Trong lúc Tào Tháo loay hoay nghĩ cách xử trí đám tham quan ô lại, tin tức từ Quan Trung truyền đến: Hàn Toại, Mã Siêu sau khi bại trận rút về Tây Lương nay lại rục rịch âm mưu dấy loạn, triệu tập binh mã lưu tán chuẩn bị phản công, hơn nữa còn liên tục qua lại với Trương Lỗ ở Hán Trung. Để đề phòng mối họa tiềm tàng này, Hạ Hầu Uyên dưới sự phối hợp của Tả Phùng Dực Trịnh Hồn đã tiến quân chinh phạt dư đảng phản loạn ở một dải Quan Trung, bọn Lương Hưng, Cận Phú, Triệu Thanh Long lẩn trốn ở vùng Phu Thành đều lần lượt giao đấu chịu chết, Điền Quỳ bỏ Lam Điền mà chạy, ngay cả lão tướng quân Lưu Hùng cũng phải chạy xuống Hán Trung dưới sự cưỡng ép của bộ tướng. Nhưng thủ lĩnh Đê tộc Dương Thiến Vạn vốn hoạt động ở một dải Hưng Quốc lại chủ động quy thuận triều đình, coi như đã ổn định được cục diện Quan Trung, cộng với việc vài vạn binh mã của Hạ Hầu Uyên, Từ Hoảng tọa trấn ở Trường An, Hàn, Mã cho dù có bản lĩnh đến mấy cũng không thể đánh chiếm lại Quan Trung được.
Nhưng tin tức truyền đến từ phía nam lại không được như mong đợi. Tôn Quyền cùng với Thứ sử Giao Châu Bộ Chất ép huynh đệ Sĩ Nhiếp, Sĩ Nhất quy thuận, sau đó tiêu diệt dám cựu tướng không chịu phục tùng là Di Liêu, Tiền Bác. Trình Bĩnh ở Nhữ Nam, Tiết Tông ở Bái Quốc cùng đám văn sĩ xuôi nam lánh nạn đều lần lượt quy phục Tôn Quyền. Trưởng sử các quận huyện cũng do Tôn thị cắt cử. Em trai của danh sĩ tiên triều Hứa Thiệu là Hứa Tĩnh không chịu quy thuận, trốn sang Ích Châu ở phía tây, Giao Châu đã bị Tôn Quyền nắm chắc trong lòng bàn tay. Sau khi nắm được Giao Châu ở phía nam, Tôn Quyền lập tức chuyển sang củng cố tiền tuyến phía bắc. Đúng lúc đó, Trương Hoành - một trong “Giang Đông nhị Trương” qua đời, Tôn Quyền tiếp nhận di thư tiến ngôn của ông ta, rời đại bản doanh từ Kinh Khẩu sang Mạt Láng. Tào Tháo không thể không thừa nhận rằng tên tiểu tử Tôn Quyền quả thực lợi hại.
Mạt Lăng là huyện thuộc quận Cối Kê, nằm ở bờ nam sông Trường Giang, thời Xuân Thu từng là nơi cai quản của Sở Vũ Vương, tên gọi ban đầu là Kim Lăng. Nghe nói sau khi nhà Tần nhất thống thiên hạ, Tần Thủy Hoàng từng tuần du qua nơi đây, vọng khí sĩ[1] bên cạnh nói rằng, nơi này sơn xuyên tuấn tú, địa hình hiểm yếu, có cái khí đô ấp của bậc vương giả. Tần Thủy hoàng nghe vậy liền nổi cơn đại nộ, lệnh cho thủ hạ khai sơn dẫn thủy hòng phân tán vương khí, sau đổi tên Kim Lăng thành Mạt Lăng. Chữ “mạt” chỉ loại cỏ dại, ý nói rằng nơi này không xứng đáng là nơi xuất thế của bậc vương giả, nghĩa xấu chỉ vườn cỏ dành cho ngựa. Nay Trương Hoành lại nhắc lại câu chuyện xưa này, khuyên Tôn Quyền dời đến Mạt Lăng chẳng khác gì tuyên bố với cả thiên hạ rằng muốn tranh đoạt ngôi vua. Nhưng nếu bỏ qua truyền thuyết lịch sử thì lựa chọn vị trí địa lý nơi đây thực sự rất có thâm ý. Mạt Lăng tựa sát bên bờ Trường Giang, đối diện đằng xa với Giang Bắc, đại bản doanh dời đến đây quả thực mang hàm ý “vương giả trấn thủ quốc môn”.
Tôn Quyền vô cùng quyết đoán, không chỉ chuyển mạc phủ về Mạt Lăng mà còn đổi tên thành Kiến Nghiệp, dùng đá tảng xây đắp thành mới. Xem ra y muốn tranh đoạt đến cùng với Tào Tháo, hạ quyết tâm kiến công lập nghiệp ngay trên đất vương khí phát vượng này.
Nhưng Tào Tháo vẫn chưa thể ngay lập tức nam hạ, ông vẫn còn vài việc chưa lo liệu xong. Đầu tiên, ông vừa dẫn quân vượt hơn bốn ngàn dặm đến Quan Trung, vẫn phải để sĩ tốt nghỉ ngơi; hơn nữa, thủy binh Thanh Châu đang huấn luyện ở Bột Hải vẫn chưa thể đến hội hợp. Quan trọng nhất là ông đang chờ đợi tin tức của Đổng Chiêu, ông dự tính sau khi việc sáp nhập chín châu hoàn thành thì mới yên tâm chinh chiến. Nhưng tin tức từ Hứa Đô vẫn mãi chưa tới, xem ra Tuân Úc lại đứng ra ngáng đường.
Ngày hôm đó, Thứ sử Dương Châu lại có tin quân báo gửi đến mạc phủ, Tôn Quyền phái bộ tướng Công Tôn Dương vượt sông Trường Giang, lập doanh trại ở Giang Bắc, nhiều lần quấy nhiễu đồn điền. Tào Tháo hay tin không chỉ không lo mà còn cười lớn. Ba vị Ký sự là Trần Lâm, Vương Xán, Ứng Sướng đang chỉnh lý văn thư, thấy ông cười lớn như vậy thì không hiểu chuyện gì, đọc xong quân báo bèn lần lượt cất lời:
— Tôn Trọng Mưu dã tâm lang sói, ắt có ý thôn tính đất Hoài Nam, Từ Châu.
Tào Tháo chỉ cười nói:
— Các ngươi chỉ biết ngày ngày mài mực múa bút, há có thể hiểu được tâm cơ của Tôn Quyền? Lần trước ta định Quan Trung, hắn đoạt Giao Châu, hai bên nước sông không phạm nước giếng. Nay đôi bên đều đã giải quyết mối nguy tiềm ẩn, ắt sẽ phải quay lại tỉ thí với cựu thù. Chỉ dựa vào đất Giang Đông của hắn thì không đủ để bắc tiến, mưu đoạt Trung Nguyên, chắc hắn liệu rằng lão phu sẽ dẫn binh áp sát địa giới, thế nên mới lấy công làm thủ, tiên phát chế nhân. Ha ha ha! Tên oắt Tôn Quyền này quả là liền tâm nhất ý với lão phu!
Khẩu khí của ông không hề có ý oán hận, trái lại còn cảm thấy như gặp được kỳ phùng địch thủ.
— Thừa tướng xin hãy chỉ giáo cho chúng tại hạ, - Trần Lâm lại nói, - Lưu Bị ở Kinh Châu dẫn quân tiến vào đất Thục, vẻ ngoài là chinh thảo Trương Lỗ, nhưng thực ra ngày ngày đều cùng bàn bạc với Lưu Chương, Quan Vũ, Gia Cát Lượng cứ thủ Nam Quận không hề có động tĩnh, vậy là có dụng ý gì?
— Lưu Chương chỉ là con chó giữ nhà, Lưu Bị lại là kẻ tiểu nhân phản phúc, hai kẻ đó qua lại chẳng qua vì lợi dụng lẫn nhau, tạm thời không mấy nguy hại. Lần này lão phu không xuống Kinh Châu, dẫn binh khỏi Hợp Phì tiến thẳng xuống Nhu Tu, nếu chiếm được nơi đó, đất Giang Đông ắt bị uy hiếp, Tôn Quyền tọa trấn Mạc Lăng chắc chắn không thể chống đỡ. Nếu định được Tôn thị, Lưu Bị, Lưu Chương, Trương Lỗ há có thể sống sót? - Nói đoạn, Tào Tháo truyền lệnh cho Trần Lâm, - Phiền Khổng Chương viết một bài hịch văn, đưa tin cấp báo gửi Giang Đông, lão phu phải dọa đám văn võ Giang Đông đó một phen!
Trong trận Xích Bích lần trước, Tào Tháo tưởng rằng có thể dễ dàng đắc thủ, chỉ vỏn vẹn gửi đến một câu: “Nay thủy quân tám mươi vạn, sẽ cùng tướng quân hội sán ở đất Ngô”. Kết quả không những không vượt được qua Trường Giang mà còn thiệt binh mất tướng, bị người đời chê cười, lần này ông đã nhận được bài học, phải viết một bài hịch văn hùng hồn, làm chấn động nhân tâm Giang Đông.
