Tháng chín năm Kiến An thứ hai mươi tư (năm 219 sau Công nguyên), trong lúc Tào Phi xử lý vụ án Ngụy Phúng mưu phản, quân Tào đã bắt đầu cứu viện mặt trận Tương, Phàn.
Bình Khấu Tướng quân Từ Hoảng dẫn ba vạn binh mã đến Kinh Châu, phía trước ông ta là muôn vàn khó khăn - Thứ nhất, Tương Dương và Phàn Thành bị vây khốn hơn hai tháng, quân địch ngăn trở, tin tức không thông. Quan Vũ đóng quân ở Yển Thành cũng đã tu bổ doanh lũy, sẵn sàng đối phó với quân Tào. Thứ hai, từ Yển Thành đến Phàn Thành phải đi qua một đoạn nước lũ chưa rút hết, đường đi lầy lội, nên vòng qua Yển Thành không có khả năng cứu được Phàn Thành. Thứ nữa, trong địa phận quận Nam Dương còn có phản dân, thổ phỉ, Từ Hoảng từ xa đến không hơi đâu mà lo dẹp bọn chúng, nhưng việc nhỏ này cũng có thể gây khó khăn cho quân Tào ở phía sau. Ngoài ra, sau thiên tai tất có dịch bệnh, giờ lại vào đúng thời điểm cuối mùa thu, ôn dịch mà binh sĩ phương bắc sợ nhất đang lan ra.
Từ Hoảng hiện có ba vạn binh mã, mới chỉ bằng số quân của Quan Vũ đóng tại Yển Thành, huống chi ba vạn quân này lại được chắp vá lung tung, chưa qua huấn luyện, làm sao địch lại nổi Quan Vũ? Bất đắc dĩ, Từ Hoảng cho đóng quân ở gò Dương Lăng, tạo thành thế chống nhau với Quan Vũ. Yển Thành là một huyện nhỏ, thành trì thấp bé không đủ phòng thủ, Quan Vũ đã sai bộ hạ kết doanh bốn mặt, dựng hàng rào, chông chà chặn hết những con đường quan trọng. May là gò Dương Lăng ở đúng phía bắc Yển Thành có địa thế khá cao, Từ Hoảng lệnh cho binh sĩ mở rộng liên doanh, lấn dần vào địa phận của quân Thục, tại những chỗ gần nhất công sự hai bên chỉ cách nhau vẻn vẹn ba trượng.
Hai quân ở gần trong gang tấc, nhưng Từ Hoảng vẫn chưa tìm ra được kẽ hở. May mà trong thời gian này còn có các bộ binh mã khác lục tục đến sau, Tào Tháo ở hậu phương triệu tập các bộ binh mã, gom được đội quân nào lại phái ra tiền tuyến đội quân ấy, Từ Thương dẫn năm ngàn quân, Lã Kiến dẫn ba ngàn quân, Chu Cái dẫn bốn ngàn quân… Tuy lực lượng quân Tào ngày càng hùng hậu, nhưng Từ Hoảng không nắm chắc được phần thắng, trước sau không dám tấn công, bởi sợ lại giẫm vào vết xe đổ của Vu Cấm.
Chớp mắt nửa tháng trôi qua, thế trận giằng co giữa hai quân không có gì chuyển biến, có điều hằng ngày Từ Hoảng vẫn đốc thúc binh sĩ thao luyện - có thể nói, đám tân binh đã được lĩnh giáo sự nghiêm khắc của Từ tướng quân mà trước đó bọn họ mới chỉ nghe danh “không cho ăn cơm, ấy là Từ Hoảng”. Theo Từ tướng quân đánh trận sẽ phải quên cả ăn uống, nhưng lúc này còn chưa giao chiến, sao cũng không được nghỉ ngơi? Từ Hoảng có dự tính của mình, lâu không đánh trận, binh sĩ lười biếng, nếu cứ thả lỏng thì đến lúc thời cơ chín muồi, bọn họ sẽ không xuất chiến được. Bề ngoài ông ta tỏ ra bình tĩnh, nghiêm nghị, thực ra trong lòng cũng rất lo lắng, sốt ruột, mắt chăm chăm nhìn mặt trời ngả dần về tây, một ngày nữa lại trôi qua mà chưa tìm được kế sách nào khả thi, ông ta liền tới tiền doanh xem xét động tĩnh bên doanh trại của địch.
Tinh kỳ hai quân được ánh chiều tà nhuộm một màu hồng đào, chiến hào chống chiến hào, chông chà chống chông chà, chòi canh chống chòi canh, nhưng không thể vượt qua khoảng cách rộng chừng ba thước ấy. Đối với Quan Vũ mà nói, trận này rất đơn giản, chỉ cần kéo dài thời gian vây hãm Tương, Phàn là coi như thắng, căn bản không cần giao chiến, bởi quân Tào sẽ không cầm cự được lâu.
Đang lúc sốt ruột, bỗng có tên tiểu hiệu chỉ tay nói:
— Tướng quân mau nhìn kìa, tướng địch cũng đi tuần doanh!
Từ Hoảng ngưng mắt nhìn kỹ, quả nhiên trông thấy dưới chòi canh đối diện có đám thân binh vây quanh một viên tướng, người này mình cao tám thước, lưng hổ eo gấu, đầu đội nón sắt, mình mặc chiến bào gấm xanh, khuôn mặt đỏ tía, vầng trán cao rộng và vuông vức, mắt phượng mày ngài, dưới cằm có bộ râu dài phất phơ - Đó chính là Quan Vũ, tự Vân Trường, năm xưa từng ở trong Tào doanh.
Cũng thật trùng hợp, Quan Vũ đóng quân ở Yển Thành chống nhau với quân Tào, vốn tưởng rằng Từ Hoảng dẫn binh chi viện tất sẽ xảy ra một trận chiến ác liệt, thế nhưng nửa tháng nay quân Tào chỉ chỉnh đốn binh mã, sửa sang công sự chứ không khiêu chiến, thành thử trong lòng bắt đầu sinh nghi. Hôm nay, ông ta muốn đi tuần tra nhân lúc sẩm tối để dò xét động tĩnh bên phía quân Tào, không ngờ lại trùng với ý nghĩ của Từ Hoảng, hai người tình cờ gặp nhau.
Từ Hoảng ngoảnh mặt về hướng nam quan sát Quan Vũ, còn Quan Vũ cũng đang ngoảnh mặt về hướng bắc nhìn ông ta, bốn mắt giao nhau, chợt thấy ngạc nhiên rồi cùng toát lên ý cười - Hai người họ vốn có giao tình sâu đậm. Năm xưa, Quan Vũ ở trong Tào doanh thân nhất với hai người, một người là Trương Liêu, hồi đó Lưu Bị nhận chức Thứ sử Duyện Châu đóng quân ở Tiểu Bái[1], nhiều lần chia hợp với Lã Bố, Quan Vũ và Trương Liêu đều là những người có khí phách, dần trở thành bằng hữu; còn người kia chính là Từ Hoảng. Quan Vũ là người huyện Giải, quận Hà Đông, Từ Hoảng là người huyện Dương, quận Hà Đông, có thể nói là có phân nửa tình đồng hương. Thế lực của Tào Tháo khi ấy còn nhỏ, chư tướng dưới trướng ngoài thân tộc ra thì đều là cựu đảng Duyện Châu, đứng đầu là Vu Cấm, Nhạc Tiến. Từ Hoảng xuất thân quân Bạch Ba, còn Trương Liêu vốn là bộ tướng của Lã Bố, nên có tình cảm thân thiết với người cùng là hàng tướng như Quan Vũ.
