Giữa màn trời tối đen như mực, quân Tào co cụm lại một chỗ, không chỉ để chống lại cái rét đến từ cơn mưa lớn, mà nhiều hơn là xua tan nỗi sợ hãi.
Không biết lúc này đã là canh mấy, cũng không biết đến khi nào trời mới sáng, tất cả tướng sĩ đều ướt sũng, họ không có lán trại che mưa chắn gió, cũng không có củi dầu châm đèn đốt đuốc, chìa bàn tay ra không nhìn thấy năm ngón, cả trời đất chìm trong bóng tối mênh mông, chỉ có những giọt mưa rơi tầm tã, gió thổi rít gào cùng với tiếng sấm ầm ầm khiến cõi lòng ai nấy đều run rẩy. Thi thoảng lại có tia chớp lóe sáng xé toạc bầu trời, chúng nhân trợn trừng đôi mắt chất chứa vẻ sợ hãi nhìn xung quanh trong thoáng chốc, chỉ thấy cây cối múa lộn điên cuồng cùng nước lũ tung bọt trắng xóa tựa như chiếc vạc đang sôi sùng sục…
Tình trạng này đã kéo dài hai ngày hai đêm, binh sĩ bị cái đói và cái rét hành hạ, nhưng không ai dám ngủ thiếp đi, cũng không ai nói chuyện câu nào, họ vẫn nghĩ những gì mình trải qua trong nửa tháng nay không phải sự thật, mà chỉ giống như một cơn ác mộng chưa dứt.
Bảy bộ binh mã tinh nhuệ của quân Tào với hơn ba vạn người hành quân về Kinh Châu dưới sự thống lĩnh của Tả Tướng quân Vu Cấm, ngày đêm thần tốc đã tới được Yên Thành, hội họp với Thứ sử Kinh Châu Hồ Tu, Lập Nghĩa Tướng quân Bàng Đức, Thái thú Nam Dương Đông Lý Cổn và liên lạc được với Tào Nhân đang trấn giữ Phàn Thành, sau đó đóng quân ở cửa Tăng Khẩu phía bắc Phàn Thành, cho ngựa ăn no, mài sắc binh khí, chuẩn bị giao chiến. Lần này Ngụy Vương không đích thân ra tiền tuyến, nhưng tổng lượng binh mã Tào doanh thuộc các lộ đã lên đến năm vạn, có ưu thế hơn hẳn so với binh lực của Quan Vũ, vả lại mục đích của lần dụng binh này là phòng thủ, chỉ cần ép lui quân địch là coi như thắng. Từ khi Lưu Biểu cai trị Tương Dương phía nam sông Hán Thủy, nơi đây đã nổi tiếng gần xa là một thành trì kiên cố, Tỳ tướng quân Lã Thường hiện đang giữ thành lại là người khá tài trí, dù cho Quan Vũ là danh tướng cũng khó có thể đơn độc tấn công từ mé nam, nếu ông ta bao vây mạn bắc sông Hán Thủy, quân Tào đợi ông ta sang nửa sông rồi đổ ra mà đánh thì đúng là một trận chí mạng. Tào Tháo cũng chuẩn bị di giá tới Lạc Dương trợ uy từ xa, sĩ khí trong quân tăng cao, nhất là Lập Nghĩa Tướng quân Bàng Đức có huynh trưởng là Bàng Nhu làm quan bên Thục quốc, luôn sợ đồng liêu nghi ngờ mình vì chuyện này, nên càng muốn quyết một trận sống mái với Quan Vũ để tỏ lòng trung - Theo lý mà nói, không cần lo Tương, Phàn xảy ra bất trắc, Quan Vũ không đánh được tất phải lặng lẽ lui quân, nếu quân Tào thừa cơ truy kích, nói không chừng còn có thể lấy được thủ cấp của Quan Vũ dâng lên Ngụy Vương như lời Vu Cấm nói.
Mọi việc đã được chuẩn bị đâu đấy, nhưng còn chưa giao chiến, trận mưa lớn đầu tiên vào tháng thứ hai mùa thu đã trút xuống, trời đất tối sầm, sấm chớp dữ dội suốt hai ngày liền. Quân Tào gặp một số phiền phức, nhưng Vu Cấm đang rất phấn chấn, thời tiết lại xấu, Quan Vũ cũng không thể tấn công, mài mòn nhuệ khí quân địch há chẳng phải chuyện tốt? Nào ngờ, quân Tào chưa kịp hong khô quần áo và vật dụng, một ngày sau, trận mưa thứ hai lại trút xuống, mặc dù không lớn như trận trước, nhưng lại rả rích hơn chục ngày. Ban đầu quân Tào còn cười được, dần dần nước tràn vào trong trướng không có chỗ mà đứng, Vu Cấm mới nhận ra tình hình không ổn - Từ sông Hán Thủy đến Tương, Phàn là một dải bằng phẳng, không tiêu được nước, cửa Tăng Khẩu tuy là yếu địa của nhà binh, nhưng địa hình rất trũng, cứ tiếp tục mưa như thế này, bảy bộ binh mã sẽ bị nước lũ bao vây.
Không thể nán lại vùng đất nguy hiểm thêm được nữa, Vu Cấm hạ lệnh lui lại mạn bắc, định rút về Yên Thành rồi tính tiếp, vội tới nỗi không kịp nhổ trại, chỉ mang quân nhu và lương thảo theo. Không ngờ, đại quân chưa đi được một dặm, mưa càng to hơn, nước ngập gần đến đầu gối, hỏi ra mới biết nước sông Dục Thủy và sông Tỵ Thủy gần đó đã tràn hết ra ngoài đê, chảy vào đất Tăng Khẩu, quân Tào giật mình kinh hãi, bỏ quá nửa quân nhu mà chạy. Nhưng ông trời không ủng hộ, đến sẩm tối chợt nghe tiếng nước ào ào như hàng vạn con ngựa lao tới.
Mé vùng thượng du sông Hán Thủy bị vỡ, dòng nước lũ cuồn cuộn cuốn theo nhà cửa và cây cối đổ về phía quân Tào theo hướng tây!
Thiên tai còn vô tình hơn cả quân giặc, sự sống và cái chết đang ở ngay trước mặt, quân lệnh uy nghiêm không còn tác dụng gì nữa, tướng sĩ bỏ chạy tứ tán như những con nhặng mất đầu, ba vạn đại quân phút chốc tan vỡ. Có kẻ vứt khôi giáp trèo lên rặng núi, ngọn đồi bên cạnh; có kẻ tìm thân cây lớn mà trèo lên, người trèo lên theo mỗi lúc một đông, không ít cành cây không chịu được gãy đổ, người bên trên rơi tõm hết xuống nước; có kẻ luống cuống chỉ biết chạy thục mạng về hướng đông, nhưng làm sao thoát được dòng nước lũ, cuối cùng vẫn bị con sóng nhấn chìm; cũng có kẻ biết bơi nhưng không thể hiện được bản lĩnh giữa dòng nước cuồn cuộn, cố lặn ngụp được hai ba cái rồi cũng bị nước cuốn trôi. Những kẻ trèo lên chỗ cao cũng chưa chắc sống sót, bởi những ngọn núi đó hoàn toàn bị cô lập, mưa vẫn không ngừng trút xuống, nước vẫn không ngừng chảy, lúc này bọn họ chưa bị ngập, ai biết được ngày mai thế nào? Quân Tào khốn khổ vật lộn với cơn mưa lớn rét cảm và nỗi sợ hãi vô bờ đã hai ngày nay…
Ban đêm còn đáng sợ hơn ban ngày, vì họ không nhìn thấy gì, mà chỉ nghe tiếng mưa rơi cùng với tiếng sấm sét. Nước vẫn tiếp tục dâng lên theo thời gian, binh sĩ dù mệt mỏi vô cùng cũng không dám chợp mắt, chỉ sợ nước lũ sẽ cướp mất tính mạng của mình trong lúc ngủ.
Mọi người ôm chặt nhau, dìu đỡ nhau, thầm cầu ông trời nguôi giận. Không biết đã mấy canh giờ trôi qua giữa bầu trời đen kịt, tiếng mưa kéo dài suốt hơn mười ngày đã dừng, nhưng không ai vui mừng, bởi ai có thể dám chắc đây không phải chỉ là tạm ngớt mưa trước khi lại trút xuống một trận mưa lớn hơn? Cũng không ai nhúc nhích bởi chỉ sợ trượt chân một cái lại ngã xuống nước.
Trời sáng dần giữa không gian tĩnh mịch, xung quanh là một màu xanh bao la, binh sĩ khẽ thở phào, lau đi những giọt nước đọng trên mí mắt, lờ mờ trông thấy mặt nước bên dưới phẳng lặng, không còn dập dềnh nữa, lúc này bọn họ mới nhỏ giọt nước mắt vui mừng vì thoát được nạn. Khoảng nửa canh giờ sau, góc trời phía đông chuyển sang màu trắng, những đám mây đen tan dần, rồi cầu vồng hiện ra ở chân trời đằng xa, đó là tia nắng lâu lắm mới lại thấy - Báo hiệu kết thúc những ngày mưa dầm trong nửa tháng qua.