Trần Lâm nghe thấy hai chữ “hịch văn” bỗng cảm thấy đôi chút khó xử, năm xưa ông ta phò tá Viên Thiệu, trong trận Quan Độ đã từng giúp hắn viết hịch văn chinh thảo Tào Tháo, mắng chửi tổ tông dòng tộc Tào Tháo không tiếc lời, đến khi bình đình đất Hà Bắc may mà nhanh trí, nhờ một câu “Tên đặt trên cung không thể không bắn” mà bảo toàn được mạng sống. Sau này ông ta mặc dù giúp sức cho Tào Tháo nhưng lúc nào cũng tự thấy sợ sệt, cẩn thận như đi trên băng mỏng, càng không dám viết những áng văn đại loại như hịch văn chiến thư nữa. Lần này nghe Tào Tháo sai bảo, ông ta bèn vội vã thoái thác:
— Thuộc hạ nay tuổi đã già, không thể chắp bút viết bài hịch này, khẩn cầu chúa công sai người khác!
Tào Tháo cũng biết tâm tư của ông ta, xét cho cùng Trần Lâm là người xuất thân từ mạc phủ của Hà Tiến, tuổi tác cũng đã già, sự hùng khái cảm tác năm xưa cũng sắp cạn. Tào Tháo cũng không gò ép ông ta nữa:
— Gần đây ngươi sức khỏe không tốt, chưởng quản việc văn thư cũng đủ vất vả rồi. Ta thấy ngươi không cần làm chung với chúng nữa, lão phu cất nhắc ngươi làm Môn hạ đốc, nhưng không cần lĩnh binh mà coi là bậc tiền bối trong văn đàn, chỉ giáo điều hay lẽ phải cho bọn hậu sinh trẻ tuổi.
— Tạ ơn Thừa tướng. - Trần Lâm cảm kích từ tận đáy lòng, chức Môn hạ đốc chuyên quản việc bút nghiên, quả là một công việc vừa nhàn rỗi vừa phú quý.
Tào Tháo quay đầu nhìn Vương Xán, ứng Sướng đang mặt mày biến sắc. Hai kẻ bọn họ tuy cũng là Ký thất, nhưng đều trứ danh nhờ tài văn chương thơ phú, cùng lắm là chỉ chắp bút được một số công văn, còn hịch văn chiến thư thì không giỏi cho lắm. Vương Xán nhanh trí nói:
— Loại thư bút hùng tráng như hịch văn há có thể để cho bọn thư sinh mặt trắng như tại hạ viết được? Theo thiển kiến của tại hạ, tốt nhất là Thừa tướng tự tay múa bút. Nhưng nếu ngài bận nhiều việc phiền tạp không thể viết được, thì có Lộ Văn Uy xuất khẩu thành văn, văn chương đậm vẻ khí khái thượng võ, thuộc hạ xin tiến cử hắn thay thế.
Tào Tháo cười thầm tên tiểu tử khôn lỏi này, Lộ Túy quả thực là kẻ có tài, nhưng không thể trọng dụng. Chỉ vì bốn năm trước thư đàn hặc Khổng Dung là do hắn ta viết, khiến cho cả nhà Khổng Dung bị hại, Lộ Túy vì chuyện này mà bại hoại thanh danh, văn sĩ Hứa Đô không dám phản đối Tào Tháo, nên coi Hy Lự, Lộ Túy là những kẻ đầu trò gây trò gây họa, không ngớt lời nhục mạ, mắng nhiếc. Nếu như Tào Tháo dùng người này gửi thư cho Tôn Quyền, há chẳng phải làm trò cười cho tên tiểu tử Giang Đồng đó? Ông đang trầm ngâm suy nghĩ xem nên chọn ai viết bài hịch văn này, bỗng có vệ binh bước vào bẩm báo:
— Ngoài phủ có một vị phu nhân, tự xưng là thê tử của Đồn điền đô úy Đổng Tự, cầu kiến Thừa tướng đại nhân.
Tào Tháo nghe thấy câu ấy, giật mình kinh ngạc - Năm xưa ông từng lệnh cho Nghị lang Chu Cận xuất sứ Bình Dương, chuộc con gái của Sái Ung là Sái Chiêu Cơ vốn bị Tả Hiền Vương của Hung Nô cướp đi, sau đó còn tự mình gả nữ tử này cho Đổng Tự, sao lại quên bẵng đi mất? Lần này nàng ta vào phủ cầu kiến, ắt hẳn là cầu xin cho phu quân của mình đây.
Đại án đồn điền đã được giải quyết, Tào Tháo nhắm mắt cho qua tha tội cho Đinh Phỉ, chỉ lệnh cho ông ta trả lại của cải đã vơ vét trước đây, lại đem tội vạ đổ lên đầu một mình Đồn điền đô úy Đổng Tự, nay đã giáng xuống ngục định tội chết, nội trong tháng này sẽ xử. Tào Tháo hay tin Sái Chiêu Cơ đến đây thì cảm thấy rất đau đầu, biết rõ rằng nữ tử này muốn gì, nhưng nể mặt phụ thân của nàng ta là Sái Ung, lại từng nghe nàng ta là bậc tài nữ, nhận chân truyền từ cha mình, vừa muốn gặp lại vừa không, cảm thấy vô cùng khó xử.
Vương Xán là con của Vương Khiêm, Trưởng sử của Hà Tiến mạc phủ năm xưa, mười ba tuổi đã từng diện kiến Sái Ung, rất được bậc tiền bối văn đàn này quan tâm, sớm đã có ý muốn nói đỡ lời cho Đổng Tự nhưng lại không dám mở miệng, nay nghe tin Chiêu Cơ đến đây trong lòng thầm mừng, há có thể bỏ qua cơ hội này, vội vàng nói:
— Tại hạ nghe năm xưa Thừa tướng từng đối đãi rất hậu với Sái Bá Giai, nên Sái thị cũng có thể coi là chỗ quen biết. Huống hồ phu nhân thân cô thế cô đứng hầu bên ngoài, chi e sẽ ảnh hưởng đến thanh danh mạc phủ, tốt nhất Thừa tướng hãy nên gặp mặt.
— Cái này... - Tào Tháo đắn đo suy xét, - Ây dà, vậy mời nàng ta vào đi.
Tên lính đi ra không lâu sau đã thấy dẫn một vị phu nhân tuổi độ trung niên bước vào điện đường. Vị nữ tử này chỉ mặc một bộ áo vải cũ kỹ, tóc tai rối bù, đi chân đất, nom bộ dạng như một tội nhân, vẻ mặt bi lụy quỳ xuống bậc thềm:
— Thê tử tội nhân Đổng Tự, bái yết Thừa tướng.
Tào Tháo thấy bộ dạng tiều tụy của nàng ta, bất giác đứng dậy:
— Phu nhân, mau mau đứng dậy.
— Thê tử của tội nhân không dám làm vấy bẩn triều đường. - Sái thị giọng khẽ run run, thực vẻ sầu khổ.
Câu “Ta xá tội cho phu quân của ngươi” suýt chút nữa đã buột ra từ miệng Tào Tháo, nhưng may lại kìm được. Ông nói giọng trầm ngâm:
— Ái nữ của bằng hữu ta không cần đa lễ, có gì cứ vào trong rồi nói.
— Vâng. - Sái thị khẽ đáp lời, tay nắm vạt váy cũ sờn cúi đầu bước vào điện đường, đoạn lại quỳ xuống đất cúi lạy lần nữa, - Tiện thiếp xin vấn an Thừa tướng.
Tào Tháo càng nhìn kỹ càng thở dài tiếc nuối - Sái Chiêu Cơ đã ngoài tam tuần, số mệnh gian truân đã trải qua ba cuộc hôn nhân, dung mạo mỹ miều năm nào đã không còn nữa; lại thêm không màng son phấn, phục sức nên càng hiện rõ nét già trên mặt, khóe mắt khóe miệng đã có nếp nhân, duy có đôi mắt vẫn trong trẻo như nước mùa thu, đang ngân ngấn lệ.
— Phu nhân hà tất phải đa lễ, mời...
Sái thị không đợi ông nói xong, bước tới hai bước quỳ mọp xuống khấu đầu, giọng thống thiết:
— Phu quân của tiện thiếp tận lực vì triều đình đã nhiều năm, không dám nói rằng có công, nhưng cũng coi là hoàn thành chức phận. Tội vạ lần này mới phạm lần đầu, lại do bị thượng cấp ép buộc, mong Thừa tướng niệm nỗi khổ lưu ly của tiện thiếp, tha mạng cho ông ấy!