Năm xưa bọn họ kết giao tâm đầu ý hợp, nhưng hiện giờ hai quân đối địch, Từ Hoảng khó tránh khỏi khó xử, ông ta định lặng lẽ lui xuống, bỗng trông thấy Quan Vũ hớn hở rảo bước tiến lại, vẫy tay gọi lớn:
— Công Minh huynh! Công Minh huynh lâu nay vẫn được bình an chứ?
Hành động này nằm ngoài dự liệu của chúng nhân, ngay cả Từ Hoảng cũng ngạc nhiên, đứng ngây ra một lúc mới bước ra nghênh đón. Thân binh can gián:
— Hai quân giao chiến, ám tiễn vô tình, e là có bẫy.
Nhưng Từ Hoảng nói:
— Quan Vân Trường là người tâm khí cao ngạo, há lại dùng thủ đoạn bỉ ổi đó? - Rồi chỉ tay về phía trước, - Các ngươi nhìn xem. - Chúng thân binh nhìn kỹ, Quan Vũ hoàn toàn không đề phòng, chỉ dẫn hai tùy tùng lững thững bước tới chỗ hàng rào, chắp tay thi lễ với bên này. Một khi quân Thục đã hào sảng như thế, Tào doanh chẳng thể thua kém người ta, hơn nữa thân binh cũng biết tính Từ Hoảng, nên chỉ có hai ba binh sĩ thân tín đi theo ông, còn những người khác đều lùi lại mãi phía sau, cầm chặt bội kiếm trong tay không dám buông lỏng.
Tại chỗ gần nhất, doanh trại của quân Tào và quân Thục chỉ cách nhau ba trượng, mà chủ soái hai bên còn đến hàng rào ôn lại chuyện cũ, đúng là một cảnh tượng xưa nay hiếm trong chiến tranh. Cung nỏ được bố trí hai bên, chòi canh san sát, ở khoảng cách gần thế này bên nào cũng có khả năng bị ám tiễn làm hại. Nếu chủ soái đều chết, trận này còn đánh tiếp được nữa không?
Đến gần hơn, Từ Hoảng mới nhận ra Quan Vũ béo ra, tóc mai đã điểm bạc, chòm râu dài cũng ngả màu hung hung, không khỏi cảm thán:
— Nhiều năm không gặp, Vân Trường phát tướng rồi. Khói lửa chiến tranh làm con người ta nhanh già đi, chúng ta đều không còn được như xưa nữa…
Quan Vũ không có ý bi thương, có lẽ do ông ta mới thắng trận, tâm trạng vui vẻ hơn, cười nói:
— Công Minh huynh sao phải than thở như đám đàn bà thế? Đệ và huynh dốc sức trên sa trường, một đời sảng khoái, để lại công danh cho hậu thế, cũng không uổng một lần đến với thế gian này. - Hai người đều nói giọng quê Hà Đông, nên càng thêm phần thân thiết.
— Vẫn là hiền đệ hiểu biết hơn người ta một bậc. - Từ Hoảng tấm tắc gật đầu, - Thê nhi trong nhà vẫn bình an cả chứ?
Quan Vũ nghe xong, vỗ vai một tiểu tướng khôi ngô đội khôi mặc giáp đứng bên cạnh:
— Còn không mau làm lễ chào Từ bá phụ? - Tiểu tướng ấy vội vàng khom người chắp tay hành lễ.
— Chẳng lẽ đây chính là hiền điệt?
Quan Vũ vuốt chòm râu dài, tỏ ra khá tự đắc:
— Khuyển tử Quan Bình đã qua tuổi vũ tượng, theo đệ học hỏi việc nhà binh, để sau này nối nghiệp ta.
Từ Hoảng nhìn tướng mạo Quan Bình giống với phụ thân mình, rất có uy phong, càng cảm khái:
— Hổ phụ không sinh khuyển tử, bọn ta không bằng đệ rồi, trong đám hậu bối không đứa nào có tư chất cao, chỉ có mỗi con của Nhạc Văn Khiêm là Nhạc Lâm tòng quân. Năm ngoái Văn Khiêm qua đời, đại vương lệnh cho nó tiếp quản bộ hạ cũ của phụ thân mình.
Quan Vũ bản tính cao ngạo, chỉ xem Nhạc Tiến là một kẻ hữu dũng vô mưu, chẳng có gì đáng ca ngợi, quay sang hỏi:
— Văn Viễn vẫn được bình an chứ? - Người mà ông coi trọng nhất vẫn là Trương Liêu.
— Trương Văn Viễn đã được ban phù tiết từ lâu, đại vương vô cùng tin tưởng ông ta. Có điều ông ta từng nói đùa với ta, từ khi Lãm quân Vũ Châu được điều làm Thượng thư, Lý Man Thành lại qua đời, chẳng còn ai tranh đấu với ông ta, nên cũng hơi buồn chán.
— Ha ha ha!… Lần trước đệ thắng trận bắt được Vu Cấm, tuy có thiệt hại cho quý quốc, nhưng cũng coi như trút được oán khí cho đại ca và Văn Viễn! - Quan Vũ cũng biết Vu Cấm không được lòng mọi người.
Từ Hoảng cười theo:
— Vu Văn Tắc cũng được xem là danh tướng đương thời, tiếc rằng ông ta đối đãi với người trên sai ở chỗ xiểm nịnh, tiết chế kẻ dưới sai ở chỗ khắc bạc, quay lưng với tình đồng hương mà giết hại Xương Hi, đóng quân tại Cánh Lăng lại đoạt binh của Chu Linh, làm sao không bị đồng liêu ghét bỏ? Có lẽ trời không chiều lòng người, nên Vu Văn Tắc mới gặp lũ lớn để rồi rơi vào tay đệ, danh tiếng cả đời trôi theo dòng nước, kể ra cũng đáng tiếc. - Bỏ qua thù hận cá nhân, Từ Hoảng vẫn thấy tiếc cho Vu Cấm.
— Vu Cấm thế cùng mà hàng, cũng là vì không muốn tướng sĩ thuộc bảy đạo quân bị giết. Đệ không làm khó ông ta, đã đưa qua Giang Lăng. Tuy đệ không thân với Vu Cấm, nhưng nể tình trước đây cùng xưng thần một điện, tiểu đệ cũng muốn thu nạp ông ta. - Quan Vũ nói một câu úp mở, có ý ngầm lôi kéo Từ Hoảng: Ngay cả với một người chưa có giao tình qua lại là Vu Cấm mà đệ còn tiếp nhận được, đại ca sang đây há chẳng càng tốt hơn sao?
Từ Hoảng suy nghĩ kín đáo, há lại không nhận ra ẩn ý của Quan Vũ? Ông ta không trực tiếp trả lời, mà khéo léo giấu ý:
— Hiền đệ tọa trấn Kinh Châu nhiều năm, ít được về thăm cố hương, kể cũng đáng tiếc. Giờ Đỗ Kỳ nhận chức quận thú quận Hà Đông, giảm bớt lao dịch, hạ thấp thuế khóa, yêu dân như con, Vân Trường có dịp về quê xem thử thì tốt biết mấy!
Quan Vũ thuận nước đẩy thuyền:
— Vâng, đúng là đệ nên về xem thử. Có điều, Ngụy Vương mất bảy đạo quân, nhưng dẫu sao đất rộng binh nhiều, muốn quân của tiểu đệ đến Hà Đông cũng khó lắm.
