Tào Phi điếu tang

Tào Tháo - Thánh Nhân Đê Tiện

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 433 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi Thứ 150
Sắc Lập Thái Tử, Dựng Uy Quyền Của Tào Phi

❊ ❊ ❊

Tháng Ba năm Kiến An thứ hai mươi hai, Tào Tháo sợ nhiễm bệnh dịch, lệnh cho Phục Ba Tướng quân Hạ Hầu Đôn thống lĩnh hai mươi sáu bộ binh mã ở Cư Sào, còn mình xe nhẹ quân ít trở về Nghiệp Thành trước.

Những gì nhìn thấy trên đường đi mới thật kinh hãi, không một quận huyện nào không xảy ra ôn dịch, tiếng kêu khóc vang vọng khắp nơi, nhiều kẻ cô đơn góa bụa còn chẳng có ai chôn cất. Tào Tháo không chỉ thấy buồn bã mà còn hoảng sợ, lần đầu tiên ông nhận thấy sinh mạng của con người mong manh đến vậy, một trận thiên tai hủy hoại sinh linh tựa như cơn gió mùa thu thoảng qua quét sạch lá rụng. Nghĩ tới tấm thân già nua, bệnh tật của mình, ông càng hốt hoảng, đa nghi, dọc đường không dám ăn uống tùy tiện, phải bắt binh sĩ thử trước rồi mới dùng, đến cả thân binh cũng không được phép lại gần, bọn họ phải dâng những thứ vừa sạch vừa cứng, ông mới nhận. Chặng đường này làm Tào Tháo và Tào Phi đều gầy xọp hẳn đi - Lão ngài gầy vì lo sợ, còn nhi tử gầy vì bị lão ngài hành hạ.

Dù sao cũng là quân Tào “đắc thắng trở về”, chúng thần Nghiệp Thành tất nhiên phải nghênh giá, chỉ thiếu mấy vị đại thần đã không thể đi đón đại vương của mình được nữa. Quan Phụng thường Vương Tu, Đô đốc phủ Thừa tướng Trần Lâm, Quân mưu duyện Từ Cán, Lâm Tri hầu Thứ tử Ứng Sướng, Văn học tòng sự Lưu Trinh… cùng với rất nhiều quan viên nhỏ trong triều và thuộc lại của mạc phủ đều vì nhiễm bệnh dịch mà qua đời. Nhà quan có thầy có thuốc còn như vậy, dân thường thì thế nào? Tào Tháo đã về đến Nghiệp Thành, nhưng tâm trí vẫn để ở mãi những cánh đồng hoang bị khí độc bủa vây, lúc nào cũng hốt hốt hoảng hoảng. Ông chỉ nghe Chung Do và Từ Dịch bẩm báo qua tình hình triều chính, rồi lánh đến Đồng Tước đài, triệu Lý Đương Chi và Khích Kiệm tới điều dưỡng cho mình.

Ngược lại, Tào Phi chưa có lúc nào ngơi nghỉ với một đống việc công lẫn việc tư. Về việc công, phụ thân chưa xử lý xong chính vụ, y buộc phải mó tay vào; còn về việc tư, y phải để ý tới những việc trong phủ đệ và việc tuyển chọn quan lại, xem trong lúc mình không có ở đây, phe Tào Thực có giở trò gì hay không. Kết quả tốt hơn dự liệu, dưới sự kiểm soát của Chung Do và Từ Dịch, bọn Đinh Nghi không làm được gì. Vui hơn là từ ngày y trở về tướng phủ, Trần Quần thường xuyên dẫn nhóm sĩ nhân trẻ tuổi tới bái kiến, danh thiếp mỗi ngày phủ đệ nhận được chất thành ngọn núi nhỏ.

Từ Chung Dục (Chung thị ở Dĩnh Xuyên), nhi tử của Tướng quốc Chung Do; Vương Túc (Vương thị ở Đông Hải), nhi tử của quan Đại lý Vương Lãng; Hoa Biểu (Hoa thị ở Bình Nguyên), nhi tử của quân sư Hoa Hâm; Viên Khản, Viên Kinh (Viên thị ở đất Trần), điệt tử của Lang trung lệnh Viên Hoán đã mất; Lý Chí (Lý thị ở quận Triệu), điệt tử của danh thần thuộc nhóm đảng nhân là Lý Ưng; Hà Tăng (Hà thị ở quận Trần), nhi tử của đông tào duyện Hà Quỳ; Vương Sưởng (Vương thị ở Thái Nguyên), nhi tử của Thái thú Đại Quận Vương Trạch triều trước, cho tới Khổng Tiện, đích tôn đời thứ hai mươi mốt của Khổng Tử và Trịnh Tiểu Đồng, điệt tử của Trịnh Huyền, một bậc Thái sơn Bắc đầu về kinh học đều đến ra mắt. Tào Phi được ưu ái quá đâm ra lo sợ, bởi bọn họ đều là tử đệ danh môn vọng tộc, có những người trong gia tộc mà ngay cả phụ thân cũng không mời được, nay lại rồng rắn kéo tới bái kiến y. Tào Phi cảm động trước công lao của Trần Quần, đem ông ta ra so với Nhan Hồi - môn đệ của Khổng Tử, gặp ai cũng nói: “Ta từ khi có Hồi, các học trò càng gần ta hơn.” Hằng ngày xử lý xong công vụ, Tào Phi oai vệ ngồi ở khách đường đợi Trần Quần tới tiến cử tân khách, chẳng mấy thành quen.

Tử đệ những danh môn vọng tộc ấy xem trọng Tào Phi cũng có lý do. Tào Tháo làm chủ chính sự hơn hai mươi năm, áp chế hào môn, thực thi chế độ đồn điền, chỉ cử người tài, tất nhiên không trái với đạo trời, nhưng cũng quá hà khắc. Danh môn vọng tộc làm quan trong triều, bề ngoài tỏ ra cung thuận nhưng trong lòng lại không phục. Họ nằm trong vùng quản hạt của Tào thị mà không cho họ làm quan thì không được, tuy nhiên trong mắt họ, cách làm của Tào Tháo chẳng khác gì Hán Linh Đế năm xưa mở trường Hồng Đô môn, cất nhắc quan lại theo tả đạo, hạnh tiến tranh lợi với dân. Mặc dù cách tuyển chọn quan lại của nước Ngụy hiện nay có sự thay đổi theo chủ trương của Hà Quỳ, nhưng dưới thời Tào Tháo nhiều hào tộc đã xác định sẵn là không thể trở thành những nhân vật chủ chốt trong triều. Còn Tào Phi thì khác, tuy không thể thay đổi sự thực y cũng là “nòi giống xấu xa của hoạn quan để lại”, nhưng y là một sự khởi đầu mới, nhất là dưới sự dẫn dắt của một người xuất thân từ danh môn thanh cao như Trần Quần, bọn họ tin chắc rằng y sẽ đưa xã tắc trở về “chính đạo” trước triều Hán Linh Đế, cho nên đặt hết hy vọng vào mặt trời mới đang từ từ ló rạng ở đằng đông là Tào Phi.

Tào Tháo há lại không biết những chuyện diễn ra trong phủ Ngũ quan tướng? Nhưng lúc này đang là thời gian quan trọng để củng cố địa vị của Tào Phi, ông không tiện can dự vào. Được vài ngày như vậy, một hôm Tào Phi xử lý tấu sớ xong sớm, ung dung trở về phủ đệ, đợi tân khách tới bái kiến, không ngờ Trần Quần chỉ đến một mình, vẻ mặt buồn rầu. Hỏi ra mới biết Hứa Đô đưa tin, Hổ bôn trung lang tướng, Vạn tuế đình hầu Tuân Uẩn đã qua đời. Trần Quần mất đi một nội đệ tốt, một bằng hữu tốt, đau đớn khôn nguôi, còn tâm trạng của Tào Phi lại rất phức tạp: Tuân Uẩn chết nghĩa là tam đệ mất đi một cánh tay đắc lực, từ nay nhân sĩ Dĩnh Xuyên chỉ còn biết tự trông cậy vào mình, đúng là một việc quá tốt. Có điều, Tuân Uẩn cũng là con rể nhà họ Tào, muội muội cùng cha khác mẹ trở thành quả phụ mà ta lại vui mừng kể cũng hơi bất nhân.