Nhưng, quân Tào chưa vui mừng được lâu đã bị cảnh tượng trước mắt làm cho sợ hãi. Không còn màn mưa mờ mịt nên chúng nhân nhìn rõ tất thảy, con đường rộng rãi bằng phẳng giữa ngọn đồi đã biến mất, cánh đồng hứa hẹn được mùa biến mất, thôn trang phía xa xa cũng biến mất, hàng trăm xe quân nhu và lương thảo cũng hoàn toàn biến mất, thay vào đó là một vùng nước mênh mông. Trên mặt nước nổi lềnh bềnh những cành cây, ván gỗ và xác chết đã trương phềnh, được mặt trời nhuộm đỏ như thể hòa với máu.
Những tiếng kêu gào truyền đi rất xa theo mặt nước, tụ lại một chỗ, luẩn quẩn giữa vùng nước mênh mông vô bờ ấy. Mặt trời tỏa ánh nắng chói chang, binh sĩ bị cô lập trên các ngọn núi, ngọn cây bắt đầu gọi nhau, trên một “hòn đảo nhỏ” có mấy binh sĩ rướn cổ gào to:
— Tướng quân đang ở đây!… Tướng quân đang ở đây!…
Chỗ đó vốn là một ngọn núi cao chót vót, nhưng giờ đã trở thành một hòn đảo nhỏ chỉ rộng vài trượng, hơn trăm binh sĩ nằm bên trên bị nước lũ giày vò khốn khổ vô cùng, có người không biết do đổ bệnh hay bị thương mà dựa vào mỏm đá thở thoi thóp. Lá cờ đỏ thắm cắm nghiêng ngả trên núi bị rách quá nửa, chỉ còn sót lại mẫu vải đề mỗi chữ “Vu” bấu vào cán cờ bay phất phơ trong gió. Chủ soái của bảy đạo quân là Vu Cấm mặt mũi tái mét, tóc tai bù xù, bộ khôi giáp mặc trên người vẫn còn mới tinh, lúc này đang ngồi trên một tảng đá lớn màu xanh, mặt không biểu cảm, hai mắt cúi xuống, nhìn chằm chằm vào dòng nước lũ dưới chân mình.
Bề ngoài ông ta tỏ ra bình tĩnh, nhưng trong lòng lại như dầu sôi lửa đốt, việc đến nước này phải làm sao đây? Ông ta đưa mắt nhìn xung quanh, tàn binh nằm rải rác trên các “hòn đảo nhỏ” trong vòng hai ba dặm gần đó, đông thì mấy trăm binh sĩ, còn ít chỉ dăm ba người, không biết có bao nhiêu quân đã bị nước lũ cuốn trôi, giờ chẳng thể nói tới việc cứu viện Tương, Phàn, mà phải nghĩ xem làm thế nào đưa được đám tàn binh này thoát khỏi cảnh nguy hiểm? Trước đó, trong quân đã chuẩn bị sẵn một số thuyền chiến, nhưng nếu không phải bỏ lại Tăng Khẩu thì cũng bị nước lớn đánh dạt đi nơi khác, trước mắt muốn đưa mọi người thoát khỏi chỗ này chỉ có thể đợi nước rút. Nhưng trận lũ này dâng cao mấy trượng, biết đợi đến khi nào nước mới rút hết đây? E là chưa đợi được đến ngày đó, mọi người đã chết đói cả rồi.
Lương thực dồi dào trong quân cũng bị nước lũ hủy trong chốc lát, trên người binh sĩ chỉ còn ít bánh được phát từ trước bị nước mưa ngấm vào làm cho mốc meo hoặc nở to ra, cùng lắm chỉ cầm cự được hai ngày. Mưa lớn đã tạnh, nhưng tướng sĩ vẫn đang vật lộn trên bờ vực sinh tử, có người ở trên núi đói đến ăn cả vỏ cây, lá cây và những hạt gạo vớt được trên mặt nước. Thi thoảng có con ngựa chết trôi qua, binh sĩ cố kéo vào gần, không có đồ nhóm lửa, bọn họ xé thịt sống mà ăn nhồm nhoàm cho no bụng. Ăn xác súc vật ngâm trong nước há không sinh bệnh? Nhưng sống được ngày nào hay ngày ấy, còn hơn bị chết đói!
Điều khiến Vu Cấm lo lắng nhiều hơn là tình hình trận chiến, bảy đạo quân đã bị bao vây trong biển nước, cục thế Tương, Phàn ra sao rồi? Không bị Quan Vũ tấn công chứ? Hiện giờ binh mã phân tán, cũng không biết tướng tá và tham mưu các bộ đang ở hướng nào, bên cạnh ông ta không có lấy một người để bàn bạc. Nguy hiểm nhất, Thứ sử Kinh Châu Hổ Tử và Thái thú Nam Dương Đông Lý Cổn cũng ở trong quân, ngay cả quan địa phương cũng gặp nạn, còn mong gì có người tổ chức hương dân tới cứu.
Ngoài tự cứu lấy mình ra thì không còn cách nào khác, Vu Cấm lấy lại tinh thần, truyền lệnh cho mọi người nhổ cỏ kết dây, đồng thời gom những ván gỗ nổi trên mặt nước, buộc lại thành bè, đó là kế thoát hiểm duy nhất. Nhưng việc truyền lệnh cũng là cả một vấn đề, thân binh gàng cổ hò hét cũng truyền đi được bao xa? Họ đành phải truyền từ “hòn đảo” này sang “hòn đảo” khác, từ gần đến xa, mặt khác chọn ra hơn chục người biết bơi, bơi xung quanh tìm những binh tướng tản mát các nơi.
Thân binh cứ truyền tin như vậy đến tận gần giờ Ngọ mới coi như tạm truyền xong quân lệnh, và tìm được mấy vị tướng lĩnh khác. Các nơi rục rịch làm bè gỗ, nhưng lấy nguyên liệu tại chỗ cũng đâu có dễ, mọi người vất vả cả nửa ngày trời chưa bện được một cái dây, cứ theo đà này thì định sẵn là không thể thoát thân. Vu Cấm cố lấy tinh thần nhìn ra phía đông nam - Chỗ này chỉ cách Phàn Thành độ chục dặm, ông ta đứng trên đỉnh núi đáng lẽ phải dễ nhìn ra lầu thành. Nhưng không hiểu sao lại không tìm thấy bóng dáng Phàn Thành đâu, mà chỉ thu vào tầm mắt lác đác những “hòn đảo nhỏ” ngoài biển nước mênh mông. Có lẽ Phàn Thành cũng bị bao vây trong biển nước, và trở thành một hòn đảo xa, nên ông ta không nhận ra.
— Nhìn kìa! Có thuyền tới! - Có thân binh chỉ tay về hướng nam kêu lên một tiếng.
Tất cả binh sĩ đang ủ rũ đều đứng bật dậy, chen nhau nhìn về hướng nam, quả nhiên trông thấy phía chân trời có vài chấm đen, rồi dần hiện rõ hình dạng chiếc thuyền, chầm chậm tiến lại “hòn đảo nhỏ” đằng xa. Chúng nhân nhảy lên sung sướng vì tưởng mình được cứu, nhưng Vu Cấm lại thầm lo sợ: Tương, Phàn đang nằm trong mũi tấn công của địch, há có thể rút quân cứu viện? Ngược lại, Quan Vũ đã chuẩn bị sẵn thuyền chiến để xâm chiếm mạn bắc Hán Thủy, ta mắc kẹt ở đây hai ngày hai đêm, những chiếc thuyền đang tiến lại gần kia không phải chiến thuyền của địch chứ? Đúng như dự liệu, không lâu sau vẳng lại tiếng gào từ những hòn đảo ở xa truyền lại: Thủy quân của Quan Vũ đến!
— Làm sao bây giờ hả tướng quân? - Chúng sĩ sợ hãi, nhao nhao hỏi kế sách của Vu Cấm.
— Các ngươi rối lên cái gì? Tất cả bình tĩnh lại cho ta!
— Vu Cấm nghiêm giọng quát binh sĩ, nhưng cũng không ra lệnh phải làm thế nào - Người ta là dao thớt, còn mình là cá thịt, làm gì được nữa? Chỉ có thể im lặng quan sát chuyển biến. Thuyền từ phía nam đến ngày càng đông, không biết có bao nhiêu chiếc, lớn bé che kín mặt nước, cùng tiến lên bao vây những bãi đất cao, không rõ đã xảy ra chuyện gì. Thân binh đoán già đoán non, kẻ thì nói chắc là những người ở trên đó đều chết hết rồi, kẻ lại nói e là bọn họ đầu hàng cả rồi, kiểu gì cũng có. Vu Cấm ra lệnh nhổ tinh kỳ, tránh gây chú ý với quân địch - Kéo dài được lúc nào hay lúc ấy!
Chúng nhân đều nhìn thấy cảnh tượng này, nhưng vì chiến thuyền của Quan Vũ còn cách rất xa, nên sau một hồi tranh cãi, ai nấy đều im lặng chăm chú nhìn chủ soái. Lúc này Vu Cấm hướng ánh mắt chứa đầy vẻ lo lắng ra phía xa, biết rằng mọi người đang nhìn mình, nhưng ông ta không đáp lại ánh mắt của ai, mà vẫn ngồi ngây ra - ông ta cả đời chinh chiến, công lao hiển hách, còn được Tào Tháo ca ngợi là đệ nhất tướng quân, sao ngờ được bản thân lại có ngày rơi vào tình cảnh này? Nước ngập bảy đạo quân, việc sắp thành lại bại, ông ta còn mặt mũi nào đối diện với đại vương, đối diện với tướng sĩ ba quân?