— Ha ha ha! - Từ Hoảng ngửa mặt cười lớn, - Quan Vân Trường đệ giỏi thật!
Quan Vũ điềm nhiên nói:
— Đệ với Hán Trung Vương danh là quân thần, tình như thủ túc, năm xưa Ngụy Vương ân thưởng có thừa mà cũng không lay chuyển được tâm ý của đệ. Giờ chúa thượng của đệ đã có được hai đất Kinh, Thục, thế lực hùng mạnh hơn, tiểu đệ đảm đương trọng trách của cả một phương, thống lĩnh ba quân, há lại sinh lòng khác?
Từ Hoảng cũng nói:
— Ngu huynh trước đây chỉ là tướng soái quân Bạch Ba, may được Ngụy Vương thương xót, cất nhắc vào quân ngũ, huynh lại dốc sức trên sa trường, được bái tướng phong hầu, vợ vinh con quý. Đệ không chịu phản bội chủ nhân, ngu huynh sao có thể làm chuyện bất trung?
Hai người thể hiện những suy nghĩ đối lập nhau, không khí bỗng trở nên căng thẳng, binh lính hai bên ngấm ngầm rút đao giương cung, nhưng chỉ thấy hai vị tướng quân nhìn nhau một lát rồi cùng bật cười. Quan Vũ xúc động nói:
— Xưa, Sở, Tống đánh nhau, Hoa Nguyên lên thành gặp Tử Phản, hai nước đối địch nhưng bọn họ vẫn đối đãi chân thành với nhau. Con người ta mỗi người một chí hướng chẳng thể thay đổi, hai ta chỉ cần thẳng thắn, chân thành với nhau là được.
Từ Hoảng không thuộc Xuân Thu như Quan Vũ, nhưng đại để cũng hiểu ý này, nên nói:
— Đại trượng phu sống ở trên đời, kính trọng người quân tử trung nghĩa, khinh thường kẻ tiểu nhân phản phúc. Nếu ta chịu ơn mà phản chủ thì đâu xứng với sự kính trọng của hiền đệ? Ngược lại, nếu đệ không phò tá Lưu Huyền Đức, cũng đâu còn là Quan Vân Trường nữa. - Việc đời vốn là bất đắc dĩ, hai tướng tuy thông minh tương ái nhưng lại như nước với lửa, tình bằng hữu sâu sắc hóa thành đao tiễn trên sa trường.
Sau một tràng cười nhăn nhó, cũng không có gì để nói nữa, Từ Hoảng chắp tay nói:
— Hai quân lâm trận đao thương vô tình, mong Vân Trường bảo trọng. - Rồi xoay người bỏ đi. Quan Vũ bất lực gật đầu, không ngờ Từ Hoảng đi được vài bước, bỗng cao giọng quát binh sĩ dưới trướng, - Các ngươi nhìn rõ chưa? Người này chính là Quan Vũ, ngày ra trận ai lấy được thủ cấp của hắn sẽ được thưởng ngàn cân vàng!
Quan Vũ kinh ngạc hỏi:
— Sao đại ca lại nói vậy?
Từ Hoảng không quay đầu lại, chỉ lạnh lùng đáp:
— Việc nước ấy mà!
Quan Vũ dõi mắt nhìn theo cái bóng của Từ Hoảng, chắp tay lần nữa:
— Đại ca yên tâm, ngày giao chiến tiểu đệ tất sẽ dốc toàn lực…
Ép địch nhường đường
Trời tối dần, Từ Hoảng không nói lời nào, bước chân nặng nề. Cuộc gặp gỡ tình cờ khi nãy không làm tâm trạng ông ta tốt lên, ngược lại còn phiền muộn hơn. Đại chiến ở ngay trước mặt mà Quan Vũ vẫn nói cười nhẹ như không, đủ thấy trong lòng ông ta đã có trù liệu, không lấy được Tương, Phàn hẳn không chịu từ bỏ. Xem ra, bắt buộc phải ác chiến một trận rồi. Từ Hoảng tư lự trở về doanh trung quân thì thấy màn trướng vén cao, đèn đuốc sáng trưng, mấy viên tướng lĩnh không hẹn mà cùng ở bên trong.
Chu Cái hai tay chống nạnh, chân mày cau lại, đứng bên cạnh soái án như thể vừa xảy ra tranh cãi với chúng tướng, trông thấy Từ Hoảng bước vào còn không thi lễ, đã hỏi ập đầu:
— Ngày nào quyết chiến với Quan Vũ?
Từ Hoảng không trả lời, cũng không trách tội ông ta thất lễ, ánh mắt quét qua các tướng như Giả Tín, Từ Thương, Lã Kiến đang ngồi hai bên, chậm rãi nói:
— Ta chưa cho gọi các vị, sao các vị đều kéo hết đến đây? Trời đã muộn, mau trở về doanh của mình bố trí phòng bị đi.
— Dạ. - Từ Thương và Lã Kiến đang định đứng lên.
— Khoan đã! - Chu Cái giơ tay ra ngăn cản, - Giờ chúng tướng đều đang ở đây, xin Từ tướng quân cho một cái hẹn chắc chắn rằng ngày nào quyết chiến với Quan Vũ?
Từ Hoảng nhíu mày, cố nén ngọn lửa trong lòng, lạnh lùng nói:
— Việc quân nhung há có thể nói trước? Tạm thời cứ canh phòng doanh trại cẩn thận, đợi ngày giao chiến.
Nhưng Chu Cái không kìm được cơn giận:
— Phòng thủ, lại là phòng thủ! Phải phòng thủ đến khi nào mới thôi đây! Chẳng lẽ chỉ cần phòng thủ là có thể cởi được vòng vây Tương, Phàn? - Lã Kiến muốn khuyên, nhưng bị ông ta gạt ra, - Đừng ai cản ta, hôm nay dù bị trị tội kháng lệnh, ta cũng phải nói cho bằng hết! Chinh Nam Tướng quân ở Phàn Thành đã bị vây hãm gần hai tháng nay, trong thành không có lương thảo, ngoài thành không có cứu binh, nguy khốn như trứng để đầu đẳng. Đại vương mang bệnh phải nán lại Lạc Dương, lúc nào cũng mong tin thắng trận từ tiền phương. Vậy mà tướng quân cứ ở lỳ đây không chịu tấn công, nếu Tương, Phàn thất thủ, ngọc nát đá tan, thử hỏi tướng quân còn mặt mũi nào đi gặp đại vương và đối diện với tướng sĩ ba quân?
Sợ điều gì thì điều ấy lại đến, Từ Hoảng đã sớm đoán được trong lòng những người này đều ngầm chống đối mình, nửa tháng nay ông ta án binh bất động, hẳn là bọn họ có sự bất mãn, Chu Cái chẳng qua chỉ muốn nói rõ ra mà thôi. Ý định ban đầu của Ngụy Vương là để Lâm Tri hầu làm chủ soái thực sự cũng tốt, bởi một khi các tướng có thành kiến, chỉ cần có cây to là Tào Thực làm chỗ dựa, chẳng ai dám không theo sự sai phái của Từ Hoảng; nhưng tự dưng lại xảy ra chuyện say rượu khiến kế hoạch bị đảo lộn hết cả. Từ Hoảng biết Chu Cái nói câu nào cũng có lý, có điều giờ mà vội vàng giao chiến thì không phải kế hay, cho nên ông ta chỉ lựa lời xoa dịu:
— Ta hiểu cái lý mà ông nói, ngặt nỗi Quan Vũ đóng ở nơi xung yếu, doanh lũy kiên cố, nhất thời chưa tìm được kẽ hở, đợi…
Chu Cái căn bản không nghe lọt câu này của ông ta:
— Cố nhiên doanh trại quân địch khó đánh, nhưng Tương, Phàn vô cùng nguy ngập, binh mã quân ta giờ đã hơn Quan Vũ, sao không thể tấn công?