Tào Phi giả bộ đau buồn, rồi cũng thở vắn than dài. Trần Quần nói:

— Trường Thiến thân với Lâm Tri hầu, nhưng không may mất sớm, nhi tử của đệ ấy là Tuân Hàm còn chưa thành niên. Xin tướng quân niệm tình thân mà bỏ qua cho lỗi lầm của đệ ấy, để linh hồn Tuân Lệnh quân và Trường Thiến ở trên trời được an ủi.

— Tất nhiên rồi, ngày mai ta sẽ dâng tấu xin cho điệt nhi được tập tước Vạn tuế đình hầu. Ta sẽ đảm bảo tiền đồ sau này của nó. - Tào Phi rộng lượng.

Trần Quần quệt nước mắt, nói tiếp:

— Một năm qua xảy ra nhiều biến cố, nhiều người thân thiết trước kia mắc bệnh dịch đều đã qua đời. Không kể Trường Thiến, bọn Trần Lâm, Ứng Sướng, Lưu Trinh cũng là bạn văn với tướng quân, tướng quân nên đến viếng họ. - Câu này làm Tào Phi sực tỉnh, từ khi nam chinh trở về ngày nào y cũng mải tiếp đón tân khách mà quên mất những người đã chết, chả trách có kẻ nói y có mới nới cũ, bạc tình bạc nghĩa. Tào Phi lập tức sai Bào Huân, Chu Thước chuẩn bị đồ lễ để mình dẫn duyện thuộc qua các nhà có tang bái tế.

Những ngày qua, Tào Phi ra khỏi phủ là vào cung, rời cung lại về thẳng phủ, cả ngày bận rộn giải quyết chính sự và tiếp đãi tân khách, hơi đâu để ý tới những chuyện bên ngoài. Hôm nay có thời gian đi dạo, y mới biết không một con phố nào ở Nghiệp Thành không có đám tang. Trên đến nhà công khanh, dưới xuống nhà khốc lại, đi dọc một con phố, cứ cách dăm ba hộ lại có nhà treo khăn trắng, qua phủ đệ của các vị quan cao, mới tới đầu phố đã chật kín đường, người ra vào phúng viếng đứng tràn cả ra ngoài.

Người đến phúng viếng Vương Xán là đông nhất, bởi ông ta vừa là sủng thần của Ngụy Vương, vừa là kỳ tài văn học, từ đồng liêu trong chốn quan trường, bạn thơ bạn văn cho đến họ hàng thân thích và những bằng hữu cũ cũng đều kéo tới không ngớt, lư hương Bác Sơn tỏa khói nghi ngút. Hai nhi tử của Vương Xán túc trực bên linh đường sáu ngày liền tiếp đón khách khứa, đã mệt mỏi rũ rượi, không còn nặn được nửa giọt nước mắt, may có tộc thúc Vương Khải đứng ra lo liệu mọi việc trên dưới - Vương Khải là con rể Lưu Biểu, tộc huynh của Vương Xán, sau khi quy thuận Tào thị ông ta cũng được bổ nhiệm làm quan và có danh vọng. Ngoài ra, còn có sự giúp đỡ của các bằng hữu Kinh Châu như phụ tử Tống Trung, Sĩ Tôn Manh, Lưu Vĩ, nên khách khứa đến nhiều nhưng lễ nghĩa vẫn đầy đủ, chu đáo.

Lâm Tri hầu Tào Thực dẫn bọn Tòng sự Trịnh Mậu, Nhậm Hỗ đến viếng, tinh thần mệt mỏi, rệu rã. Lâm Tri hầu gặp phải biến cố, mất đi sự sủng ái của phụ thân, đám bạn văn lại lần lượt qua đời, há lại không buồn? Tân khách trông thấy vương tử đích thân tới bái tế, vội vàng tránh đường, nhường lối cho y bước vào linh đường.

Tào Thực dâng hương, thi lễ vái lạy trước linh đường. Người nhà họ Vương nào dám nhận? Vương Khải vội bước lên đỡ, nhưng y nói:

— Trọng Tuyên lớn hơn ta mười tuổi, lại thân nhau nhờ văn chương, có nhiều chỗ ta được ông ấy chỉ giáo, nên dùng lễ đệ tử. Hôm nay không phân biệt tôn ti, chỉ xét theo tình riêng. - Chúng nhân gật đầu, thầm khen y biết sùng hiền trọng sĩ. Vương Khải liên tục chắp tay, hai nhi tử của Vương Xán quỳ bên linh đường nhận lễ và đáp lại.

Bái xong, Tào Thực rút một tờ giấy ra:

— Ta và Trọng Tuyên viễn chinh Quan Tây, cùng dạo chơi Đồng Tước đài, mỗi lần đều ngâm thơ làm phú lấy văn chương để hiểu nhau, vốn tưởng rằng ông ấy tiền đồ rộng mở, phồn hoa như gấm, có thể làm nên những áng văn phong nhã Lưu danh thiên cổ. Nào ngờ, ngày xuân ngắn ngủi dễ qua, giờ lại thành sinh tử cách biệt… - Thực ra, gần đây Tào Thực mới có những câu cảm thán về thế sự ngang trái, chưa trải qua sóng gió, trắc trở khó có thể hiểu được những ý niệm trong đó, - Cho nên, những ngày này ta không chợp mắt để soạn một bài điếu văn kính viếng, mong linh hồn ông ấy được yên nghỉ. - Nói rồi đứng trước linh đường, cất giọng cảm khái:

Giờ Mậu Thân, ngày hai mươi tư, tháng Giêng, năm Kiến An thứ hai mươi hai, ngài Vương nguyên là Thị trung, Quan nội hầu nước Ngụy qua đời. Than ôi, thương thay! Trời cao soi xét, người minh triết còn phải dựa vào ông ấy, vì sao các vị thần linh lại nỡ cướp mất sĩ nhân hiền đức của bọn ta! Ai bảo không đau buồn, tuổi đời còn trẻ mà đã bước vào cõi âm! Ai bảo không thương xót, sự nghiệp đang thịnh mà đứt đoạn giữa chừng. Sống và chết chia đôi ngả, đoản mệnh hay trường thọ cũng đều có ngày này, “Sáng nghe giảng đạo lý, tối chết cũng được”, ấy là tư ngộ của tiên nhân. Lấy gì để tưởng nhớ đức hạnh của người đã khuất? Viết rõ lên cờ tang. Lấy gì để đưa tiễn người đã khuất? Lấy nỗi buồn tống biệt. Vì vậy, ta soạn một bài điếu văn, rằng:

Tài đức của quan Thị trung tốt đẹp thay, tổ tiên đời trước Lưu truyền tiếng thơm… Ông ấy có phẩm hạnh tốt đẹp, tài năng kỹ nghệ lại lan xa. Tư chất ưu việt, kiến văn uyên bác, biết dùng câu chữ tinh tế làm sáng rõ những chỗ vi ẩn. Văn chương tựa như đóa hoa mùa xuân, tài năng giống như nước suối tuôn ra. Mở miệng ra là ngâm thơ vịnh phú, đặt bút xuống là viết thành bài văn… Linh xa đã được đưa đi, sắp về đến kinh sư nước Ngụy. Bánh xe đứng khựng, bạch mã khóc than. Ông ấy không còn xuất hiện giữa trời đất bao la, mà ẩn giấu bóng ảnh che lấp hình dáng. Ai nói Trọng Tuyên không thể nghe được giọng của ta. Vươn người than thở vì ông ấy, nước mắt quấn quanh vòng cổ. Hỡi ôi, ngài Vương, hãy an nghỉ trong cõi u minh. Ở đời có ai không phải chết? Người thông đạt quên mình vì danh tiết. Sinh thời được người ta tôn kính, chết đi rồi có người thương xót, cũng là vinh hạnh lớn lao. Ô hô, thương thay![1]

Bài văn tế kể lại cuộc đời Vương Xán, vừa ca ngợi tài văn chương cùng với đức hạnh hiền lương của ông ta, vừa tỏ lòng thương tiếc ông ta không may mất sớm. Đoạn đầu Tào Thực còn đọc dõng dạc, càng về sau câu từ bi ai thống thiết, chạm vào tâm sự trong lòng, y không nén được cảm xúc, cổ họng nghẹn lại. Chúng nhân đứng ngoài lắng nghe cũng bất giác sụt sùi, đúng là “vươn người than thở vì ông ấy, nước mắt quấn quanh vòng cổ”.