Đúng là sợ gì có đấy, nếu là liêu thuộc cầu tình, ông chỉ mắng chửi vài câu rồi đuổi đi, nhưng con gái của bạn cũ khóc lóc ỉ ôi như vậy, Tào Tháo biết làm sao đây? Công bằng mà nói, Đổng Tự có tội, nhưng đổ tất cả tội vạ của Đinh Phỉ lên đầu một mình ông ta quả thực có chút oan uổng, có điều nếu không làm vậy, vụ án này phải kết thúc ra sao? Luận về tình, luận về lý Tào Tháo đều khó xử, cũng không tiện xá miễn, suy nghĩ hồi lâu đành lấy cớ:
— Phu nhân tấm lòng trung tiết, lão phu kính phục, nhưng quốc có quốc pháp, gia có gia quy, không thể làm theo ý riêng, nay Đổng Tự đã cúi đầu nhận tội, văn trạng xử tử đã được ban ra. Biết phải làm sao?
Tội chết đã phán, không thể thay đổi. Sái thị biết đây chỉ là câu thoái thác, lại khóc lóc thảm thương:
— Minh công ngựa cả vạn con, hổ sĩ như rừng, cớ sao tiếc một con ngựa đuổi theo ngăn chặn văn trạng, mà không tiếc mạng kẻ sắp chết!
Quả là một nữ tử thông minh - Tào Thừa tướng có nhiều binh hùng ngựa khỏe như vậy, phái người đi thu lại văn trạng tử hình chẳng phải là xong hay sao?
Tào Tháo không biết nói gì nữa, nhíu mày trầm ngâm im lặng. Vương Xán đứng bên cạnh nãy giờ, có ý giúp đỡ Sái thị, bèn cố ý chen ngang:
— Pháp độ quốc gia không thể thay đổi, nhưng phu nhân đây là con gái bằng hữu cũ của Thừa tướng, cho dù nhà chồng phạm tội Thừa tướng cũng sẽ không bạc đãi cô. Thính Chính đường là trọng địa của mạc phủ, há có thể tùy tiện thỉnh thác việc riêng? Phu nhân chớ nên nói thêm nữa!
Nói đến đây ông ta trầm ngâm một lát, đoạn quay sang nói:
— Thừa tướng từ lâu đã nghe phu nhân từ nhỏ được phụ thân dạy dỗ tinh thông thơ phú, hôm nay tới đây quả là dịp may hiếm gặp, sao không ngâm một khúc để Thừa tướng phẩm bình?
Sái Chiêu Cơ vốn là người thông tuệ, nghe thấy câu này của Vương Xán liền biết có ý tương trợ, vội gạt nước mắt nói:
— Tiện thiếp lưu lạc trên đất Hung Nô đã nhiều năm, may nhận được ân huệ của triều đình trở về cố hương, lại được Thừa tướng chủ hôn gả cho đồng hương Đổng thị. Nay tiện thiếp có bài Bi phẫn thi, xin dâng Thừa tướng để tỏ lòng cảm kích.
Tào Tháo nghe tên bài thơ liền biết cô ta không phải có ý như vậy, định ngăn lại nhưng cũng tò mò không biết nữ tử này tài tình ra sao, bèn lòng dạ mâu thuẫn nghe cô ta ngâm thơ:
Ôi bạc mệnh chừ gặp thời nạn.
Hại cả nhà chừ không còn ai.
Thân bị bắt chừ vào tây ải,
Trải hiểm nguy chừ đến Khương Man.
Núi xa xôi chừ đường chậm rãi,
Ngoảnh nhìn lại chừ lòng bi ai.
Khi nằm ngủ chừ giấc không an,
Khi ngồi ăn chừ cơm không trôi.
Mắt ướt nhòe chừ lệ chứa chan,
Chí khí nhỏ chừ nghĩ chết khổ.
Gắng gượng sống chừ người hư vô,
Ở chốn ấy chừ xa mặt trời,
Hàn khí tụ chừ hề tuyết rơi.
Sa mạc phủ chừ bụi mờ mịt,
Cây héo hắt chừ hoa không nở.
Người giống vật chừ ăn xú thịt,
Tiếng không hiểu chừ tỏ chân nhan.
Năm tháng tận chừ thời gian trôi,
Đêm dài dặc chừ cửa kín mít.
Hễ nhắm mắt chừ lại giật mình,
Lên lầu điện chừ nơi đình viện.
Mây đen đến chừ mờ trăng sao,
Gió bắc thổi chừ lạnh tê tái.
Thổi hồ già chừ ngựa hí dài,
Nhạn bay về chừ tiếng ríu rít.
Ai nổi hứng chừ tấu đàn sảo,
Tiếng tương tê chừ nổi thê lương.
Lòng dậy sóng chừ ngực dồn nén,
Trút tầm tình chừ dọa nhạc công.
Tim đau nhói chừ mắt nhỏ lệ,
Người đã đến chừ về cố hương.
Ngẫm đường dài chừ con bỏ lại.
Tiếng gọi mẹ chừ không lên hơi,
Ta bịt tai chừ lặng làm ngơ.
Con đuổi theo chừ phải bỏ chạy,
Ngã sấp ngửa chừ người điêu tàn.
Phút đoái trông chừ lòng nát tan,
Đau đớn thay chừ sinh tử lai[2]
Bài Bi phẫn thi này rõ ràng nói về thân thế của Sái Chiêu Cơ, tuần tự kể lại những chuyện năm xưa, từ khi cô ta bị Hung Nô cướp đi, phối gả cho Tả Hiền Vương rồi sinh hai đứa con, sau đó được Hán triều chuộc về nên bất đắc dĩ phải từ biệt con, nỗi đau khổ u uất bất tận, nghe xong Tào Tháo trong lòng vừa thấy bi thương vừa thấy xót xa. Thân thế của Sái Chiêu Cơ thực là đáng thương, cô ta năm xưa được gả cho tài tử Hà Đông là Vệ Trọng Đạo, nhưng phu quân sớm mất, đành quy ninh tại gia, Sái Ung làm quan ở Trường An, cô ta cũng theo hầu hạ phụ thân. Vương Doãn diệt Đổng Trác, Sái Ung do được Đổng Trác đề bạt, nhớ ân tình ba ngày được thăng ba chức[3] bèn than thở một tiếng, nào ngờ lại chuốc lấy họa sát thân. Lý Thôi làm loạn, Thiền vu Hung Nô là Ô Phu La mượn gió bẻ măng, cô ta bị người Hổ cướp đi, bôn ba lâu ngày được Tả Hiền Vương nạp làm vương cơ. Kỳ thực ở nơi đất khách quê người, được sống cùng Tả Hiền Vương đã là rất may mắn, huống hồ còn sinh được hai người con trai, nhưng đúng lúc đó Tào Tháo lại niệm mối giao tình cũ giữa ông với Sái Ung, bè chuộc cô ta về đất Trung Nguyên. Lúc này Sái Chiêu Cơ bất đắc dĩ phải ly biệt với cốt nhục của mình, lại đường xa vạn dặm trở về cố hương Duyện Châu. Do phụ mẫu không còn, tỷ muội đều đã yên bề gia thất, nhà cửa trống trải thân cô thế cô, nên cô ta lại được Tào Tháo sắp xếp gả cho Đồn điền đô úy Đổng Tự. Một người là quả phụ, một kẻ thì góa vợ, tuy không còn là phu thê niên thiếu nhưng cũng coi là vừa đôi hợp lứa, nào ngờ mới được hưởng cuộc sống yên ổn hai năm, đại án đã đổ xuống đầu, Đổng Tự bị giam vào ngục kết án tử hình, lẽ nào Sái Chiêu Cơ lại một lần nữa thành quả phụ? Nỗi khổ kiếp này biết đâu là tận cùng!
Giọng của Sái thị bi thiết u oán. Tào Tháo nghe mà cảm thấy thương xót vô cùng, tay khẽ run run, lại nhớ năm xưa Kiểu Huyền giới thiệu mình với Sái Ung, nghĩ về việc Sái Ung chỉ vì một tiếng thở dài đã bị Vương Doãn xử tội chết, nghĩ đến người muội muội đã xuất giá của Chiêu Cơ. Muội muội của Chiêu Cơ được gả cho Dương Đạo, con trai của danh thần tiên triều Dương Tục, tiếc thay cũng là người vợ kế, bản thân chưa từng sinh nở, nhưng vẫn đối đãi tử tế với con của người vợ trước, cũng là một người phụ nữ hiền lương hiếm có. Sái Ung là một bậc sĩ phu phong lưu tiêu dao nhường nào, vậy mà hai ái nữ như hoa như ngọc của ông lại vì thời loạn mà bất đắc dĩ trở thành tục huyền kế thất, khiến người ta lại chẳng xót xa?
— Được rồi, được rồi... Phu nhân không cần ngâm nữa, lão phu sẽ xá miễn cho phu quân của ngươi.
Tào Tháo không thể nghe tiếp nữa, đưa tay lấy một quyển trục, vội viết một bức thư xá miễn cho Đổng Tự. Vương Xán đã đợi sẵn, không gọi thân binh mà tự mình cầm lấy đi luôn.