— Liều mạng tấn công, tất sẽ hao tổn lớn, đến lúc đó dù có hạ được Yển Thành, cũng làm sao phá được trùng vây? Huống chi binh quý hồ tinh, bất quý hồ đa[2], quân ta tuy đông nhưng quá nửa là tân binh mới chiêu mộ, chưa qua thao luyện, vội vàng giao chiến làm sao đấu lại được họ?
— Dẫu có như vậy cũng phải liều một phen! - Chu Cái nôn nóng giậm chân, - Huống chi cứu binh phía sau vẫn ùn ùn kéo đến, việc đã tới nước này dù có lấy thịt chèn đường cũng phải đến được Tương, Phàn!
Từ Hoảng thấy ông ta cố chấp như vậy, dù có nói thế nào cũng không thông, dứt khoát trả lời:
— Được rồi, được rồi, có việc gì ngày mai bàn tiếp? Bãi trướng về doanh! - Dứt lời ông ta ngồi vào soái án, lật xem bản đồ, suy nghĩ chiến sách.
Chu Cái vẫn còn lải nhải, nhưng bị Từ Thương, Lã Kiến giữ lại, không cho nói nữa. Thực ra hai tướng Từ, Lã cũng sốt ruột, chẳng qua bọn họ theo Từ Hoảng đã lâu nên còn nể mặt ông. Giả Tín nãy giờ đứng ngoài không nói gì, lúc này thấy ba người họ nói không rõ ràng, bèn tiến đến trước soái án, nói một câu kỳ quặc:
— Việc quân phải thận trọng, nhưng cứ giằng giữ nhau ở đây cũng không phải kế lâu dài. Tướng quân đã không dám giao đấu, chi bằng để mạt tướng thử tấn công vào doanh trại quân địch, nếu tổn binh bất thành, mạt tướng xin chịu trách phạt. Nhưng nếu có công, thì coi như bỏ một chút sức lực cho tướng quân để người ta khỏi giễu cợt. - Lời này thật độc địa, rõ là đang bênh vực Chu Cái, chế giễu Từ Hoảng hèn nhát sợ địch.
Từ Hoảng rất giỏi kiềm chế, nghe những lời này mặc dù trong lòng tức giận nhưng vẫn cố nhẫn nhịn, chẳng thèm liếc ông ta một cái, nói giọng chắc nịch:
— Không được!
Giả Tín thấy kế khích tướng không hiệu quả, cũng hết cách. Chu Cái ở bên này lại được thể nói tiếp:
— Giả huynh nói rất đúng, ta nguyện dẫn binh đi cùng huynh, bại trận cùng lắm thì chúng ta liều mạng với địch, chứ tuyệt nhiên chẳng chịu làm con rùa rụt cổ. Hạng nhát gan làm sao dám ra sa trường? Hừ! Cố làm ra vẻ bí hiểm, nói mà không ngượng mồm, hiểu gì về đạo dụng binh?
Từ Hoảng là người chinh chiến, dù trong lòng có thành quách sâu xa cũng không chịu được sự sỉ nhục này, nghe vậy liền đập bàn đứng dậy:
— Đạo dụng binh của ông? Đạo của ếch ngồi đáy giếng! Trước thì mất Hán Trung, sau lại mất bảy đạo quân, nay không nắm chắc được phần thắng, vạn nhất xảy ra bất lợi, lại giẫm vào vết xe đổ của Vu Cấm, đến lúc đó chúng tâm rụng rời, ba quân tan rã, không những khó cứu được Tương, Phàn mà còn chẳng bảo toàn được đất Trung Nguyên! Đại vương vất vả nửa đời mới dựng nên cơ nghiệp này, nhỡ có sơ sảy gì ai gánh được đây?
Chu Cái vẫn không chịu nhường:
— Ngài hỏi tôi, vậy tôi cũng muốn hỏi ngài. Quân cứu viện không đến kịp, Tương, Phàn thất thủ, ai gánh được tội?
— Ta gánh được. - Một giọng nói ôn tồn cắt ngang màn tranh cãi giữa hai tướng: Tham quân Triệu Nghiễm chậm rãi bước vào.
Chúng tướng ngây ra nhìn Triệu Nghiễm thần sắc ôn hòa, chiến sự đã kéo lâu như vậy mà ông ta không có một chút thái độ lo lắng, sốt ruột. Chu Cái than thở:
— Triệu công, đang lúc quan trọng ngài lại tới chiết trung!
Triệu Nghiễm liên tục xua tay, cười nói:
— Không phải ta nói dối đâu, đại vương sớm đã căn dặn Từ tướng quân, nếu binh lực chưa mạnh thì có thể đóng quân đợi đại quân tập hợp rồi đánh. Bản quan chính tai nghe, làm sao giả được? - Tuy chỉ là một văn thần, nhưng ông ta rất có khả năng áp chế chúng nhân. Bởi vì mọi người đều biết ông ta là bề tôi mà đại vương coi trọng, lời đại vương được thuật lại từ miệng của ông ta có đến tám phần là thật; thứ nữa là ông già lù đù này giỏi nhất việc dỗ dành người khác, ông ta đã đứng về phía Từ Hoảng thì càng khó lay chuyển quyết sách.
Những người khác đều không nói gì nữa, chỉ có một mình Chu Cái vẫn làu bàu:
— Triệu công ơi là Triệu công, sao ngài lại thiên vị ông ta thế?
