trạc tứ tuần, từng trải chiến loạn đã lâu. Do Tào Tháo gấp rút nam hạ nên muốn vỗ về chư tướng Lương Châu, vì vậy ông ta cũng được phong tước Kỵ đô úy, Quan nội hầu ở triều đình. Nhưng trong tay ông ta chỉ có hai ngàn binh, địa bàn chỉ có mấy huyện nhỏ trực thuộc quận An Định, không những không thể so sánh với hai nhà Hàn, Mã mà thậm chí cũng tương đối yếu khi đặt lên bàn cân cùng với các thế lực nhỏ khác.

Tháng Bảy năm ngoái, Thái thú Vũ Uy Trương Mãnh nhân lúc Tào Tháo nam chinh thất bại đã dấy binh báo tư thù, giết hại Thứ sử Lương Châu Hàm Đan Thương. Hàn Toại cũng lập tức công bố hịch văn, triệu tập binh mã các bộ hợp công Trương Mãnh, luôn miệng nói phải trừ hại cho triều đình. Nhưng lần khởi binh này vừa không biểu tấu cho triều đình, cũng chẳng thông báo cho Tào Tháo, hoàn toàn do Hàn Toại tự ý dụng binh. Các bộ Lương Châu nhao nhao hưởng ứng, duy có Dương Thu nghe theo ý kiến của thuộc hạ, không dám liều lĩnh hành động, bí mật phái người đến thỉnh thị Tào Tháo, sau khi được ngầm cho phép mới phát binh, cố tình bỏ lỡ mất mấy tháng. Trong khoảng thời gian đó, Hàn Toại thống lĩnh các bộ đánh nhanh thắng nhanh, cuộc chiến lần này sắp đến hồi kết thúc. Theo minh ước giữa các bộ quân Lương Châu, phàm là những đội quân hiệp đồng tác chiến đều được phân chia những tài sản quan trọng của kẻ địch, thậm chí còn được quyền tùy tiện cướp bóc trong thành của địch, Dương Thu đã đến muộn một bước, nếu không mau trợ chiến thì chẳng còn vớt vát được chút gì nữa.

Liên tục hành quân quên ngày quên đêm như vậy được chừng bảy tám ngày, sĩ tốt đều mệt mỏi rã rời, cuối cùng cũng đến được dưới chân thành Cô Tàng. Binh mã các bộ ai nấy khôi giáp đen kịt, tầng tầng lớp lớp đã vây chặt thành từ lâu, đến một con ruồi cũng chẳng thoát được. Quân của Dương Thu vốn đã ít, lần này hành quân ngàn dặm đã mệt, nhất thời không theo kịp tới nơi, bên cạnh ông ta lúc này chỉ có mười mấy thân binh.

Không biết tên tiểu tướng nào phụ trách đốc hậu, vừa thấy Dương Thu liền cao giọng hỏi:

— Binh mã nơi nào, dám đến đây làm loạn?

— Ta là Kỵ đô úy An Định quận Dương Thu, phái binh đến yểm trợ. Hãy mau dẫn đường, ta muốn gặp Hàn tướng quân.

Do binh mã trong tay không nhiều, làm tướng soái cũng phải nhẫn nhịn, tên tiểu tướng kia căn bản không coi ông ta ra gì, cười nhạt nói:

— Dương Thu tướng quân của tôi ơi, ngài đến thật rồi đấy ư? Muộn thêm chút nữa chúng tôi đã công hạ thành

Làm gì có thời gian dẫn đường, quân lính chỉ rẽ thành một lối nhỏ, bảo ông ta tự đi. Người bước dưới hiên thấp, không thể không cúi đầu. Dương Thu cũng không tính toán, quất ngựa dẫn đám thân binh đi vào, lòng vòng một hồi lâu, cuối cùng cũng đến được thành hào. Chỉ nhìn thấy mười tên lính tay cầm bó đuốc, ở giữa có bảy tám tướng lĩnh đang ngồi trên lưng ngựa. Một người trông số đó mình khoác giáp sắt, đầu đội kim khôi, chiến mã đen bóng, mặt rộng râu dài, đôi mắt phản chiếu ánh lửa đỏ rực, mặc dù tuổi đã gần lục tuần nhưng không hổ là bảo đao bất lão, khuôn mặt vẫn toát lên vẻ anh võ, cứng cỏi - Đó chính là Chinh Tây Tướng quân Hàn Toại. Bên cạnh ông ta là Trình Ngân, Lý Kham, Mã Ngoạn, Lương Hưng, Hầu Tuyển, đều là đầu mục các bộ của Lương Châu và Quan Trung.

Hàn Toại thấy Dương Thu giờ này mới đến, bất giác nhíu mày. Lương Hưng là kẻ thô lỗ, oang oang cất giọng:

— Ái chà! Đây chẳng phải là Dương huynh đệ sao? Sao giờ này mới tới? Có phải là mải vui vầy với thê thiếp, mặc nhầm quần của nương tử nên mới để lỡ công việc không?

Câu nói khiến chư tướng bật cười ha hả. Trình Ngân cũng phưỡn bụng mắng nhiếc:

— Ngươi đúng là biết đục nước béo cò, chúng ta ở đây chém giết, ngươi thì án binh bất động, lúc này mới đến chia phần, là cái giống gì chứ?

Dương Thu không thèm đếm xỉa đến họ, chỉ chắp tay giải thích với Hàn Toại:

— Năm ngoái mất mùa không kiếm được lương thực, đám thuộc hạ của tại hạ sắp chết đói hết cả, nửa tháng trước mới cướp bóc ở vài thôn trang, tích lũy được chút quân lương mới đến được đây. Đến muộn vài ngày, mong ngài lượng thứ.

Hàm Toại tuy là đại đầu mục cát cứ một phương, nhưng xuất thân gia giáo, am hiểu kinh thư nên cũng có chút độ lượng, trong lòng không vui nhưng không hề trách cứ, chỉ lạnh lùng nói:

— Chiến sự cấp bách, không cần nhiều lời. Mau mau lãnh binh vây cửa Tây, chớ làm lỡ việc nữa.

— Vâng.

Dương Thu nhận lệnh đi ngay.

— Khoan đã! Huynh đệ ở đây đều đã vất vả không ít, duy chỉ ngươi bây giờ mới đến, vậy là không công bằng. Đến khi công phá xong thành trì, phân chia tài vật của địch, lão phu sẽ trừ của ngươi một nửa.

Các bộ quân Lương Châu đều do Mã Đằng, Hàn Toại cùng đứng đầu, phàm mọi việc đều do hai nhà bàn bạc quyết định. Nay Mã Đằng đã nhập triều, con ông ta là Mã Siêu mặc dù kiêu dũng, thiện chiến nhưng xét cho cùng vẫn là vãn bối, hiện giờ tất cả đều do Hàn Toại làm chủ. Dương Thu một là đuối lý, hai là không dám không phục, chỉ đành khúm núm lui đi.

— Nhìn xem! Trương Mãnh ra rồi!

Cùng với tiếng kêu của tên lính, một viên lão tướng xuất hiện trên địch lâu.

Thái thú Vũ Uy Trương Mãnh, tự Thúc Uy, vốn là con của danh tướng tiên triều Trương Miễn, giờ tuổi gần lục tuần. Năm xưa khi ông ta nhận chức Thái thú Vũ Uy, triều đình cũng phong Hàm Đan Thương làm Thứ sử Lương Châu, hai người cùng phụng lệnh, đáng lẽ nên đồng tâm hiệp lực, ai ngờ lại đến bước không đội trời chung. Thứ sử Lương Châu vốn là chức quan do Kinh Triệu hào tộc Vi Đoan đảm nhiệm, sau này Vi Đoan vào triều, Tào Tháo lại đưa một văn nhân đất Duyện Châu là Hàm Đan Thương lên thay. Người này tuy là một kẻ sĩ có tài, nhưng lại không nắm bắt được tình hình Lương Châu, lúc nào cũng có ý kiềm chế Trương Mãnh. Hai người tỵ hiềm như lửa với nước, đến nỗi Trương Mãnh dẫn binh bao vây phủ Thứ sử, giết chết Hàm Đan Thương. Trương Mãnh tưởng rằng Tào Tháo vừa mới bại trận Xích Bích, không có thời gian đâu quản chuyện này, nào ngờ bọ ngựa bắt ve, chim sẻ chực sẵn, ông ta mải lo đấu đá nội bộ mà cõng giặc ngoài về. Vô duyên vô cớ giết hại mệnh quan vốn đã không được nhân tâm, lại thêm việc Hàn Toại người đông thế lớn, Trương Mãnh thất bại liên tiếp bị vây trong thành trống, sinh tử tồn vông chỉ còn trông đêm nay.

Hàn Toại cưỡi ngựa lên trước vài bước, ngước lên hét to:

— Lão bằng hữu, đã lâu không gặp!

Bọn họ vốn đều xuất thân là người Lương Châu, trước tiên cũng nên hỏi han qua lại.

— Hàn Ước, cớ sao lại động binh xâm phạm thành trì của ta?

Trương Mãnh biết rõ Hàn Toại, ông ta vốn tên Hàn Ước, tự Văn Toại, sau này vì phản loạn nên phải thay tên đổi tên thành Hàn Toại, tự Văn Ước.

— Đã biết cớ sao còn hỏi. Ngươi giết chết Thứ sử, ý đồ mưu phản, ta phát binh là để chấn hưng xã tắc, quét sạch hung đồ!

— Hừ! - Trương Mãnh gằn giọng chửi - Rõ ràng nhà ngươi thừa cơ làm loạn, vậy mà dám nói ta là phản tặc.

Hàn Toại cười nói:

— Ngươi giết mệnh quan triều đình, chứng cứ rành rành, có tư cách gì mà giáo huấn ta? Hãy chống mắt lên nhìn mấy lộ binh mã, Lương Châu các bộ đều ở đây cả, là ngươi một mình mưu phản, hay là tất cả bọn ta cùng mưu phản, còn chưa rõ hay sao?

— Quân bỉ ổi vô sỉ, giặc mà cũng hô hào bắt giặc!

Trương Mãnh đưa mắt nhìn đại đội binh mã trải dài ngút tầm mắt ở bên dưới, đều đang chờ xâu xé ông ta.

Trình Ngân cũng tiếp lời:

— Trương Thúc Uy, ngươi có thể bay cao, nhảy xa đến đâu chúng ta đều hiểu rõ, hiện giờ trong thành e rằng chỉ có chưa đầy ba ngàn binh mã phải không? Hãy nghe lời khuyên của ta, mau mau mở thành đầu hàng, nể tình đồng hương, ta sẽ cho ngươi chết toàn thây!

— Chớ có cuồng ngôn! Viện binh của triều đình sắp tới rồi.

Trình Ngân lại nói:

— Câu ấy ngươi hãy lừa trẻ con đi! Ngươi tự ý giết hại Thứ sử, triều đình há lại cứu ngươi? Chưa kể quan quân gần nhất ở tận Hoằng Nông, đợi bọn họ đến thì mười tòa Cô Tàng thành cũng tan nát rồi.

Trương Mãnh biết lời của mình hàm hồ, lại nói:

— Bản bộ binh mã của con trai Vi Đoan là Vi Khang đang ở Dực Thành...

Không đợi ông ta nói xong, Hàn Toại đã ngửa cổ cười lớn:

— Ha ha ha!... Tên tiểu tử Vi Khang chỉ có vài ngàn binh mã, đừng nói hắn không dám đến, mà nếu đến ta cũng một tay tru diệt.

— Tên cẩu tặc Hàn Ước chớ có lộng ngôn! - Trương Mãnh sớm đã toát mồ hôi lạnh, nhưng vẫn cố rắn mặt biện bác, - Đừng quên rằng ngươi đang có họa sát nách, Mã Đằng tuy đã vào kinh nhận chức Vệ úy, nhưng vẫn còn con trai hắn là Mã Siêu. Nay ngươi đến đánh ta, không sợ Mã Siêu tập kích sau lưng ngươi ư? Nếu như hắn phát binh đến cứu, lại có quan quân tiền hô hậu ứng, các ngươi ắt chết không có chỗ chôn!

Đây là pháp bảo cuối cùng của ông ta.

— Đừng có mơ! - Hàn Toại cười nhạt, đoạn cầm lấy một bó đuốc từ tên thân binh, thúc ngựa đi một vòng sang đội quân cánh trái, gằn giọng hét lên bên trên, - Mở đôi mắt chó của ngươi ra, xem đây là ai?

Dứt lời bèn đưa cây đuốc ra trước mặt một viên quan tướng đang ở cạnh.

Trương Mãnh nhíu mắt nhìn, dưới ánh sáng mờ mờ của ngọn đuốc, ông ta dần nhận ra người này - Thân hình cao lớn, tướng mạo dữ dằn, đầu báo mắt tròn, râu ria rậm rạp, mình vận khôi giáp chỉnh tể, lưng buộc chiến bào da hổ, vai đeo cung tên, trên tay cầm một ngọn giáo sáng lóa. Nhân sĩ Lương Châu đều nhận ra, người đó chính là mãnh tướng dưới trướng phụ tử Mã thị - Bàng Đức!