Nửa canh giờ trôi qua trong sự im lặng, chiến thuyền của địch càng lúc càng tiến lại gần, bọn Vu Cấm nhìn rõ cờ xí của quân Kinh Châu và cả tình hình trên các hòn đảo. Phần lớn binh sĩ không chịu nổi cơn đói và mệt mỏi, quỳ rạp xuống xin đường sống, quân Kinh Châu thu giữ binh khí của họ, ném lại chút lương khô, sau đó rời đi để cho thuyền phía sau đến thu nạp. Cũng có những binh sĩ trung thành quả cảm, thề chết cũng không chịu đầu hàng, cố ném đá ngăn địch, nhưng kết quả bị cung tiễn của quân địch bắn hạ, trông như con nhím xù lông; có khi quân địch chẳng thèm bắn tên, mà bỏ lại bọn họ trên hòn đảo cô lập, mặc cho họ tự sinh tự diệt. Còn có những binh sĩ sợ địch, nhảy ùm xuống nước bơi về mạn bắc, nhưng trốn được một lúc thì đã sao? Sớm muộn gì những hòn đảo phía sau cũng bị quân địch tập kích.
— Tướng quân! Chúng ta phải làm sao đây? Binh sĩ không nhịn được nữa, sốt ruột hỏi kế sách đối phó, họ đã quên mất rằng mình vốn không được chạm vào uy nghiêm của Vu đại tướng quân.
Vu Cấm vẫn tỏ ra thận trọng, quay đầu lại nhìn chiếc bè đang được gấp rút hoàn thiện - Dây đã bện được rồi, nhưng chưa tìm đủ vật liệu bằng gỗ, trong vòng một hai canh giờ tới khó mà làm xong được bè. Kỳ thực làm xong cũng vô dụng, bè gỗ chạy nhanh hơn chiến thuyền của quân địch hay sao? Dù cho chạy được xa, thì cũng cầm cự được bao lâu trong tình trạng không có lương thực? Tia hy vọng cuối cùng của Vu Cấm vụt tắt, ông ta cầm chuôi kiếm lạnh ngắt giắt bên hông, khàn giọng quát:
— Theo ta tận trung!
— Đúng rồi! Chúng ta liều thôi, giết được một tên là hòa, giết được hai tên là hơn! - Thân binh hô lên vài tiếng, nhưng cúi đầu nhìn lại lo mình không đánh hòa được, bởi không có binh khí! Khi nước lũ tràn về, mọi người đều lo thoát thân, ai còn cầm binh khí theo làm gì nữa? Hiện binh sĩ chỉ còn hơn chục cây thương ngọn giáo, cung tiễn cũng chẳng có bao nhiêu, chỉ thân binh là còn đủ đao kiếm, nhưng quân địch căn bản chẳng cần đánh giáp lá cà với họ, mà chỉ cần bắn một trận mưa tên là xong, quân Tào còn liều mạng được với ai? Chúng nhân cạy những hòn đá dưới chân, thủ sẵn để ném.
Trong khi đó, quân địch đang lao về một hòn đảo khá rộng, chỉ cách đó hơn mười trượng mà ban nãy Vu Cấm được biết Lãm quân Hạo Chu chiến đấu cùng mình nhiều năm ở bên trên, bỗng thấy căng thẳng. Thân binh cũng dừng nhặt đá, không biết quân của Hạo Chu sẽ liều đánh như thế nào. Không ngờ, chiến thuyền của địch chưa ghé sát, trên đảo đã xảy ra hỗn loạn, quân Tào đẩy hai người quần áo tả tơi bước ra từ đám hỗn loạn: Lãm quân Hạo Chu và Thái thú Nam Dương Đông Lý Cổn bị chính người của mình bắt dâng cho quân Kinh Châu để xin hàng!
Vu Cấm nhìn chằm chằm vào hai người bị quân địch trói giải lên chiến thuyền mà không biết làm sao. Còn chúng thân binh nhìn thấy tình hình bên đó càng sợ hãi, họ theo Vu Cấm nhiều năm nên một lòng trung thành, chỉ e có kẻ bất đắc chí lại bắt chước hành động ấy, không ít người rút đao bảo vệ Vu Cấm, họ nghi kỵ lẫn nhau, vừa do dự lại vừa lo sợ, không biết liệu đối phương có đáng tin không. Hạo Chu, Đông Lý Cổn đã bị binh sĩ bán đứng, vậy thì cũng không giấu được hành tung của Vu Cấm nữa, không lâu sau, hơn chục chiến thuyền lớn nhỏ rải rác các ngả đồng loạt vòng qua các hòn đảo khác, chạy thẳng về phía này.
Mặt trời giữa buổi ban trưa phủ lên mặt nước một lớp sáng bạc lóa mắt, mười mấy chiếc thuyền đen kịt tiến lại gần, chính giữa dần dần nhô ra một chiến hạm có hai cánh buồm, mũi thuyền cắm cờ chiến điểm hình ngọn lửa, bên trên đề chữ “Quan”. Tim Vu Cấm đập loạn, ông ta dốc sức cho Tào doanh ba mươi năm, uy danh lừng lẫy, công huân vô số: lập đại công trong cuộc chiến với Lã Bố, ngăn con sóng dữ trong trận thua ở Uyển Thành, cố giữ vững thành trì trong trận Quan Độ, giết Xương Hi diệt phản loạn. Ông ta phải tích lũy bao nhiêu chiến công mới được Tào Ngụy nhận chức Tả Tướng quân, được ban phù tiết, bao nhiêu con mắt từng ngưỡng mộ và đố kỵ ông ta, hôm nay tất cả đều hóa thành tro bụi sao?
Kháng cự là tự tìm đến chỗ chết, còn hàng địch thì lại tổn hại uy danh, hơn nữa còn phụ lại ân sâu của Tào thị, nên làm sao đây? Vu Cấm nghiến răng nghiến lợi, rút bội kiếm ra chừng một thước, nhưng nhìn lưỡi kiếm sắc lẹm lạnh lùng, ông ta lại rụt rè sợ hãi, ở đời có ai không tham sống? Tay ông ta run run, cảm giác thanh kiếm nặng tựa ngàn cân, còn hơn một thước kiếm nữa vẫn nằm trong vỏ, mà ông ta không làm sao rút ra được. Đau khổ hơn là, chiến thuyền của quân địch đi được nửa đường, đột nhiên dừng hết lại ở chỗ cách đảo khoảng mười trượng, không tiến lại phía trước, cũng không hò hét khích tướng, mà cứ để cho Vu Cấm từ từ nếm thử cảm giác đứng trước ranh giới giữa sự sống và cái chết.
— Tướng quân!… - có thân binh lắp bắp nói, - Năm xưa Quan Vũ từng nhận mệnh dưới trướng của đại vương, tướng quân và ông ta cũng được coi là cố hữu, chúng ta…
— Anh ta không dám nói hết câu, nhưng ánh mắt toát lên vẻ sợ hãi.
Có người run rẩy nói:
— Mau nhìn ngọn sào! Đó là… - Chúng nhân đưa mắt nhìn cây sào dựng cạnh cột cờ để chữ “Quan” treo lủng lẳng một cái thủ cấp, tóc tai rối bù, đang nhỏ từng giọt máu tươi. Nhưng vừa nhìn vào khuôn mặt dữ tợn với bộ râu rồng ấy, ai nấy đều nhận ra là Lập Nghĩa Tướng quân Bàng Đức!
Vu Cấm càng kinh hãi, chẳng lẽ ít phút nữa đầu mình cũng sẽ được treo trên chiến hạm của địch ư? Trước mặt ông ta tối sầm lại, ngồi sụp xuống phiến đá xanh, rồi lại nghe những tiếng “ùm ùm” liên tiếp vang lên, hơn chục thân binh nhảy xuống nước mà trốn, những người còn lại càng thêm hoang mang. Đúng lúc này, đối phương lại có động tĩnh mới, nhưng không phải bên phía chiến hạm của Quan Vũ, một chiếc thuyền côi ở bên cạnh lao vút ra, đưa một người đứng bên trên, râu rồng hàm én, khoảng bốn mươi tuổi, áo gấm bay phần phật, dáng vẻ ung dung tiến lại gần.
— Hồ sứ quân! - Mọi người đều nhận ra, - Đúng là Hồ sứ quân rồi, ông ấy còn đổi y phục mới nữa.
Một ngày trước, Thứ sử Kinh Châu là Hồ Tu đã hàng địch, giờ còn làm thuyết khách của Quan Vũ, chắp tay thi lễ từ mãi đằng xa:
— Vu tướng quân, chuyện ngày hôm nay chính là ý trời, không phải sai lầm của tướng quân. Nước lũ tự nhiên ùa về, việc sắp thành lại bại, có thể thấy ông trời không muốn giúp Tào thị, không quy hàng còn đợi lúc nào nữa?
Vu Cấm nhìn bội kiếm trong tay, trong lòng trào lên nỗi căm phẫn, ông ta muốn xông tới đâm một nhát kiếm giết chết tên phản đồ kia, quyết liều với quân địch, nhưng trong lồng ngực lại chẳng thể có được dũng khí. Ông ta giận dữ đứng dậy, mới đi được một bước, chiến thuyền của địch ở phía đối diện đã giương hết cung nỏ lên, thoáng chốc người ông ta mềm nhũn, bảo kiếm tuột khỏi tay, rồi ngã phịch xuống đất, đầu óc trống rỗng, chỉ nghe được tiếng binh khí rào rào rơi xuống cùng với đó là tiếng khóc thảm thương của thân binh…
Thái tử nguy ngập
Cây hòe trổ lá xanh non,
Chỉnh tề sắp lối cung môn đôi hàng.