Triệu Nghiễm vẫn giữ dáng vẻ bình thản, kiên nhẫn khuyên giải:
— Bản quan không thiên vị Từ tướng quân, mà nghiêng về đạo lý. Hiện nay quân địch vây hãm rất chặt, nước lũ lại chưa rút hết. Trong khi đó thực lực của quân ta còn yếu, dẫu có vượt qua Yển Thành thì cũng làm sao phá được trùng vây? Huống chi Tào Nhân bị cô lập, không thể đồng sức với chúng ta, kế sách hiện giờ chi bằng ngồi đợi quân cứu viện phía sau. Thiết nghĩ, Tào tướng quân là tông tộc của đại vương, dưới trướng đều là những người dũng mãnh, Mãn Sủng bụng nhiều mưu hay cũng là vây cánh của ông ấy, không đến nỗi một giờ nửa khắc là thất thủ đâu. Đợi quân cứu viện phía sau đến, chúng ta trong ứng ngoài hợp cùng đánh vào, lo gì không phá được Quan Vũ? Còn vạn nhất Tương, Phàn mất vào tay giặc, bản quan nguyện chịu tội thay các vị tướng quân. - Ông ta vừa nói vừa bước lên, vuốt lại chiến bào của Chu Cái, nhỏ giọng nói, - Chớ vội, tất cả đều vì xã tắc cả. Ta vừa nhận được quận binh[3], ngày mai Bình Nam Tướng quân Ân Thự sẽ dẫn quân tới, vài ngày nữa Chu Linh cũng đến, không lo không phá được Quan Vũ. Việc nhỏ không nhịn sẽ làm loạn mưu lớn, chớ có tức giận thế…
Việc Tào Tháo nhận mệnh Triệu Nghiễm làm Tham quân dường như đến từ một ý nghĩ bất chợt nảy ra, nhưng kỳ thực đó là lựa chọn sau khi ông đã suy nghĩ kỹ càng. Sở trường lớn nhất của Triệu Nghiễm là suy nghĩ tinh tế, tỉ mỉ mà không ngại những chuyện nhỏ nhặt, vụn vặt. Năm xưa nam chinh, bảy bộ quân của Vu Cấm, Trương Liêu, Trương Cáp, Chu Linh, Lý Điển, Lộ Chiêu, Phùng Khải đóng tại Chương Lăng, mấy viên tướng này đều cậy mình dũng mãnh, chẳng ai chịu nhường ai, suốt ngày gây sự. Tào Tháo lệnh cho một mình Triệu Nghiễm cai quản cả bảy bộ quân, dựa vào sự kiên trì và mềm dẻo của mình, ông ta đã khiến bảy con mãnh hổ ấy im thin thít. Bữa trước, Tào Tháo đóng quân ở Hán Trung, lệnh cho Thứ sử Ung Châu là Trương Ký dẫn một ngàn hai trăm binh sĩ tới trợ chiến, số binh sĩ này đều là người Quan Trung, bỗng nhiên phải rời bỏ quê hương ra tiền tuyến, chia ly với thê nhi, nước mắt đầm đìa. May là lúc đó Triệu Nghiễm đang ở Trường An, thấy cảnh này ông ta lo binh sĩ giữa đường sinh biến, liền ruổi ngựa đuổi theo đến Tà Cốc, an ủi hết lượt một ngàn hai trăm người - Đức tính kiên nhẫn ấy thực hiếm có trên đời.
Lúc này ông ta lại lấy bản lĩnh hòa giải của mình ra, Chu Cái không còn đường nào bác lại, đặt mông ngồi phịch xuống ghế:
— Mạt tướng không phải muốn gây khó dễ với các vị, cũng không phải sợ gánh trách nhiệm, mà chỉ lo làm lỡ việc quốc gia. Nửa năm qua, chúng ta đánh đông dẹp tây, mệt tưởng hết hơi mà không thắng trận nào, trong lòng ta cũng hoang mang! Đại vương thân thể mang bệnh đã vô cùng uể oải, nếu Tương, Phàn lại xảy ra sơ suất… Ây dà! - Nam nhân đường đường mình cao bảy thước ấy chứa đầy ấm ức trong lòng mà chẳng thể trút ra được, giọng nói nghẹn ngào, rút bội kiếm cắm phập xuống đất.
Bọn Từ Thương, Giả Tín cũng không nén được sự thất vọng: Chu Cái nói không sai. Dù cho trận Xích Bích năm đó thất bại thảm bại, hao binh tổn tướng, mọi người cũng chưa từng mất ý chí chiến đấu, bởi ít nhất còn có phương hướng rõ ràng, giờ chỗ nào cũng bị vây khốn, đâu đâu cũng gặp bất lợi. Do lúc đầu đã “có được Lũng Hữu còn không chiếm luôn Tây Thục”, đi một nước cờ sai nên mới bị khống chế từng bước một, muốn đánh mà không dám đánh, muốn bỏ mà không dám bỏ. Kinh, Tương xảy ra phản loạn chưa dẹp được, Ung, Lương không biết có gặp địch không, Trương Liêu vẫn ở Cư Sào giằng giữ với Giang Đông, mấy vạn binh mã luân chuyển giữa Hán Trung và Kinh Sở, có cách nào thoát khỏi tình thế bị động không? Tào Ngụy từ trên xuống dưới đều lực bất tòng tâm, cũng giống như sự già yếu của Tào Tháo, không thể hy vọng là sẽ chuyển biến tốt lên.
Triệu Nghiễm vẫn ở lại nói những lời an ủi mọi người, nhưng Từ Hoảng không có lòng dạ nào mà nghe, mắt chăm chăm nhìn vào tấm bản đồ đã xem đi xem lại không biết bao nhiêu lần. Một lúc lâu sau, ông ta bỗng nhiên cắt ngang lời Triệu Nghiễm:
— Ân Thự dẫn bao nhiêu quân cứu viện tới?
— Hơn bốn ngàn quân.
— Liệu ngày mai có đến kịp không?
Triệu Nghiễm suy nghĩ một lát, nói:
— Chắc không thành vấn đề…
Từ Hoảng khẽ nhíu mày, nhấc tà áo bào đứng dậy:
— Cố nhiên không thể liều chết, nhưng cứ ngồi không đợi cứu binh cũng không phải là cách, việc đã đến nước này đành phải dùng thử mưu kế thôi.
— Dùng mưu kế? Mưu kế gì? - Chu Cái hào hứng hẳn lên.
— Đào kênh! Lập tức huy động ba quân đào hào theo hướng đông nam thâu đêm suốt sáng cho ta, nhất định phải mở rộng trận thế của quân ta.
— Để làm gì cơ? - Chúng tướng không hiểu.
Từ Hoảng nhắm mắt, hít một hơi sâu:
— Trước mắt cũng không có kế nào hơn, cứ làm thử xem thế nào. Ta muốn Vân Trường buộc phải chủ động nhường đường cho quân ta…
Quân Kinh Châu vốn ở tư thế ngồi buông cần câu, không ngờ sau nửa tháng giằng co, cục thế lại ngầm thay đổi, chỉ trong một đêm quân Tào đào hào theo hướng đông, công sự đã dài thêm mấy dặm. Phản ứng đầu tiên của Quan Vũ là cho rằng Từ Hoảng đang chuẩn bị tấn công, vì thế cũng bố trí phòng bị dọc theo chiến hào của quân Tào. Anh tiến một thước, tôi lên một trượng, hai quân lại bắt đầu chống nhau một cách nhàm chán. Cứ như vậy được bốn năm ngày, đến khi Quan Vũ thượng lầu quan sát trận thế, chợt kinh hãi túa mồ hôi: Chiến hào hình bán nguyệt của quân Tào chạy ngoằn ngoèo từ gò Dương Lăng theo hướng đông nam đã bao vây mé đông Yển Thành.
Quan Vũ không ngờ rằng một Từ Hoảng già dặn, thận trọng lại ra chiêu hiểm này. Ông ta chiếm nơi xung yếu, nhưng quân Tào ngày càng đông, dẫu không phải đội quân tinh nhuệ nhưng để đào hào thì không thành vấn đề, dựa vào binh lực có hạn đang tu bổ công sự mà đòi thắng được quân Tào là điều không thể. Theo đà này, không đến mấy ngày nữa chiến hào của quân Tào sẽ tạo thành một vòng tròn vây quanh Yển Thành, Quan Vũ tất rơi vào vòng vây. Lúc này quân Kinh Châu đang giam hãm Tào Nhân ở Phàn Thành, nhưng ông ta cũng bị quân Tào vây khốn ở Yển Thành, chủ soái hai bên mỗi người lấy một thành cô lập mà chặn họng nhau, thực khó đoán trước được cục thế.
Quan Vũ suy đi nghĩ lại, cho rằng mình đang nắm chắc phần thắng, há lại để Từ Hoảng kéo vào một trận hỗn chiến? Cho nên Quan Vũ bỏ thành mà đi, định tìm nơi khác chặn đường quân Tào. Từ Hoảng chỉ chờ có vậy, lệnh cho các bộ khai trận, đồng loạt tiến công, Quan Vũ không chống đỡ được, rút về Phàn Thành dựng lại phòng tuyến - Tới đây, đường cứu viện đã thông suốt.