— Sao có thể...

Trương Mãnh bỗng cảm thấy trời đất quay cuồng, suýt chút nữa ngã nhào từ trên thành xuống dưới.

— Ha ha ha, nhìn rõ chưa hả? - Hàn Toại quẳng bó đuốc đi, phủi tay vẻ đắc ý, - Cả thiên hạ này đều là kẻ thù của ngươi, chẳng ai tới cứu ngươi đâu!

Trương Mãnh lúc này đã hoàn toàn tuyệt vọng. Vi Khang không có khả năng cứu viện, Mã Siêu lại âm thầm cấu kết với Hàn Toại, quân triều đình gần đây cũng ở Hoằng Nông, đừng nói chẳng buồn để tâm đến ta sống chết ra sao, kể cả có muốn quản cũng chẳng kịp nữa, trời triệt đường ta rồi... hết rồi!

Hàn Toại bắt đầu hết kiên nhẫn:

— Trương Thúc Uy, ta cho nhà ngươi nửa canh giờ để mở thành đầu hàng, nếu dám kháng cự ta sẽ lập tức công thành! Đến lúc đó ngói vỡ ngọc tan, đừng trách ta không niệm tình!

Trương Mãnh chầm chậm đứng thẳng dậy, không buồn nhìn xuống dưới thành nữa, thất thểu lui vào lầu gác. Hai tên thân binh mặt mày lo lắng hỏi:

— Quận tướng đại nhân, vậy chúng ta phải làm sao?

— Đắc tội với trời, biết cầu chi đây? - Trương Mãnh chỉ biết lắc đầu cười khổ, - Các ngươi mau lui ra, ta muốn yên tĩnh một mình.

Trông lầu gác chỉ còn lại một mình Trương Mãnh ngồi thẫn thờ, chết lặng bên soái án. Bất luận mở thành hay không, trọng tội “mưu phản” lơ lửng trên đỉnh đầu, dù chết cũng không trốn được. Ông ta chỉ muốn trước khi chết viết một bản tấu chương, bày tỏ sự hối hận vì tội lỗi của mình, và tố cáo Hàn Toại mới là phản tặc thực sự! Nhưng khi cầm bút lên, ông ta lại chẳng viết nổi chữ nào, ngoảnh đầu nhìn quanh căn gác, trong đầu chỉ toàn những suy nghĩ kỳ quái.

Triều đình đại Hán có chế độ, người Lương Châu không được chuyển hộ tịch ra khỏi bản quận, nhưng cha của Trương Mãnh là Trương Miễn được phá lệ do có công với triều đình, nên dời tới Hoằng Nông, từ đó thay đổi được địa vị của cả gia tộc. Cũng thật tình cờ, Trương Mãnh sinh ra vào lúc Trương Miễn nhận chức Thái thú Vũ Uy, nghe nói khi đó đang phải giao chiến với người Khương, cha ông ngày ngày ở trên thành lâu chỉ huy tác chiến, mẹ ông sinh ông trông chính thành lầu này. Như là định mệnh sắp đặt, lẽ nào sinh ra ở đâu thì sẽ phải chết ở đó?

Trương Mãnh bất giác cảm thấy phẫn nộ, vung tay gạt đồ hết giấy mực, tấu chương xuống đất. Giữa tiết xuân giá lạnh, trong gác đốt ba bốn chậu than, thẻ tre rơi vào trong chậu than bắn lên những đốm lửa tựa hồ pháo hoa. Trương Mãnh lặng đi trong giây lát, đột nhiên đứng dậy đạp đổ chậu than, lửa bắt vào chiếu trúc tí tách cháy. Ông ta như đã phát điên, đá bay hết các chậu than, trong nháy mắt ghế tựa, rèm che, soái án đều bắt lửa cháy ngùn ngụt, ánh lửa bao trùm trông lầu các.

— Đại nhân, có chuyện gì vậy? - Đám thân binh lập tức xô nhau vào.

Trương Mãnh quay đầu, giọng trầm đục:

— Ta rơi vào tay Hàn Toại, ắt sẽ bị chém đầu đưa về Hứa Đô. Sau khi chết mà không linh thiêng thì tốt, nếu linh thiêng ta còn mặt mũi nào đi qua phần mộ tiên phụ ở huyện Hoa Âm nữa? Thôi đành, sống chết đã định, Trương mỗ ta cũng đành chấp nhận! Các ngươi thay ta chuyển lời đến gã họ Hàn đó, hắn cũng không đắc ý được bao lâu nữa đâu. Tào Tháo chắc chắn sẽ không dễ dàng tha cho hắn, ta sẽ ở bên kia đợi hắn!

Nói đoạn buông thõng hai tay ngã vào biển lửa đang cháy rừng rực... Ngọn lửa trên thành càng cháy càng to, thống lĩnh tự thiêu, binh sĩ như rắn mất đầu đành phải đầu hàng. Cửa thành ầm ầm mở ra, không đợi Hàn Toại truyền lệnh, các lộ binh mã đã hò nhau xong vào. Nào giết! Nào tranh! Nào cướp! Nào chia chác! Đừng nói đến lương thảo, quân giới của quân vệ thành, ngay cả tài sản của bách tính cũng bị cướp bóc sạch sành sanh, chẳng ai để ý đến ngọn lửa đang hừng hực cháy trên tường thành, cứ mặc nó thiêu đốt một cách phẫn nộ, biến thành lâu thành một đống tro tàn - Đây chính là đạo quân chính nghĩa, vì triều đình mà trừ hại!

Các bộ quân Lương Châu cướp đoạt cả một đêm, thậm chí chỉ vì tranh nhau mà nội bộ còn đánh nhau một trận, mãi đến khi trời sáng mới rút khỏi huyện thành, ai về trại nấy. Dương Thu vừa trở về đại trướng liền không tiếc lời chửi rủa:

— Lão cẩu tặc Hàn Toại là cái thá gì! Lại dám cạnh khóe ta trước mặt mọi người, dù gì ta cũng là Quan nội hầu do triều đình sắc phong, đâu phải là thuộc hạ của hắn, cớ sao phải chịu nhục thế này! Còn bị đám Trình Ngân, Lương Hưng chê cười. Cứ ép ta thế này, đừng trách ta một đao chém bay thủ cấp của hắn...

Chửi thì chửi, nhưng kỳ thực Dương Thu binh mã vừa ít lại thiếu lương thảo, uy vọng thực lực đều thua kém rất nhiều, há có thể liều mạng với Hàn Toại? Cũng chỉ nói cho đã mồm thôi.

Ông ta chửi được vài câu, bỗng một nô bộc trẻ tuổi, tướng mạo thanh tú mỉm cười bước lên nói:

— Tướng quân xin hãy nguôi giận, hà tất phải so đo với người già? Vất vả mấy ngày rồi, mau nghỉ ngơi thôi. Tiểu nhân đi nướng thịt dê cho ngài. Đợi lát nữa ngài tỉnh dậy, thịt dê cũng nướng xong, không lạnh không bỏng, ngoài giòn trong mềm, thơm ngậy vô cùng, khoái khẩu biết bao! Chúng ta nên vui thì cứ vui, há phải so đo với lão già kia.

Hắn vừa nói vừa giúp Dương Thu cởi bỏ khôi giáp.

— Cút sang một bên! - Dương Thu hằn học xô ngã tên nô bộc, - Đều do ngươi cả! Xui ta đi thỉnh thị triều đình, đi đi lại lại chậm như vậy, nếu không phải đợi mệnh lệnh của Tào Tháo thì ta đã sớm đến đây rồi, sao đến nông nỗi bị Hàn Toại hạ nhục? Ngươi đúng là việc thành thì ít, việc bại thì thừa!

Tên nô bộc ngã vật dưới đất, không những không sợ, còn cười hì hì:

— Tướng quân, thuộc hạ vì muốn tốt cho ngài thôi!

— Tốt cho ta? Những thứ cướp được lần này, bộ quân nào cũng được như nhau, riêng chúng ta bị Hàn Toại khấu mất một nửa. Đều do ngươi mà ra cả!

Dương Thu trót lỡ miệng, kỳ thực bị mắng mấy câu cũng chẳng sao, điều khiến ông ta hậm hực là chia chác không đều.

Tên nô bộc đó lại nói:

— Những thứ này có đáng là gì, sau này phú quý đang chờ chúng ta đó!

— Vớ vẩn! - Dương Thu ném đâu mâu xuống đất, - Ta đúng là đầu óc mong muội mới nghe những lời hàm hồ của tiểu tử ngươi. Lại còn phú quý nữa à? Ngươi cứ mơ đi! Mau bê nước rửa chân đến cho ta!

Nụ cười của tên nô bộc trước sau vẫn không thay đổi, hắn chậm rãi bò dậy, nhặt mũ đâu mâu lên rồi thổi cho hết đất cát, nhẹ nhàng đặt lại lên soái án:

— Phú quý hay không cứ tạm bỏ qua, tướng quân ngài có còn cần cái đầu nữa không?

— Hả? - Dương Thu giật mình, - Ý của ngươi là gì?

— Hàn Toại quá ngông cuồng, đắc tội với triều đình đã lâu. Ngài không thể cùng hắn đâm đầu vào cửa tử được, cần phải chừa lại đường lui cho mình chứ!

— Đường lui... - Dương Thu dần dần nghe lọt tai, - Ý ngươi là sao?

Tên nô bộc vừa cười vừa đi đến góc đại trướng, cầm một chiếc gáo đồng lên, vừa múc nước vừa nói:

— Hàn Toại lập thân bằng cách tạo phản, rốt cuộc cũng là phường vô sỉ. Mặc dù hiện nay đã dựa vào triều đình, nhưng hắn cát cứ Tây Lương hơn ba mươi năm, triều đình há có thể thực sự tín nhiệm hắn? Quân Tào đại bại ở Xích Bích, hắn lại nhân cơ hội này đục nước béo cò, lấy cớ dẹp loạn để công thành cướp đất, tưởng rằng Tào Tháo nước xa không cứu được lửa gần, nào biết làm vậy là không gì ngu ngốc hơn. Tướng quân, mời ngồi... - Hắn giúp Dương Thu cởi bỏ giày tất, quỳ xuống rửa chân cho ông ta, - Kỳ thực Hàn Toại nếu chịu giao lại quyền binh, vào triều giống như Mã Đằng, Tào Tháo chưa chắc đã làm gì hắn, hắn càng giữ chặt binh mã bao nhiêu, Tào Tháo càng muốn trừ khử hắn bấy nhiêu. Đừng nghĩ quân Tào bại một trận ở Trường Giang mà coi thường, lạc đà gầy vẫn to hơn ngựa, xét cho cùng thực lực của Hàn Toại vẫn chẳng thấm tháp gì so với Tào Tháo! Chúng ta không thể đắc tội, cần phải nhìn xa trông rộng hơn!

— Đúng. - Cũng không biết vì cảm thấy có lý hay ngâm chân thấy thoải mái, Dương Thu thở một hơi dài nhẹ nhõm, - Vậy theo ý ngươi, đáng lẽ ta không nên theo Hàn Toại đến đánh Trương Mãnh...

— Không phải. Chúng ta vẫn nên đến. - Nếu như không theo chúng đến đánh Trương Mãnh, vậy thì chúng diệt xong Trương Mãnh sẽ quay lại diệt chúng ta! Ngài nghĩ xem, các bộ binh mã đều đến cả, duy chỉ có chúng ta khoanh tay đứng nhìn, vậy Hàn Toại có chấp nhận không?

— Có lý. - Dương Thu dường như đã hiểu thấu, - Ý của ngươi là...

Tên bộc đồng cười hì hì, vừa bóp bóp chân cho Dương Thu vừa nói:

— Chúng ta vừa hội quân cùng Hàn Toại, vừa tiết lộ quân cơ cho Tào Tháo. Quen một ông hùm ở chỗ gần, dựa một ông hổ ở nơi xa, như vậy chẳng đắc tội với ai cả. Hàn Toại hiện tại có thể lợi dụng được, chúng ta cứ cùng hắn uống rượu nhai thịt, sau này giả như Tào Tháo phát binh hỏi tội, chúng ta có thể nói rằng bị Hàn Toại đe dọa, đồ tất cả tội lỗi lên đầu hắn. Hơn nữa lại có công tiết lộ quân cơ, Tào Tháo ắt sẽ không hẹp hòi với chúng ta. Ngài nói xem như vậy có lý hay không?

— Có lý! Có lý! Ha ha ha!... - Dương Thu đắc ý vỗ vai nô bộc, - Khen cho ngươi nghĩ ra cái chủ ý trong ngoài lưỡng toàn này, ngươi đúng là một tên tiểu nhân có tài đấy!

— Tướng quân quá khen, hì hì hì.