Vương Khải quệt nước mắt, định tiến lên khuyên nhủ Tào Thực, đúng lúc ấy có người hô lớn: “Ngũ quan tướng đến!” Vương Khải giật mình, bỏ lại Tào Thực để ra ngoài nghênh giá, mọi người cũng lập tức dừng khóc, không ai bảo ai mà cùng ra khỏi linh đường, tới trước cửa lớn. Hai hiếu tử cũng vội lau nước mắt, lặng lẽ bò ra cửa linh đường - Bọn họ đều có những cử chỉ thể hiện sự tôn kính với Tào Thực, nhưng cũng chỉ dừng lại ở nhường đường, còn với Tào Phi lại là nghênh giá, đúng là khác nhau một trời một vực.

Tào Phi đã bái tế được bốn năm nhà, sau cùng mới tới Vương trạch, trên đường đi đến đâu cũng gặp cảnh khóc lóc bi thương, nên trong lòng y cũng xót xa. Quan viên thi lễ vấn an, Tào Phi chỉ phất nhẹ tay áo, dẫn duyện thuộc bước vào trong. Tới trước linh đường, y bắt gặp Tào Thực đang cầm văn tế đứng ở đó, bốn mắt nhìn nhau không nói gì.

Đây là lần đầu tiên hai huynh đệ Tào thị tình cờ gặp nhau kể từ sau lần nam chinh, chuyện người kế vị đã được ngầm định, Tào Phi thực sự không biết nói sao. Tào Thực cũng rất khó xử, thắng làm vua thua làm giặc, màn tranh giành này không phải mong muốn ban đầu của y, nhưng cũng ồn ào tới mức làm mất hòa khí huynh đệ, sau này biết phải đối diện thế nào với vị huynh trưởng có địa vị khác xa mình đây? May mà lúc này đang ở linh đường, hai người đều là khách viếng tang, vẻ mặt buồn bã cùng với những giọt nước mắt lúc này chính là vỏ bọc tốt nhất, họ chỉ gật đầu chào nhau, không nói lời nào. Bọn Bào Huân, Trịnh Mậu chắp tay đáp lễ nhau.

Tào Phi nói vài câu an ủi hiếu tử, dâng hương rồi vén vạt áo vái lạy, Vương Khải tất nhiên phải ngăn lại. Nhưng y nói:

— Ta và Trọng Tuyên là đồng liêu, lại là cố hữu, cùng ở trong vườn văn, đi thì liền xe, ngồi thì liền chỗ, nên dùng lễ này. - Tào Phi hành xử giống hệt Tào Thực, chúng nhân không tiện ngăn cản, nhưng lần này không chỉ có hiếu tử bái lại, mà cả thân hữu tân, khách cũng quỳ xuống dập đầu. Tào Thực cảm thấy lạc lõng, lặng lẽ lui ra ngoài.

Lúc đứng dậy Tào Phi cảm thấy hơi khó chịu, bởi khi nãy bước vào y trông thấy trên tay Tào Thực cầm một bài văn tế, mắt tân khách còn ngấn lệ, trong khi mình chưa làm bài văn nào. Y cũng tự biết lượng sức, với tài hoa của y dù có làm cũng khó mà hơn được đệ đệ, quan hệ của hai huynh đệ với Vương Xán thực sự là kẻ tám lạng, người nửa cân, không phân biệt được ai thân hơn. Nhưng Tào Thực đã dâng một bài văn tế, Tào Phi không có gì để tỏ lòng tôn kính thì chẳng những xấu mặt, mà như thế há chẳng phải tự nhận thua trước mặt mọi người sao?

Đang lúc không biết nên làm thế nào, Tào Phi chợt ngẩng đầu nhìn hai bên bàn thờ treo cờ trắng, bên trên vẽ các vị thần như Thần Đồ, Úc Luật, còn có cả những tiên nhân, ẩn sĩ như Bá Di, Thúc Tề, Dương Giác Ai, Tả Bá Đào, Thương sơn tứ hạo, Dã vương nhị lão, trong đó có một vị cưỡi lừa. Phút chốc, Tào Phi chợt nảy ra một ý hay, y quay người nói với tân khách:

— Xưa nay, đa số nhân tài ẩn dật đều có sở thích kỳ lạ, Trọng Tuyên cũng nằm trong số đó. Nhớ khi còn sống, ông ấy không thích đàn sáo bát âm, nhưng lại thích tiếng lừa. Nay ông ấy cưỡi hạc về trời, mỗi người chúng ta hãy làm một tiếng lừa kêu để tiễn đưa ông ấy.

Chúng nhân trộm nhìn nhau: Đây là ý gì? Đứng trước linh đường trang nghiêm thế này, ai lại đi bắt chước tiếng lừa. Im lặng hồi lâu, Chu Thước bước ra từ giữa đám đông, rướn cổ kêu hai tiếng “í ò… í ò”.

Một khi đã có người hưởng ứng, những người khác cũng họa theo. Thế là đây một tiếng, kia một tiếng, có tiếng cao, có tiếng thấp, có tiếng đục, có tiếng trong, còn có người phát ra hai tiếng phì phì từ mũi, khiến ai cũng buồn cười, nhưng ngại bật thành tiếng. Tào Phi liên tục xua tay:

— Thực bất nhã. Thế này đi, mọi người làm liền ba tiếng để Trọng Tuyên nghe thấy biết được tâm ý của chúng ta. - Nói xong, vị Ngũ quan tướng đường mạo ấy vươn cổ hướng về phía bài vị, bắt chước tiếng lừa kêu. Y làm xong, tất nhiên chúng nhân phải làm theo.

— Í ò… í ò… í ò…

Tiếng đầu tiên vừa cất lên, ai nấy đều thấy buồn cười, nhưng ngay sau đó họ liền nhớ đến dáng vẻ tức cười của Vương Xán lúc còn sống, mỗi khi ông ta pha trò bắt chước tiếng lừa kêu. Ông ta đối đãi ân cần với mọi người, nói năng khôi hài, thân ở địa vị thường bá mà không tỏ ra kiêu ngạo, nhân duyên thực sự rất tốt. Một bằng hữu thú vị như vậy mà không được nhìn thấy nữa, làm sao người ta không thương tiếc? Đến khi tiếng thứ ba cất lên, khóe mắt nhiều người ầng ậng nước. Hết ba tiếng kêu, lại thấy buồn cười, mọi người vừa chấm nước mắt vừa mỉm cười, đau mà không thương, bi mà không lụy, như vậy hóa ra lại tốt hơn.

Tào Phi đỡ hiếu tử dậy:

— Hai hiền điệt mới đến tuổi vũ tượng[2] mà lệnh tôn đã mất rồi, thực đáng thương. Có điều người chết không thể sống lại, đừng quá quyến luyến, nay nước nhà đang cần củng cố trù hoạch, không cần thiết phải chịu tang ba năm để làm tròn tiểu tiết, siêng học lập thân mới là đạo hiếu. Huynh đệ các ngươi từ nay nương tựa vào nhau mà sống, phải biết yêu thương đùm bọc lẫn nhau, ngày sau dù ai phú quý cũng không được quên tình thủ túc sâu đậm. - Mấy câu này tuy là lời y nói với hai hiếu tử, nhưng cũng là nói cho Tào Thực nghe: Chỉ cần từ nay đệ chịu từ bỏ những ý nghĩ không an phận, thì chúng ta vẫn là huynh đệ, cùng chia hưởng phú quý, ta sẽ không làm khó đệ.

Người ngoài không hiểu ẩn ý bên trong, vừa mới theo y bắt chước tiếng lừa, giờ lại thấy y vỗ về hiếu tử như vậy, đều nghĩ rằng: Ngũ quan tướng khoáng đạt mà không mất đi sự gần gũi, thực tế mà không quá phô trương, văn tế của Lâm Tri hầu tuy hay nhưng so với Ngũ quan tướng thì vẫn thua một bậc.