Gió lay cành lả dịu dàng,
Nắng rơi trên lá như ngàn lưu ly.[1]
Bài Hòe thụ thi này của Phồn Khâm, vịnh về hai cây hòe cổ thụ cao vút ở trước điện Văn Xương trong Ngụy cung. Thực ra, Ngụy cung mới xây vài năm, trong sân vốn không có cây cổ thụ nào, nhưng vì điện Vân Xương là chính điện cử hành triều hội, nên để tôn thêm vẻ trang nghiêm, bề thế của nó, Tào Tháo đã bứng hai cái cây này từ trong dân gian về trồng. Cây hòe già cành lá sum suê hợp với kiến trúc đấu củng mái cong trong cung điện, trở thành đề tài ngâm vịnh của các văn nhân Nghiệp Hạ. Chúng nhân bình phẩm có cao có thấp, nhưng đều công nhận bài thơ này của Phồn Khâm xuất thần nhất, lời ít mà ý nhiều. Mỗi dịp cuối hè đầu thu, hoa hòe trắng tựa như chuỗi ngọc nhảy nhót giữa những phiến lá xanh thẫm, lại thêm tia nắng chiếu rọi, gió khẽ múa vờn, trông rất lung linh, sinh động.
Văn đàn năm xưa tựa như giấc mộng, giờ cây vẫn còn, thơ cũng vẫn còn mà thi nhân thì đã đi xa - Ký thất Phồn Khâm ngã bệnh qua đời. Tào Phi được tin dữ, đau buồn khôn nguôi, ba ngày liền tới bái tế, đích thân lo liệu tang sự.
Đúng ra mà nói, quan hệ giữa hai người họ cũng không quá thân thiết, chẳng qua Phồn Khâm tính tình ôn hòa, khéo đi lại giữa các vương tử, vừa là khách quen trong phủ Tào Thực, vừa là bạn bút lâu năm của Tào Phi, thường xuyên trao đổi thơ văn qua thư, hơn nữa trong số văn sĩ Nghiệp Thành chỉ có mình ông ta là người Dĩnh Xuyên, người ta không thể không nhìn với con mắt khác. Vì vậy, Tào Phi biết tin, giậm chân bình bịch, nước mắt tuôn rơi, dẫn toàn bộ duyện thuộc trong phủ tới điếu tang, còn dâng rượu ngon cúng tế vong linh và tặng tiền của cho gia quyến.
Người ngoài nhìn vào hành động của Tào Phi, có khi sẽ nghĩ rằng y hơi phóng đại sự việc lên, Phồn Khâm có tài văn chương, nhưng cũng không thể so với bọn Trần Lâm, Vương Xán, đường đường là thái tử hà tất phải vất vả đi ngược xuôi vì một tên thư lại? Tuy nhiên, không ở chức vị nào thì không được lo việc ở chức vị ấy, họ không hiểu nỗi khổ tâm của thái tử, ngoài bận rộn lo liệu những nghi thức tổ chức tang lễ ra, Tào Phi có thể làm được gì nữa đây?
Từ xưa mối quan hệ quân thần, phụ tử luôn khó xử nhất, mà Tào Tháo lại là một ông vua đa nghi. Tào Phi làm việc chăm chỉ, thành khẩn thì ông cho rằng y nóng lòng muốn tranh quyền, còn Tào Phi bàng quan, giấu tài thì ông lại cho rằng y tầm thường, khó gánh được việc lớn. Tào Phi gần gũi quần thần, ông nghi ngờ y kết bè phái, còn Tào Phi xa lánh chúng nhân, ông lại nói là bụng dạ hẹp hòi, bạc ác vô ơn - Thế này không được, thế kia cũng không được, Tào Phi bị xoay đến chóng mặt. Tào Phi được lệnh lưu giữ Nghiệp Thành xử lý quốc sự, không dám bỏ bê chính vụ, nhưng cũng không dám tỏ ra quá nhiệt thành, chỉ nắm bắt những việc lớn, dẫu vậy hết lần này đến lần khác y vẫn nhận được những lời phàn nàn, bất mãn của phụ vương. Tào Chương thống lĩnh binh mã, một mình tọa trấn một phương, Tào Phi muốn tránh mà không tránh được, nếu như y lại không có những việc làm thể hiện ý chiêu hiền đãi sĩ, thì lấy gì củng cố nhân tâm? Cho nên, y nhân việc hiếu hỷ mà khuếch trương hình ảnh của bản thân, bữa trước Tào Quân mất, y nước mắt giàn giụa thể hiện mình là một huynh trưởng nhân đức, còn bữa nay phát tang Phồn Khâm y lại bận trong bận ngoài thể hiện mình là một bằng hữu thân thiết. Trong đó chỉ có ba phần tình cảm, còn lại là sự bất đắc dĩ. Tào Phi trong lòng đã như lửa đốt, nhưng ngoài mặt vẫn cố tỏ vẻ bình tĩnh, nghiêm trang, sau ba ngày lo xong tang sự, y mệt mỏi ngồi lên xe ngựa, chỉ muốn ngủ thiếp đi. Bỗng một luồng gió lạnh thổi tới làm đu đưa tấm rèm, Tào Phi lờ mờ trông thấy tường thành vườn ngự uyển trong cung, rồi chợt nhớ ra một chuyện, y tỉnh táo hẳn ra, vén rèm nhìn thật kỹ - Xe chạy từ hướng tây đến hướng đông về phủ, đang đi qua cửa Chỉ Xa môn ở Tây cung.
— Dừng xe! - Tào Phi quát một tiếng, - Hôm nay là ngày mấy?
Tư Mã Phu cưỡi ngựa đi ngay bên cạnh, nhưng ông ta hành sự quá cứng nhắc, nghe Tào Phi hỏi vậy, liền nhảy xuống ngựa, cẩn thận chắp tay đáp:
— Hồi bẩm thái tử, hôm nay là ngày mười bảy tháng Tám.
— Thật khéo, giờ Hà Thúc Long vẫn còn trực ở trung đài chứ? - Cách đó không lâu, Tào Tháo đã truyền lệnh điều Thái phó Hà Quỳ làm Thái bộc, Thiếu phó Hình Ngung làm Thái phó, tính ra còn ba ngày nữa là bọn họ chính thức nhận được sắc lệnh. Theo nghi lễ trong triều, công khanh phải trai giới ba ngày trước khi thụ phong, hôm nay là ngày Hà Quỳ trai giới trực đêm. Hà Quỳ ở cương vị là thầy của thái tử, chỉ có mồng một hằng tháng vào bài kiến Đông cung, hai thầy trò mới nói được vài câu đường hoàng, còn thực chất cũng không giúp được gì cho Tào Phi. Nhưng ông ta có danh vọng cao, lại kiêm quản việc tuyển chọn quan lại, nên Tào Phi luôn muốn tìm cơ hội thể hiện sự quan tâm chân thành. Nay, Hà Quỳ sắp được điều làm Thái bộc, sau này hai người ít có dịp gặp riêng hơn, Tào Phi muốn mời ông trai giới cùng mình, nhân thể xin ông ta chỉ giáo cho kế sách tự củng cố địa vị.
Tào Phi có chủ định này, nhưng không dám tùy tiện vào cung. Phụ vương chinh chiến bên ngoài, tới cả mẫu hậu cũng ở trong quân, trong cung hiện chỉ còn một vài cơ thiếp có con nhỏ. Cho nên không phải chuyện lớn của quốc gia, giữa lúc sẩm tối thế này Tào Phi tuyệt nhiên không dám lảng vảng vào cung, tình ngay lý gian, nhỡ để người ta lời ong tiếng ve thì không phải chuyện đùa. Đáng lo hơn, Trung úy cai quản thị vệ trong cung là Dương Tuấn, xưa nay thân với Tào Thực, nếu chuyện này truyền đến tai ông ta há chẳng phải tự chuốc lấy phiền toái? Tào Phi kiên quyết không vào, đích thân viết danh thiếp, sai Tư Mã Phu đi mời, còn mình dừng bên ngoài ngắm cây hòe già đợi tin.
Tháng Tám gió thu đã lạnh, lúc này lại gần tối, Tào Phi ngồi trong xe cũng hơi run run, nhìn những cánh hoa phủ đầy dưới mặt đất sau cơn mưa, lòng y càng trĩu nặng - Y mời bọn Biện Bỉnh, Tào Du tới Trường An chúc mừng việc mẫu thân được sắc phong làm vương hậu, thực ra là để bọn họ nói giúp những lời tốt đẹp như khen ngợi công lao lưu giữ Nghiệp Thành của y ở trước mặt phụ vương. Nào ngờ họ lại bị phụ vương giữ lại, mấy ngày sau Trường An còn truyền lệnh tới, điều Tào Thực vào trong quân hầu hạ thuốc thang, Tào Phi không bằng lòng nhưng cũng không dám trái lệnh. Hai đệ đệ người thì nắm giữ binh mã, người thì phụng dưỡng phụ mẫu, còn thái tử là y lại bị bỏ rơi ở kinh thành, rốt cuộc ai mới được sủng ái? Huống hồ còn có bọn Khổng Quế, Đinh Dực ở cạnh vương giá, thường xuyên gièm pha, mỗi lần nghĩ đến những chuyện này, Tào Phi lại nơm nớp lo sợ, chỉ mong phụ vương sớm ngày trở về Nghiệp Thành, phụ tử tương kiến, y lo gì không thể dùng đức nhân hiếu để lấy lòng bề trên. Có điều biết đến khi nào trận chiến Tương, Phàn mới kết thúc? Và biết đến khi nào mới chấm dứt những chuỗi ngày thấp thỏm lo sợ này đây?