Tên “tiểu nhân có tài” mà Dương Thu vừa nói tên Khổng Quế, tự Thúc Lâm, người Thiên Thủy, xuất thân bần hàn, song thân mất sớm. Năm xưa Tây Lương phản loạn, Dương Thu thân làm tướng lĩnh đi chém giết cướp bóc, đem hắn về làm nô bộc, khi đó hắn chỉ là một đứa bé, Dương Thu thấy hắn tướng mạo thanh tú, bèn giữ lại trông trướng làm đầy tớ. Khổng Quế thông minh lanh lợi, đặc biệt có sở trường quan sát sắc diện người khác, mười mấy năm trời phục dịch, không chỉ hầu hạ Dương Thu ăn uống ngủ nghỉ rất mực chu toàn, mà còn tham dự quân vụ. Dương Thu binh cô tướng quả, chẳng có mưu sĩ nào, vì vậy Khổng Quế liền trở thành một nhân vật không thể thiếu trong doanh, vừa là nô bộc vừa là tham mưu.

Từ khi được trọng dụng, Khổng Quế không những không lơ là việc hầu hạ phục dịch, ngược lại còn cúc cung tận tụy hơn. Lúc này đây, hắn đang ôm chân Dương Thu hết nắn lại bóp, cứ như thể nâng niu một món đồ vô cùng quý báu:

— Bẩm tướng quân, còn có một việc nữa tiểu nhân muốn hỏi ngài.

— Nói đi.

Dương Thu nhắm mắt, cảm thấy thoải mái vô cùng.

— Có phải ngài đã biết trước việc Mã Siêu phái binh tới không?

— Ta sao biết được? Đêm qua trông thấy Bàng Đức ngay cả ta cũng giật mình.

— Ồ? - Khổng Quế giật mình, - Tên Mã Siêu đúng là giảo hoạt!

— Khốn kiếp, ngươi bóp nhẹ chút đi!

Dương Thu bị bóp đau cả chân. Khổng Quế nhẹ nhàng đặt chân ông ta xuống, lại bắt đầu chuyển sang bóp vai đấm lưng:

— Hiện nay Mã Đằng đang ở trong triều, theo lý mà nói Mã Siêu phải giữ bổn phận một chút, sao lại câu kết với Hàn Toại kia chứ! Hắn không dám diễu võ dương oai, bèn âm thầm phái bộ hạ lĩnh binh tham gia, tưởng rằng có thể lừa dược Tào Tháo... Tướng quân, đây chính là cơ hội tốt để lập công với triều đình đó!

— Tên tiểu tử ngươi lại có diệu kế gì thế?

— Chúng ta báo tin cho triều đình, tiết lộ tình hình ở đây.

— Việc này không cần phải lo, Hàn Toại đang định biểu tấu tới triều đình.

Khổng Quế cười thầm ông ta không hiểu chuyện, nhưng vẫn nhẫn nại giải thích:

— Hàn Toại tất nhiên sẽ gửi biểu tấu, nhưng chắc chắn sẽ không nhắc đến chuyện Mã Siêu tham gia, vì vậy chúng ta mới phải tiết lộ tin này cho Tào Tháo, để ông ta lưu tâm hơn nữa. Theo ý của tiểu nhân, ngài hãy mau viết một bản tấu chương, gửi đi trước khi Hàn Toại...

Dương Thu bĩu môi:

— Ngươi cố ý chơi xỏ ta phải không? Ta há có thể so với lão cẩu tặc Hàn Toại? Hắn từng học ở Lạc Dương, ta thì một chữ bẻ đôi cũng không biết, viết biểu tấu thế nào kia chứ?

— Ây dà... vậy làm sao vậy giờ? - Khổng Quế giả vờ thở dài.

— Ngươi đi một chuyến xem sao.

— Cũng được... - Điều Khổng Quế cần chính là câu nói này, nhưng vẫn giả vờ ngọt nhạt, - Chỉ cần vì tướng quân ngài, tiểu nhân vất vả thế nào cũng chịu dược.

— Chớ làm ta buồn nôn nữa, mau đi còn về, đến Hoằng Nông đừng để lỡ việc. Tư lệ hiệu úy Chung Do tọa trấn Hoằng Nông, giám sát việc quân vụ ở Quan Tây.

— Không đi Hoằng Nông, tiểu nhân sẽ đến Nghiệp Thành!

— Nghiệp Thành? - Dương Thu có chút không vui, - Ngươi còn muốn trực tiếp gặp Tào Tháo? Vừa đi vừa về dễ mất đến vài tháng, không thấy phiền sao?

— Hì hì hì, muốn lấy lòng thì phải trực tiếp đến gặp quan trên, há có thể sai kẻ khác làm thay? Nếu khiến Tào Tháo hài lòng, ngày sau tướng quân mới yên ổn chứ ạ!

Khổng Quế mới chỉ nói đến việc công, kỳ thực hắn vẫn có tư lợi không thể nói ra. lần trước diện kiến Tào Tháo được ban thưởng không ít, dường như Tào Tháo đánh giá hắn khá cao, mặc dù vinh sủng này đến có vẻ bất ngờ, nhưng cũng là cơ hội tốt để tiến thân. Nếu có thể khéo léo quỵ lụy, trèo lên được cành cao này, vậy sẽ không phải ở Lương Châu ôm chân Dương Thu nữa, đến Nghiệp Thành ôm chân Tào Tháo chẳng phải tốt hơn ư?

— Tùy ngươi, chớ làm hỏng việc là được. - Dương Thu thích chí vì được hắn hầu hạ chu đáo, vươn người uể oải, - Bận rộn cả đêm cũng mệt rồi, ngủ thôi! Ngươi mau thu xếp lên đường cho sớm.

— Không cần sắp xếp gì cả. - Khổng Quế cười nói, - Tiểu nhân cưỡi ngựa đến thẳng Nghiệp Thành, ắt có thể đến trước sứ giả của Hàn Toại. Tướng quân nghỉ ngơi đi, tiểu nhân đi nướng dê cho ngài trước, ngoài tiểu nhân ra, còn ai biết được khẩu vị của ngài chứ?

— Được, đi đi.

Dương Thu ngáp ngắn ngáp dài, ngả lưng nằm xuống, mắt vừa nhắm lại lập tức trừng lên:

— Tiểu tử người phải nhớ rửa tay cho sạch, chớ vừa bóp chân lại quay ra làm đồ ăn cho ta đấy!

Sửa sang Nghiệp Thành

Tần Thủy Hoàng thôn tính sáu nước, nhất thống thiên hạ, phế bỏ chế độ phân phong để đặt ra quận huyện, chia bộ máy hành chính ở địa phương thành hai cấp quận, huyện. Nhưng Hán Cao tổ lại bãi bỏ quy chế này của nhà Tần, sau khi tiêu diệt Hạng Vũ, để phong thưởng công thần, củng cố tông tộc, ông lại bắt đầu sắc phong cho hàng loạt chư hầu vương, trải qua mấy triều đại các vua chư hầu dần dần bị hạn chế, mãi đến khi Hán Vũ đế ban bố “Thôi ân lệnh”[1], ảnh hưởng của các nước chư hầu với chính quyền trung ương mới cơ bản bị xóa bỏ. Sau này để tăng cường sự khống chế với các địa phương, Hán Vũ đế lại chia quận huyện trên khắp thiên hạ thành mười ba châu, mỗi châu nhận mệnh một Thứ sử, chuyên phụ trách khảo sát lại trị, đôn đốc pháp trị. Do đô thành đại Hán nằm ở Trường An, Lạc Dương, vì vậy những nơi ấy không gọi là “châu” mà gọi là “tư lệ”, quan giám sát dưới chân thiên tử không gọi là “Thứ sử” mà gọi là “Tư lệ hiệu úy”.

Tư lệ hiệu úy không chỉ khác biệt về mặt danh xưng so với chức Thứ sử, đãi ngộ và quyền lực cũng lớn hơn nhiều. Thứ sử hưởng bổng lộc sáu trăm thạch, Tư lệ hiệu úy thì hai ngàn thạch; Thứ sử thông thường chỉ được phụ trách giám sát, nhưng Tư lệ hiệu úy không những có thể giám sát bách quan, mà còn cai quản cả việc phòng vệ của kinh thành, thậm chí cũng có ba bốn phần quyền trong việc quản lý các thành viên hoàng tộc! Thời Quang Vũ Đế, chức quan này do tên khốc lại Đồng Tuyên đảm nhậm, vì thế chức Tư lệ hiệu úy được gắn thêm một biệt hiệu là “Ngọa Hổ”, đủ để thấy sức nặng uy quyền của nó. Tình trạng này duy trì gần hai trăm năm, cho đến khi Tào Tháo đảm đương chính sự mới bắt đầu xuất hiện vấn đề.

Do Tào Tháo đón thiên tử đến huyện Hứa, Dự Châu, dựng kinh đô mới, cũng tức là thoát ly khỏi địa giới Tư lệ, nên mới xuất hiện cục diện khó xử Tư lệ hiệu úy “sở tại phi sở quản”. Thế nhưng bất cứ vấn đề nào cũng không làm khó được Tào Tháo khi ông đang nắm đại quyền trong tay. Trước tiên, ông lệnh cho vị lão bằng hữu tâm phúc là Đinh Xung kiêm nhiệm vài năm, nắm giữ binh mã vệ thành của Hứa Đô, tiếp theo lại chuyển cho Thị trung Chung Do, lệnh cho ông ta trấn giữ đất cũ Hoằng Nông, không chỉ giám sát địa phương, còn thống lĩnh binh mã, đối phó với thổ phỉ Quan Tây, quân cát cứ Lương Châu và cả người Hung Nô.

Chung Do là con của danh sĩ tiên triều Chung Hạo, vốn không thân quen gì với Tào Tháo, nhưng đã từng góp sức trong việc nghênh đón thiên tử, nên nhận được tín nhiệm, được Tào Tháo giao cho trọng trách mưu tính Quan Trung. Sở dĩ Tào Tháo có thể diệt Lã Bố, phá Viên Thiêu, bình định Hà Bắc, quả thực có một phần công lao rất lớn của Chung Do, chính nhờ có ông ta ổn định thế cục ở mặt tây, Tào Tháo mới bớt đi nỗi lo sau lưng, để có thể tận lực phát triển về đông. Đặc biệt, khi Cao Cán hai lần nhân lúc Tào Tháo viễn chinh dấy binh làm loạn, đều do một tay Chung Do hóa hiểm thành an. Vì thế công lao và địa vị của Chung Do chỉ đứng sau Thượng thư lệnh Tuân Úc, Quân sư Tuân Du, không những là tâm phúc của Tào Tháo mà còn là trọng thần của xã tắc.

Thế nhưng trước đó không lâu Chung Do nhận được một đạo chiếu lệnh, Tào Tháo lệnh cho ông ta rời khỏi Hoằng Nông, đến Nghiệp Thành thương nghị việc quân. Trương Mãnh giết Hàm Đan Thương, Hàn Toại nhân cơ hội đó khởi binh, mặt tây cũng có vẻ không an phận, nhưng có chuyện có thể gửi thư tín, cớ sao phải diện kiến? Chung Do nghĩ mãi không hiểu, lại không thể kháng lệnh, đành giao lại việc quân chính cho Yết giả bộc xạ Vệ Ký, Thái thú Hoằng Nông Giả Quỳ thay mình xử lý, khởi hành thẳng tiến Hà Bắc. Bao năm tại nhiệm hiếm khi rời khỏi Quan Trung, ông định thuận đường đến thăm Hứa Đô, bái kiến thiên tử, chuyện trò đàm đạo với Tuân Úc, nhưng vừa đặt chân đến địa giới Hà Nam bỗng có quân báo khẩn cấp từ sau đuổi đến - Thái thú Vũ Uy Trương Mãnh đã bị Hàn Toại tiêu diệt!

Chung Do cảm thấy việc này có can hệ vô cùng trọng đại, liền không đến Hứa Đô nữa, lệnh cho bộc nhân thúc ngựa bất kể ngày đêm đến thẳng Nghiệp Thành. Đường dài vất vả mất gần một tháng, ăn uống ngủ nghỉ ngay trên xe ngựa, khó khăn lắm mới đến ngoại thành Nghiệp Thành, vị lão thần này xương cốt rã rời, đứng trên đất bằng mà liêu xiêu, mệt nhọc ngẩng đầu lên nhìn, phút chốc ngẩn ngơ:

— Đây là Nghiệp Thành ư?

Phu xe mặt mũi lấm lem bụi cát, nghe thấy câu ấy nước mắt chực trào ra:

— Đại nhân, nói vậy oan cho tiểu nhân quá. Tiểu nhân đánh xe cả nửa đời người, chẳng lẽ lại sai sao?

Cũng khó trách Chung Do nghi ngờ như vậy, đến nay Nghiệp Thành đã hoàn toàn khác trước: Bốn mặt tường thành đã được dỡ bỏ trùng tu, từ mặt đông sang mặt tây mở rộng bảy dặm, từ phía nam đến phía bắc mở rộng năm dặm, toàn bộ được xây bằng đá xanh, tường thành cao hơn trước một trượng, cửa thành táng thêm bảy cổng, thành lâu cũng to lớn hơn xưa rất nhiều. Ngay cả khi đã trông thấy doanh trung quân ở phía nam thành và lá đại kỳ của quân Tào phần phật bay trong gió, Chung Do vẫn không tin lời của phu xe. Ông cũng không ngồi trên xe nữa, mơ mơ hồ hồ men theo đường dịch đạo bước về phía trước, không lâu sau dến dưới cửa tây, ông ngước đầu nhìn lên, thì thấy ba chữ triện “Kim Minh môn” khắc trên cổng thành - Đúng là bút thể của Lương Hộc, không sai! Lúc này ông mới an tâm.