Tào Thực sao lại không biết bài văn điếu tâm huyết của mình bị huynh trưởng dễ dàng đè bẹp, trong lòng cảm thán: Cách hành xử của ta còn lâu mới ứng biến linh hoạt được như huynh trưởng, đạo vi chính cũng khó có thể so sánh với huynh ấy, có kết cục này cũng không quá bất ngờ. Tào Thực từ nhỏ được phụ mẫu chiều chuộng, lớn lên cũng được các huynh nhường nhịn, lại có Dương Tu và Đinh Nghi ngầm giúp đỡ, cho nên thuận buồm xuôi gió, ít gặp biến cố, không giỏi ứng phó với những trắc trở trên đường đời. Từ khi thất bại trong việc mưu tính ngôi thái tử, y bộc lộ phần tính cách văn nhân trong con người mình, cứ tự thương hại bản thân, ngày càng chán nản, suy sụp, không còn tự tin tranh giành nữa.

Hai huynh đệ người trước kẻ sau bước ra khỏi Vương trạch, đợi người cung tiễn tản đi hết, Tào Phi cố ý kéo tay đệ đệ, quan tâm nhắc nhở:

— Đệ của ta hình như gầy đi, bằng hữu qua đời chớ nên quá đau buồn.

Tào Thực lập tức tỏ thái độ:

— Tiểu đệ không dám…

— Chớ nhắc đến chuyện đó. - Tào Phi cắt ngang lời, - Chuyện đã qua không thể xoay chuyển, chuyện sắp tới có thể theo kịp. Chúng ta vẫn là một cặp huynh đệ tốt, được mọi người yêu quý và ngưỡng mộ giống như trước đây!

— Vâng. - Giọng Tào Thực nghẹn ngào.

Tào Phi thấy Tào Thực như vậy, đoán là tiểu đệ thành tâm nhận lỗi, cũng có ba phần xúc động thật lòng, an ủi vài câu rồi mới từ biệt - Giữa họ luôn có tình huynh đệ, huống chi lại cùng một mẹ sinh ra? Năm xưa, Hiếu Văn Đế bức chết Hoài Nam Lệ Vương Lưu Trường, Hiếu Minh Đế bức chết Sở Vương Lưu Anh, không phải đều bị người đời chỉ trích đó sao? Tào Phi và Tào Thực cùng một mẫu thân, càng không thể phạm sai lầm này.

Bình tâm mà xét, lúc này Tào Phi không muốn bức quá đệ đệ, mà chỉ muốn những chuyện trước đây dần dần lắng xuống. Tuy nhiên, y đã đánh giá thấp những ảnh hưởng từ sau chuyện tranh giành ngôi vị, lại càng đánh giá thấp tâm tính già nua của phụ thân ngày càng thất thường…

Quyết định dứt khoát

Tháng Tư năm Kiến An thứ hai mươi hai, Lưu Hiệp thụ ý Tào Tháo, ban chiếu lệnh cho phép ông được sử dụng tinh kỳ của thiên tử, xuất hành có cảnh tất[3]. Tiêu chí này thể hiện quy cách đồ nghi trượng khi Tào Tháo đi tuần đã sánh ngang với thiên tử nhà Hán.

Tháng Năm, Tào Tháo lại cho xây Phán cung ở ngoại thành phía nam Nghiệp Thành. Lễ ký chép rằng “Đại học dựng ở ngoại thành, thiên tử gọi là Tích ung, còn chư hầu gọi là Phán cung”, Phán cung là học phủ của nước chư hầu, nhưng từ nước Lỗ thời Xuân Thu trở đi thì ít có thành tựu. Nay Tào Ngụy dựng Phán cung khác nào dựng nhà Thái học của nước Ngụy, từ khi Đổng Trác đốt thành Lạc Dương, nhà Thái học của nhà Hán chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa, mấy vị nho sư lớn tuổi lĩnh chức Bác sĩ[4] cũng đều qua đời gần hết. Tào Tháo đoạt quyền học thuật của nhà Hán, nhận mệnh một loạt học sư nổi tiếng như Tống Trung, Đổng Ngộ, Trịnh Xưng, Ngỗi Hi, Tô Lâm, Giả Hồng, Tiết Hạ làm nho sư cho phong quốc của mình, học trò do Phán cung dạy ra đương nhiên phải trung thành với Tào Ngụy, chứ không thể nào trung thành với Đại Hán.

Một tháng sau, Tào Tháo bổ nhiệm quân sư Hoa Hâm làm Ngự sử đại phu, gây xôn xao dư luận. Hoa Hâm vốn là Thượng thư lệnh trong triều đình nhà Hán, chuyển làm quân sư thì không nói làm gì, lại còn làm Ngự sử đại phu nước Ngụy, từ khi Ngự sử đại phu của Hán đình là Hy Lự bị bãi chức, vị trí này vẫn để trống. Chả trách Tào Tháo nam chinh lại cho Hoa Hâm làm quân sư, hóa ra sau chuyến tòng quân ấy, thần tử nhà Hán đã trở thành bề tôi nước Ngụy.

Công khanh nước Ngụy người này chết đi thì có người khác kế nhiệm, tới chức Tướng quốc, Ngự sử đại phu cũng có người làm, còn triều đình nhà Hán khuyết người lại không lấp vào được, bởi Tào Tháo đã lần lượt điều những bề tôi nhà Hán như Hình Trinh, Vinh Hợp, Tập Thụ, Tạ Hoán, Vệ Trăn qua Nghiệp Thành. Trước đây Hứa Đô có quan viên, nhưng không có thực quyền, giờ tới cả quan viên cũng chẳng có, đúng là không giữ lại phân nửa thể diện cho thiên tử. Tiếp đến, Tào Tháo ban bố sắc lệnh, nhắc lại chuyện tuyển chọn người tài:

Xưa, Y Chí, Phó Duyệt xuất thân ti tiện, Quản Trọng cũng từng mưu hại Tề Hoàn Công, nhưng họ đều được trọng dụng, mở ra thời đại thịnh trị. Tiêu Hà, Tào Tham vốn chỉ là huyện lại, Hàn Tín, Trần Bình trước đó từng mang tiếng dơ, bị người đời chê cười, nhưng sau cùng họ vẫn có tài phò tá các bậc đế vương hoàn thành đại nghiệp, Lưu danh ngàn năm. Ngô Khởi là tướng tham, giết vợ làm tin, rải của cầu quan, mẹ chết cũng không thèm về. Tuy nhiên, ông ta ở Ngụy, Tần không dám dụng binh với phía đông; ở Sở, Tam Tấn[5] không dám mưu tính phía nam. Nay thiên hạ há lại không có người đại đức sống trong dân gian hay sao? Nếu họ dũng mãnh, thiện chiến hoặc có tài năng vượt trội, tư chất kỳ lạ thì có thể bổ nhiệm làm tướng quân, Thái thú. Dù cho bình thường họ thực sự có tiếng tăm xấu xa, có hành vi đáng cười, hoặc bất nhân bất hiếu, nhưng chỉ cần họ có bản lĩnh trị lý quốc gia, dụng binh như thần, thì đều phải tiến cử với quả nhân, chớ bỏ sót nhân tài.[6]

Đây là lần thứ ba Tào Tháo xuống lệnh cầu hiền, bề ngoài có vẻ như vẫn lặp lại tiêu chí tuyển chọn quan lại “chỉ cử người tài” ở hai lần trước, nhưng đọc kỹ lại cũng có nhiều điều đáng suy ngẫm. Hà Quỳ khi còn nhận chức đông tào duyện từng nói với Tào Tháo, tuyển chọn quan lại nên coi trọng cả “tu đức” và “dựng công”, chủ trương khôi phục việc tuyển cử từ làng xã. Trong sắc lệnh này, Tào Tháo cùng bàn về việc “sao lại không có người đại đức sống trong dân gian” và “bất nhân bất hiếu, nhưng có bản lĩnh trị lý quốc gia và dụng binh như thần”, thực ra không trái với ý của Hà Quỳ. Ngay từ những năm còn trẻ, Tào Tháo đã đề xướng “trị nước thời bình thì coi chuộng người có đức hạnh, còn thời loạn thì khen thưởng người có công lao và tài năng” (Luận lại sĩ hạnh năng lệnh, năm Kiến An thứ tám). Nước Ngụy hiện đã ổn định, quyền lực của nhà Hán gần như mục rỗng, tuy thiên hạ còn chưa thống nhất, nhưng những “chuyện” cần làm cũng đã làm được phân nửa, để bảo vệ lợi ích nên nghĩ đến “trị nước thời bình”. Thú vị hơn, Tào Tháo nói “bất nhân bất hiếu, nhưng có bản lĩnh trị lý quốc gia và dụng binh như thần”, chẳng khác nào chỉ rõ người làm quan đều là bọn bất nhân bất nghĩa, dẫu là quan trên cũng khó tránh khỏi bị người đời chỉ trích sau lưng. Xem ra, chế độ “chỉ cử người tài” không còn giữ vị trí chủ đạo mà giống một trường hợp đặc biệt hơn, nguyên tắc chọn kẻ sĩ của Tào Ngụy vô hình chuyển hướng.