Chỉ lát sau Tư Mã Phu đã trở ra, nhưng ông ta đi một mình:
— Hà công nói, thần hạ trai giới cùng với thái tử là không hợp lẽ thường, nên từ chối tới đây. - Trong triều có nhiều tai mắt, nhất là Đinh Nghi luôn theo dõi nhất cử nhất động của đồng liêu, nên đương nhiên Hà Quỳ không tiện nhận lời. Nhưng cũng phải trách Tư Mã Phu khờ khạo, nếu đổi lại là huynh trưởng của ông ta, nài nỉ khó khăn thì cộng với thư của thái tử, người ta cũng đâu đến mức từ chối thẳng thừng như vậy. Đằng này Tư Mã Phu là người thật thà, Hà Quỳ mới nói một tiếng “không đi”, ông ta đã quay gót về thẳng.
Tào Phi chẳng thể nôn nóng, cũng chẳng thể cáu giận với người đầu gỗ này, bên ngoài cửa cung có nhiều binh lính để ý, không tiện ở lại lâu, y đành xua tay bỏ qua, ngồi bên trong bực bội. Xe vừa đi qua cửa cung chưa xa, lại nghe trước mặt vẳng lại tiếng vó ngựa, Tào Phi thấy lạ, ai mà hống hách vô lễ, dám cưỡi ngựa ngoài tường cung như vậy? Y vén rèm ra xem, càng thêm tức giận - Thì ra là Hà Yến, con của Doãn phu nhân.
Hà Yến cũng giống Tần Lãng, đều là nghĩa tử của Tào Tháo, mẫu thân Doãn thị vốn là con dâu Hà Tiến, dẫn theo con riêng bước vào Tào gia. Hà Yến tướng mạo khôi ngô, lại có chút tài văn chương, rất được Tào Tháo bao dung. Hắn cưỡi ngựa trong thành cũng được, điều đáng giận là mình lại mặc áo gấm vàng, đầu đội mũ xung thiên, không phải lối phục sức dành cho thái tử ư? Tào Phi tức giận mà không dám nói, giờ đương là lúc dựng ân đức, muốn kết thiện duyên còn không kịp, nếu vạch mặt Hà Yến, hai mẹ con họ tỉ tê dưới gối phụ vương, thì tình hình của y càng không ổn, vậy nên y chỉ có thể nén cơn giận lại.
Về đến Đông cung thì trời đã tối mịt, Tào Phi chưa hết bực bội, vừa bước vào cửa phủ lại thấy Quách thị quỳ trong sân khóc lóc ầm ĩ - Bào Huân nhận chức Đô úy tây bộ Ngụy Quận, điều tra ra đệ đệ của Quách thị khi còn làm huyện lại Khúc Chu từng ăn bớt tiền quan, nên phán tội chết. Quách thị đã cầu xin hai ba lần, Tào Phi cũng gửi thư nhờ Bào Huân chiếu cố cho. Nhưng tiếc rằng Bào Huân công chính vô tư, không những không nghe theo, còn báo cáo vụ án lên triều đình, khiến đệ đệ của Quách thị bị xử trảm theo phép thường, Quách thị làm sao có thể không kể khổ với phu quân?
Tào Phi bị ba ngọn lửa đốt cùng một lúc, không nhịn nổi nữa, nhất thời nổi trận lôi đình:
— To gan! Bào Thúc Nghiệp muốn làm gì hả? Ta còn chưa đủ mất mặt ư? Đến người nhà thê thiếp mà cũng không bảo vệ được, còn nghĩa tử khác máu lại dám ăn vận y hệt ta, ai cũng muốn cưỡi lên cổ ta, thử hỏi ta còn được coi là thái tử không? Người tốt bị người ta bắt nạt, không lấy Bào Huân ra làm gương, bọn chúng lại tưởng ta dễ bị ức hiếp lắm. Ngày mai… À không! Gửi thư cho Chung công, Từ công ngay lập tức, nhất định phải bãi chức Bào Huân!
Tư Mã Phu ra sức khuyên giải:
— Không thể được! Đệ đệ của Quách thị phạm tội rõ rành, Bào Huân xử theo pháp lệnh cũng là dựng tiếng tốt, lấy đại cục làm trọng cho thái tử…
— Tiếng tốt cái gì hả? - Tào Phi càng phẫn nộ, - Bên họ ngoại có ai trong sạch? Chẳng lẽ nhị đệ, tam đệ chưa từng bao che cho họ sao? Mà cứ phải đem ta ra làm trò cười, hắn ăn cây táo rào cây sung, cố tình làm bẽ mặt ta! Tám phần là hắn thấy ta thất thế nên muốn đổi cửa, há có thể tha cho hắn?
Một bên Tư Mã Phu cố sức can gián, còn bên kia Quách thị nước mắt chan chứa, đúng lúc Tào Phi đang quát tháo nhặng xị bỗng có người hầu chạy tới bẩm báo:
— Bẩm thái tử! Chung Tướng quốc, Hoa Đại phu, Thường Thượng thư cùng tới bái yết. - Tào Phi kinh ngạc, các vị trọng thần tới thăm giữa đêm hôm thế này hẳn là có chuyện lớn, liền nén cơn giận, gọi a hoàn dìu Quách thị đi chỗ khác.
Cửa phủ vừa mở, Chung Do, Hoa Hâm, Thường Lâm cùng bước vào, trông thấy thái tử chưa kịp thi lễ đã trình quân báo trước - Bảy đạo quân ngập trong nước lũ, bị Quan Vũ đánh bại; Thứ sử Hồ Tu phản quốc hàng địch; Vu Cấm, Hạo Chu và Đông Lý Cổn bị Quan Vũ bắt được khuyên hàng; còn Bàng Đức kháng cự bị địch giết. Bảy bộ binh mã hoàn toàn tan rã, Tương Dương, Phàn Thành bị cô lập, không có quân chi viện, tình thế vô cùng nguy ngập!
Ba vạn quân tinh nhuệ bỗng dưng hóa thành tro bụi, đại tướng quân được phụ vương coi trọng nhất là Vu Cấm lại chịu làm tù binh đầu hàng quân địch, Tào Phi sợ túa mồ hôi:
— Chuyện này xảy ra khi nào?
Chung Do sắc mặt cũng tái mét:
— Quân báo truyền được đến đây mất khoảng mười ngày, giờ đại vương ở Lạc Dương đã điều động binh mã các châu bộ tập hợp tại đó, còn sai Hiệu sự Lưu Triệu ngày đêm trở về, điều quân lưu giữ Nghiệp Thành tham chiến, xin thái tử mau chóng truyền lệnh phát binh! - Dù sao trên danh nghĩa thái tử cũng là người toàn quyền quyết định mọi việc lưu thủ, không có sự đồng ý của Tào Phi, binh mã không thể xuất chinh.
Quân lưu thủ chưa đến hai vạn, nhưng trong lúc này Tào Phi không dám giữ lại, lệnh cho Giả Tín, Hạ Hầu Thượng dẫn phân nửa quân số ngày đêm lên đường; Đặng Triển, Lã Chiêu cai quản số quân còn lại phòng bị nghiêm ngặt; lại gửi thư cho Thái thú Ngụy Quân là Từ Tuyên chuẩn bị chiêu mộ tân binh; và lệnh cho Nghiệp Thành lệnh Sạn Tiềm áp chế bách tính, đề phòng kẻ gian tạo phản. Tướng quốc và các vị Thượng thư đều có mặt ở đây, Đông cung tạm thời trở thành Thượng thư đài, soạn thảo và ban bố từng đạo chỉ lệnh, rồi gửi cho quần thần. Tào Phi thay quân phục, muốn đích thân ra ngoài thành đôn đốc việc điểm quân, nhân tiện căn dặn Hạ Hầu Thượng mấy lời riêng tư.
Quách thị lúc này cũng không còn tâm trạng khóc đệ đệ nữa, mà cùng đám a hoàn hầu hạ Tào Phi thay y phục, chuẩn bị yên cương, vật phòng thân. Sắp xếp xong xuôi, Tào Phi còn chưa ra khỏi cửa phủ, lại thấy Chu Thước dẫn Hiệu sự Lưu Triệu vào, Tào Phi cầm lấy bội kiếm, bước thoăn thoắt ra ngoài, vừa đi vừa hỏi; - Tình hình Tương, Phàn sao rồi? Tào Nhân có gặp nguy không?
Không ngờ Lưu Triệu níu vạt áo của y:
— Tào tướng quân có gặp nguy hay không còn chưa biết, nhưng giờ thái tử nguy rồi!
Tào Phi như bị một mũi dùi đâm vào người, rụt ngay lại bước chân vừa đặt ra ngoài cửa phủ, ra lệnh; - Đóng cửa! - Cho thân binh lui xuống, rồi kéo Lưu Triệu, Chu Thước vào phòng bên, - Câu ban nãy có ý gì?