Vào trong thành lại càng lạ lẫm, một con đường lớn, thẳng tắp chạy từ đông sang tây. Phía nam nhà cửa phủ đệ san sát, còn phía bắc là ao Huyền Vũ để luyện thủy quân, nay tường thành mở rộng nên cũng rộng thêm một nửa. Từng tốp dân chúng lao dịch đang vung cuốc xúc xẻng, vác đá nâng gỗ, không khí vô cùng khẩn trương, còn có rất nhiều gỗ quý chất đầy hai bên đường, xem ra họ đang định cải tạo ao Huyền Vũ thành một tòa lâm viên. Chung Do bị cảnh tượng náo nhiệt trước mắt thu hút, cũng không ngồi trên xe nữa, đi theo đường lớn về hướng đông, vừa đi vừa nhìn. Đi được rất xa mới thấy đường cụt, lại trông thấy một dãy tường to lớn màu tuyết trắng - Đây hẳn là mạc phủ mới dựng.

Chung Do chắp tay sau lưng, chậm rãi bước về phía trước, không lâu sau đã đến trước một tòa môn lầu vẫn chưa dựng xong. Tòa môn lâu này rộng khoảng hai trượng, cửa lớn sơn đen, bậc thềm làm bằng đá cẩm thạch, bên cạnh dựng giàn giáo, đám thợ lố nhố đang trèo phía trên để dựng tầng hai của lầu các.

— Đồng đại nhân, Biện tư mã, sao các ngài lại thành quan đốc công?

Chung Do trông thấy Đổng Chiêu và Biện Bỉnh, bèn cất lời chào hỏi.

Biện Bỉnh vốn hay nói cười, mắt vẫn chăm chú theo dõi thợ thuyền làm việc, chẳng buồn quay đầu lại, giọng đùa cợt:

— Ai đang đùa ta vậy? Đợi đấy mà xem, khi nào ngươi xây phủ đệ, lão đây không lợp mái cho ngươi, cho ngươi tha hồ đếm sao!

Nói xong nghiêng đầu nhìn lại, trông thấy Chung Do đang đứng ở phía dưới mới vỗ trán liên tục:

— Ôi trời, thì ra là Chung công, đắc tội, đắc tội rồi!

— Ha ha ha!... - Chung Do bật cười vui vẻ, - Tại hạ cũng chưa ở nhà không có nóc bao giờ, Biện tư mã khi nào sẽ xây cho ta đây?

Biện Bỉnh gãi đầu gãi tai cười nói:

— Tại hạ văn không thông võ chẳng giỏi, chỉ biết khua môi múa mép thôi, ngoài việc làm đốc công ra cũng chẳng được tích sự gì, Chung công xin chớ chê cười.

Đây là những lời khiêm tốn, với tài trí của ông ta, tuyệt đối không chỉ giỏi khua môi múa mép.

Đổng Chiêu tuổi tuy đã ngoại ngũ tuần nhưng tay chân vẫn rất nhanh nhẹn, thoắt một cái đã bám vào giàn giáo cao hơn một trượng mà tụt xuống:

— Nguyên Thường huynh sao lại đến đây vậy? Đã lâu không gặp!

Câu nói này khiến Chung Do như rơi vào màn sương mù mịt - Ông đã nghe lời đồn, mấy năm gần đây Đổng Chiêu được Tào Tháo trọng dụng, rất nhiều việc cơ yếu đều giao cho ông ta xử lý. Vậy mà lần này ngay cả Đổng Chiêu cũng không biết Tào Tháo điều ông đến, có thể thấy sự vụ này có huyền cơ ẩn sau.

Xét kỹ những chuyện năm xưa, Đổng Chiêu và Chung Do đều được triều đình điều đi nhận chức ở Tây Kinh, giao tình thân thiết, cũng đều từng giúp Tào Tháo nghênh đón thiên tử. Nhưng từ khi Đổng Chiêu và Tuân Úc bất hòa đến nay, nhân sĩ Dĩnh Xuyên, đứng đầu là Tuân thị đều nảy sinh ác cảm với ông ta. Chung Do với tư cách là nhân sĩ Dĩnh Xuyên tất nhiên cũng chịu ảnh hưởng, thế nhưng ngoài mặt vẫn giữ hòa khí, xưng huynh gọi đệ:

— Công Nhân hiền đệ, ta phụng mệnh Thừa tướng đến đây.

— Vì việc của Lương Châu chăng?

— Đại khái như vậy.

Đổng Chiêu thấy ông ta không muốn nói nhiều, cũng không tiện hỏi thêm, chỉ nói:

— Mạc phủ đang tu bổ, tiểu đệ xin dẫn đường cho ngài.

— Vậy cảm phiền rồi.

Biện Bỉnh đứng bên trên, bám vào lan can cười nói:

— Chung công hãy đi gặp Thừa tướng trước. Tại hạ còn bận việc ở đây, đám tiểu tử này không giục thì chúng không biết vội là gì. Mấy ngày nữa chẳng may trời mưa thì khó làm tiếp. Xong việc, tại hạ nhất định đem hai vò rượu đến dịch quán tẩy trần cho ngài.

— Đa tạ, đa tạ!

Chung Do vẫy tay mỉm cười bước di, tận mắt trông thấy Nghiệp Thành dường lớn rộng rãi, nhà cửa ngay ngắn, không ít phủ đệ quan nha đã sắp hoàn công, trong lòng ông bất giác thở dài - Bại trận trở về mà vẫn dám xây nhà dựng phủ, lại còn xây nhanh đến vậy, Tào Mạnh Đức đúng là phóng khoáng!

Đổng Chiêu vừa dẫn đường vừa giới thiệu, không lâu sau đã đến trước cửa một tòa phủ, ông ta chắp tay mời:

— Đây chính là cửa chính của mạc phủ, Nguyên Thường huynh, xin mời.

Chung Do ngẩng đầu quan sát, tòa môn lầu này trông không khác là bao so với tòa môn lầu phía tây khi nãy, tuy nhiên đã hoàn công. Môn lầu uy nghiêm tráng lệ, phía trên có vệ binh canh phòng nghiêm ngặt, cánh cửa lớn màu đen vẫn đóng im lìm. Hai người đi vào từ cửa ngách phía đông, vệ binh bên trong đã quen mặt Đổng Chiêu, không cần hỏi gì, chỉ chắp tay thi lễ. Sau cổng có dũng đạo[2] được lát bằng những phiến đá lớn, hai bên bát ngát tùng bách cùng với hoa nở bốn mùa, cỏ xanh quanh năm. Cách đó không xa là cánh cổng thứ hai cũng có vệ binh canh phòng, đều là những nam tử mình cao vai rộng, tay cầm trường thương, vô cùng uy nghiêm. Chung Do thầm khen mạc phủ phòng vệ vô cùng cẩn mật, nào hay ngẩng đầu lên - vẫn còn cánh cổng thứ ba!

Họ cứ đi tiếp đến cổng thứ tư mới đến nơi, vệ binh ở đấy đều là đội binh sĩ hổ báo thân tín, mình khoác kim giáp, vai đeo cung tên, eo giắt đao sắc. Đổng Chiêu đến đây cũng không dám tùy tiện nữa, bước lên trước nói rõ họ tên mới được đi qua. Ông ta vừa bước qua bậc cửa, bỗng thấy một tướng quân tướng mạo hung ác, thân hình vạm vỡ đang trò chuyện cùng đám hiệu úy dưới hàng hiên dài có bảy tám chiếc ghế đẩu.

Chung Do lập tức nhận ra Hứa Chử:

— Ồ, đây chẳng phải Hứa tướng quân sao?

— Mạt tướng tham kiến Chung đại nhân.

Hứa Chử đến nay tuổi cũng đã ngoại tứ tuần, nhưng râu tóc xồm xoàm, càng toát lên vẻ hung hãn, nói năng tuy thật thà, tùy tiện nhưng giết người thì chẳng khác gì ma đầu!

— Không dám. - Chung Do vội đỡ dậy, - Ngài được thụ phong Quan nội hầu, thân trải trăm trận, tại hạ đâu dám nhận lễ?

— Quan nội hầu, quan ngoại hầu gì chứ, tại hạ chỉ là kẻ võ biền thôi!

Chung Do rất quý trọng nhân phẩm thật thà, đôn hậu của ông ta:

— Ai mà không biết ngài uy vũ hơn người, kẻ sĩ trông quân đều gọi là “hổ hầu”?

— Hổ hầu? Ha ha ha... - Hứa Chử ngửa cổ cười lớn, - Đó đều là những lời tán tụng trước mặt, sau lưng họ đều gọi ta là “hổ si”[3].

Câu nói này khiến đám hiệu úy cũng bật cười sảng khoái. Chung Do lại hỏi:

— Sao không thấy Tào Thuần, Lã Chiêu đấu?

Hứa Chử đáp:

— Tên tiểu tử Lã Chiêu giờ khá lắm, không còn là gia tướng mà ra ngoài làm quan rồi, gần đây hắn bắt được mấy đám thổ phỉ, còn được Thừa tướng ban thưởng nữa! Còn tướng quân Tào Thuần thì... nhiễm bệnh khi nam chinh, hiện không thể đi xa, phải ở lại huyện Tiều tĩnh dưỡng, nghe nói không ổn lắm.

Chung Do thấy ông ta mặt thoáng phiền muộn, thôi không hỏi chuyện Tào Thuần nữa, chuyển sang chủ để khác:

— Thừa tướng gọi tôi đến, bây giờ có thể diện kiến không?

Hứa Chử vỗ đùi sực nhớ:

— Chúng tôi đang bàn về chuyện này đây, mấy ngày trước không biết có một tên tiểu tử từ đâu đến, được lòng Thừa tướng, vừa được thưởng tiền vừa được ban yến, hiện đang ở phía sau cùng Thừa tướng dùng cơm nữa. Tên tiểu tử đó dẻo mồm dẻo miệng, chẳng khác gì mấy tên nô tài hạ tiện trong phủ, thực không hiểu Thừa tướng xem trọng hắn ở điểm gì. Thật là đáng ghét!

Ông ta cằn nhằn một hồi mới nói tiếp:

— Người khác đến thì thôi, còn các ngài xin mời vào ngồi đợi một chút, lát nữa Thừa tướng sẽ ra.

Chung Do vạn phần nhẹ nhõm - Nói thì nói, cười thì cười, chứ ông biết tính khí Hứa Chử, có một lần Tào Phi thân mặc giáp trụ đòi gặp Tào Tháo, bị Hứa Chử chặn ở ngoài, bắt đợi cả một canh giờ. Hôm nay ông ta lại cho phép ông vào trong đợi, vậy là nể tình lắm rồi.

Bước qua cánh cửa này Chung Do mới để ý, thì ra ở bên trong là một cái sân rất lớn, xung quanh phải rộng đến cả dặm, mặt sân đều được lát đá xanh, ở giữa bố trí một nghi đạo. Chính giữa sân có một đại đường cao khoảng hai trượng, mái ngói cong vút, vô cùng hoành tráng, thềm đá có đến mười mấy bậc, phía trên cánh cửa đồ sộ làm bằng gỗ nam mộc là một tấm bảng để ba chữ lớn “Thính Chính đường”, cũng là bút tích của Lương Hộc. Còn hai bên trái phải của sân, ngoài cửa ngách ra có mấy khu lầu các nhỏ vô cùng đẹp mắt, có vẻ là nơi làm việc.

Chung Do mắt nhìn rõ, trong lòng thầm hiểu: Phủ đệ của thần tử tu tạo như thế này rõ ràng là vượt quá lễ chế. Đây đâu phải là mạc phủ, rõ ràng là một hoàng cung, Thính Chính đường nghiễm nhiên là đại điện để triều hội. Nếu không phải cuộc nam chinh gặp thất bại, e rằng Tào Mạnh Đức sớm đã ở đây mình khoác long bào, miệng tuyên thiên mệnh.

Đổng Chiêu nói:

— Tại hạ còn việc công phải làm, không thể cùng Nguyên Thường huynh gặp Thừa tướng được. Ngài cứ vào đại đường ngồi chờ, lát nữa Thừa tướng sẽ đến, tại hạ xin cáo lui.

— Đa tạ, đa tạ, vậy xin ngài cứ tự nhiên.

Chung Do chắp tay cáo từ, cất bước đi lên đại đường. Vào bên trong nhìn quanh mới biết là chẳng khác gì so với trước kia: bình phong mộc mạc, soái án không có họa tiết chạm trổ cầu kỳ, ngay cả hương án cũng không có, ghế ngồi hai bên vẫn cũ sờn. Xem ra Tào Tháo xây lầu cất điện, nhưng tính cách giản dị vẫn không thay đổi, những món đồ cũ kỹ đó đặt trong đại điện mới tinh khiến người ta bỗng cảm thấy lạc lõng.