Những chính sự quan trọng từ sau cuộc nam chinh cơ bản đã được giải quyết, tình hình dịch bệnh thuyên giảm, quân đồn trú Cư Sào cũng lục tục rút về, nhưng chậm hơn rất nhiều so với dự kiến, số người chết vì nhiễm bệnh lên đến hơn một vạn, Trung hộ quân Hàn Hạo cũng qua đời dọc đường. Tào Tháo vốn định đợi sau khi chư quân trở về sẽ chuyển sang đánh phía tây, nhưng hiện giờ binh lực chưa phục hồi, sức khỏe của bản thân ông lại càng không khởi sắc, nên đành phải trì hoãn thêm. Tào Tháo quyết định nhân lúc này hoàn thành một việc cuối cùng là sắc lập thái tử. Hàng loạt điều lệnh liên tiếp được ban xuống. Gia thừa của Tào Thực là Hình Ngung được điều làm Thừa tướng Tham quân. Ai cũng biết Hình Ngung là tấm gương đạo đức trong phủ Lâm Tri hầu, ông ta bị điều đi thì tầm ảnh hưởng của Tào Thực coi như giảm mất gần nửa. Tiếp đến, Hàm Đan Thuần, Trịnh Mậu, Nhậm Hỗ cũng lần lượt được thuyên chuyển chức vị, những bộ hạ chủ chốt được dựng nên năm nào bị đánh đổ trong chốc lát. Cùng lúc đó, phủ Ngũ quan tướng lại thêm người, Lưu Thiệu, Nhan Phi nổi tiếng là vị quan tài năng trong đám sĩ nhân tiếp bước đều được điều về dưới trướng Tào Phi. Bất ngờ nhất, Tư Mã Ý bị thất sủng hơn hai năm nay cũng đường hoàng được điều vào phủ Ngũ quan tướng. Tào Tháo vốn ghét chuyện chư hầu kết bè đảng, thế mà ông lại có vẻ ngầm chấp thuận cho Tào Phi củng cố đảng nhân, hẳn ông muốn tuyên bố cục diện Tào Phi là người kế vị đã chắc chắn, không thể suy suyển, chỉ còn thiếu một sắc lệnh chính thức nữa thôi. Chớp mắt đã đến tháng Tám mùa thu, hôm ấy tất cả quan viên quan trọng và lão thần rực rỡ chiến công trong triều cùng với những Hán quan được điều đến Nghiệp Thành đều nhận được chiếu lệnh của Ngụy Vương, mời tới Đồng Tước đài dự tiệc. Trong lòng ai nấy ngầm hiểu thời khắc công bố việc sắc lập thái tử đã đến…

Bữa tiệc lần này dường như là bữa tiệc lớn nhất kể từ khi Tào Ngụy dựng nước, cả ba tòa Đồng Tước đài cùng mở tiệc. Tào Tháo và quần thần thưởng tiệc trên Đồng Tước đài ở chính giữa, Tào Phi đứng đầu các vị vương tử và thuộc quan tụ họp ở Kim Hổ đài phía nam, còn Biện thị đứng đầu các vị phu nhân và công chúa, nàng dâu ngồi ở Băng Tỉnh đài phía bắc, đúng là một yến tiệc long trọng hiếm có. Quan nhã nhạc nổi tiếng là Đỗ Quỳ cầm chuông nhạc đứng dưới đài, chỉ huy nhạc công diễn tấu, làm không khí thêm rộn ràng.

Nhưng, bên Kim Hổ đài cánh nam nhân ngâm thơ làm phú rất phong nhã, bên Băng Tỉnh đài đám nữ quyến chuyện trò líu ríu, ngược lại tiệc lớn mà Ngụy Vương ngồi giữa lại không được sôi nổi như vậy. Chung Do, Hạ Hầu Đôn đứng đầu quần thần đều nghiêm cẩn, chớ nói là uống rượu trò chuyện, tới đôi đũa mọi người cũng không dám động vào. Bởi vì Tào Tháo tỏ vẻ hờ hững, từ lúc nhập tiệc ông cứ ngoảnh mặt nhìn sang Băng Tỉnh đài ở phía bắc. Mãi lúc lâu sau, ông gọi thái giám Nghiêm Tuấn lại gần, hỏi:

— Quả nhân hơi hoa mắt, ngươi nhìn xem nữ nhân mặc váy xếp đỏ thắm bên kia là ai?

Nghiêm Tuấn ghé tai ông, cười nói:

— Đó không phải là con dâu đại vương, phu nhân Thôi thị, thê tử của Lâm Tri hầu sao ạ?

Tào Tháo nhăn mặt: Năm xưa yêu phi của Hiếu Thành Đế là Triệu Phi Yến cũng thích chưng diện kiểu ấy, vừa diễm lệ vừa xa xỉ, không hợp với nếp sống chuộng tiết kiệm hiện nay. Hơn nữa Tào Thực đã thất thế, thúc phụ của Thôi thị là Thôi Diễm cũng bị hoạch tội mà chết, nàng ta không biết dè chừng, còn ăn mặc huênh hoang, tới thê thiếp của Tào Tháo ta cũng chẳng dám phô trương như thế.

Quần thần tất nhiên không biết trong lòng ông đang nghĩ đến chuyện này, Chung Do nâng chén rượu nói:

— Thần xin kính đại vương một chén!

Tào Tháo lấy lại tinh thần, khẽ nhấp một ngụm - Thứ ông uống vẫn là nước chứ không phải rượu. Buông chén rượu xuống, ông thấy Hạ Hầu Đôn cũng đang ngồi ngây ra thất thần, bèn nói:

— Nguyên Nhượng, khanh đang nghĩ gì vậy?

— Bẩm đại vương, không có gì. - Hạ Hầu Đôn mỉm cười, - Đỗ Quỳ tấu nhạc hay quá. - Nửa đời người Hạ Hầu Đôn chinh chiến ngoài sa trường, lại chỉ còn một bên mắt, nhưng là người chuộng phong nhã.

— Ha ha ha!… - Tào Tháo cười lớn, - Khanh thích thì những nhạc công, nhạc khí diễn tấu hôm nay cùng với hai mươi ca nương vũ nữ đều thưởng hết cho khanh.

— Mạt tướng sao dám nhận đồ nhã nhạc?

Nhưng Tào Tháo nói:

— Năm xưa danh thần nước Tấn là Ngụy Giáng có công giảng hòa với người Nhung, còn được ban thưởng vàng bạc châu báu, huống chi là tướng quân? Cứ nhận đi, chớ ngại.

Điều Hạ Hầu Đôn mong muốn nhất không phải là nữ nhi và nhạc khí, mà là một chức quan của nước Ngụy, vì cho đến nay trên danh nghĩa ông ta vẫn là bề tôi nhà Hán. Hạ Hầu Đôn ngồi ở bàn đầu tiên mé tây, sau ông ta là bọn Hình Trinh, Tạ Hoán, Vinh Hợp, Tập Thụ cũng đều là quan trong triều đình nhà Hán, những người này còn nóng lòng muốn được nhập vào nước Ngụy sớm hơn. Hình Trinh không đợi được nữa, đứng lên nói:

— Bỉ chức có một chuyện, xin hỏi ý điện hạ.

— Hình công chớ ngại. - Tào Tháo biết ông ta muốn dốc sức cho mình.