— Tạ ơn Thừa tướng khai ân! Hu hu hu... - Sái thị phủ phục xuống đất, nức nở khôn nguôi.
Tào Tháo nhíu mày đáp:
— Mau mời phu nhân vào hậu đường thay y phục.
Một a hoàn bước đến đỡ Sái Chiêu Cơ dậy, vừa khuyên vừa dìu vào trong. Lời của Thừa tướng không được chậm trễ, đám nô bộc vội vàng đem váy áo, giày tất lấy từ chỗ Biện thị đến thay cho cô ta. Lần này trở lại điện đường, Sái thị đã hoàn toàn đổi khác, quả nhiên không hổ danh là con gái của Sái Ung, khí chất xuất chúng, cử chỉ hữu lễ, mười năm trước dung mạo hẳn phải vô cùng đoan lệ. Tào Tháo ban ghế cho ngồi, nghe nàng ta nói những lời cảm kích. Ông đúng là có nỗi khổ khó nói, tốn công nhọc sức bấy lâu, vậy mà chẳng trị được kẻ có tội nào!
Trộm chum không được ắt phải bốc vụng một nắm gạo vậy. Năm xưa ngàn dặm xa xôi chuộc cô ta về cũng là để kế thừa gia nghiệp của phụ thân, nghĩ đến đây Tào Tháo hỏi:
— Lệnh tôn là bậc trí sĩ tuấn kiệt của tiên tiểu, thư tịch sách vở cất giữ trong nhà nhiều không đếm xuể, nay chiến loạn vừa ngưng, văn giáo chưa hưng, rất nhiều văn tích thất tán lưu lạc, hẳn phu nhân vẫn còn nhớ?
Sái thị vừa nhận được mối ân tình lớn lao, không chịu giúp chút sức mọn thì không hay, bèn thẳng thắn đáp:
— Năm xưa phụ thân có hơn bốn ngàn quyển sách, lưu tán đã lâu nay chẳng còn gì. Nhưng đến giờ tiện thiếp vẫn còn nhớ được nhất nhị.
Tào Tháo giật mình kinh ngạc: Lời của văn nhân sâu xa nhã ý, những kẻ phàm tục không thể hiểu được, “nhất nhị” không phải là tùy tiện nói ra. Theo Dịch kinh, nhất là càn, nhị là khôn, Sái thị tự nói rằng có thể đọc được nhất nhị càn khôn. Vậy không chỉ là một hai quyển, chí ít đã thuộc nằm lòng một hai trăm quyển!
Sái thị thấy ông không tin, khẽ che miệng mỉm cười:
— Thừa tướng nếu không tin, tiện thiếp nguyện viết ra dâng lên Thừa tướng để cảm tạ ơn tha tội cho phu quân tiện thiếp.
— Được lắm! Ta sẽ phái mười tên tiểu lại đến phủ của phu nhân hầu hạ bút nghiên.
Sái thị lại nói:
— Nam nữ hữu biệt, lễ bất thụ thân, chỉ mong được ban bút nghiên quyển trục, tiện thiếp xin tự tay viết ra.
— Phu nhân không từ vất vả, lễ số thật chu đáo. - Tào Tháo gật gù tán thưởng.
Sái thị bèn đứng dậy cáo từ:
— Tiện thiếp xin về dịch quán nhớ lại điển tịch, trong vòng nửa tháng ắt sẽ dâng thư tịch đã viết xong đến quý phủ.
Tào Tháo nghĩ nữ nhân này khẩu khí quá lớn, trong vòng nửa tháng há có thể viết tới vài trăm quyển văn thư? Nhưng cô ta đã dám mở lời như vậy, ắt cũng có đôi phần chắc chắn, bèn thuận nước đẩy thuyền:
— Vậy lão phu sẽ đợi.
Nói đoạn đứng dậy chắp tay. Nam tôn nữ ty, lễ số hữu biệt, Thừa tướng chịu đứng dậy chắp tay trước mặt một nữ nhi, đây quả là vinh hạnh lớn lao, Sái thị vội vàng vái lạy:
— Không dám, cảm tạ Thừa tướng khai ân, tiện thiếp xin cáo lui.
— Ây dà...
Nhìn theo bóng dáng Sái thị dần đi xa, Tào Tháo trong lòng chợt buồn se sắt, bất giác thở dài. Công chính chấp pháp, trừng trị tham ô, nói thì dễ nhưng làm quả thực khó, quay đi quay lại đều là tình người, làm sao mới vẹn cả đôi đường? Ông nhớ lại năm xưa khi còn trẻ tuổi đã từng giết chết cuồng đồ, dâng tấu tham quan, giờ đây nghĩ lại vẫn mới như ngày hôm qua. Hồi đó ông không sợ trời cũng chẳng sợ đất, gặp đám tham quan ô lại nào cũng quyết không tha, nay đại quyền đã nắm trong tay, cớ sao lại chẳng còn được như xưa? Không làm quan lớn thì không biết được chỗ khó của quan lớn, ngày rộng tháng dài cứ thế trôi đi, bao nhiêu điều bất nhẫn, bao nhiêu điều phiền ưu, rồi bao nhiêu món nợ ân tình? Nếu chỉ làm một thần tử đơn thuần thì cũng thôi, nhưng ông muốn mưu giành thiên hạ, chiến loạn chưa yên, nhân tâm chưa phục, sao ông có thể tính toán rõ ràng với những thần tử có công, với những kẻ đang ngày đêm tư lợi kia đây?
— Các ngươi lui cả đi.
Tào Tháo mệt mỏi khép hờ đôi mắt, kể từ hôm nhìn thấy bóng dáng của Đinh thị, mấy ngày gần đây, những cảnh tượng năm xưa cứ lần lượt hiện về trong đầu, ngày tháng bị bãi quan, đứa con trai chết trận, người vợ đã bỏ ông mà đi... Ông cảm nhận rõ ràng rằng mình đã bước trên con đường không thể quay đầu trở lại, cách ngày càng xa với vị quan huyện thanh liêm vô tư, công chính ngay thẳng năm xưa.
Thi văn phong ba
Đại án đồn điền quả là “sấm thì to nhưng lại mưa nhỏ”, Tào Tháo xá miễn Đổng Tự, cuối cùng chỉ bắt một đám tiểu lại vô danh tiểu tốt xử trí cho xong chuyện. Dương Bái há chịu cam tâm? Ông ta tìm đến mạc phủ can gián:
— Buông lỏng phép tắc, làm theo tình riêng sẽ dẫn đến đại loạn trong thiên hạ, xin minh chủ hãy khống chế đám cường hào quý tộc, theo pháp mà trị, theo công mà thưởng.
Tào Tháo tự biết mình đuối lý nên cũng chỉ trầm ngâm không nói. Nhưng tránh được đại án này, những đại án khác vẫn đưa đến không ngớt, đại đa số liên quan đến việc Tào Hồng, Lưu Huân dung túng cho đám tử đệ của mình hành sự bất pháp, Tào Tháo vô cùng khó xử, đành xử lý qua loa trước mặt chúng quan, còn sau lưng thì mắng nhiếc giáo huấn.
Hơn nửa tháng sau, Sái chiêu Cơ đã gửi toàn bộ thư tịch đến phủ. Điều khiến người ta không ngờ tới là người nữ nhi yếu đuối, nhiều năm phải bôn ba ly loạn này lại có thể thong dong tự tại, rành rọt viết ra hơn bốn trăm quyển sách, chất đầy cả Thính Chính đường, trí nhớ và tài khí phi phàm ấy quả thực khiến ai nấy đều kinh ngạc. Tào Tháo và chúng duyện thuộc lật xem qua đống quyển trục chất đầy trong đại đường, lời tán thưởng vang lên không ngớt.
— Thời thượng cổ xưng Tam Hoàng, Ngũ Đế, tiếp đến có Tam Vương, Ngũ Bá, đều được coi là những bậc quân vương quán thủ. Tam Hoàng dùng đạo trị, còn Ngũ Đế dùng đức hóa; Tam Vương dùng nhân nghĩa, Ngũ Bá dùng quyền trí. - Tào Tháo cầm quyển trục đọc, bất giác mỉm cười, - Đây chính là Tân luận của Hoàn Đàm, năm xưa lưu truyền đa phần chỉ là tàn bản, xem ra sách do Sái thị viết mới là toàn biên, quả là hiếm có, hiếm có!
Vương Xán ôm mấy quyển văn thư, tay run rẩy như được cầm báu vật: Liên Sơn dịch, chính là Liên Sơn dịch đã thất truyền bao năm nay!
— Mau đọc cái này! - Lưu Trinh hớt hải kêu lên, chẳng buồn giữ ý tứ, - Đây là Biện Hòa đồng luận do gia phụ ta sáng tác, năm đó ta còn nhỏ, không nhớ được rõ ràng như vậy, Sái thị quả là bậc kỳ nhân!