Ở đây ngay đến một kẻ hầu cũng không có, Chung Do chắp tay đi đi lại lại, thầm đoán mục đích Tào Tháo gọi mình đến, vô tình trông thấy trên soái án có một cuốn thẻ tre đang mở, có vẻ vừa được phê bút cách đây không lâu. Ông không kìm nổi tò mò, bước dến nghiêng đầu đọc thử: Tự cổ chí kim bậc minh quân nhận mệnh trời để trung hưng thiên hạ, nào có ai không được hiền sĩ và quân tử phò giúp? Dù có được hiền sĩ bền thân, nếu không trọng dụng, há có thể làm nên đại nghiệp? Bậc chí tôn càng cầu được nghe lời phải. Nay thiên hạ vẫn chưa yên định, đây chính là lúc gấp rút cầu hiền. “Mạnh Công Xước hợp làm gia thần của họ Triệu, họ Ngụy, nhưng không hợp làm đại phu của nước Đằng, nước Tiết.” Nếu như cứ muốn chọn kẻ sĩ liêm khiết, thì Tề Hoàn công sao có thể xưng bá! Hiện thiên hạ không có người mặc áo thô, bụng mang mưu lược ngồi câu cá bên sông Vị hay sao? Các ông hãy giúp ta tìm những người hiền xuất thân thấp hèn, miễn sao có tài năng, để ta dùng họ.

Thì ra là một đạo Cầu hiền lệnh, sau đại bại ở Xích Bích, Tào Tháo cảm thấy một mình độc hành là mối họa khôn lường, nên mới tự tay thảo lệnh cầu hiền. Lại thêm gần đây nội bộ bất ổn, khá nhiều lời ong tiếng ve thừa dịp nổi lên, làm như vậy cũng có thể bày ra bộ mặt khiêm nhường, cầu thị để lấy lòng người đời. Chung Do đọc đi đọc lại hai lần, bất giác trầm ngâm:

— Chỉ cần có tài ắt sẽ dùng... chỉ cần có tài ắt sẽ dùng... Trọng tài mà không trọng đức...

Nào hay ông vừa lẩm bẩm đôi câu, phía sau bình phong vọng lại tiếng người:

— Chỉ cần có tài ắt sẽ dùng, không trọng tài cũng không trọng đức, mà là dùng đức của kẻ có đức, lấy tài của kẻ có tài!

Đại Thừa tướng đương triều Tào Tháo bỗng nhiên xuất hiện từ phía sau.

Chung Do ngước mắt nhìn lên: Tào Tháo vận bộ tiện phục vải xám, búi tóc cài trâm bằng gỗ hoàng dương, dưới lưng thắt hờ một dải đai, chân đi giày, đây là lối ăn vận thường ngày ở nhà. Đối với một người đã năm mươi sáu tuổi, Tào Tháo trông không hề già, chỉ hơi phát tướng. Ông vân vê chòm râu đã đốm bạc, mỉm cười gật đầu - Xem ra tinh thần ông không tồi, dường như đã thực sự thoát khỏi nỗi buồn binh bại.

Chung Do muốn vái chào nhưng bị Tào Tháo đưa tay giữ lấy, lúc này mới trông thấy một vài duyện thuộc theo sau ông. Một người thân thể gầy còm, bộ dạng thấp bé, một người tướng mạo dung dị, thần thái rụt rè, một người cao lớn, dáng vẻ anh tú, một người cử chỉ tiêu dao, thần thái phóng khoáng. Chung Do không biết rằng, họ là Vương Xán, Hòa Hiệp, Đỗ Tập và Dương Tu. Sau khi Quách Gia chết, chỉ có bốn người này được Tào Tháo trọng dụng nhất, trở thành một lớp sủng thần mới.

Ngay sau đó cũng có hai đứa trẻ chạy ra. Đứa phía trước vui vẻ chạy nhảy, vô cùng hoạt bát, nhìn sang đứa phía sau, Chung Do thoáng chốc giật mình, lẽ nào Tào Xung hồi sinh? Nhìn kỹ mới phát hiện ra đứa bé đó nhỏ hơn Tào Xung, mặc dù tướng mạo khá giống nhưng thần thái lại có chút rụt rè, xấu hổ. - Đó là Tào Cứ, do Hoàn phu nhân sinh hạ, là em cùng mẹ của Tào Xung. Tào Tháo không nguôi nỗi nhớ Tào Xung, nên ngày ngày dẫn theo cậu bé theo, trò chuyện cho khuây khỏa. Còn đứa trẻ đứng trước tên là Tào Lâm, do mỹ nhân Đỗ thị sinh hạ, cũng rất được yêu mến.

— Nguyên Thường đường xa đến đây, đã vất vả rồi! - Tào Tháo thuận tay vỗ lên vai Tào Cứ, - Thằng bé này, còn đứng im đó làm gì? Mau đi lấy ghế cho lão đại nhân đi!

— Dạ? - Tào Cứ năm nay mới mười hai tuổi, cũng không còn nhỏ nhưng bản tính nhút nhát, trông thấy người lạ là xấu hổ, cuối cùng vẫn là Tào Lâm chạy đi bê ghế lại, đặt bên cạnh soái án.

Tào Tháo nhẹ nhàng xoa đầu Tào Cứ:

— Mau hành lễ với đại nhân đi!

— Vâng ạ.

Tào Cứ chạy đến cúi chào, rồi lại chạy tót về phía sau lưng cha.

Tào Tháo bật cười lắc đầu:

— Được rồi, các con ra ngoài chơi đi.

Cái bóng vẫn mãi chỉ là cái bóng, đứa bé này dù giống Tào Xung, nhưng lại chẳng được thông minh, đĩnh ngộ bằng.

Tào Lâm dắt Tào Cứ nhảy chân sáo ra ngoài, Vương Xán, Hòa Hiệp cũng tự biết ý, hỏi han Chung Do vài câu rồi xin cáo lui. Chung Do ngồi xuống, lấy quân báo từ tay áo ra, nào ngờ vừa mới lôi ra, Tào Tháo đã mở lời trước:

— Hàn Toại công diệt Trương Mãnh, ta đã hay tin.

Chung Do sững sờ: Ta chạy cả ngày cả đêm đến đây báo tin, vậy mà kẻ nào lại còn nhanh hơn ta một bước?

Tào Tháo cười khổ:

— Trương Mãnh dù không có ý tạo phản, nhưng xét cho cùng hắn dám giết chết Hàm Đan Thương, Hàn Toại dẫn quân tiêu diệt cũng không phải là không có cớ, hắn tự mình đâm đầu vào chỗ chết thôi!

Chung Do lại nói:

— Nhưng Hàn Toại khởi binh không phải vì triều đình trừ hại, mà để mở rộng thế lực.

— Ông mới biết một mà chưa biết hai. - Tào Tháo nhận lấy quân báo, vứt sang một bên mà chẳng buồn đọc, - Địa bàn của Hàn Toại vốn ở Tây Lương, sau này thảo phạt Cao Cán mới mở rộng đến Quan Trung. Thái thú Tửu Tuyền dưới trướng hắn là Từ Tập có ý quy hàng triều đình, vì thế lập mưu giết hào cường trong quận là Hoàng Ngang, việc chẳng may bại lộ bị Hoàng Ngang sát hại. Dưới trướng Từ Tập có một kẻ sĩ tên là Dương Phong, chạy đến quận Vũ Uy xin Trương Mãnh điều binh, được Trương Mãnh nhận mệnh làm đô úy, trở về chiêu binh mãi mã giết được Hoàng Ngang. Ngươi nghĩ xem, Trương Mãnh động đến căn cơ của Hàn Toại, Hàn Toại lẽ nào không liều mạng với hắn?

Chung Do càng cảm thấy kỳ lạ: Bên trong thì ra lại có ẩn tình phức tạp đến vậy! Tây Lương mãi vùng biên viễn, đến ta ở Hoằng Nông cũng không hiểu rõ, Thừa tướng sao lại nắm rõ như lòng bàn tay? Lẽ nào có kẻ báo tin?

Ông vẫn đang trầm ngâm suy nghĩ, nào ngờ Tào Tháo lại tiết lộ thêm một tin động trời:

— Ông hẳn vẫn chưa biết, lần khởi binh này Mã Siêu cũng âm thầm tham gia.

— Sao cơ? - Chung Do giật mình sửng sốt, - Phụ thân và huynh đệ của hắn đều đang làm quan trong triều, lẽ nào hắn không sợ chuốc họa cho gia môn?

Tào Tháo mông lung nhìn ra bên ngoài, nói:

— Tình phụ tử, nghĩa thủ túc gì chứ? Thứ khó đoán nhất trong thiên hạ, chính là lòng người!

— Theo ý của Thừa tướng, việc này nên xử trí ra sao?

Tào Tháo vân vê chòm râu, chậm rãi đáp:

— Hàn Toại tà tâm chưa hết, Mã Siêu trước mặt thì quy phục, sau lưng lại ngầm làm phản, lại có chư tướng Quan Trung làm vây cánh, nếu không tru diệt tất sẽ thành hậu họa!

Ban đầu Tào Tháo chủ trương vỗ về các thế lực cát cứ chứ không tru diệt, nhưng sau khi nam chinh thất bại, nhân tâm bất ổn, Quan Trung ngày càng khó khống chế. Hơn nữa năm ngoái Đoàn Ổi, Vi Đoan nối nhau qua đời, Tào Tháo mất đi hai kẻ thân cận trong triều đình và cũng là những quân cờ có thể thay đổi cục diện ở Quan Trung, nên đã phải phong cho Khoái Việt làm Quang lộc huân, Hàn Tung làm Đại hồng lư, qua đó lôi kéo nhân sĩ Kinh Châu đối phó với Lưu Bị. Con đường chiêu an dần dần trắc trở, mâu thuẫn giữa Tào Tháo và Hàn Toại cùng với các lộ quân phiệt cát cứ sớm muộn cũng sẽ bùng phát.

Chung Do cũng đồng ý với quan điểm của Tào Tháo, ông ở Hoằng Nông đã lâu, tận mắt chứng kiến rất nhiều chuyện ngạo mạn, không theo phép tắc của chư tướng Quan Trung, sớm đã vô cùng oán hận, tuy nhiên do thực lực thua kém nên không thể hạ thủ. Lúc này nghe Tào Tháo quyết tâm chinh thảo, ông bèn lập tức nhắc nhở:

— Với tài của Thừa tướng thì chuyện thảo phạt không khó, chỉ tiếc là chưa có danh nghĩa để cử binh.

Bất luận thế nào, chư tướng Quan Trung cũng đều là quan của triều đình, trên danh nghĩa thuộc về triều đình, không thể gán tội tạo phản cho hành động đánh giết Trương Mãnh, vậy dựa vào cái gì để thảo phạt hắn đây?

Tào Tháo cầm bút lên viết vỏn vẹn bốn chữ vào tấm lụa trắng: thảo phạt Trương Lỗ.

Chung Do giật mình kinh ngạc, nhưng lập tức hiểu ra, bất giác nở một nụ cười - Trương Lỗ là thủ lĩnh của Ngũ Đấu Mễ đạo[4], tương tự với giặc Khăn Vàng ngày trước, địa bàn của hắn ở Hán Trung, thuộc phía bắc Ích Châu. Muốn thảo phạt Trương Lỗ, Tào Tháo bắt buộc phải đi qua đất Quan Trung, có thể nhân cơ hội đó ban bố chỉ lệnh với chư tướng Quan Trung, ép họ phải giao lại binh quyền và địa bàn. Nếu họ chịu giao lại binh quyền thì nguy cơ sẽ được hóa giải, đất Quan Trung không đánh mà yên; còn giả như họ kháng cự không phục, cùng nhau tạo phản, vậy thì Tào Tháo đã có danh nghĩa để thảo trừ.

Chung Do nói:

— Theo dự liệu của bỉ chức, chư tướng Quan Trung tất sẽ làm phản. Hàn Toại cát cứ Tây Lương hơn hai mươi năm, há có thể dễ dàng cúi đầu giao lại binh quyền? Lại còn tên phản tặc Tống Kiến cát cứ Bao Hãn, tự xưng “Hà Thủ Bình Hán Vương”, nhân lúc chiến loạn xưng vua một phương gần ba mươi năm, loại người đó sao có thể quy thuận? Hiện tại chỉ có một kẻ duy nhất vẫn chưa thể đoán được là Mã Siêu. Thế lực của Mã thị và Hàn Toại tương đương nhau, nếu như Mã Siêu chịu hàng, chuyện này sẽ dễ dàng hơn rất nhiều.