Hình Trinh kính cẩn chắp tay nói:

— Từ khi Đổng Trác làm loạn đến nay, thiên hạ biến động, lê dân bất an, nhà Hán lại thực sự băng hoại, nhờ ơn đức của điện hạ, gắng ngăn con sóng dữ mới không đến mức sụp đổ. Từ cổ chí kim, phù nguy cứu nan không ai bằng điện hạ, điện hạ đã được lòng muôn dân, nếu muốn thiên hạ ổn định lâu dài …

Hình Trinh chưa nói hết câu, Tào Tháo đã đoán ra ý ông ta muốn khuyên mình lên ngôi cửu ngũ, liền xua tay bảo:

— Hình công nói đi đâu vậy? Quả nhân làm chủ bang quốc, nhưng suy cho cùng vẫn là bề tôi nhà Hán, không thể làm chuyện vượt ngoài khuôn phép. - Tào Tháo đã nói những câu như thế này vô số lần, tới cả bản thân ông cũng phát chán. Kỳ thực, không phải ông chưa nghĩ đến chuyện xưng đế, chẳng qua là chưa có thời cơ thích hợp.

Thị trung Tập Thụ tiếp lời:

— Từ xưa đến nay, các bậc đế vương đều được nhân tâm hướng về. Xưa, vua Nghiêu truyền ngôi cho vua Thuấn, vua Thuấn truyền ngôi cho vua Vũ, nối tiếp đức hạnh sao lại nói là vượt ngoài khuôn phép?

— Không sai. - Hình Trinh liên tục gật đầu, - Điện hạ lên ngôi tôn là do thiên mệnh hướng về.

Tào Tháo lắc đấu quầy quậy:

— Thiên mệnh hướng về? Hoàng Đế nhận mệnh trời, Phong Hậu tặng bức đồ; vua Thuấn có được thiên hạ, sông Lạc hiện trang thư; Thương Thang trị nước, chim dâng phù tiết; Vũ Vương phạt Trụ, cá trắng vào thuyền. Cao Tổ có thuyết chém rắn trắng, Thế Tổ có sấm xích phục phù. Nay sông Hoàng Hà không hiện bức đồ, sông Lạc không hiện trang thư, sao nói là thiên mệnh được? - Ông không tin những điều này, chỉ cố ý vin vào để gạt bỏ ý kiến của Hình Trinh, chứ nếu thực sự muốn đợi có điềm lành như trên sông Hoàng Hà, sông Lạc, e là một vạn năm sau cũng chưa xuất hiện.

Hình Trinh lại nghĩ khác, nay nước Ngụy có Phán cung, cứ mở sấm vĩ, điển tịch ra rồi gán vào thì có gì khó? Lời tiên đoán “Đại Hán giả, đương đồ cao[7]” không phải cũng bày ra rồi đó ư? Ông đảo mắt nói:

— Thần xin bạo gan dám nói, năm xưa điện hạ có một trưởng tử, tự Tử Tu, tận trung tận hiếu mà chết; sau Ngũ quan tướng, Yên Lăng hầu làm trưởng. Ngũ quan tướng tự Tử Hoàn, Yên Lăng hầu tự Tử Văn, khi xưa Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công đều là những vị vua kiệt xuất ở đời. Năm đó, khi điện hạ đặt tên cho hai vị vương tử vẫn chưa phong công dựng quốc, cũng chưa có uy thế như ngày nay, thế mà càn khôn đã ngầm tác hợp, nếu nói không phải là thiên mệnh thì giải thích thế nào? - Thật khó cho Hình đại nhân phải vắt óc suy nghĩ mới tìm ra được một lý do khiên cưỡng để áp vào.

Không ngờ Tào Tháo ngửa mặt cười ha hả, suýt nữa va đổ chén rượu:

— Ông nói hai chữ “Hoàn”, “Văn” chính là thiên mệnh, đúng là nực cười! Dẫu vậy thì Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công cũng là chư hầu nhà Chu, há hợp với thân phận của quả nhân, sao lại là điềm làm hoàng đế được? Quả nhân nghe nói Lưu Bị nhận một nghĩa tử tên Lưu Phong, về sau lại sinh được một người con tên Lưu Thiện, ghép lại là phong thiện[8]. Theo như ông nói, há chẳng phải giặc tai to cũng có được thiên mệnh?

— Ha ha!… - Tất cả quần thần đều cười phá lên, Hình Trinh ngượng chín mặt, chỉ biết cười lấp liếm.

Tập Thụ lại thích xoáy vào ngõ cụt, nhất định phải phân biệt rõ rành:

— Điện hạ nói có lý, nhưng thiên mệnh cũng có thật, giả. Năm xưa, Sở, Hán cùng dựng nước, Cao Tổ lên ngồi tôn; Công Tôn Thuật với Thế Tổ mỗi người xưng đế một phương, tranh giành thiên hạ. Cao Tổ, Thế Tổ là chân mệnh thiên tử, còn Hạng Tịch, Công Tôn Thuật…

Ông ta chưa nói hết, Tào Tháo mặt đã biến sắc - Sở dĩ Tào Tháo chưa xưng đế phần lớn là vì không muốn bị vơ đũa cả nắm với Tôn Quyền và Lưu Bị, dù cho sau này bình được Ngô diệt được Thục, độc tôn ngôi vị hoàng đế thì cũng từng là ba nửa thiên hạ, bị nói ra nói vào. Chỉ cần ông giữ chặt thiên tử bù nhìn là Lưu Hiệp thì vẫn luôn cao hơn Tôn, Lưu một bậc. Còn nếu bọn họ xưng đế trước thì chính là nghịch tặc, ông có thể hiệu lệnh thiên tử mà thảo phạt, còn phân biệt thiên mệnh thật với thiên mệnh giả làm gì?

Tập Thụ trông sắc mặt ông khác lạ, không dám nói tiếp suy nghĩ của mình, chuyển sang nói:

— Tựu chung lại, đời nay chỉ mình điện hạ tuân theo chính đạo, tất có thể ứng với mệnh trời, thuận theo lòng người mà kế thừa đại thống.

— Hừ! - Tào Tháo bất thần giận dữ, - Năm xưa Đổng Trác cũng từng phò trợ thiên tử, giờ đang ở đâu?

Tập Thụ túa mồ hôi lạnh, phải suy nghĩ một lúc mới nói:

— Đổng Trác là nghịch tặc của xã tắc, thất đức bại lễ. Điện hạ không thiếu đức hạnh, sao có thể gặp loạn được? - Ông ta thực sự bí lời, đành cố biện giải.

Tào Tháo cười nhạt:

— Đức hạnh không thiếu, nhưng biến cố vô thường. Trịnh Khang Thành chuốc rượu người ta, gục xuống mà đứt hơi, Quách Cảnh Đồ tắt mệnh trong vườn dâu. Khổng Khâu không làm vua, Nhan Hồi chết sớm, Tử Hạ mù mắt, Bá Ngưu mắc bệnh khó chữa, những chuyện đó giải thích thế nào đây? Nếu lương tâm tốt đẹp ắt được chết yên lành, thói đời đã chẳng loạn!

Tập Thụ á khẩu không nói được gì. Tuy màn biện luận kết thúc trong sự không vui, nhưng Tào Tháo cũng hài lòng với mấy thần tử nhà Hán, bởi họ cúi đầu cụp đuôi, thể hiện lòng trung, ông còn gì không yên tâm? Vệ Trăn là nhi tử của Vệ Tư được chuyển làm hộ tào duyện, nghĩ tới chuyện phụ thân ông ta năm xưa cùng cử binh với mình, Tào Tháo ban tước Quan nội hầu; Vinh Hợp là lão thần uy vọng, tiếc là đã ngoài bảy mươi tuổi, râu bạc già yếu, gia chức Thị trung, thực ra là cho ông ta dưỡng lão; Tạ Hoán, Hình Trinh đều là công khanh ở Hứa Đô, được bổ sung vào những chức vị còn trống là Thiếu phủ, Phụng thường, công khanh nhà Hán trở thành công khanh nước Ngụy; Tập Thụ vẫn nhận chức Thị trung ở nước Ngụy. Những Hán thần đó lắc mình một cái đều biến thành Ngụy thần. Tiếp đến, Tào Tháo lại thăng Viên Bá làm quan Đại tư nông, Hòa Hiệp làm Lang trung lệnh, bổ khuyết hàng công khanh. Viên Bá là đệ đệ của Viên Hoán, vốn đủ tài cán, lại dựa vào đức hạnh của huynh trưởng mà thăng tiến; còn Hòa Hiệp là người được Tào Tháo sủng tín, đã có mấy lần nói gì Tào Tháo nghe nấy, nay Vương Xán mắc bệnh mà chết, Đỗ Tập lại trấn giữ Trường An, tự nhiên Tào Tháo coi trọng Hòa Hiệp hơn.