— Không phải Sái thị là kỳ nhân, mà do ngươi không dụng tâm. Văn chương đạo đức của lệnh tôn mà cũng không nhớ, chỉ biết rặt những thứ văn chương phong lưu phóng túng.
Tào Tháo chê cười một câu, lại tiện tay lấy một quyển trục - Đó là Bạch Hổ thông nghĩa do Ban Cố biên soạn, ghi chú kỹ càng chế độ lễ pháp qua các triều đại. Trong đó có một dòng vừa hay viết rằng “Tước có năm bậc, để noi theo ngũ hành vậy”, chạm đúng nỗi lòng của Tào Tháo, ông bất giác nhớ đến sự việc Đổng Chiêu đang làm ở Hứa Đô.
Chủ bạ Dương Tu cũng ôm một đống quyển trục mặt mày hớn hở bước vào. Lưu Trinh chê cười:
— Trong điện đường sắp chứa không đủ nữa rồi, huynh còn mang thêm đến góp vui.
Dương Tu đáp:
— Đây không phải là thư tịch của Sái thị, là thị văn tiêu khiển do Trung lang tướng, Bình nguyên hầu và chư vị công tử sáng tác gần đây, tại hạ đã chọn ra một số bài hay để Thừa tướng thưởng thức.
— Tốt lắm.
Tào Tháo cũng muốn xem xét thi tác của các con, bèn cầm lấy đọc một lượt, nhiều hơn cả là của Tào Phi, Tào Huyền, Tào Bưu, Tào Thực. Quá nửa là những lời mô sơn phạm thủy, ca vũ ẩm yến, còn có một bài phú của Tào Chương, ca ngợi phong thái dũng sĩ, khí khái có thừa nhưng văn thái chưa đủ, đọc lên đã thấy buồn cười. Xem qua xem lại, ông bị thu hút bởi một bài thơ của Tào Phi:
Rèm thưa giăng trước giường,
Che chắn những ánh dương.
Khi xưa cùng xuất giá,
Nay lại về mẹ cha.
Giấu kỹ ở trong rương,
Thời nào mới giở ra.[4]
Đây là một bài khí phụ thi[5] điển hình, Tào Phi hiện đã là người có quan phẩm tước vị, viết những bài về chuyện sướng du yến ẩm còn dễ hiểu, sao lại nhàn hạ đến nỗi viết ra được loại khí phụ thi này? Tào Tháo đang không hiểu, bèn đọc tiếp bài sau, cũng là để tài như vậy nhưng lại do Tào Thực viết:
Ai nói vợ cũ bạc?
Tình càng nặng đằng khác.
Giếng trong không nỡ uống,
Nữa là người từng thương.
Hành trình nào có xa,
Hận nỗi không chung đường.[6]
— Quái lạ! - Tào Tháo quay ra nói với đám Ký thất, - Gần đây các ngươi có tổ chức văn hội gì không? Sao đây toàn viết về khí phụ thi?
Dương Tu cúi đầu không đáp, còn Vương Xán thì cười nói:
— Có một lần nọ, Trung lang tướng, Bình nguyên hầu và cả tại hạ cùng viết về chủ đề đó.
— Vậy bài của ai hay hơn cả?
Lưu Trinh không buồn để ý xem tại sao lại viết thơ như vậy, chỉ muốn biết ai thắng.
Vương Xán vuốt chòm râu nói:
— Chính là tại hạ.
Nói đoạn thủng thẳng đọc lại bài thơ mình sáng tác hôm ấy:
Ôi may mắn chừ không ngờ
Gặp lang quân chừ đại nhân,
Ngày đại thử chừ nắng nực,
Còn được thăm chừ song thân.
Trải thời vận chừ xoay vần,
Lòng son sắt chừ nhật tân.
Thân kính cẩn chừ phụng thờ,
Nâng khăn túi chừ ân cần.
Chàng bất chuyên chừ chung thủy,
Cỏ mơn mởn chừ một thì.
Tâm dao động chừ biến di,
Quên nghĩa cũ chừ hưu thư.
Xe ngựa dừng chừ trước cửa,
Buộc phải đi chừ không nghỉ.
Xách vạt áo chừ cất bước,
Lại ngập ngừng chừ ngôn từ.[7]
— Hay lắm, hay lắm. - Lưu Trinh gật gù tán thưởng.
Dương Tu lại giở giọng châm chọc:
— Vương Trọng Tuyên, huynh làm chức Ký thất xem ra tự tại quá nhỉ? Không cùng các vị công tử đàm văn luận học mà lại ngày ngày ngâm loại thơ ca nhớ nhung vợ con như vậy, phải phạt tội nào đây?
Vương Xán nào dám gánh tội này, không ngớt kêu oan:
— Không dám không dám, viết ba bài thơ này là có nguyên do. Tháng trước Chinh Lỗ Tướng quân Lưu Huân mới bỏ vợ nạp thê...
— Sao kia? - Tào Tháo đột ngột cắt lời, - Lưu Tử Đài bỏ vợ nạp thê?
Tào Tháo biết Vương thị, người vợ kết tóc của Lưu Huân nổi tiếng là một hiền nữ. Năm xưa Lưu Huân nhận chức Thái thú Lư Giang, bị Tôn Sách bất ngờ đánh úp, gia quyến đều rơi vào tay kẻ địch. Vương thị phu nhân thân trong vòng vây vẫn chăm sóc con cháu, sau khi Tôn Sách chết, Tôn Quyền muốn hòa hoãn quan hệ, mới thả bà về Trung Nguyên, phu thê đoàn tụ. Bà ấy và Lưu Huân là cặp phu thê hoạn nạn, từng trải qua vô vàn gian khổ!
Vương Xán cũng cảm thấy mình vừa nhiều lời, đưa mắt liếc nhìn Dương Tu, nhưng đã nói ra đến miệng đành phải khai ra:
— Chinh Lỗ Tướng quân phu nhân Vương thị vốn không có con, phu thê vì thế mà bất hòa, lại đem lòng yêu mến một nữ nhi bên nhà Tư Mã thị, cho nên mới bỏ vợ nạp...
Không đợi hắn nói hết, Tào Tháo đã ném thẳng quyển trúc xuống sàn - Lưu Huân là chỗ giao tình lâu năm với Tào thị, cho dù phạm phải ngàn chuyện bất pháp Tào Tháo cũng có thể nhẫn nhịn đôi phần. Nhưng phàm mọi sự chớ nên động đến tâm tư, đối với Tào Tháo mà nói, bỏ vợ nạp thê vốn là một việc hết sức nhạy cảm, lại cộng thêm lần trước trông thấy Đinh thị vào phủ, mấy ngày nay trong đầu lúc nào cũng nghĩ về người vợ đã bỏ mình đi lẫn đứa con trai đã chết, lòng vừa tiếc vừa hận. Lưu Huân đúng lúc này lại trở mặt vô tình như vậy, nhẫn tâm bỏ ngay người vợ hiền lương của mình, việc này mà bị truyền ra ngoài, há lại không chuốc thêm tai bay vạ gió? Trong thoáng chốc, tất thảy cáo trạng về những việc làm bất pháp của chú cháu Lưu Huân, Lưu Uy đều hiện lên trong đầu Tào Tháo. Ông lặng lẽ trở về soái án cười nhạt:
— Tên Lưu Tử Đài này giỏi thật! Ta còn tưởng hắn là một kẻ có tình có nghĩa, niệm tình chỗ bằng hữu cũ năm xưa, lại xét công trạng trong trận Quan Độ nên mới không nỡ trị tội. Giờ xem ra hắn ta không chỉ tham lam mà còn vô tình, loại người như vậy há có thể trông đợi hắn sẽ trung thành với ta? Đằng nào Dương Bái cũng ngày ngày đến thúc giục ta, chẳng thà gô cổ chú cháu nhà chúng giam cả vào ngục, để hắn biết thế nào là trời cao đất dày!
Chỉ vì mấy bài thơ vặt vãnh ấy mà chú cháu Lưu Huân, Lưu Uy trước nay vốn hoành hành ngang ngược bỗng chốc bị tống giam, tin này truyền đi khắp Nghiệp Thành, bách tính không ai là không hân hoan, vui mừng, những kẻ như Dương Bái, Lưu Từ cũng coi như có đất dụng võ. Nhưng cách mạc phủ không xa, trong phủ Ngũ quan trung lang tướng, Tào Phi đang như ngồi trên đống lửa - Hai năm trước y từng tặng gấm lụa cho quần liêu, tiền bạc chi dùng cũng lấy từ chỗ Lưu Uy, nay chú cháu Lưu gia bị tống giam, lại gặp phải viên khốc lại vạn sự đều muốn truy cứu đến cùng như Dương Bái, ắt sẽ moi ra bằng được món nợ này! Bão tố chưa qua phong ba đã tới, quan hệ phụ tử vừa mới nồng ấm được đôi chút, vết thương vừa chớm lành đã lại toác ra. Tào Phi chẳng còn cách nào khác, vội gọi tâm phúc đến hỏi kế, nào ngờ Ngô Chất, Tư Mã Ý lại đồng thanh tiến cử một người khiến Tào Phi không ngờ tới...