Quân Tào cuốn đất lấn vào, chỉ trong khoảng một tháng binh mã đã đến được phía bắc Phàn Thành. Nhưng lúc này mấy vạn quân Kinh Châu cũng đã sớm bố trí ở khắp hai bờ sông Hán Thủy. Phàn Thành lẻ loi đứng giữa doanh trại quân địch, im lìm tựa như một tòa thành ma ám, nhưng vẫn thấy lá cờ rách bươm của quân Tào bay phất phơ trên lầu thành…
Từ Hoảng vẫn thấy phiền muộn: Gần trong gang tấc mà cũng có thể là xa tận chân trời, Quan Vũ vây hãm đã lâu, không lấy được hai thành chắc chắn sẽ không chịu từ bỏ. Mà một khi thành trì thất thế, quân Kinh Châu ở phía bắc sông Hán Thủy sẽ có chỗ đứng vững chắc, mọi nỗ lực trước đó đều hóa thành tro bụi, xem ra không đánh trọng thương Quan Vũ thì không được!
Giao chiến là một chuyện, điều khiến Từ Hoảng phiền muộn hơn là gần đây ông ta thấy mình đang gặp phải một áp lực chưa từng có. Tuy ông ta chinh chiến nửa đời người, nhưng trong những trận chiến trước đây luôn có Tào Tháo thân chinh, đồng cam cộng khổ, chia hưởng vui buồn với tướng lĩnh và cũng rất hiểu lòng binh sĩ. Giờ Tào Tháo đã già yếu, lại chán ghét chiến tranh, không tận mắt quan sát tình hình chiến sự, thêm nữa Tào Tháo cũng uy nghiêm hơn trước khi được tấn thăng tước vương, nên vô hình trung tạo thành một loại áp lực. Dường như có một giọng nói lúc nào cũng văng vẳng bên tai, thúc giục ông ta phải tốc chiến.
Từ Hoảng không dám tưởng tượng ra cái chết của Tào Tháo, nhưng lại không kìm được lòng mà nghĩ đến. Nếu như sau này không còn Tào Tháo, tâm tình tướng sĩ sẽ như thế nào đây? Người kế vị liệu có đích thân đốc chiến và hiểu rõ việc binh như Tào Tháo không? Nếu nhà vua không nắm rõ cục thế ngoài tiền tuyến mà cứ lấy vương lệnh ra tùy ý sai phái, thúc giục tiến quân thì phải đánh trận như thế nào? Bạch Khởi nhà Tần vì sao mà bị bức chết? Danh thần Lư Thực triều trước vì sao bị bắt bỏ xe tù? Tuân lệnh thì binh bại, còn trái lệnh thì mắc tội, tiền phương và hậu phương giống như hai mặt trận, người làm tướng phải lựa chọn thế nào? Từ Hoảng bỗng cảm thấy võ nhân sinh vào thời loạn mà được đi theo Tào Tháo là một hạnh phúc, bởi từ xưa đến nay hầu hết tướng lĩnh đều phải chịu sự khống chế của triều đình, và đều phải chiến đấu trên cả hai mặt trận tiền - hậu! Nay Tào Tháo đã già rồi, lễ pháp của nước Ngụy cũng dần hoàn thiện, những ngày đồng cam cộng khổ giữa nhà vua và tướng sĩ đã hết, e là ngày tháng sau này sẽ mãi đứng trên hai mặt trận đó…
Tôn, Tào liên thủ
Tháng Mười năm Kiến An thứ hai mươi tư, quân của Từ Hoảng đã đến được phía bắc Phàn Thành, đào địa đạo bắn tên truyền thư, cuối cùng cũng liên lạc được với Tào Nhân. Cùng lúc đó, binh mã các lộ cũng lục tục kéo đến Lạc Dương đợi lệnh, vấn đề lương thảo ở quận Nam Dương cũng đã được giải quyết. Điền Dự nhận chức giữa lúc nguy nan, vừa đến sở trị đã ban một điều lệnh phóng thích tất cả hơn năm trăm tù nhân bị bắt giam vì có dính dáng đến vụ Hầu Âm tạo phản một năm trước, mở cho họ một con đường làm lại cuộc đời. Những người này đội ơn sâu vì được trả tự do, thề sẽ thuần phục Tào Ngụy, khắp nơi ca ngợi phẩm đức của vị Thái thú mới, không đến một tháng phản dân trong quận Nam Dương đã được dẹp, và bắt đầu gom góp quân lương. Còn tên Tôn Lang ở huyện Lục Hồn đánh thành đoạt đất thất thế, bị quận binh truy đuổi ráo riết phải chạy trốn theo hướng nam làm thổ phỉ - Tào Ngụy cơ bản ổn định được cục thế, lòng người Trung Nguyên cũng dần an định.
Nhưng với Tào Tháo mà nói, những chuyện này chưa phải tin tốt, bởi ông vốn là bá chủ thiên hạ, xưng vương xưng hùng, thế mà giờ lại lạc tới bước phải vất vả giằng giữ một nửa giang sơn, thanh thế rớt xuống ngàn trượng. Đây không chỉ là vấn đề lợi ích, mà còn liên quan đến tôn nghiêm. Thần liêu có thể nhận ra tâm trạng nôn nóng của Tào Tháo qua việc ông tăng cường viện binh và chiêu mộ tân binh ở các nơi, chỉ trong nửa tháng ngắn ngủi, ông lần lượt phái hơn chục bộ quân của Từ Thương, Lã Kiến, Ân Thự, Chu Cái, Giả Tín, Chu Linh… ra tiền tuyến. Ông quá nóng lòng muốn dập tắt trận chiến này, và quá nóng lòng muốn lấy lại thể diện. Phiền muộn hơn, Nghiệp Thành lại đưa tin mưu phản, từ khi ông được tấn thăng tước vương đến nay hết Nghiêm Tài tạo phản, Cảnh Kỷ tạo phản, Ô Hoàn tạo phản, Hầu Âm tạo phản, giờ lại đến một bọn nhãi nhép còn chưa hiểu lẽ đời cũng muốn tạo phản, có thể tưởng tượng được trong lòng Tào Tháo buồn khổ thế nào.
Không khí trong đại trướng căng thẳng, ngột ngạt, trước mặt Tào Tháo là bản danh sách mà Tào Phi đã vạch ra, ông cầm bút chu sa trong tay, chỉ cần ngọn bút này chấm vào tên người nào, người ấy sẽ bị quy là nghịch đảng, đầu lìa khỏi cổ. Quần thần đứng đầu là Gián nghị đại phu Đổng Chiêu, Trưởng sử Trần Kiều, Thượng thư Hoàn Giai xúm lại trước soái án, không ai nhìn thẳng vào mặt Tào Tháo mà nhăm nhăm liếc trộm bản danh sách, chỉ sợ thân hữu của mình cũng nằm trong đó.
Cái tên đầu tiên đập vào mắt Tào Tháo là Trương Tuyền, cái tên này không đứng đầu danh sách, nhưng lại được chú ý trước nhất. Trương Tuyền là con của Trương Tú, chỉ làm một chức quan nhàn rỗi, song tập tước của phụ thân đã mất nên được hưởng phong ấp những hai ngàn hộ. Nhi tử của kẻ thù giết con mình há lại không lưu tâm?