— Ép chúng sẽ phản, không ép chúng cũng phản, nếu chỉ giương mắt nhìn ẩn họa, chi bằng tiên hạ thủ vi cường. Mã Siêu cố ý đi theo Hàn Toại, vậy đừng trách lão phu vô tình, đành phải ra tay với phụ tử Mã Đằng ở Hứa Đô thôi. Đến lúc đó phải mang tiếng ác hại cha, xem hắn còn mặt mũi nào đứng giữa trời đất! - Khi nói câu này, Tào Tháo mắt vẫn nhìn đám đăm ra ngoài đại đường, dường như tâm tư đang ở nơi khác, - Khi trở về ông tiện đường đến Hứa Đô một chuyện, hãy nhắc đến việc xuất binh đánh Hán Trung trước triều đường, xem quần thần phản ứng ra sao, cũng là để tạo thêm chút thanh thế, và bắn tiếng đến đám tặc khấu Tây Lương kia. Định hàng hay phản, cho bọn chúng tự mình cân nhắc, chúng ta xuất binh một trận, tất sẽ dẹp yên hậu họa! Ngoài ra ông hãy bí mật theo dõi động tĩnh của Mã Đằng, ta không tin ông ta phó mặc nhi tử của mình.

— Vâng.

Chung Do đáp lời, trong lòng thầm cảm thấy kỳ quặc: Ông không chỉ hiểu rõ chuyện Lương Châu như lòng bàn tay, còn có sẵn sách lược đối phó, đã như vậy hà tất phải gọi ta ngàn dặm trở về?

Thấy Tào Tháo không nói gì thêm, Chung Do cũng lặng thinh, ngồi được một lúc bèn muốn đứng dậy cáo từ. Nhưng đúng lúc đó Tào Tháo lại lên tiếng, phá tan sự trầm mặc:

— Nguyên Thường...

— Có bỉ chức.

Chung Do lại ngồi xuống.

— Bao năm nay chúng ta ai giữ chức người ấy, chẳng mấy khi gặp mặt, ông đường xa vất vả đến đây, không có việc riêng thì ở lại Nghiệp Thành mấy ngày, trò chuyện cùng ta.

Chung Do tưởng mình nghe nhầm, những lời hoài niệm sầu não này đâu có giống với phong cách của Tào Tháo? Ông khẽ mỉm cười, đáp:

— Cũng đúng, chúng ta đều đã tuổi ngoại ngũ tuần, chuyện xưa năm cũ thoảng như mây khói. Bỉ chức gần đây cũng thường nhớ về những chuyện dĩ vãng, đôi lúc còn nằm mơ thấy.

Nét mặt Tào Tháo vẫn không thay đổi, tựa hồ không phải ông muốn nói về những chuyện ngày xưa:

— Có một việc muốn hỏi ông mà chưa có dịp. Trước khi ta nghênh giá đến Hứa Đô, có những ai từng tham gia triều chính?

Sau khi Đổng Trác chết, Lý Thôi, Quách Dĩ chiếm cứ Trường An, do bọn họ chỉ là những kẻ võ biền, chỉ biết chém giết không thạo văn thư nên những việc trong triều phải phó thác cho người khác.

Chung Do từng trải qua những ngày tháng đó, tất nhiên hiểu rõ hơn Tào Tháo:

— Đầu tiên chúng giao phó chính sự cho Giả Văn Hòa, sau đó Chu Công Vĩ vào triều, cũng nắm quyền một thời gian.

Nhắc đến Chu Tuấn, Tào Tháo trong lòng cũng có chút hoài niệm:

— Khi Chu công còn tại thế đã đối xử với ta rất tốt, cuối cùng lại bị hai tên giặc Lý, Quách làm tức chết, thực khiến người ta thương tiếc. Còn Giả Văn Hòa lúc đó du thuộc phường tặc khấu, nhưng hành sự cũng có thể coi là đường đường chính chính.

— Không sai, thiên tử trước sau đều không có ác cảm với ông ta. Ở vị trí đó cũng chẳng dễ dàng gì. Ngoại trừ hại người bọn họ, còn có Tuân quân sư, Đinh Ấu Dương, cố Thượng thư Hàn Bân, Lỗ Sung, còn có huynh đệ Dương Bưu, Dương Kỳ và bỉ chức, cũng ít nhiều tham dự vào việc triều chính. Qua lại với hai tên giặc Lý, Quách, ngày nào cũng thấp thỏm không yên.

Chung Do lắc đầu thở dài, đến nay trong lòng chưa hết sợ hãi. Tào Tháo lại trầm ngâm không nói, một lúc sau mới mở lời:

— Năm xưa ông từng tham dự vào việc quốc chính, lại ít nhiều qua lại với các cố lão trông kinh. Nay ông cai quản quân vụ Quan Trung được mười năm, hẳn đã nhọc lòng mệt dạ, vô cùng vất vả rồi nhỉ? Ta định điều ông về triều.

— Về triều? - Chung Do thoáng chốc đã đoán được ý định của Tào Tháo, trong lòng lo lắng bất an, nhưng vẫn giả vờ hồ đồ nói, - Quan Trung và Lương Châu thế cục bất ổn, đều do bỉ chức bất tài mà ra, nếu Thừa tướng muốn thay người khác, bỉ chức không còn gì để nói.

— Ai nói ông bất tài? - Mắt Tào Tháo chợt sáng lên, - Một người trung hậu như ông sao cũng bắt đầu học dùng mưu kế thế? Nói thẳng ra, ta muốn điều ông về triều tiếp nhận chức Thượng thư lệnh.

Nỗi lo lớn nhất của Chung Do cuối cùng cũng trở thành sự thực - Tào Tháo muốn bãi miễn Tuân Úc.

Mâu thuẫn giữa Tào Tháo và Tuân Úc không phải chỉ mới ngày một ngày hai, từ sau đại bại ở Xích Bích quan hệ giữa hai người ngày càng lỏng lẻo. Dù Tào Tháo tiếp tục tăng phong ấp, lại định gả con gái cho nhà ông ta, nhưng trên thực tế ngày càng xa cách. Ban đầu chỉ là do tư tưởng khác biệt trong việc trung với nhà Hán, giờ đây chiến bại khiến Tào Tháo hổ thẹn với Tuân Úc, lúc nào cũng cảm thấy không ngẩng nổi đầu trước mặt ông ta. Đúng vào lúc này, huynh trưởng của Tuân Úc là Tuân Diễn đột nhiên lâm bệnh qua đời. Năm xưa Tuân Diễn nhận chức Tổng đốc, giám sát việc quân ở Hà Bắc, có công lớn giúp Tào Tháo bình định Viên thị, nhưng sau khi nảy sinh mâu thuẫn với Tuân Úc, Tào Tháo sợ thế lực gia tộc của Tuân thị quá mạnh, nên nhân khi bắc chinh mà bãi miễn chức quan đó của ông ta. Dân chúng Nghiệp Thành truyền tai nhau, nói rằng sau khi bị bãi miễn, Tuân Diễn uất ức lâu ngày rồi chết, điều này càng khiến quan hệ giữa hai nhà Tuân, Tào lâm vào thế khó xử, thế là Tào Tháo bèn nảy ra ý định thay đổi Thượng thư lệnh.

Thế nhưng uy quyền của Tuân Úc đã vô cùng vững chắc, cũng không dễ gì thay đổi được, chỉ có thể chọn trong những lão thần có uy vọng trong triều. Luận về quan hệ, Đinh Xung là tốt nhất, nhưng người này đến nay ngoài uống rượu ra ngay cả những việc thuộc chức phận cũng chẳng buồn quản, đẩy cho ông ta gánh nặng như vậy, chắc chắc không đảm đương nổi. Nếu thay bằng Tuân Du, thì vẫn là gia tộc Tuân thị nắm quyền, không đạt được mục đích. Còn Giả Hủ chẳng khác nào quả trứng trơn tuột, đừng nói Tháo sợ mất thể diện không thể dùng ông ta, kể cả muốn dùng, chắc chắn ông ta cũng nghĩ trăm phương ngàn kế thoái thác. Chọn đi chọn lại, người từng tham dự việc triều chính, lại có thể được đa số mọi người tiếp nhận, chỉ còn lại Chung Do.

Chung Do đương nhiên không muốn tiếp nhận chức vị này. Luận về việc công mà nói, Tuân Úc xử lý chính vụ chưa từng có lỗi lầm, vô cớ thay đổi ắt không có lợi cho việc nước. Luận về tình riêng, Chung Do và Tuân thị vừa là đồng hương lại là chỗ thâm giao, há có thể cướp chức quan của ông ta? Ông nghĩ vậy bèn vội vàng đứng dậy khước từ:

— Bỉ chức tài lược có hạn, chỉ có thể đảm đương quân vụ, không thể tọa trấn trung đài, xin Thừa tướng soi xét.

Tào Tháo rõ ràng bất mãn với Tuân Úc, nhưng vẫn tìm cớ nói tránh:

— Ông chớ nên nghĩ nhiều, ta chỉ thấy lệnh quân quá đỗi vất vả, muốn để ông san sẻ với ông ấy.

San sẻ? San sẻ kiểu này thì khác gì để Tuân Úc ngồi chơi xơi nước! Chung Do trong lòng lo lắng, hấp tấp quỳ xuống nói:

— Thừa tướng, lẽ nào ngài không niệm tình chuyện năm xưa ở Duyện Châu sao?

— Hả?

Tào Tháo không ngờ ông ta lại nói thẳng như vậy, bất giác ngẩn ra - Trong cuộc phản loạn ở Duyện Châu năm xưa, nếu không có Tuân Úc kiên cường cố thủ các huyện, e rằng bản thân Tào Tháo đã chết dưới tay Lã Bố rồi!

Chung Do liều lĩnh nói ra câu đó, cũng cảm thấy quá lời, bèn nhanh chóng tìm lý do biện bạch cho mình:

— Bỉ chức nhận mệnh ở Quan Trung đã hơn mười năm, một lòng một dạ vì triều đình ổn định Tây cương, nay đám tặc khấu nhăm nhe nổi loạn, sao ngài nỡ điều bỉ chức hồi kinh? Dám mong ngài suy xét nỗi lòng của bỉ chức, thuận cho bỉ chức tiếp tục lưu nhiệm.

Nói đoạn chậm rãi khấu đầu - Chung Do không phải đám tục sĩ, bất luận thân phận, tuổi tác, danh vọng đều cao hơn nhiều so với đám duyện thuộc hầu hạ Tào Tháo, há có thể tùy tiện khấu đầu trước người khác?

Tào Tháo trầm mặc hồi lâu, cuối cũng đành miễn cưỡng gật đầu:

— Ta biết rồi... vậy thì cứ để lệnh quân tiếp tục chủ trì triều chính.

Chung Do thở phào nhẹ nhõm, không dám nán lại thêm một khắc nào nữa:

— Bỉ chức đường xa quất ngựa đã mệt, nếu Thừa tướng không còn việc gì sai bảo, vậy bỉ chức...

— Ông đi đi. - Tào Tháo cười nhăn nhó, - Ra khỏi cửa hãy quên chuyện này đi, tuyệt đối không được nói ra ngoài.

— Vâng. - Chung Do run rẩy đứng dậy, - Bỉ chức xin cáo từ.

Tào Tháo phẩy tay không khách sao nữa, ông đã sớm rơi vào trầm tư: Chung Do không chịu nhận chức, vậy còn biết dùng ai đây? Kỳ thực Hoa Hâm, Vương Lãng, Mao Giới cũng không tồi, nhưng họ không phải người Dĩnh Xuyên, nếu cải nhiệm dùng bọn họ, thì sách lược dùng nhân sĩ Dĩnh Xuyên làm nòng cốt do Tuân Úc đề ra trước đây sẽ phải thay đổi toàn bộ, phải điều chỉnh cả trong triều lẫn ngoài triều. Sau khi đại bại ở Xích Bích, nhân tâm bất ổn, lúc này không thể gây biến động lớn như vậy được...

Chung Do chầm chậm bước ra ngoài điện, khẽ đưa tay lau mồ hôi tủa ra trên trán, đoạn bất giác quay lại nhìn Tào Tháo, thấy ông nét mặt đăm chiêu, hai mắt tư lự, ánh lên một vẻ lực bất tòng tâm. Thời gian thấm thoắt trôi qua, dù dung mạo không mấy đổi khác, nhưng ông cũng không tránh khỏi bước chân của tuổi già.

Hai con tranh ngôi

Chung Do rời khỏi mạc phủ, trở về dịch quán nghỉ ngơi, ngoài trời đã tối, đường dài bôn ba cũng đã mệt, bèn ăn đại khái qua bữa, rồi chẳng buồn tắt đèn, cứ thế chìm vào giấc ngủ.

Lúc chưa nằm xuống ông vẫn cảm thấy toàn thân rã rời, nhưng vừa đặt đầu xuống gối, tâm sự trong lòng lại dâng lên. Địa vị của Tuân Úc bất ổn, xem ra Tào Tháo nghĩ đến chuyện thay thế Thượng thư lệnh không chỉ mới một hai ngày, chỉ là vẫn chưa tìm được người thay thế thích hợp, lại không muốn người bên cạnh nói ông bạc đãi công thần, vì vậy mới gả con gái qua để cải thiện quan hệ. Thế nhưng, chút thành ý đó có thể khiến Tuân Lệnh quân hồi tâm chuyển ý không? Hôm nay ta viện cớ Quan Trung vẫn chưa ổn định để thoái thác, nhưng nếu một ngày nào đó Quan Trung an định, há có thể tránh né được nữa? Vừa không thể kháng lại mệnh lệnh, lại không thể hổ thẹn với bằng hữu cũ, thực là nan giải...