Kỵ đô úy Khổng Quế cười hì hì dắt ngựa bước vào mạc phủ. Dạo gần đây, nhân vật nhỏ bé vốn xuất thân từ nô bộc này ngày càng được Tào Tháo tín cẩn, những việc được giao cho cũng ngày càng nhiều, lớn thì tham dự hội ngộ của quần liêu, bé thì hầu hạ Tào Tháo ăn uống, dùng thuốc, thậm chí còn cùng với các tiểu công tử như Tào Bưu, Tào Lâm đá bóng cho Thừa tướng xem. Hắn thân là Kỵ đô úy, không quản sát binh lính mà lại giống như một vị quản gia ở mạc phủ hơn.
Tào Tháo xưa nay vốn giản dị tiết kiệm, nhưng khi ban thưởng cho Khổng Quế lại không hề tiếc của, vàng Lương Châu, ngọc quý Kinh Châu, gấm lụa Ích Châu, đồ đồng Dự Châu, hải sản Thanh châu, chỉ cần Khổng Quế bắt đúng tâm trạng của Tào Tháo rồi tiến ngôn đúng lúc, trước sau gì những món quý hiếm cũng rơi vào tay hắn. Gần đây trong ngoài Nghiệp Thành đều trừng trị tham quan ô lại, nhưng Khổng Quế dường như chẳng bị gió bão tạt đến, nguyên nhân rất đơn giản, tài sản của hắn tuy nhiều nhưng đều là của công, do Thừa tướng ban tặng cả mà!
Hôm nay Diêm Nhu lại tặng mười con ngựa loại nhất đẳng từ U Châu đến, vừa hay lúc đó Khổng Quế ở cạnh Tào Tháo, mồm miệng dẻo quẹo nịnh nọt vài câu, lại được Tào Tháo tiện tay ban cho một con. Đó hẳn là thiên lý mã trị giá cả trăm lượng vàng, Khổng Quế há lại không mừng ra mặt? Hắn cưỡi con ngựa ấy thong dong đi trên phố lớn Nghiệp Thành, cảm giác sung sướng dâng lên tận họng. Nào ngờ đi qua vài con phố, bỗng trông thấy một vị quan vừa gầy vừa lùn, đầu đội võ biện thân khoác giáp mềm, bên ngoài khoác chiến bào to bản, chặn trước mặt hắn.
Khổng Quế định dắt ngựa vòng tránh, nào ngờ vị quan kia cũng lách sang, nghiêng lưng cười hì hì chặn đường. Khổng Quế đi sang trái, vị quan lại chặn bên trái, Khổng Quế đi sang phải, vị quan lại chặn bên phải, Khổng Quế đành hỏi:
— Vị bằng hữu này, ngài là ai? Cớ sao lại chặn đường bản quan?
Người kia chẳng nói chẳng rằng, đưa tay khoát chiến bào, để lộ đống túi vải ở bên eo, vỗ mạnh hại cái, cười nói:
— Ta là Biệt bộ giả tư mã trung quân Chu Thước, ban nãy vừa đến phủ Ngũ quan trung lang tướng, đại công tử thưởng cho ta hai túi vàng. Hay tin đại nhân là cao thủ đánh bạc, thế nên...
— Đánh bạc? Ha ha!... - Khổng Quế cười lớn, đoạn xắn tay áo nói, - Lục bác, bá tiền, kích nhưỡng, đàn kỳ, ác sóc, xư bồ, đánh bạc kiểu gì tùy ngươi chọn, bản quan sẽ theo đến cùng!
Chu Thước cảm thấy rất tương đầu ý hợp:
— Đại nhân quả phóng khoáng!
— Các hạ khiêm tốn rồi.
Khổng Quế chắp chắp tay.
— Mời.
— Xin ngài dẫn đường.
Khổng Quế hứng chí đi theo hắn, trong dạ vô cùng vui mừng: Đúng là người gặp thời, ngựa thuận đường, tài vận cứ thế ào ào chạy đến. Đánh bạc ăn tiền với người của phủ Tào Phi há có thể thua được? Vị công tử này cũng thật là nhanh trí, tiền thắng do đánh bạc đâu thể coi là hối lộ được.
Tào Phi tự vệ
Cùng với việc chú cháu Lưu Huân bị giáng ngục định tội, ngày càng có nhiều tội hành bị bại lộ, sáp nhập đất đai, không chịu nộp điền tô, hoành hành bất pháp, tự bỏ túi riêng, những kẻ làm quan lúc này ai nấy đều sợ bị xét hỏi, chỉ cần những quan viên thẩm án muốn thì trước sau gì cũng tra ra tội vạ. Huống hồ Dương Bái há phải dạng vừa? Chẳng mấy chốc, việc Tào Phi vay tiền từ Lưu Uy đã bị lôi ra ánh sáng.
Tào Tháo lại gọi Tào Phi vào mạc phủ mắng chửi té tát một trận:
— Hỗn xược! Thân làm công tử lại mò đến nhà tham quan để vay tiền, ngươi đúng là hết thuốc chữa!
Sự biến Hà Gian phản loạn ông vừa mới quên, giờ lại lộ ra việc vay mượn tiền bạc, có khác gì xát muối vào vết thương? Việc này đã qua rất lâu, những tình tiết trong đó cũng rất ít người biết, Tào Phi hỏi han quá trình thẩm tra án của Lưu thị, nghi ngờ việc Dương Tu tặng thơ là có ý trừng trị mình, nhưng không nắm được thóp người ta, đành phải cúi đầu nhận tội.
Tào Tháo cầm lấy một quyển văn thư trên soái án, ném xuống trước mặt con trai mình:
— Ngươi mở mắt ra mà xem, đó là văn thư Lưu Huân xin táo từ Thái thú Hà Đông Đỗ Kỳ, bị ông ta kiên quyết từ chối, người ta hành sự đoan chính, không chịu quỵ lụy. Còn cả Tư Mã Chi, Huyện lệnh Quảng Bình nữa, Lưu Huân nhiều lần gửi thư xin xá miễn cho tử đệ của hắn phạm pháp, ông ta cũng nhất quyết không tha. Những viên đại thần đó đều không khuất phục trước dâm uy, vậy mà con trai của lão phu lại kéo bè kéo lũ với chúng, còn vay mượn tiền của chúng, cái mặt già này của ta còn biết giấu đi đâu!
Tào Phi khấu đầu liên tục, có lẽ y cũng không biết rằng thực ra hôm nay Tào Tháo trút giận liền cơn. Chuyện của chú cháu Lưu Huân chỉ là một; vừa có tin tức truyền đến từ Trường An, Mã Siêu lại một lần nữa khởi binh quấy nhiễu các huyện ở Lũng Tây, ý đồ phục hưng lại thế lực của mình: còn Đổng Chiêu cũng gửi thư từ Hứa Đô về, báo tin Tuân Úc vẫn quyết ý không chịu tuân phục cuộc nghị bàn về chế độ chín châu. Những việc này dồn lại với nhau, đương nhiên khiến cho Tào Tháo nổi cơn đại nộ.
Tào Phi quỳ trên sảnh đường đang không biết làm sao để thoát khỏi kiếp nạn này, bỗng nghe thấy một tràng cười vang lên phía sau:
— Tiểu nhân xin vấn an Thừa tướng.
Khổng Quế đã đến! Tên tiểu tử này gần đây ngày càng đắc sủng, thậm chí không cần bẩm báo mà vẫn ung dung ra vào Thính Chính đường. Theo lý mà nói, Kỵ đô úy không phải duyện thuộc của mạc phủ, nhưng Tào Tháo đã đích thân cho phép, Hứa Chử cũng không tiện can ngăn.
Tào Tháo đang bừng bừng lửa giận, cũng không khoan dung như thường ngày nữa, nói giọng bực bội:
— Ngươi lại đến làm gì thế? Cả ngày đều làm những chuyện vô thưởng vô phạt, lão phu đang dạy dỗ con cái, không đến lượt ngươi đứng xem một bên. Cút!
Những lời này quả không giống với một vị đường đường là Thừa tướng nói với Kỵ đô úy, thái độ của ông với Khổng Quế nếu nói là Thừa tướng đối với thuộc hạ, chẳng thà nói là chúa công đối với nô bộc.
Khổng Quế nhận được lợi lộc từ Tào Phi nên nào chịu đi? Bèn mặt dày sán tới phía trước:
— Thừa tướng xin chớ động nộ, tiểu nhân tới đây là có một món bảo bối xin dâng cho ngài, đảm bảo lão ngài xem xong ắt sẽ vui ngay...
— Thứ gì?
Khổng Quế quỳ sụp xuống đất, đưa hai tay ra từ sau lưng, cung kính dâng lên món đồ kia - Thì ra là một chiếc hộp gỗ vuông thành sắc cạnh, không có nắp cũng chẳng có vật gì bên trong, được chế tác rất thô lậu.