Lưu Triệu phóng ngựa một ngày một đêm từ Lạc Dương tới xin viện binh, mệt đến hai chân loạng choạng, vịn vào khuông cửa, hổn hển nói:
— Tại hạ chủ động đứng ra nhận nhiệm vụ đi xin viện binh chính là vì muốn báo quân tình cho thái tử biết. Đại vương đã giao trọng trách cứu viện Tương, Phàn cho Lâm Tri hầu!
— Sao? - Tào Phi chợt thấy trước mặt tối sầm, suýt nữa ngã khuỵu xuống.
— Từ khi Lâm Tri hầu theo quân phụng dưỡng, đại vương nhiều lần tán thưởng, vương hậu cũng vui vẻ hẳn lên. Đinh Dực nhân cơ hội đó nhắc lại chuyện lập Lâm Tri hầu làm thái tử, ông ta nói Lâm Tri hầu “tính tình nhân ái, tấm lòng hiếu thuận, bản tính tự nhiên. Đó thực sự là do ông trời muốn gieo phúc cho Đại Ngụy”. Đại vương chỉ nói rằng việc lập thái tử đã định, không thể thay đổi chứ cũng không khiển trách gì. Sau đó, tin Tương, Phàn bại trận truyền đến, đại vương vô cùng đau lòng, lại phẫn hận Vu Cấm hàng địch, cho nên bắt đầu nghi ngờ chúng tướng. Đinh Dực đề nghị cho Lâm Tri hầu làm chủ soái cùng với bọn Từ Hoảng đi cứu viện Tương, Phàn lần nữa. Trần Kiều, Trần Quần ra sức can gián, nhưng đại vương không nghe, vẫn phong Lâm Tri hầu làm Nam trung lang tướng, lĩnh chức Chinh Lỗ Tướng quân, hai ngày nữa dẫn quân xuất chinh!
Tào Phi nghe xong, toàn thân ướt đẫm mồ hôi, đứng chết lặng tại chỗ, trên trán vẫn túa ra những giọt mồ hôi lấm tấm - Cho Tào Thực chỉ huy trận chiến không hề đơn giản này chẳng khác nào khơi đống tro tàn. Huống chi Tương, Phàn lại là cửa ngõ đi lên phương bắc, bảy bộ quân ngập trong nước đã làm dao động cục thế Trung Nguyên, y nhận chức giữa lúc nguy nan, nếu giành thắng lợi là lập được công cứu quốc, cứu xã tắc. Khi ấy, Tào Thực công lao vang lừng thiên hạ, trong tay nắm giữ binh mã, nếu lại có kẻ nhắc đến chuyện đổi thái tử thì làm thế nào? Cho dù Tào Phi may mắn, ngôi thái tử không bị đe dọa, việc hai đệ đệ đều có công lao to lớn, một người là Phiêu Kỵ Tướng quân, một người là Chinh Lỗ Tướng quân, đều có binh mã và thế lực riêng, thử hỏi sau này y làm sao chế ngự được họ?
Tào Phi đứng lặng hồi lâu, rồi đột nhiên nắm lấy tay Lưu Triệu:
— Ông hãy giúp ta nói với quần thần trong quân, nhất định phải ngăn chặn chuyện tam đệ lĩnh binh! - Giọng y run run, gần như cầu xin.
Nhưng Lưu Triệu đáp:
— Không phải chúng thần không tận lực, mà thực sự là đại vương không chịu tiếp nhận. Giờ đến cả lời Trần Kiều, Đổng Chiêu nói đại vương cũng không nghe, một Hiệu sự nhỏ bé như tại hạ thực sự lực bất tòng tâm. - Vừa nói vừa nhìn ra bên ngoài, - Tại hạ phụng mệnh điều binh không thể ở lại lâu, xin thái tử tự lo liệu. - Dứt lời thi lễ mà đi.
Tào Phi có cảm giác mình không có đường lên trời, cũng chẳng có lối xuống đất, không còn tâm trạng đâu đi điểm quân, ngồi phịch xuống nền nhà. Chu Thước ở bên cạnh nghe thấy vậy, cũng không có cách gì, chỉ biết nói mấy lời an ủi:
— Thái tử chớ lo lắng, Lâm Tri hầu không rành việc quân, chưa chắc đã lập được kỳ công.
— Ngươi thì hiểu gì? Cho dù là công lao của chư tướng, thì sau cùng vẫn quy về tam đệ. Còn nếu bại trận, Tôn, Lưu cùng nổi lên gây hại cho xã tắc, chẳng lẽ lại là chuyện tốt?
Hiện Ngô Chất, Trần Quần và Tư Mã Ý đều không ở đây, Chu Thước chẳng qua là một võ nhân kiêm nịnh thần, nào có chủ ý gì, vừa mở miệng nói đã sai, đành khoanh tay chửi vống lên:
— Bọn Đinh Nghi, Đinh Dực thật hỗn láo, bọn chúng còn lo thiên hạ chưa đủ loạn sao! Thái tử am hiểu chính vụ, lại tòng quân nhiều năm, có chỗ nào không tốt? Lâm Tri hầu ngoài tài văn chương ra thì có bản lĩnh gì khác? Thi tửu lưu luyến, buông thả dâm dật, đại vương đúng là hồ đồ rồi!
— Ngươi vừa nói gì? - Tào Phi đứng phắt dậy.
Chu Thước sợ giật nảy mình, vội vả vào miệng mình:
— Tại hạ nói sai rồi… Đại vương anh minh, không phải hồ đồ.
— Ta không hỏi cái đó, khi nãy ngươi vừa nói câu gì?
Chu Thước nghệt mặt không hiểu, gãi gãi đầu nói:
— Không nói gì ạ…
— Không đúng! Ngươi nói tam đệ thi tửu lưu luyến, buông thả dâm dật. - Tào Phi nhăn mày, miệng lẩm bẩm.
— Thi tửu lưu luyến, buông thả dâm dật…
Chu Thước như lạc vào giữa đám sương mù, nhìn dáng vẻ nghiêm túc của y, cũng không dám làm phiền, mãi một lúc sau mới dè dặt hỏi:
— Thái tử… đang suy nghĩ điều gì vậy?
Tào Phi đứng thẳng lưng, nhỏ giọng nói:
— Binh mã chưa tập hợp đầy đủ, tam đệ cần có thời gian mới có thể xuất chinh. Nghe câu ngươi vừa nói, ta chợt nảy ra một cách khiến tam đệ không thể làm thống soái, nhưng kế này phải tuyệt đối giữ bí mật.
— Đó là diệu kế nào ạ?
Tào Phi ghé sát tai hắn nói nhỏ, Chu Thước nghe xong trợn tròn mắt - Hắn theo Tào Phi hơn chục năm, khoảnh khắc này lại thấy người đang ở trước mặt mình dường như hoàn toàn xa lạ, không ngờ vị thái tử đạo mạo lại nghĩ ra được một thủ đoạn bỉ ổi như vậy để đối phó với huynh đệ ruột thịt của mình!
— Ngươi cùng ta tới Lạc Dương thực hiện kế này, được chứ?
Chu Thước lúng túng nói:
— Kế này quá mạo hiểm, lỡ như chọc giận đại vương…
— Cần dứt khoát mà không dứt khoát, tất dẫn đến đại họa! - Tào Phi quả quyết nói, - Từ cổ chí kim, thắng làm vua thua làm giặc, muốn bảo toàn ngôi thái tử thì phải mạo hiểm. Ngươi có làm hay không?
Chu Thước biết mình đã lún quá sâu vào chuyện tranh giành ngôi vị, từ lâu không còn đường lui nữa, vội chắp tay nói:
— Tại hạ dù sống hay chết cũng đi theo ngài!
— Được. - Tào Phi phấn chấn tinh thần, rảo bước ra ngoài. Tư Mã Phu đã chuẩn bị xong ngựa, sai vệ binh đứng đợi ngoài sân:
— Xin thái tử mau chóng ra ngoại thành điểm quân.
Tào Phi nhận lấy dây cương:
— Ta và Chu Thước đi trước. Ngươi dặn dò những người đi phía sau, lấy hết rượu ngon cất trong phủ ra, và bảo phu nhân chọn ra mười ca kỹ thị nữ, đưa hết đến doanh của Hạ Hầu Thượng.
— Để làm gì ạ?
— Ta muốn theo quân tới Lạc Dương, yết kiến phụ vương, khao thưởng chúng tướng.
Tư Mã Phu vội can gián:
— Thái tử thân mang trọng trách, chưa có lệnh triệu kiến làm sao có thể tự ý rời kinh?
— Hừ! - Tào Phi xoay người lên ngựa, - Đợi đến khi có lệnh triệu kiến thì đã muộn rồi! - Y không nói gì thêm, dẫn Chu Thước thúc ngựa mà đi, không lâu sau mất dạng trong màn đêm…
Uy dũng đều mất
Tào Phi ở tận Nghiệp Thành căn bản không thể tưởng tượng hết được những nguy cơ đến từ chuyện nước lũ làm ngập bảy đạo quân, tướng sĩ Tào doanh lúc này đang rất hoang mang, sợ hãi.