Suy đi tính lại không biết làm sao, Chung Do thở dài nhắm mắt buông trôi tâm tư. Đang khi nửa tỉnh nửa mê, ông đột nhiên nghe thấy bên ngoài truyền lại tiếng bẩm báo của nô bộc:

— Đại nhân đã nghỉ chưa ạ? Có khách muốn yết kiến.

Gần chìm vào giấc ngủ giờ lại bị quấy rầy, Chung Do thấy vô cùng phiền phức, nhưng trong mạc phủ có không ít bằng hữu cũ như Tuân Du, Mao Giới, không gặp thì cũng áy náy. Ông bèn ngồi dậy chỉnh lại y phục:

— Vẫn chưa ngủ, mau mời khách vào nói chuyện!

Chung Do vừa thắt đai lưng vừa buộc lại tóc, hạ màn xuống nhìn, khách đã vào tới nơi, nhưng không phải là bạn hữu, mà là một người trẻ ngoài hai mươi tuổi, thần thái nho nhã, dung mạo tuấn tú.

— Công tử là...

— Tiểu điệt Đinh Nghi, đến bái kiến bá phụ.

— Không dám, không dám, công tử sao lại gọi ta là bá phụ?

Chung Do cảm thấy khó hiểu. Đinh Nghi vô cùng cung kính, liên tục vái chào:

— Vãn sinh là con của Bái Quốc Đinh hiệu úy, lẽ nào không nên gọi ngài một tiếng bá phụ sao?

Thì ra là con của Đinh Xung, Chung Do lúc này mới vỡ lẽ, trong lòng có chút không vui: Trời đã tối còn đến làm phiền, cha ngươi còn được, chứ một kẻ vãn bối như ngươi thì hẳn có chút thất lễ. Trong đầu nghĩ vậy, nhưng ngoài miệng ông lại vui vẻ hàn huyên:

— Ồ, thì ra là con của Ấu Dương, thời gian trôi qua nhanh quá, giờ đã lớn thế này rồi. Hiền điệt không ở Hứa Đô chăm sóc lệnh tôn, sao lại đến Nghiệp Thành này vậy?

— Tiểu điệt năm ngoái được Thừa tướng cất nhắc, hiện đang làm duyện thuộc trong mạc phủ.

— Vậy thì tốt quá! Đây mới là đường sĩ hoạn đúng đắn. - Chung Do nói vậy nhưng không nghĩ vậy. Đinh gia vốn qua lại thân thiết với Tào gia nên tất nhiên sẽ được chiếu cố, dù có tài cán hay không cũng đều có thể làm quan, điều này hẳn không công bằng với những sĩ nhân khác.

— Bá phụ dạy dỗ rất phải. - Đinh Nghi gật gật đầu, nheo mắt nói, - Bá phụ đường xa vất vả đến đây, tiểu điệt sợ dịch quán ăn uống sơ sài nên đã chuẩn bị một chút điểm tâm, mời bá phụ thưởng thức.

Nói đoạn vỗ vỗ tay, hai bộc nhân liền mang mấy hộp đồ ăn bước vào trong phòng. Chung Do vừa nhìn liền cảm thấy kỳ lạ: Các món chay mặn, nóng nguội đủ cả, đồ ăn thức uống toàn cao lương mỹ vị, có bào ngư, măng ngọt, nấm trúc tôn, gà trạc, ngoài ra còn có một vò rượu, xem ra cũng không phải loại thường. Bữa “điểm tâm” này hẳn không hề rẻ, ngay cả ngự yến của thiên tử cũng chỉ đến vậy.

— Hiền điệt sao lại đãi ta thế này?

Đinh Nghi mặt mày tươi rói, đáp:

— Hiếu kính ngài là chuyện nên làm ạ.

— Ta đã dùng bữa rồi.

— Tiểu điệt vừa nãy đã hỏi kẻ hầu, ngài mới ăn một bát cháo thôi. Đường xa ngàn dặm, ngựa xe mỏi mệt, lão ngài lại phải gánh trọng trách triều đình, nên giữ gìn quý thể. Xin hãy thưởng thức một chút!

Chung Do càng cảm thấy kỳ quái: Tên tiểu tử này cớ sao lại dò hỏi chuyện ăn ở ngủ nghỉ của ta? Xem ra chuyện không hề đơn giản.

Đinh Nghi cầm đũa lên, cố dúi vào tay ông:

— Bá phụ mau nếm thử, nếu bá phụ không ăn, tiểu điệt há chẳng phải mất công tốn sức?

Chung Do đã lờ mờ đoán ra: Tên tiểu tử này ắt có việc gì đó đến nhờ vả! Cũng được, niệm tình cha hắn, chỉ cần không phạm quốc pháp, giúp được thì giúp. Nghĩ vậy, ông cầm bát bào ngư lên nếm thử, quả nhiên mùi vị tươi ngọt, thơm ngon vô cùng, bèn húp cạn luôn, những món khác thì chỉ gắp lấy lệ một miếng, coi như đã thưởng thức qua. Còn rượu, ông không hề động đến.

— Bá phụ sao dùng ít vậy ạ?

Chung Do lau miệng đáp:

— Lão phu đã đến tuổi biết thiên mệnh, thực lượng ít dần, uống một bát canh là đủ rồi... Ăn cũng ăn rồi, uống cũng uống rồi, có việc gì có thể nói thẳng ra rồi chứ?

Vẻ khiêm cung, thành khẩn trên mặt Đinh Nghi thoáng hiện lên nét giảo hoạt:

— Bá phụ hiểu lầm rồi, không phải tiểu điệt có chuyện muốn nhờ. Tiểu điệt thân chỉ là một chức quan nhỏ, há có đủ tiền làm bữa yến này? Không giấu gì, là công tử Tào Tử Kiến của Thừa tướng nhờ tiểu điệt đến chăm sóc bá phụ.

— Ồ?!

Chung Do suýt chút nữa nôn những thứ vừa nuốt ra ngoài - Chết rồi! Đấy không phải chuyện chơi, nhận khoản đãi của Tào Thực, nếu chẳng may bị truyền sang tai người khác, tất sẽ bị dị nghị rằng giao thiệp với công tử của Thừa tướng. Đinh Ấu Dương ơi Đinh Ấu Dương, gã quỷ rượu trời đánh, con của ông hại khổ ta rồi!

Đinh Nghi và đệ đệ là Đinh Dực từ bé đã giao hảo với Tào Thực, đều có tài văn chương thơ phú, nay đến Nghiệp Thành càng được Tào Thực tin tưởng, hình bóng không rời. Các quan viên mạc phủ đều biết chuyện này, duy chỉ mình kẻ ngoại lai là Chung Do không hay biết.

— Hiền điệt thực sự không nên như vậy. - Chung Do bắt đầu sa sầm, - Ta và công tử trước nay chưa từng qua lại, lại đến đây vì có công vụ, há lại dám tự tiện giao thiệp?

Đinh Nghi híp mắt cười nói:

— Qua lại bình thường cũng không thể coi là chuyên lớn. Ba vị công tử tôn trọng các lão thần trong triều, hay tin bá phụ đến Nghiệp Thành, bèn lệnh cho tiểu điệt đến bái kiến, chỉ là muốn tỏ lòng hiếu khách, quan tâm đến bá phụ thôi.

Ai quan tâm đến ai chứ? Làm quan cả một đời, Chung Do há lại không hiểu họ đang muốn điều gì? Năm ngoái Tào Tháo vừa mất đứa con yêu quý Tào Xung, sau này vẫn chưa thể đoán ai sẽ được thừa tự, nếu có một ngày Tào Tháo triệu tập quần thần hỏi rằng “Trong số các con của ta, đứa nào giỏi nhất”, đến lúc đó biết trả lời sao đây? Ăn lộc của người ta rồi, tất phải báo đáp chứ!

Đinh Nghi vẫn không ngớt lời tán tụng Tào Thực:

— Bá phụ có lẽ không biết, tam công tử phẩm mạo xuất chúng, tài đức lưỡng toàn, văn chương thơ phú lại rất được Thừa Tướng yêu thích, văn sĩ Nghiệp Thành ai ai cũng tán thưởng, quan lại trong phủ đều nói ngài ấỵ là một vị Hiền công tử...

Hắn vừa nói vừa hấp háy mắt, biểu cảm này lại càng khiến Chung Do phản cảm - Kỳ thực Chung Do chưa biết, có lẽ do Đinh Xung tham rượu nên để xảy ra chuyện, Đinh Nghi từ nhỏ mắt đã có vấn đề, đặc biệt là mắt phải rất nghiêm trọng, không hấp háy mắt thì chẳng thể nhìn rõ, tật ách này không chỉ vô phương cứu chữa mà còn vì nó mà chịu rất nhiều thiệt thòi. Ban đầu Tào Tháo niệm tình cũ muốn đem con gái gả cho Đinh Nghi, khi nói đến chuyện này Tào Phi tình cờ đang ở ngay cạnh, Tào Phi không muốn tâm phúc của Tào Thực trở thành con rể Tào gia, bèn thêm mắm dặm muối kể lại việc Đinh Nghi có tật mắt, Tào Tháo thở dài tiếc nối, việc thành thân cũng bị dẹp bỏ. Sau chuyện này mối thù ghét giữa Đinh Nghi và Tào Phi lại càng sâu đậm.

Chung Do đưa mắt nhìn vị “hiền điệt” đang nháy mắt chau mày, trong lòng cảm thấy đáng ghét vô cùng, chỉ vì thể diện của cha con Tào Tháo nên không buông lời trách mắng, thầm tự nhủ rằng đến Hứa Đô ắt sẽ đến chỗ cha hắn mắng vốn! Nhưng trước mắt nên xử sự thế nào với vị tam công tử kia đây? Xét cho cùng, Chung Do cũng là người từng trải, trong nháy mắt đã nảy ra một ý, cười khà khà ngắt lời hắn:

— Hiền điệt đã nói khẩn thiết như thế, vậy ý tốt của tam công tử lão phu xin lĩnh nhận, tuy nhiên cũng nên có qua có lại cho hợp lẽ thường tình. Hiền điệt nói tam công tử ưa thích phong nhã, vậy thì thế này, lão phu viết một bức chữ tặng cho công tử, hiền điệt thấy vậy được không?

Nét chữ khải của Chung Do được coi là nhất tuyệt, nổi danh không kém chữ triện của Lương Hộc, đều là những nét bút mà những kẻ đọc sách tranh nhau sưu tầm, học theo, những người bình thường tốn công nhọc kế cũng không xin được, hôm nay Chung Do lại chủ động đề tặng. Nhưng Đinh Nghi không những không vui, trái lại mặt mày thất sắc - Đây rõ ràng là không muốn nợ ơn người khác! Viết chữ xong thì bữa cơm này coi như hòa vốn, nhưng cũng không thể ngăn ông ta viết, bèn cười vẻ khó xử:

— Không còn sớm nữa, bá phụ nên giữ gìn quý thể...

— Viết chữ có gì mệt chứ? - Chung Do nói vẻ bề trên, - Lẽ nào công tử coi thường chữ của ta?

— Không không không, chữ của lão ngài ai dám coi thường ạ?

Chung Do gật gù bước đến bên án, rút ra một tờ giấy Sái hầu[5] lớn, bút mực của dịch quán đều đã có sẵn, nhưng nên viết gì đây? Viết lời hay ý đẹp thì khác gì nịnh bợ, lại lọt vào bẫy của họ, truyền ra ngoài càng không hay. Nghĩ đi nghĩ lại, ông nảy ra một ý: Nửa đêm còn đến quấy nhiễu, vậy ta cũng không khách khí nữa, dứt khoát để vị công tử này hổ thẹn chút xem sao! Viết một đoạn Hiếu Kinh, để hắn bỏ công suy xét:

Này đây, hiếu là căn bản của đức, do giáo dưỡng mà thành. Thân thể, hình hài, tóc tai, da thịt là do phụ mẫu ban cho, không được gây tổn hại là nết đầu của hiếu. Sau lo lập thân, hành đạo để lại tiếng thơm cho đời là nết cùng của hiếu. Này đây, hiếu lấy việc phụng dưỡng cha mẹ làm đầu, kế đến thờ vua, sau rốt là lập thân.

Viết mấy câu này chỉ để đối phó, điều này cũng khiến Chung Do cảm thấy phiền hà, nên đành viết đại khái ra vậy! Khua tay múa bút một hồi bèn đưa cho Đinh Nghi:

— Phiền hiền điệt tặng vật này cho công tử, coi như là thành ý của lão phu.

— Tạ ơn bá phụ đã tặng chữ, tiểu điệt nhất định sẽ xin công tử treo trên chính đường.

Đinh Nghi vẫn phải cảm tạ. Chung Do vờ ngẩng đầu nhìn ra bên ngoài:

— Trời đã muộn rồi, trên đường về nhớ cẩn thận, tuổi còn trẻ cũng không nên thức đêm, không tốt cho sức khỏe.

Đinh Nghi vẫn chưa cáo từ, ông đã tuôn một tràng tiễn khách.