Quần thần thi lễ tạ ơn, bấy giờ mới hưởng tận niềm vui. Tào Phi dẫn đầu các vị vương tử đi qua cầu trong những tiếng ca tụng công đức, để kính rượu Tào Tháo và các vị đại thần. Tào Tháo chỉ tay gọi Tào Phi tới bên cạnh, rồi nói với quần thần:

— Nhân dịp tốt như hôm nay, quả nhân có chuyện muốn tuyên bố với mọi người…

Chúng nhân đều dỏng tai lên, dường như chỉ đợi khoảnh khắc này.

— Quả nhân quyết định lập Ngũ quan tướng làm thái tử.

— Cung chúc đại vương! Cung chúc thái tử! - Quần thần lũ lượt cúi xuống bái lạy.

Tào Phi đã không còn hồi hộp từ lâu, nhưng nay chính tai nghe tiếng chúc mừng của quần thần, y vẫn không nén được sự vui sướng - Y mưu tính ngôi thái tử gần chục năm trời, ngần ấy thời gian chịu bao khổ sở, tốn bao tâm sức chỉ để có được quyết định rõ ràng nhất cho mình, ngôi vị này thực không dễ có được.

— Con đi đi! - Tào Tháo khẽ đẩy y, - Đi kính rượu các vị đại thần.

Một khi thân phận thái tử được xác định, địa vị của Tào Phi không còn giống với chúng thần nữa, thấy y bước lại kính rượu, quần thần lũ lượt đứng dậy thi lễ. Tào Phi nhìn các vị công khanh, trọng thần quay sang thi lễ với mình, trong lòng càng vui, gặp ai cũng nói:

— Mong đại nhân vun vén… Mong đại nhân vun vén… - Kính rượu hết bàn này đến bàn khác, không lâu sau đã tới trước mặt Thái trung đại phu Giả Hủ.

Tào Phi biết Giả Hủ góp sức cho mình, trong lòng vô cùng cảm kích, nhưng không dám thể hiện trước mặt phụ thân, chỉ nói:

— Mong đại nhân vun vén. - Giọng hơi run run - Y nói câu này cả nửa buổi, có lẽ chỉ lúc nói với Giả Hủ mới là thật lòng.

Giả Hủ vẫn tỏ vẻ ngây ngô, rời chỗ đáp lễ:

— Không dám, không dám. - Người ngồi cạnh ông ta là Lâu Khuê, chẳng có một lính một tốt nào nhưng vẫn ở ngôi tướng quân, Tào Phi cũng thi lễ với Lâu Khuê như trước, nào ngờ ông ta chẳng rời chỗ, chỉ chắp tay nói:

— Thái tử phải cố gắng nhiều rồi. - Rõ là giọng giáo huấn. Tào Phi đang phấn khởi, không bận tâm, trong khi đó Tào Tháo mắt nhìn càu cạu, nhưng cũng không nói gì.

Tào Tháo lại lệnh cho Tào Phi thi lễ với các vị phu nhân và huynh đệ để tỏ ý khiêm nhường, Tào Phi hào hứng kính rượu hai vòng, thấy ai cũng cung thuận, tán tụng, đon đả với mình, trong lòng sảng khoái. Kính rượu hết lượt, bữa tiệc cũng tàn, nhưng Tào Phi vẫn xúc động không nói lên lời. Y đưa mắt ngắm quanh vườn ngự uyển xinh xắn, Nghiệp Thành phồn hoa, cùng với sông núi gấm vóc nhìn ngút tầm mắt đều được định sẵn sẽ thuộc về y. Hơn mười năm trời nỗ lực, cuối cùng đã được như ý… Y rảo bước đi xuống Kim Hổ đài, định báo tin này với bọn Tư Mã Ý, Chu Thước, Hạ Hầu Thượng và tất cả những người đã từng bày mưu tính kế cho y. Đúng lúc ấy, ở dưới đài có hai người bước lại, là Trưởng sử Tân Tỵ và Nghiệp Thành lệnh Dương Bái, họ trông thấy có người băng qua vườn ngự uyển thì đều giật mình, đến gần mới nhận ra là Tào Phi, vội dừng lại đợi.

— Thì ra là Ngũ quan tướng. - Tân Tỵ vội thi lễ, không biết y đã được phong làm thái tử, - Đại vương muốn triệu kiến Dương Huyện lệnh, bỉ chức… - Tân Tỵ chưa nói hết câu, Tào Phi đã hắng giọng cười lớn, nhảy qua mấy bậc thềm, bá cổ ông ta:

— Tân công, ngài có biết hôm nay ta rất vui không? Ha ha ha!… - Vừa cười vừa vỗ vỗ vai ông ta.

Tướng quân vừa trêu đùa với các vị đại thần vườn ngự uyển chăng? Tân Tỵ không hiểu nguyên do, bị Tào Phi vỗ vào vai đau điếng:

— Tướng quân vui là tốt… Vui là tốt… - Muốn hỏi là chuyện gì, nhưng Tào Phi lại vụt đi rồi. Tân Tỵ lúng túng, ngoái đầu lại nhìn Dương Bái. Vị huyện lệnh mặt sắt này dường như không bị kinh động bởi chuyện vừa nãy, vẫn nhăn mày cúi đầu, mặt đầy tâm sự.

Dương Bái chỉ làm chức Huyện lệnh, nhưng là cây đại trượng giúp Tào Tháo trừng trị cường hào, chấn chỉnh quan lại. Ông ta đi trên đường lớn ở Nghiệp Thành, đến công khanh cũng phải tránh đường. Nhưng hiện giờ đạo dùng người của Tào Ngụy đã có thay đổi, phủ đệ của Tào Phi ngày nào cũng có tử đệ thế gia đứng chật cửa, liệu cây đại trượng là Dương Bái còn có đất dụng võ không?

Tân khách ở trên đài Đồng Tước sớm đã tan hết, Tào Tháo căn dặn Tân Tỵ vài câu rồi cho lui xuống, chỉ giữ lại một mình Dương Bái. Ông vốn định dẫn ông ta đi dạo Tây uyển thưởng cảnh, hỏi thăm chuyện nhà, sau đó mới nói vào việc chính. Nhưng Dương Bái quá đỗi thông minh, thi lễ xong nói thẳng:

— Thần bạo gan dám hỏi, đại vương muốn giáng quan của bỉ chức chăng?

Tào Tháo thoáng ngây ra, rồi lại mỉm cười:

— Quả nhân muốn thăng quan cho khanh.

— Thăng làm Thái thú Ngụy Quận?

Nụ cười trên mặt Tào Tháo trở nên nhăn nhó:

— Thăng làm Kinh Triệu doãn.

— Ra là vậy… - Khuôn mặt luôn lạnh lùng, nghiêm khắc của Dương Bái lộ vẻ ai oán - Từ Huyện lệnh chuyển lên làm quận thú đương nhiên là thăng quan, nhưng lại bị điều đi xa Nghiệp Thành, xa quốc đô mà hào môn mọc lên như nấm, để đến đất Quan Trung loạn lạc đã lâu, dân chúng nghèo đói thì còn nói gì tới trừng trị cường hào nữa? Thăng quan như thế khác nào giáng chức, chẳng qua là giữ lại chút thể diện cho ông ta mà thôi.

Tào Tháo chăm chú nhìn viên khốc lại này, trong lòng có chút thương xót. Hồi Dương Bái mới đến Nghiệp Thành cũng đã rất gầy, giờ gần như chỉ còn da bọc xương, mái tóc đen nhánh cũng đã bạc hết rồi. Xem ra những năm qua ông ta đã dồn hết sức lực vào việc trừng trị bọn cường hào, thế mà sau cùng lại nhận kết cục bị hắt hủi thế này. Tào Tháo muốn an ủi ông ta đôi câu, nhưng không biết mở lời thế nào.