Tào Tháo gằn giọng:
— Chẳng ra thể thống gì, vậy mà cũng gọi là bảo bối?
Khổng Quế cười hì hì đáp:
— Thừa tướng có lẽ không biết đấy thôi, đây là thứ lão ngài dùng mỗi khi bị đau đầu đấy ạ!
Thì ra sau khi Hoa Đà bị giết, không còn ai có thể châm cứu giúp Tào Tháo trị bệnh đau đầu, đã vậy thuốc của Lý Đương Chi lại lâu có hiệu quả. Mỗi lần bệnh tình phát tác khẩn cấp, ông thường phải dùng nước lạnh thấm lên đầu để hoãn giải cơn đau, lâu dần thành quen. Nhưng chậu đồng bị ngâm nước lâu sẽ có mùi hôi, không chỉ khó ngửi mà còn ảnh hưởng tới việc trị liệu, thế nên chuyển sang dùng chậu bạc để thay cho chậu đồng.
Tào Tháo cầm lấy chiếc hộp, quan sát kỹ lưỡng - Gỗ mà làm thành chậu tròn thì chắc không được[8], thế nên chỉ có thể làm một cái hộp, mặc dù chế tác thô lậu nhưng lại rất chắc chắn, vừa sít, có vẻ không thể bị rỉ nước. Tào Tháo lập tức chuyển nộ thành vui:
— Cũng vất vả cho ngươi phải dụng tâm như vậy. - Lúc này ông bỗng như bị ảo giác, thậm chí không rõ người đang quỳ trước mặt là Khổng Quế hay là Quách Gia.
— Thừa tướng quá khen. - Khổng Quế lắc đầu nói, đoạn vờ tỏ vẻ ngạc nhiên khi trông thấy Tào Phi, - Ồ! Thì ra là trung lang tướng, tiểu nhân thất lễ rồi. Thừa tướng có lẽ không biết, tiểu nhân nghĩ ra vật này là nhờ trung lang tướng nhắc nhở.
— Ồ?
Tào Tháo liếc nhìn con trai, bán tín bán nghi. Khổng Quế nói như rót mật vào tai:
— Hôm đó tiểu nhân và công tử hàn huyên với nhau, có nhắc đến chuyện ngài dùng chậu bạc thay chậu đồng. Trung lang tướng cho rằng như vậy không ổn, trong ngoài triều đình này có ai không biết lão ngài tính vốn cần kiệm, trong như nước sáng như gương? Chiến loạn chưa yên không thể vui thói xa xỉ, đức giản dị, tiết kiệm của ngài quả là tấm gương cho kẻ sĩ trong thiên hạ. Mặc dù dùng chậu bạc là có lý do chính đáng, nhưng mấy cân bạc mà lại bày sờ sờ trong quân trướng như vậy, chỉ e văn võ chúng tướng ra vào nhìn thấy sẽ không hay. Người ta thường nói nhìn con là biết tính cha, tiểu nhân thì nghĩ rằng nhìn cha sẽ biết tính con. Nếu không có trung lang tướng nhắc nhở, tiểu nhân há có thể nghĩ ra vật này được?
Tào Phi ngước mắt nhìn tên tiểu nhân này, trong lòng thầm lấy làm kinh ngạc: Ta thân làm con của Thừa tướng, vậy mà mò đoán tâm tư phụ thân còn chẳng bằng hắn. Lợi dụng tính sùng thượng tiết kiệm của phụ thân để dâng tặng vật phẩm, đúng là chỉ có hắn mới nghĩ ra được cách này!
Khổng Quế nói xong câu này cũng không lưu lại lâu, đứng dậy cười nói:
— Tiểu nhân là ngoại thần, không làm phiền phụ tử Thừa tướng hàn huyên tâm sự.
Đoạn quay đầu chuồn thẳng. Tào Tháo cầm trên tay chiếc hộp gỗ, đứng trầm ngâm một lúc lâu, sau đó khẽ thở dài:
— Thôi được rồi, có những việc không phải càng hiểu rõ càng tốt. Chú cháu Lưu Huân bị tống vào ngục, đã tra xét ra rất nhiều chuyện cơ mật không thể nói ra ngoài, khiến cho trên dưới Nghiệp Thành nghị luận xôn xao, lão phu cũng rất khó xử. Dương Bái dùng hình tra tấn, làm chết hơn ba mươi người cả gia nô lẫn môn khách nhà Lưu thị, ta thấy vụ án này không nên tiếp tục nghị thẩm nữa. Ngay ngày mai bãi miễn tất cả quyền bính của Lưu Huân, chỉ cho hắn giữ lại cái chức tướng quân vô thưởng vô phạt, cháu của hắn là Lưu Uy cũng đục nước béo cò, bãi miễn tất cả quan tước bắt đi đày viễn phương, còn ngươi...
Tào Tháo thoáng trầm ngâm:
— Ngươi trở về đóng cửa tự ngẫm xem. Nếu như vẫn ham của như vậy, cảm thấy bổng lộc của chức Ngũ quan trung lang tướng không đủ nhiều, lão phu có thể phong thêm tước hầu cho ngươi, nhưng buộc phải nhượng lại quan vị! Ngươi tự mình cân nhắc đi, mấy hôm nữa ta sẽ gọi đến bàn chuyện...
Sự việc tạm thời được cho qua, nhưng những câu này vẫn khiến cho Tào Phi run rẩy sợ hãi. Trở về phủ của mình, Tào Phi vẫn thấp thỏm không yên. Quân tử dụ vu nghĩa, tiểu nhân dụ vu lợi[9], thế nên phàm những kẻ kết giao vì lợi, đến khi lợi hết là tan đàn xẻ nghé. Khổng Quế ra tay giúp sức đúng vào thời khắc hệ trọng này, nhưng tuyệt đối không phải vì muốn giữ thể diện cho Tào Phi, mà chỉ vì tiền. Hôm nay vì tiền hắn có thể giúp đỡ y, ngày mai vì tiền hắn cũng sẽ quay sang giúp đỡ kẻ khác, điều này khiến Tào Phi không thật yên tâm. Hiện giờ hắn đang đắc sủng, nếu như có thể kéo hắn về phe của y là có thể mưa dầm thấm lâu, thi thoảng trước mặt phụ thân nói lời hay cho y, thay thế cho vị trí của Đậu Phụ. Nghĩ đến đấy, Tào Phi quyết định bỏ ra một khoản vốn để kéo hắn về phe với mình.
Nhưng tiểu nhân đắc chí lại càng to gan lớn mật, chẳng bao lâu sau Chu Thước đã đem tất cả kim ngân tiền bạc mà Tào Phi giao cho hắn “thua trắng” vào tay Khổng Quế, nhưng vị Kỵ đô úy này vẫn chỉ dừng lại ở mức cảm tạ, hoàn toàn không thể khiến hắn xoay chuyển tâm ý. Tào Phi tuy có hai ngàn thạch bổng lộc, nhưng phủ đệ lớn như thế, cần phải tiêu nhiều tiền, bổng lộc nào cho đủ! Thấy ngày càng không thể lấp đầy lòng tham của Khổng Quế, Tào Phi chợt nhớ đến chiếc đai Khuếch Lạc do phụ thân ban tặng.
Sự tình quả thực tình cờ, chiếc đai Khuếch Lạc khảm đầy ngọc quý đó ban đầu do Tào Tháo thưởng cho Khổng Quế, Khổng Quế vì muốn xu nịnh nên tặng lại cho Tào Phi. Khi đó Tào Phi đang dương dương đắc ý nên chẳng coi nó ra gì, lần ngao du Nam Bì nhất thời cao hứng đã tặng lại cho Lưu Trinh. Nay thời vận thay đổi, lại đến lượt Tào Phi phải cần Khổng Quế, y chợt nghĩ đến chiếc đai ngọc đó. Giá trị của nó tạm thời không nói đến, nhưng nếu có thể trả lại cho Khổng Quế, ý nghĩa của nó sẽ vô cùng lớn lao - Phụ thân có thể ban cho ngươi bao nhiêu phú quý, Tào Phi ta cũng có thể cho ngươi! Chắc mẩm làm vậy là có thể rút ngắn được khoảng cách giữa đôi bên.
Tào Phi biết Lưu Trinh là một kẻ phóng khoáng, xưa nay chưa từng tính toán tiền tài, của cải, có lẽ cũng không quá để tâm đến chiếc đai Khuếch Lạc kia, thế nên mới có ý đòi lại tặng phẩm. Nhưng đường đường là công tử Thừa tướng, mệnh quan của triều đình mà lại mở mồm đòi lại đồ, còn mặt mũi nào nữa? Trong đầu y bỗng lóe lên một ý, đã cùng là bằng hữu trong hội văn, vậy thì dùng văn chương để giãi bày vậy. Tào Phi tự tay thảo một bức thư đòi lại đai ngọc từ Lưu Trinh. Vốn tưởng rằng làm như vậy sẽ chắc ăn, nào ngờ hai ngày sau đó, Lưu Trinh vẫn chưa mang trả đai ngọc mà chỉ gửi lại một bức thư.