Tào Tháo nán lại Trường An nửa tháng để tĩnh dưỡng, sau đó giao việc phòng bị nơi đây cho Tào Chương và Đỗ Tập, còn mình xuất quân tới Lạc Dương, một mặt nghe ngóng quân tình, mặt khác cũng chuẩn bị thu quân, chỉ đợi đẩy lui được Quan Vũ, Vu Cấm cùng với chư tướng Quan Trung trở về là ông sẽ bố trí phòng ngự rồi về Nghiệp Thành. Tính ra ông đã xa triều đình cả một năm trời, chinh chiến bất lợi, tâm tư phiền muộn, đã chán ghét chém giết nên chỉ mong ngóng hồi cung, yên ổn sống nốt quãng đời còn lại. Nhưng cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng, đội quân chưa đến được Lạc Dương đã nghe tin Vu Cấm bại trận.
Năm xưa Tào Tháo nam chinh gặp thất bại trong trận Xích Bích, khó bảo toàn được Kinh Châu, phải bỏ bốn quận Trường Sa và Giang Lăng, nhưng vẫn cố giữ Tương, Phàn, không chỉ vì đó là những trọng trấn phòng ngự Tôn, Lưu mà quan trọng hơn, Tương, Phàn còn là cửa ngõ đi lên phương bắc. Năm Kiến An thứ nhất (năm 196 sau Công nguyên), Tào Tháo dời kinh đô nhà Hán đến huyện Hứa, Trương Tú chiếm giữ Nam Dương có thế lực yếu, nhưng đã giao chiến nhiều năm mà vẫn chưa thể dẹp được, trong đó có nguyên nhân rất lớn là do Dự Châu bốn bề bằng phẳng, không có địa thế hiểm yếu để dựa vào, một khi quân địch dừng chân ở Kinh Châu sẽ đẩy trận chiến rơi vào thế giằng co. Nếu quân địch có binh lực mạnh lúc nào cũng có thể tiến thẳng vào Hứa Đô, còn nếu binh kém cũng có thể rụt cổ lại đợi thời cơ. Cứ tranh giành như vậy, cả vùng Trung Nguyên cũng sẽ loạn hết lên, mà Trung Nguyên hỗn loạn, tất ảnh hưởng đến những vùng xung quanh. Sau vụ Cảnh Kỷ và Vi Hoảng tạo phản, Tào Tháo giết hại không ít sĩ nhân Quan Trung, tiếp đến lại vứt bỏ Hán Trung, di dời bách tính, giờ là lúc nhân tâm Quan Trung dễ dao động nhất. Chỉ cần Trung Nguyên có biến, Lưu Bị ở đất Thục tiến hành bắc phạt, hoặc Quan Vũ đưa quân vào Vũ Quan, hào kiệt và dân chúng cùng nổi lên làm loạn thì e là một nửa giang sơn không còn thuộc về Tào thị nữa - Đây là điều khiến Tào Tháo lo sợ nhất, vậy mà cục thế hiện giờ lại phát triển theo đúng hướng này.
Tục ngữ có câu “Đi sai một nước, hỏng cả ván cờ.” Năm ngoái Hầu Ảm tạo phản, Tào Nhân thả sức phá thành, lạm sát dân chúng, lần này Vu Cấm bại trận, những ảnh hưởng tiêu cực từ việc phá thành bắt đầu xuất hiện, bách tính Nam Dương được tin quân Tào thua trận lũ lượt dựng cờ tạo phản, sơn tặc thảo khấu lưu vong cũng xuống núi cướp phá. Quận Nam Hương ở phía tây Nam Dương nằm trong mũi tấn công của quân địch, Thái thú Phó Phương là người bạo ngược không được lòng dân, gặp biến cố này không nghĩ được kế sách đối phó, còn có ý bỏ trốn, nhưng lại sợ Tào Tháo lấy đầu mình nên đã đầu hàng Quan Vũ, dâng đất của cả quận, cục thế ngày càng không thể cứu vãn. Từ Bái Quốc, Nhữ Nam ở mạn bắc Nam Dương cho đến Dĩnh Xuyên, dân chúng và quan lại đều nơm nớp lo sợ, vùng huyện Trịnh còn mọc ra một thảo khấu tên là Tôn Lang, thông đồng với Quan Vũ, lĩnh chức tướng quân đứng đầu một nhóm thổ phỉ quấy nhiễu hương dã, phá hoại đồn điền. Hứa Đô cũng bị ảnh hưởng, có quan viên trong triều bỏ chức mà trốn, ngay cả thiên tử Lưu Hiệp ở tận trong cung cũng mất ăn mất ngủ.
Rủi hơn là nước lũ không chỉ phá tan bảy đạo quân, còn đẩy hai thành Tương, Phàn rơi vào tình thế nguy ngập, vốn dĩ Quan Vũ khó có thể vây hãm hai thành, nhưng trận lũ này lại chẳng khác nào mười vạn hùng binh giam hãm Tào Nhân và Lã Thường. Lã Thường đồn trú Tương Dương còn có thể xoay xở được, chứ Phàn Thành thành trì nhỏ bé, lại là nơi chịu ảnh hưởng nặng nề từ thiên tai ở Giang Bắc, nước ngập ngấp nghé bờ tường, còn giữ được địa thế hiểm yếu không? Trong thành chỉ có mấy ngàn binh sĩ, vừa phải đối phó với lũ lụt vừa phải chống lại sự tấn công của quân địch, lương thảo cạn kiệt, liệu Tào Nhân cầm cự được mấy ngày?
Phiền nhất là không có cứu binh để sai khiến, Vu Cấm chôn vùi ba vạn quân, còn bộ quân của Trương Cáp, Chu Linh đang ở Quan Trung, tính cả thân binh vào Tào doanh mới có khoảng hai vạn người, làm sao phá được Quan Vũ để cứu Phàn Thành? Tào Tháo một mặt hối thúc Từ Hoảng tức tốc điều quân, mặt khác triệu tập binh mã tại các nơi cùng đến trợ chiến, quân coi giữ Nghiệp Thành cũng được điều động, cả Tang Bá ở Thanh Châu cũng phái một đội quân ngày đêm tới Lạc Dương. Mặc dù Tào Tháo có thể tạm thời huy động được bốn năm vạn binh mã, nhưng do vàng thau lẫn lộn, lại chưa qua thao luyện nên không thể nắm chắc được phần thắng. Hơn nữa, Nam Dương đã loạn, lương thảo thiếu thốn, vì vậy Tào Tháo phải trưng thu lương thực ở Dĩnh Xuyên, đồng thời cắt cử Điền Dự - người lập được công trong trận ở Đại Bắc làm Thái thú Nam Dương, đứng ra dẹp loạn, trấn an dân chúng.
Những vấn đề bên ngoài có vẻ còn dễ giải quyết hơn việc nước lũ làm ngập bảy đạo quân đã giáng một đòn chí mạng vào ý chí của Tào Tháo. Ông vì bất lực với tình hình chính sự trước mắt mới quay sang tây chinh, quyết đấu một trận cuối cùng, song không thể lấy lại được uy thế trước đây. Ông bất đắc dĩ phải từ bỏ Hán Trung, liệu rằng đời này mình không còn sức tranh giành nữa, nên đã định trở về Nghiệp Thành an hưởng tuổi già. Nào ngờ đến ước nguyện cuối cùng mà ông trời cũng không muốn thành toàn cho ông, một trận thua đã làm Trung Nguyên rung chuyển, khiến cơ nghiệp mà ông bỏ công dựng xây ba mươi năm đứng trước vô vàn nguy ngập, ông thực sự đã quá mệt mỏi, quá chán nản và quá đau đớn!
Chỉ có vài ngày mà chút sức lực Tào Tháo hồi phục được từ khi rút quân về Trường An đã mất hết, mái tóc bạc rối bù như mớ cỏ hoang, bệnh đau đầu lại tái phát, một bên chân trái bị liệt từ trước đó không chống gậy thì không đi lại được, giờ thì mấy ngày liền ông hầu như đều phải xử lý đống rắc rối này trên giường trong tư thế nửa nằm nửa ngồi. Ngoài ra, ông còn hoa mắt chóng mặt, không nhìn rõ tấu sớ, tất cả đều do Tào Thực đọc cho ông nghe.
Đằng sau công vụ là nỗi ai oán, thiên tai dẫn đến thất bại chẳng thể trách ai được, nhưng Vu Cấm vừa lâm nạn đã hàng địch, đúng là quá mất mặt: Lão tướng theo ta chinh chiến trên sa trường ba mươi năm, lúc lâm nguy lại chẳng bằng Bàng Đức mới quy thuận, há lại không đau lòng? Những lời nói hùng hồn của ông ta trước khi xuất chinh vẫn còn văng vẳng bên tai, sao lại thay lòng đổi dạ nhanh như vậy? Còn Hồ Tu, Phó Phương nữa, lúc Tào Tháo muốn trọng dụng bọn họ, Tư Mã Ý tỏ ý phản đối, ông cố chấp không nghe, kết quả là lần này cả hai cùng hàng địch. Vu Cấm còn có thể miễn cưỡng coi là do tình thế ép buộc, chứ còn Phó Phương dâng cả quận Nam Hương cho Quan Vũ, Hồ Tu thay người ta làm thuyết khách, thực đáng hận vô cùng.