Chớp mắt, Tào Tháo liền nhận ra huyền cơ trong này: Ngụy Phúng mưu phản vì muốn hô ứng với Quan Vũ, hầu hết những người bị điểm tên đều có liên quan tới Kinh Châu, Trương Tuyền sao lại nằm trong đó được? Nếu nói hắn có quan hệ với phái Kinh Châu thì chỉ tìm được lý do năm xưa Trương Tú từng nương theo Lưu Biểu, nhưng đó cũng là món nợ của hai chục năm trước, tới nhi tử của Lưu Biểu là Lưu Tu còn không bị liên lụy, mà Trương Tuyền lại có tên trong này? Hẳn là quỷ kế của Tử Hoàn, nó biết ta luôn tưởng nhớ Ngang nhi nhưng chẳng thể tính toán mối thù này, nên mới cố ý kéo Trương Tuyền vào để ta trút giận đây mà. Đứa con này bản tính khó đổi, gian xảo hơn cả ta!…
Tào Tháo do dự, nút thắt giữa ông và Trương Tú thực sự khó gỡ, luận về công lao chẳng thể chê Trương gia được vào đâu, huống chi Trương gia còn có liên hôn với Tào thị. Thế nhưng tuổi tác Tào Tháo càng cao, những ký ức về mối hận năm xưa càng hiện rõ, lẽ nào lại làm ngơ trước mối thù giết con? Nửa năm trước, Phàn hầu Tào Quân qua đời, anh ta vốn là nhi tử của Tào Tháo với Chu cơ, hai năm trước được cho làm con thừa tự của thứ đệ yểu mệnh của Tào Tháo. Tào Quân liên hôn với Trương gia, lấy con gái Trương Tú, muội muội Trương Tuyền. Tào Tháo chẳng quá thương tiếc cái chết của người con tầm thường ấy, giờ nghĩ lại cái chết của Tào Quân cũng có ý nghĩa đoạn tuyệt quan hệ liên hôn giữa hai nhà Tào, Trương. Tào Phi nhìn ra điểm này, nhân cơ hội kéo Trương Tuyền vào, đúng là đã bỏ nhiều tâm tư!
Tào Tháo nghĩ đến Ngang nhi chết mất xác, nghĩ đến ái tướng Điển Vi và ái điệt Tào An Dân bỏ mạng trên sa trường, nghĩ đến phu nhân Đinh thị đến chết vẫn không chịu trở về, rồi lại nghĩ đến các nhi tử đấu đá khiến người ta lạnh lòng. Ngang nhi mà còn sống, ta đâu phải phiền muộn nhiều thế này? Nỗi uất hận trong lòng Tào Tháo trào lên, tay ông đưa một đường, một nét bút đè lên cái tên Trương Tuyền - Thế đấy, có ngôi miếu nào không có những linh hồn oan khuất?
Có lẽ do Tào Tháo phẫn hận trong lòng, phán một mình Trương Tuyền tội chết vẫn chưa thấy hả giận, nên đưa bút mấy cái liền, gạch một lúc bảy tám cái tên. Hoàn Giai đứng gần nhất, thấy vậy vô cùng lo lắng, định mở miệng nói đỡ, bỗng Tào Tháo dừng bút, thở dài nói:
— Sao Vương Khải cũng phải ngồi nhà lao thế này? Ông ta là người thật thà, hai đứa trẻ nhà họ Vương cũng bị giết rồi, bỏ qua cho ông ta đi. Ây dà! Vương Xán dốc sức cho quả nhân hơn mười năm, chưa từng phạm một sai lầm, tuy rằng nhi tử của ông ta có tội, nhưng nếu ta đích thân xử lý vụ án này tuyệt nhiên sẽ không để cho ông ta phải tuyệt hậu! Phóng thích Vương Khải, lệnh cho ông ta phải cho một nhi tử làm con thừa tự của Vương Xán.
— Đại vương khoan nhân. - Quần thần vội thi lễ.
— Tống Trung cũng được thả, một hủ nho lại lớn tuổi như ông ta không đến mức mưu phản. Con đi đằng con, cha đi đằng cha, con lớn không còn nghe cha đây mà! - Tào Tháo hiểu rõ đạo lý này.
Những người may mắn chỉ là số ít, Tào Tháo liên tục múa bút, lại gạch tên không ít người, đảo mắt trông thấy tên Lưu Dực cũng nằm trong đó, ông nhớ lại một năm trước xuất chinh, ông ta từng ra sức can gián mình, liền nổi lòng tốt:
— Lưu Cung Từ làm việc siêng năng, quả nhân được biết hắn cũng từng khuyên răn đệ đệ của mình, nhưng Lưu Vĩ vẫn cứ lún sâu vào vũng bùn, hết thuốc chữa. Giờ Lưu Vĩ đã bị xử tử, Lưu Dực không nên bị bắt tội. - Nhìn mặt sau lại thấy cái tên Văn Khâm, ông cười nhăn nhó, - Những đứa trẻ này không biết thận trọng kết giao bằng hữu, thực đáng giận. Niệm tình đồng hương, Văn Khâm cũng được tha, nhưng phải phạt năm mươi roi để hắn nhớ kỹ! Trần Y cũng giống vậy, tuy hắn có công mật báo, nhưng dù sao cũng từng qua lại với Ngụy Phúng, phải bị đánh thật đau, cách chức làm quân lại, cho hắn làm lại từ đầu. Chung Do không điều tra kỹ khi dùng người, đã chủ động thỉnh tội, bãi chức Tướng quốc, sau này hẵng nói. - Đúng như dự liệu của Tào Phi, Tào Tháo không trừng phạt nặng Chung Do, bãi chức kiểu này chỉ là tạm thời, về sau ông lại giao một trọng trách khác cho ông ta, dẫu không thể làm Tướng quốc nữa, nhưng hàng công khanh cũng chẳng chạy đi đằng nào được.
Đinh Dực mở miệng rất đúng lúc:
— Những người vì vụ án này mà bị bãi miễn không chỉ có một mình Tướng quốc, Trung úy Dương công cũng đã từ chức. Không biết chuyện là thế nào mà thái tử chưa xin chỉ thị của đại vương đã quyết định đuổi ông ấy ra làm Thái thú Bình Nguyên, có hơi hà khắc chăng? - Ông ta nhận được mật thư của huynh trưởng, biết tường tận mọi việc trong kinh.
Tào Tháo hả hê tới nỗi quên cả cơn giận với Tào Phi, chỉ đáp gọn lỏn:
— Bữa trước điều thái tử hồi kinh quả là đúng.
Đinh Dực còn muốn nói tiếp, nhưng Hoàn Giai cao giọng cắt ngang:
— Chuyện của Dương Tuấn không đáng lưu tâm, Trung úy cai quản cung cấm là một nhiệm vụ quan trọng, không thể để trống được.
Tào Tháo gật đầu:
— Đúng vậy. Sở dĩ Ngụy Phúng dám sinh lòng làm loạn là bởi trong những bề tôi nanh vuốt của ta chẳng ai có thể ngăn chặn nội gián, đề phòng gian mưu, làm sao tìm được người như Gia Cát Phong[4] để thay thế Dương Tuấn đây?
Hoàn Giai khom người thi lễ:
— Thưa, Từ Dịch xứng với chức này ạ.