— Vâng. - Đinh Nghi không còn cớ nán lại, đành gọi người hầu vào dọn dẹp rồi đứng dậy cáo từ, nhưng vẫn không cam tâm, - Tiểu điệt về nhất định sẽ đưa bức chữ này cho công tử. Nhưng bá phụ lâu rồi mới có dịp đến Hà Bắc, nếu muốn dạo quanh ngắm cảnh, tam công tử có thể đi cùng.

— Được, xin đa tạ công tử trước, đến lúc đó phải làm phiền rồi.

Nói là vậy nhưng Chung Do đã có chủ ý, từ ngày mai sẽ chẳng đi đâu cả.

Đinh Nghi không biết làm sao, đành cẩn thận giữ lấy bức chữ nét mực còn chưa khô, đến gần cửa mới chợt nhớ vẫn chưa xem bức chữ viết gì, vừa đọc liền cảm thấy vô cùng ngần ngại: Công tử sắp hai mươi tuổi rồi, vậy mà ông còn giảng Hiếu Kinh, đây chẳng phải là châm chọc hay sao? Vị bá phụ này thật thâm sâu khó lường! Nhưng Đinh Nghi vẫn chưa liệu được rằng, hắn và vị bá phụ thâm sâu khó lường này hết sức hữu duyên, sau này những tháng ngày đấu trí đấu pháp hẵng còn rất dài.

Tiễn Đinh Nghi đi rồi, Chung Do bất giác lo lắng, làm như vậy liệu có được không? Nếu Tào Thực thẹn quá hóa nộ, dâng lời xàm tấu, liệu Tào Tháo có tin theo? Ông nghĩ đi nghĩ lại chợt thấy buồn ngủ, ngáp ngắn ngáp dài, cơm đã ăn rồi, chữ cũng cho rồi, chỉ nghĩ thôi cũng chẳng giải quyết được gì, ngả lưng đi ngủ vậy. Nhưng gối chưa kịp ấm đã lại nghe thấy người bên ngoài bẩm báo:

— Đại nhân, có khách đến thăm.

— Ai thế?

Chung Do hơi thấy bực dọc. Có tiếng ai đó vừa cười vừa đáp:

— Làm phiền Chung công rồi, bỉ chức là trung quân giả tư mã Chu Thước, phụng lệnh đại công tử Tào Tử Hoàn đến bái kiến lão ngài ạ.

Người của Tào Thực vừa đi khỏi, người của Tào Phi đã tới. Đoán chắc rằng người này cũng đến nịnh nọt để cầu mỹ ngôn trước Tào Tháo, Chung Do không muốn tốn lời nữa:

— Tạ ơn ý tốt của công tử, cũng làm phiền đại nhân vất vả. Nhưng lão phu vạn dặm đường xa, bôn ba đã mệt, xin phép được nghỉ ngơi.

— Chung công không cần khách sáo. Nếu ngài thấy bất tiện, tại hạ xin quay về. Ngày mai sẽ mời công tử tự đến bái vọng.

— Không dám! - Chung Do lập tức nguôi giận, vội vã nhỏm dậy, - Đại nhân xin mời vào. - Nếu hắn mời Tào Phi đến thật thì lại càng phiền phức, chẳng thà gặp hắn còn hơn.

Cửa phòng đã mở, Chu Thước mặt cười nhăn nhở bước vào. Chung Do nhìn thấy trong lòng thắc mắc - Kẻ này thấp bé, khô gầy, đầu dơi mắt chuột, nào có giống tướng quân? Nhưng tướng lĩnh trung quân nếu không phải thân tín của Tào thị ắt không dám vượt quá phép tắc, Chung Do cũng miễn cưỡng mở lời:

— Đa tạ đại nhân quan tâm, dám hỏi công tử lệnh cho đại nhân đêm hôm đến thăm là có việc gì?

Chu Thước không hề đáp lời, chỉ ngoảnh ra sau vẫy vẫy tay:

— Các ngươi đâu, mau bê vào! Mau bê vào!

Ngay sau đó có hai tên lính khệ nệ bê vào một cái hòm, Chu Thước tự mình mở ra. Bên trong chất đầy hàng xấp Thục gấm, vừa nhìn là biết sản vật do Ích Châu tiến cống.

Chung Do giật mình, hỏi:

— Ngài, ngài đây là có ý gì?

— Chung công đường xa đến đây, công tử mấy ngày nay đang bận chuẩn bị hôn sự với Tuân gia nên không ghé thăm, lệnh cho tại hạ mang đến để bày tỏ thành ý.

— Không dám, không dám.

Đây khác gì hối lộ? Chung Do uống một bát canh của kẻ khác đã cảm thấy bất an, tặng quà lại càng không dám nhận.

Chu Thước sớm đã chuẩn bị sẵn lời lẽ:

— Đại nhân không cần phải nghĩ nhiều, đây là món đồ thừa lại khi chuẩn bị giá trang. Thừa tướng đã dặn trước công tử, nếu thừa thì phải chia ra tặng cho các đại thần nguyên lão. Ngài chỉ việc lĩnh nhận, Thừa tướng sẽ không trách tội.

Nói thì như vậy, nhưng rốt cuộc vẫn là bị người ta nắm đằng chuôi, Chung Do cau mày đáp:

— Bản quan gia tài sung túc, không thiếu những thứ này...

— Chung công chê ít sao?

— Không không không! - Chung Do liên tục xua tay, - Ta bảo rằng gia tài đầy đủ, Thừa tướng cũng thỉnh thoảng quan tâm đến. Chắc hẳn trong phủ công tử vẫn có không ít nhân sĩ hàn vi, xin hãy tặng lại cho họ.

— Ây dà, Chung công tất nhiên không thiếu những món đồ này, nhưng cái quan trọng là tấm lòng, công tử thực dạ ngưỡng mộ tài năng của ngài mới tặng chút quà biểu lộ lòng thành. Hơn nữa Chung công và Thừa tướng tuổi tác ngang nhau, thân phận đại công tử có cao đến mấy cũng là vãn bối, hiếu kính ngài vốn là việc nên làm. Nếu ngài không nhận há chẳng phải gạt bỏ ý tốt của công tử ư?

— Ây dà...

Chung Do thực sự khó xử, nhận thì không được, nhưng không nhận thì quan hệ với Tào Phi lại lâm vào thế khó xử, nửa đêm rồi mà vị tư mã này còn mang một đống đồ đến đây khoa trương ầm ĩ, truyền ra bên ngoài càng khiến người ta nghị luận, làm sao bây giờ?

Đột nhiên nảy ra một ý - Chung Do trấn giữ Quan Trung thu được một mảnh ngọc Lam Điền vô cùng đẹp đẽ, ông rất yêu thích, còn mời thợ giỏi đến để chạm khắc thành ngọc bội đeo ở bên thân. Hôm nay để ứng phó với cục diện này, ông bèn cắn răng lấy ra:

— Gấm Thục ta sẽ nhận, tuy nhiên xin tặng lại miếng ngọc này cho công tử để bày tỏ lòng cảm ơn.

Nói đoạn liền nhét vào tay Chu Thước. Chu Thước có con mắt tinh tường, trông thấy miếng ngọc trắng tinh khôi ẩn hiện ánh vàng, chạm trổ điêu luyện, sờ vào mịn mượt, trơn mát như mỡ dê - Đáng giá hơn nhiều so với gấm Thục! Rốt cuộc là ai hối lộ ai đây? Lần này đến lượt hắn khó xử:

— Thế này, thế này sao được...

Chung Do vuốt râu cười nói:

— Công tử ngưỡng mộ lão phu như vậy, lão phu cũng rất quý trọng công tử. Ta thân làm trưởng bối há có thể kém cạnh vãn bối chứ? Công tử không nhận, há chẳng phải không nể mặt già của ta?

Đây gọi là gậy ông đập lưng ông. Chu Thước vốn thông minh lanh lợi, nhưng lần này cũng lắp ba lắp bắp:

— Tại hạ vốn đến tặng đồ, há có thể...

Chung Do sa sầm sắc mặt:

— Lẽ nào công tử không chê ghét lão phu, đại nhân ngài lại coi thường lão phu chăng?

— Không dám! Đã như vậy thì... tại hạ mang về đưa cho công tử. - Chu Thước vẫn không nản lòng, tiếp tục nói, - Hay tin Chung công vài ngày nữa nhập triều, vừa hay công tử cũng đến Hứa Đô thành thân, chi bằng cùng đi với nhau, trên đường còn có thể tiện bề chăm sóc lẫn nhau. Ngài và Thừa tướng, lệnh quân hai nhà đều có mối giao hảo thân tình, giúp đi đón dâu mọi người hẳn sẽ mát mặt.

Chung Do ậm ừ cho qua:

— Ta phải thương lượng với Thừa tướng đã.

Nói xong, ông cố ý ngáp dài một cái. Chu Thước hiểu ông muốn đuổi khách, bèn giả lả nói:

— Trời không sớm nữa, tại hạ xin cáo từ. Nếu Chung công muốn đi quanh Nghiệp Thành quan lãm tiêu khiển, có thể nói với công tử, công tử tất sẽ đáp ứng.

Lại là chiêu này!

— Được được được, - Chung Do cũng chán không buồn nói thêm nữa, - Đại nhân đường về cẩn trọng, lão phu y phục bất tiện, xin đành thất lễ.

— Ngài hãy nghỉ ngơi...

— Chu Thước gật đầu khom lưng vái chào.

Đuổi được Chu Thước, Chung Do không lên giường nằm mà ngồi luôn ở bên án - Nếu như nhị công tử Tào Chương phái người đến, vậy sẽ đỡ phải lật đật ngồi dậy.

Ông đợi quá một canh giờ, đã đến canh ba mà vẫn chưa có động tĩnh gì, lúc này mới yên tâm nằm xuống. Binh đến tướng chặn, nước lên đất ngăn, phiền hà cả đêm Chung Do sớm đã mất giấc, đành cố nhắm mắt nghỉ ngơi. Trong lòng lại càng cảm thấy bất an: Tào Phi và Tào Thực thay nhau phái người đến, hết dâng đồ ăn lại biếu gấm lụa, là có dụng ý gì không cần nói cũng hiểu. Ngay cả một kẻ ngẫu nhiên ghé đến như ta mà cũng quan tâm rào đón như vậy, không biết quan viên Nghiệp Thành họ còn lôi kéo đến mức nào đây! Với thân phận là một ngoại thần, liệu có nên quá thân thiết với bọn họ? Nếu như Tào Tháo thực sự không buồn để tâm đến những việc làm của họ, vậy cớ sao họ lại không tự mình làm? Đã nhờ kẻ khác làm thay thì chắc chắn là có dã tâm! Không được, tuyệt đối không thể cùng Tào Phi đồng hành về kinh.

Trằn trọc băn khoăn, thần thức bất an, Chung Do không chịu được nữa, ngồi dậy kêu lớn:

— Người đâu, người đâu!

Ông gọi liền vài tiếng mới có một tên nô bộc ngáp ngắn ngáp dài, vào phòng cung kính hỏi:

— Đại nhân sai bảo gì ạ?

Trằn trọc cả đêm đến kẻ hầu người hạ cũng đã ngủ rồi, nghe thấy chủ gọi mới vội vã chạy vào, y phục vẫn còn xộc xệch.

— Thu dọn hành lý. Trời hửng sáng ta sẽ đến gặp Thừa tướng cáo từ, lập tức khởi hành đến Hứa Đô.

— Dạ? Gấp vậy sao. Đại nhân tuổi tác đã cao, xin hãy giữ gìn quý thể.

— Kêu ngươi dọn thì mau đi dọn. Không cần nhiều lời.

— Xin vâng.

Tên nô bộc không dám cãi lại, ngáp ngắn ngáp dài đi thu dọn hành lý, sắp xếp xe ngựa, đêm nay vậy là không được ngủ rồi, trong lòng thầm oán trách: Ngài không ngủ được cũng chẳng cho chúng tôi ngủ, hẳn là ban tối ăn nhiều không tiêu hóa được, bụng dạ khó chịu đây mà!

❀ ❀ ❀

[1] Nếu thêm chữ “hoạt” (sống) vào bên trong chữ “môn” (cửa) sẽ được chữ “khoát” có nghĩa là rộng.

[2] Chỉ Đông Phương Sóc, tự Man Sảnh, là một nhà thơ phú nổi tiếng thời Tây Hán, từng làm chức Thị lang, Thái trung đại phu. Ông hài hước dí dỏm, túc trí đa mưu, thường làm Vũ Đế được vui.

[3] Tặng Đinh Nghi, Vương Xán thi, Tào Thực. Bản dịch thơ của Điệp luyến hoa, đăng trên trang thivien. net

[4] Chỉ quân Hung Nô.

[5] Quân cần tinh, không cần nhiều; tướng cần mưu, không cần dũng.

g Hộc, đều là những nét bút mà những kẻ đọc sách tranh nhau sưu tầm, học theo, những người bình thường tốn công nhọc kế cũng không xin được, hôm nay Chung Do lại chủ động đề tặng. Nhưng Đinh Nghi không những không vui, trái lại mặt mày thất
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Vương Hiểu Lỗi

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.