Tào Tháo đau đớn, thất vọng, ngay cả tướng quân được ông trọng dụng nhất và người do chính ông cất nhắc còn không tin được, vậy thì trên đời này còn người nào đáng tin nữa? Bởi vậy, ông bất chấp sự phản đối của quần thần, một mực phong Tào Thực làm chủ soái, để cho nhi tử nắm giữ binh quyền ông mới an tâm. Việc điều binh và điều lương đều cần thời gian chuẩn bị, xã tắc có nạn mà không thể cứu, đó không chỉ là thử thách đối với Tào Nhân đang bị vây khốn ở Phàn Thành, mà còn một sự giày vò đối với Tào Tháo…
Lúc này đã gần đến giờ Thân, gió lạnh lùa vào thổi tung màn trướng, phát ra những tiếng vù vù mang theo mùi khói rơm, khiến thân binh gác cửa ho sặc sụa. Nhưng trong đại trướng vẫn tĩnh lặng như tờ, hai phụ tử Tào Tháo, Tào Thực cùng với quần thần đều đang chăm chú nhìn vào một bản tấu chương vừa được gửi tới từ Nam Dương nửa canh giờ trước nằm trên soái án - Quan Vũ đã đưa quân vào Yên Thành, dựng trại và tu bổ phòng tuyến dọc theo sườn núi.
Phía Trường An vẫn hỗn loạn, mà quân địch đã bắt đầu chuẩn bị cho trận chiến. Nếu để Quan Vũ bày binh bố trận, tu bổ công sự thì dù có hai lộ quân cứu viện cũng khó mở được đường vào, Tương, Phàn mất là cái chắc. Đứng trước tình thế này, Tào Tháo chỉ biết kiên trì đến cùng, ông lệnh cho Tào Thực, Từ Hoảng dẫn ba vạn tạp binh mới được chắp vá đi cứu viện. Đa số quần thần đều không đồng tình với việc để Tào Thực thống lĩnh binh mã, nhưng đại vương kiên quyết như vậy, tình hình lại nguy cấp, thời gian không đợi ai nên cũng chỉ biết thuận theo. Sau khi sắp xếp xong việc quân, Tào Tháo lại đưa ra một quyết định bất ngờ: ông muốn đưa thiên tử dời kinh đô nhà Hán từ huyện Hứa đến Hà Bắc!
Quần thần trong quân hay tin như sét đánh ngang tai, tất cả đều quên lễ vua - tôi, ngẩng đầu nhìn thẳng vào quân vương của mình: Lần thất bại này đã khiến lão ngài phải hiện “nguyên hình”, ông đâu còn là Ngụy Vương bạo ngược hung hãn, coi thiên hạ là trách nhiệm của mình, mà rõ ràng chỉ là một lão già đê tiện, hèn nhát. Tuy nhà Hán chỉ là bù nhìn, nhưng vẫn mang danh nghĩa là một triều đình, Hứa Đô cũng nằm trong đất Trung Nguyên, tượng trưng cho chính sóc của thiên hạ, nếu dời về Hà Bắc thì thực sự không thể cứu vãn được cục thế ở Trung Nguyên. Huống chi, đất Hà Bắc đã thuộc nước Ngụy, thiên tử nhà Hán dời đô đến đất Tào Ngụy, làm sao có thể có chuyện một nước hai vua? Đến lúc đó, ai cũng có thể chỉ trích hành động này là uy hiếp thiên tử, há chẳng phải để cho người ta nắm được chuôi? Sao Tào Tháo lại không hiểu lý lẽ nông cạn ấy?
— Không thể được! - Gián nghị đại phu Giả Quỳ là người đầu tiên bước ra khỏi hàng nói, - Hiện giờ binh bại, nhưng vẫn còn khả năng chinh chiến. Lúc này dời đô chẳng khác nào thừa nhận ta kém hơn địch, làm mất sĩ khí của ba quân. Quan Vũ càng thêm kiêu ngạo, làm sao giữ được hai thành Tương, Phàn?
Tân Tỵ cũng nói:
— Bữa trước chúng ta bỏ Hán Trung, lòng dân Quan Tây vốn đã dao động, nay lại dời đô, e là người Tây Châu sẽ mang lòng tạo phản.
Tào Tháo nhíu mày:
— Nói là vậy, nhưng trước mắt khó mà dập tắt được chiến sự Nam Dương, lại còn có bọn Tôn Lang hoành hành trộm cướp. Một khi bất cẩn để giặc tràn vào Hứa Đô, há chẳng phải để hận ngàn đời ư?
Giả Quỳ nói:
— Hứa Đô thành cao kiên cố, các đạo viện binh đều đang gấp rút đến đây, trong vòng một tháng có thể tập kết, chớ nói hai thành Tương Dương, Phàn Thành chưa thể mất được, mà dù thành trì có rơi vào tay địch, quân ta vẫn có thể lấy Nam Dương làm thành, sông Dục Thủy làm trì, để ngăn địch. Há lại bỏ lợi thế của trung châu? - Ông ta đặt ra giả thiết xấu nhất.
Tào Tháo nhìn màn trướng bị gió thổi đu đưa, thẫn thờ nói:
— Quả nhân không có ý bỏ Trung Nguyên, mà chỉ muốn thiên tử dời đô để được vẹn toàn, ta sẽ đích thân đón thiên tử về Hà Bắc, còn việc ở Trung Nguyên tạm giao lại cho Tử Văn và Tử Kiến thay ta lo liệu. Có bọn chúng thì cũng như quả nhân lâm giá, sao lại nói là không thể cứu vãn?… - Ông nghĩ hay thật, chớ nói là Tào Chương, Tào Thực, dù là thái tử Tào Phi cũng đâu có được uy vọng cao như thế? Người ta thường nói: “Cha mẹ có việc, con cái ra sức phục vụ giúp đỡ, cắt tiết gà há cần dao mổ trâu.” Có điều dao mổ trâu cắt được tiết gà, chứ dao cắt tiết gà làm sao mổ được trâu.
— Đại vương! - Trưởng sử Trần Kiều không nghe lọt tai nữa, vén áo quỳ xuống, - Cổ nhân có câu: Thụ quốc chi câu, thị vị xã tắc chủ; thụ quốc bất tường, thị vi thiên hạ vương đạt.”[2] Nay đại vương dời thiên tử đi khác gì so với vứt bỏ đất Trung Nguyên? - Đây là một câu nói thẳng: Người đang trốn tránh.
Nếu là ngày thường thì không ai dám nói nặng lời như vậy, nhưng lúc này Trần Kiều thực sự sợ ông nhất thời hồ đồ dẫn đến sai lầm lớn, đành bạo gan nói thẳng. Quần thần cũng quỳ cả xuống, khẩn thiết cầu xin:
— Xin đại vương thu hồi vương lệnh!
Tào Thực đứng hầu bên cạnh cũng thấy quần thần nói có lý, định khuyên nhủ vài câu, nhưng nhìn phụ vương thở dài tỏ ý xuôi theo, ba chòm râu đã bạc hết, những nếp nhăn trên mặt tựa như vết dao cứa, lại nghĩ: Lão nhân gia đề nghị dời đô chẳng phải ý tốt sao? Người tuổi đã cao, muốn trở về Nghiệp Thành tĩnh dưỡng chẳng lẽ là sai? Tào Thực thương phụ thân, bao lời can gián trong lòng nghẹn ứ ở cổ họng, y thầm hạ quyết tâm, ngày mai xuất binh nhất định phải đánh thắng Quan Vũ, cởi nỗi lo cho phụ vương.
Bọn Trần Kiều, Tân Tỵ mong Tào Thực mở miệng nói giúp, nhưng trông y do dự, bất giác nghĩ bụng: Kém cỏi, đây là đại sự của xã tắc, há lại niệm tình phụ tử nhỏ bé ấy? Quần thần không biết làm sao, chỉ có thể lặp đi lặp lại câu:
— Xin đại vương nghĩ lại!…
Tào Tháo cũng hiểu những đạo lý trong đó, nhưng vẫn chìm trong những nỗi lo sự. Thời khắc này, ông không phải quân vương một nước, cũng không còn là một vị tướng quân nữa, mà chỉ là một ông già râu tóc bạc phơ, bệnh tật đầy mình, lại đang lo lắng tiều tụy. Người ngoài không hiểu được cách nghĩ của ông: Đánh, đánh, đánh, đánh trận cả một đời, ai mới là kẻ thù lớn nhất của ta? Là chính ta, là số mệnh không thể chống lại!
Bọn Trần Kiều đang ra sức can gián, bỗng nghe xích hầu ngoài trướng bẩm báo:
— Viện binh Hà Bắc đã đến, hạ trại cách thành nửa dặm, thái tử đích thân qua doanh yết kiến.
— Thái tử? - Chúng nhân vô cùng kinh ngạc - Sao Tào Phi lại tới đây? Đang lúc nguy ngập thế này, không có lệnh triệu kiến của đại vương, sao thái tử có thể tự ý rời khỏi kinh sư?
Tào Tháo lấy lại tinh thần từ những suy nghĩ xa xôi, sâu kín, khẽ liếc nhìn Tào Thực, ánh mắt hiện lên vẻ kỳ quặc, dường như vui vẻ, nhưng cũng ẩn chứa một chút bất an không gọi được tên…
❀ ❀ ❀
[1] Bản dịch thơ của dịch giả Đặng Thúy Thúy.
[2] Chịu đựng được những sự ô trọc của giang sơn, gọi là chủ xã tắc, còn chịu đựng được những sự không lành của nước ấy thì làm vua thiên hạ.