Trinh từng nghe: Ngọc của Kinh Sơn là bảo vật sáng chói của thiên tử; châu của Tùy hầu có thể chiếu rọi chúng nhân; vàng của phương nam, đội trên đầu mỹ nữ; đuôi của côn điêu làm đồ phục sức cho thị thần. Bốn bảo vật ấy giấu trong núi, chôn trong bùn, nghìn năm sau lấy lên còn đẹp hơn ngày trước, bởi vì lúc đầu chưa từng có được vật quý. Áo bậc tôn giả mặc do kẻ hèn làm ra, ngựa bậc tôn giả cưỡi do kẻ hèn thuần dưỡng. Vì thế cho nên, điện đường khi vừa được xây xong, thợ thuyền mới là những người được đứng trong đó đầu tiên, lương thực vừa rộ mùa chín, nông phu mới là những người đầu tiên được nếm thử. Tiếc rằng chiếc đai lưng này của tại hạ chẳng có điểm gì kỳ diệu, nếu như quả thực quý báu như bốn món bảo vật kia, thì tặng lại ngài cũng được.[10]
Tào Phi đọc xong bức thư cưỡng từ đoạt lý này, vừa tức vừa buồn cười. “Áo bậc tôn giả mặc do kẻ hèn làm ra, ngựa bậc tôn giả cưỡi do kẻ hèn thuần dưỡng.” Lưu Trinh tự xưng thân phận của mình thấp bé, công tử thân phận cao quý, tất cả những món đồ mà kẻ cao quý hưởng dùng đầu tiên đều do những kẻ thân phận thấp kém hưởng dùng trước, đợi đến khi giá trị của nó tăng lên gấp bội mới cống nạp lại cho những bậc cao quý. Xem ra chiếc đai ngọc ấy đã rơi vào tay hắn ta thì đừng có mong trả lại.
Tào Phi cũng không có cách nào bắt ép tên văn nhân giảo hoạt này nữa, đành vừa cầm bức thư vừa cười khổ. Vậy trong phủ chẳng còn tài vật gì đáng giá, biết lấy thứ gì để kết thân với Khổng Quế đây? Đang lúc muộn phiền, ở trong nhà cũng không yên thân, trắc thất của Tào Phi là Nhậm thị dung mạo tú mỹ, tính cách hào phóng, nhưng lại có tiếng là hay ganh ghét, đố kỵ. Chân thị là chính thê, tính tình lại hiền hòa, hai vị phu nhân cùng ở với nhau cũng có thể coi là yên ổn. Nhưng từ khi Quách nữ vương vào phủ, được Tào Phi vô cùng sủng ái, Nhậm thị càng nổi cơn ghen, lại ỷ vào tộc huynh của mình là Nhậm Phúc, tự coi mình thân phận cao hơn người khác một bậc, không ít lần sinh sự cãi vã.
Lúc này ở dưới hậu đường ầm ĩ huyên náo, Nhậm thị vừa quát mắng vừa chạy đến trước mặt Tào Phi:
— Con hồ ly kia không ở trong phủ, không biết lại chạy đi đâu rồi? Vậy mà phu quân cũng không quản, loại đàn bà xuất thân từ thị nữ như ả đúng là tùy tiện vô phép. Cứ dăm bảy bữa lại chạy ra ngoài, còn ra thể thống gì! Không biết lại kéo bè kết đảng với lũ nào rồi!...
— Nàng câm miệng lại!
Tào Phi xưa nay hỉ nộ không tỏ ra sắc mặt, nhưng hôm nay tâm trạng đang buồn bực nên không kìm được.
Nhậm thị xét cho cùng cũng là tộc muội của Nhậm Phúc, là đồng hương thân cận với Tào gia, há có thể chịu được nỗi nhục này? Ban đầu nghe vậy chợt sững người, sau lại ngồi bệt xuống đất ăn vạ ầm ĩ:
— Ông trời ơi, thế này làm sao sống được!... Hu hu hu!...
— Không muốn sống ở đây thì chớ sống nữa! - Tào Phi cũng nổi cơn tam bành, quay ra ngoài cửa thét lớn, - Gọi Nhậm Phúc đến đây, đem mụ đàn bà cả ngày chỉ biết ghen này đi cho ta!
Chân thị nghe thấy liền hớt hải chạy đến khuyên can, nói hết nước hết cái, vừa đỡ vừa nịnh mới dỗ được Nhậm thị về phòng. Tào Phi vẫn tức tối không nguôi:
— Cả ngày ầm ĩ chẳng được yên ổn, xem ra bỏ ả ta sớm ngày nào tốt ngày đấy! Phụ thân còn được bỏ vợ, ta há lại chẳng làm được?
Chân thị xoa bóp vai y khuyên nhủ:
— Phận đàn bà chúng thiếp đều có đôi phần nhỏ nhen như vậy, cũng đều là vì yêu thương chàng thôi, hà tất phải chấp nhặt muội ấy. Muội ấy xét cho cùng cũng là người nhà Nhậm gia, chàng mà bỏ muội ấy thì biết giấu mặt vào đâu? Người đồng hương sẽ nói gì?
Tào Phi thở dài chán nản, lời của thê tử nói rất có lý, hiện giờ mọi việc đã đủ khó khăn rồi, lại còn đắc tội với đồng hương thân tộc nữa, hẳn lão gia sẽ càng không vui. Phu thê hai người cầm tay nhau không biết làm sao, lại nghe thấy tiếng phục sức leng keng - Quách thị đã trở về. Vị phu nhân xuất thân từ thị nữ này hôm nay phục sức hài hòa, trang phục gọn gàng càng làm tôn lên dung nhan diễm lệ. Nàng ta đang ôm một bọc gì đó trong lòng, không nói không rằng đặt trước mặt phu quân; chỉ nghe thấy lẻng kẻng một hồi đủ các loại trang sức, bảo ngọc, trâm vàng đổ tràn cả ra ngoài.
— Những... những thứ này từ đâu ra? - Tào Phi trợn tròn mắt ngạc nhiên.
Quách thị mỉm cười nói:
— Thiếp vừa về mạc phủ, đây là những món trang sức của Vương phu nhân. Thừa tướng ban tặng nhưng chưa từng dùng, chỉ lưu lại để đề phòng khi cần đến. Thiếp ở cùng Vương phu nhân lâu như vậy, phu nhân không có con cái, nhà thân mẫu cũng chẳng còn ai nên coi thiếp như tỉ muội. Chỉ cần thiếp mở miệng là phu nhân chắc chắn sẽ giúp đỡ...
Tào Phi cảm kích vô cùng, ôm lấy bọc đồ không biết nói gì hơn. Quách thị ngồi bên cạnh nói:
— Phu quân yên tâm, Vương phu nhân là người tri thư đạt lý, tính tình cẩn thận, chắc chắn sẽ không kể với ai đâu. Hơn nữa có phu nhân giúp sức ở trong phủ, ắt mọi chuyện sẽ chu toàn hơn đôi chút. Thiếp biết chàng cần dùng tiền, những món đồ này cứ mang đi dùng. Sau này nếu chàng... - Nói đến đây, nàng ta chợt dừng lại, đoạn nói tránh, - Phận nữ nhi chúng thiếp còn phải lo không được hưởng phú quý?
Tào Phi hai mắt rưng rưng nhìn vị phu nhân Quách thị dung mạo kiều diễm của mình, lại quay sang nhìn phu nhân Chân thị tư dung hiền dịu, chậm rãi vòng tay ôm cả hai vào lòng, bỗng thấy trong lòng ấm áp lạ thường.
❀ ❀ ❀
[1] Mệnh quý là phải từ bần hàn mà nên.
[2] Kiến văn thuyền sĩ huynh đệ từ biệt thi, Tào Phi. Bản dịch thơ của dịch giả Thanh An, đăng trên trang thivien. net
[3] Dụng binh không có trận thế bất biến, giống như nước không có hình dạng cố định.
[4] Tào Thực, Tiết du phú. Bản dịch của Thanh An.
[5] Chỉ bốn hung thần thời thượng cổ đại đã bị vua Thuấn Lưu đày. Theo thiên Vũ điển, sách Thượng thu, tứ hung cụ thể là Cung Công, Hoan Đầu, Cồn và Tam Miêu.
[6] Cai quản nước lớn cũng giống như chế biến món ngon.
[7] Ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong.
[8] Thời thế ra sao thì mệnh người cũng vậy.
[9] Vua không giữ bí mật sẽ đánh mất bề tôi, bề tôi không giữ bí mật sẽ mất mạng.
[10] Nếu thêm chữ “hoạt” (sống) vào bên trong chữ “môn” (cửa) sẽ được chữ “khoát” có nghĩa là rộng.