Tuy nhiên, Dương Bái chỉ thoáng buồn chốc lát, rồi lại trở về vẻ kiên định vốn có:

— Pháp lệnh được sinh ra vì nhà vua, một khi lễ pháp của nhà vua thay đổi thì người bất tài nên từ chức, trở lại vị trí đáng lẽ thuộc về mình. Nhưng thần có câu này muốn nói, Thương quân thư chép rằng: “Hình sinh lực, lực sinh cường, cường sinh uy, uy sinh đức, cố đức sinh vu hình đạt.”[9] Đại vương muốn dân chúng yên ổn, bề tôi phục tùng, không gì bằng coi trọng pháp lệnh.

Tào Tháo khẽ lắc đầu - Mới đây thôi ông cũng tin vào luận điệu này, nhưng giờ thì không, thiên hạ rộng lớn há có thể dùng một cái thước để đo? Nếu nói về pháp lệnh, đầu tiên tiếm quyền là không theo phép tắc, vậy nước Ngụy có hợp pháp không? Ông ta nghĩ rằng chỉ cần dùng những hình phạt hà khắc là có thể ổn định được thiên hạ, thực quá ngây thơ! Huống hồ pháp lệnh vì đâu mà có? Chẳng lẽ chỉ để duy trì và bảo vệ quyền lực? Một khi pháp lệnh không thuận theo nhân tâm, thì nhân tâm cũng không thuận theo pháp lệnh!

Tào Tháo muốn nói điều tâm đắc đó cho Dương Bái nghe, nhưng nhìn vẻ mặt cương nghị không suy suyển của ông ta, ông liền thay đổi ý định: Ông ta đã tin như vậy cả đời rồi, hà tất phải biện biệt rõ rành? Ta không nằm mơ như thế nữa, sao phải phá tan giấc mơ của người ta? Hoặc giả người làm bề tôi có niềm tin kiên định nhưng quân vương lại khác. Năm xưa, khi ta còn là Huyện lệnh chẳng phải cũng trừng trị hết lượt cường hào bằng cây côn ngũ sắc hay sao? Tào Tháo chỉ nói:

— Quả nhân hiểu ý khanh, nhưng trị một nước lớn giống như nấu một món ăn, khó lắm… - Ông không muốn xoáy thêm vào vấn đề này, quay sang nói, - Khanh có mong muốn gì cứ nói ra. Nghe nói nhà khanh rất khó khăn, vợ con vẫn ở chốn xoàng xĩnh. Quả nhân ban cho khanh tiền bạc để dựng căn nhà mới, khanh thấy thế nào?

— Bẩm, thần không cần. - Dương Bái trả lời dứt khoát, - Coi trọng pháp lệnh, trước hết là ở thưởng phạt nghiêm minh. Nếu đại vương có thể lấy phép của thần để cai trị thiên hạ, công lao của thần lớn lao vô cùng, chớ nói là một căn nhà, chứ đến mười căn nhà thần cũng đáng nhận. Nhưng nay thần đã làm hỏng việc, sao lại được thưởng? Xưa, Thương Ưởng chịu hình phạt xé xác, Trương Thang chôn thân dưới xe bò, còn Dương Cầu, Vương Cát cũng phải bỏ mạng trong ngục, đại vương thay đàn đổi dây mà không truy cứu tội của thần đã là may lắm rồi. - Nói xong, ông ta chậm rãi dập đầu, - Nếu đại vương thực sự muốn ban ơn, thì trong đám thuộc hạ của thần có mấy người tâm phúc như Lưu Từ, xin đại vương nghĩ cho tiền đồ của họ. - Mấy kẻ đó đều là những nhân vật thấp bé bậc nhất trong đám huyện lại công tào, theo Dương Bái thực thi pháp lệnh khắp nơi, cũng kết không ít thù oán, nay Dương Bái đi rồi, liệu bọn họ có được ăn quả ngọt không?

— Dương Khổng Cừ, quả nhân biết khanh hơn hai mươi năm, hôm nay mới nghe được một câu hợp tình hợp lý của khanh.

Dương Bái lại nói:

— Không phải thần muốn mua ân tình, thực ra bọn họ nghe lệnh của thần, kết thù kết oán với người trên kẻ dưới cũng không phải chủ tâm của mình. Nay thần sắp đi rồi, cũng muốn bảo vệ để họ không phải lo lắng điều gì. Ngày sau nếu họ làm bậy mà rơi vào tay thần, thần cũng sẽ chiếu theo pháp lệnh phán họ tội chết!

— Được! Quả nhân nhận lời với khanh, cất nhắc cho tiền đồ của chúng.

— Tạ ơn đại vương. - Dương Bái đứng dậy, - Vậy thì ngày mai thần sẽ lập tức rời kinh.

Nhìn Dương Bái lui dần từng bước, trong lòng Tào Tháo dâng lên trăm mối cảm xúc lẫn lộn, dường như thứ bỏ đi không chỉ là một tên khốc lại, mà còn là niềm tin vi chính của ông trước đây, ông đang ngày càng rời xa con người thật. Bỗng nhiên, Dương Bái dừng lại, tiến lên nói:

— Đại vương, thần còn một việc xin bạo gan bẩm báo.

— Nói đi.

— Đại vương đã quyết định lập Ngũ quan tướng làm thái tử, nhưng trong chuyện các vị vương tử ngấm ngầm tranh giành ngôi vị lúc trước có sự tham gia của bọn Hiệu sự Triệu Đạt và Lư Hồng, biết rõ ẩn tình bên trong. Có kẻ cản trở thái tử, nên sớm trừ bỏ, tránh để lại hậu họa. Dù cho bọn họ không có gì đáng lo, nhưng nếu chuyện này truyền ra ngoài thì cũng hại đến thể diện của nhà vua. - E là chỉ có người như Dương Bái mới dám nói toạc ra lời này.

— Nói được lắm. - Tào Tháo gật đầu, - Đúng là cần phải thu dọn cục diện, giờ ngươi gọi Lưu Từ đến đây cho quả nhân… - Đôi mắt già nua của ông chợt ánh lên một luồng sát khí.

❀ ❀ ❀

[1] Điếu Vương Trọng Tuyên luy, Tào Thực.

[2] Chỉ từ mười lăm đến hai mươi tuổi. Theo thiên Nội tắc sách Lễ ký, con trai ngoài mười lăm tuổi bắt đầu được dạy múa tượng, rồi học cưỡi ngựa, bắn cung.

[3] Chỉ khi đế vương xuất hành có thị vệ canh gác dẹp đường.

[4] Tên quan, chỉ những người chuyên chú vào một chức nghiệp, kỹ nghệ nào đó, thường là kinh sách. Thời Hán Vũ Đế có đặt ra chức Bác sĩ ngũ kinh, chuyên khảo cứu, truyền dạy năm kinh (Kinh dịch, Thượng thư, Kinh thi, Kinh lễ, Kinh Xuân Thu), đôi khi còn phụng mệnh đi sứ, hoặc tham gia nghị bàn chính sự.

[5] Chỉ tên gọi chung của ba nước Triệu, Ngụy, Hàn thời Chiến quốc.

[6] Cứ hiền vật câu phẩm hạnh lệnh, Tào Tháo.

[7] “Đại Hán giả, đương đồ cao” (Kẻ thay thế nhà Hán là “Đương đồ cao”), là một câu sấm ngữ có thời gian Lưu truyền dài nhất, ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử Trung Quốc. Nó cũng được chép trong Hán Vũ cố sự, đồng thời trong Hậu Hán thư, Tam quốc chí, Tấn thư cũng đều nhiều lần nhắc đến, với cách giải thích khác nhau.

[8] Phong thiện là một nghi thức tế tự của hoàng đế thời xưa. Tế trời gọi là phong, tế đất gọi là thiện.

[9] Hình phạt sinh ra lực lượng, lực lượng sinh ra lớn mạnh, lớn mạnh sinh ra uy thế, uy thế sinh ra ân đức, vậy cho nên ân đức lại sinh ra hình phạt.

g Hộc, đều là những nét bút mà những kẻ đọc sách tranh nhau sưu tầm, học theo, những người bình thường tốn công nhọc kế cũng không xin được, hôm nay Chung Do lại chủ động đề tặng. Nhưng Đinh Nghi không những không vui, trái lại mặt mày thất
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Vương Hiểu Lỗi

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.