Đinh Dực thầm nghiến răng: Lão già này thật giảo hoạt, hàng công khanh chỉ có mình Dương Tuấn ủng hộ Tào Thực, giờ Dương Tuấn đã bị cách chức đẩy khỏi kinh thành, ông ta còn kiến nghị bổ khuyết Từ Dịch là người thân với Tào Phi. Cửu khanh[5] há chẳng toàn là bè đảng của Tào Phi! Quá nửa người dính dáng đến vụ án vốn thuộc phái Kinh Châu, Hoàn Giai nhà ông khi xưa không phải cũng bước ra từ dưới trướng Lưu Biểu đó ư? Nếu không phải ông nghiêng theo Tào Phi thì danh sách này sao thiếu tên ông được?
Hắn ta nhìn thấu điểm này, chẳng lẽ Tào Tháo lại không nhìn ra? Chỉ có điều Tào Tháo đã bất lực với chuyện của hậu duệ, không muốn quản nhiều hơn nữa, chậm rãi nói:
— Cứ làm theo ý khanh đi. - Dù vậy, ông vẫn thấy chạnh lòng, hạ bút gạch hết những cái tên còn lại:
— Tất cả những tên bị gạch đều bị trị tội như Ngụy Phúng, truyền lệnh thi hành. - Dứt lời, ném bản danh sách về phía Bí thư lang Tôn Tư, nhưng vì thiếu lực nên rơi ngay xuống nền đất.
Quần thần cúi đầu nhìn: Quá nửa danh sách bị gạch, vết mực màu đỏ loang lổ, trông mà kinh hãi, mấy chục mạng người đấy!
Quốc sự chưa yên, liên tục xuất hiện mầm mống tai họa, tuy nói cuộc phản loạn này chưa xảy ra đã bị bóp chết từ trong trứng nước, nhưng chung quy vẫn không phải chuyện tốt đẹp gì. Đứng trước một Tào Tháo mang đầy vẻ mệt mỏi, buồn chán, chúng nhân biết phải khuyên giải thế nào? Im lặng một hồi, Trần Quần bước ra khỏi hàng thi lễ:
— Đại vương chớ nên đau lòng. Chuyện của Ngụy Phúng liên lụy đến nhiều người, nhưng chưa chắc đã phải chuyện không tốt. Sóng to đãi cát, gạt bỏ giả dối, giữ lại điều chân thật, ấy là trời đang giúp Đại Ngụy ta. Giả như vụ án này khiến bọn gian tà lộ hết âm mưu phản nghịch, chỉ cần ra tay một lần tóm gọn tất cả, từ đây trung lương ở trong triều, quốc thái dân an, đại vương có thể kê cao gối ngủ, không còn lo lắng gì nữa.
Tư Mã Ý đứng bên cạnh nhíu mày, thấy Trần Quần vẽ rắn thêm chân, lén nháy mắt ra hiệu bảo ông ta dừng lại, nhưng Trần Quần không để ý, vẫn nói sang sảng. Quả nhiên, Tào Tháo nghe xong bỗng ngồi thẳng lưng, nhìn chằm chằm vào Trần Quần, lửa giận bốc lên: Với ai là chuyện tốt hả? Ai có thể kê cao gối? Chính là các ngươi đấy! Bữa trước Cảnh Kỷ tạo phản đã giết hàng loạt sĩ nhân Quan Trung, đến vụ án của Ngụy Phúng lần này lại giết gần hết sĩ nhân Kinh Châu chỉ chừa lại vài người, các chi phái khác đều không còn, sau này chỉ còn lại bọn đại tộc Trung Nguyên là các ngươi, người có thể kê cao gối chẳng còn lo lắng gì nữa là các ngươi chứ! Đó không phải triều đình mà ta mong muốn, cũng không phải cục diện ta mong muốn!
Tào Tháo toan nổi giận, song lại nén lại: Thôi, bỏ đi! Ta bãi bỏ chế độ chỉ cử người tài, chuyển sang cử người đức hạnh, sớm đã đi vào con đường này rồi, giờ chống lại có ích gì? Khi ta còn sống còn có thể tạm thời ngăn chặn, chứ một khi ta chết đi rồi thì sẽ thế nào? Đây không chỉ là vấn đề có mưu phản hay không, mà nó liên quan đến việc lựa chọn con đường vi chính, lựa chọn phe chủ chính, vì sự ổn định của một nửa giang sơn ta đành phải chấp nhận thôi! Trần Quần là tử đệ cao môn, lại thuộc vây cánh của Tử Hoàn, sau này tất được trọng dụng, hà tất phải làm khó hắn? Đời này ta đã giết quá nhiều người, chẳng lẽ còn muốn dồn đám sĩ nhân cầm cán bút này tới chỗ chỉ tay vào bài vị mà chửi thầm sau khi ta chết ư?… Nghĩ đến đây, Tào Tháo nguôi giận, gật đầu thở dài:
— Đúng vậy, mọi người có thể kê cao gối là tốt rồi. - Vụ án này kết thúc nghĩa là sĩ nhân phương nam gần như mai danh ẩn tích, từ nay về sau vọng tộc Trung Nguyên giữ vị trí chủ đạo trong triều đình nước Ngụy, hào tộc Giang Đông về hết dưới trướng Tôn Quyền, còn sĩ nhân Kinh Châu đều một lòng đi theo Lưu Bị - Cục thế thiên hạ chia ba đã định, giờ nhân sĩ chủ chính của ba nhà cũng đã được xác định!
Trần Quần nhìn mặt đại vương biến sắc, biết mình đã vuốt ngược vảy rồng, xìu xịu lui về hàng. Quần thần cũng biết mấy ngày này tâm khí ông không thuận, thân thể mệt mỏi nên chẳng ai dám nói thêm câu nào, đại trướng im lặng trở lại. Tào Tháo cau mày mãi sau mới mở miệng:
— Sáng mai khởi binh, ta phải tới Tương, Phàn đích thân đốc chiến.
Chúng nhân đều thấy không ổn: Bữa trước đại vương vừa làm ầm lên phải dời đô, giờ có chút hy vọng lại đòi đích thân ra tiền tuyến, tính tình lúc nắng lúc mưa, thực khó nắm bắt! Sức khỏe đại vương đã rất yếu, lại dẫn theo nữ quyến như vương hậu, dù có đến được tiền tuyến cũng chẳng thể đích thân chỉ huy tác chiến. Huống chi hiện giờ trung quân không còn lại bao nhiêu binh mã, hà tất phải đi chuyến này, vạn nhất lại xảy ra chuyện ngoài ý muốn thì không ổn.
Tào Tháo nhận ra vẻ mặt của chúng nhân, trách hỏi:
— Chẳng lẽ các khanh cho rằng quả nhân không đánh trận được nữa?
— Chúng thần không dám. - Quần thần thuận nước đẩy thuyền, - Ngoài tiền tuyến đang căng thẳng, không phải đại vương đích thân tới đó là có thể an định được ạ.
Hoàn Giai chợt nảy ra suy nghĩ, bước lên một bước, từ tốn nói:
— Thần bạo gan dám hỏi, phải chăng đại vương cho rằng bọn Tào Nhân, Từ Hoảng không thể đánh lui quân địch?
Tào Tháo thấy ông ta hạ thấp các tướng, vội bác bỏ:
— Không phải ý đó.
— Hay là đại vương sợ hai tướng không tận lực?
— Cũng không phải!
— Vậy vì sao người muốn đích thân qua đó?
— Ta lo quân địch điều thêm quá nhiều binh mã, bọn họ khó ứng phó được.
Quần thần đưa mắt nhìn nhau: Đại vương loạn óc rồi, mấy câu này tự mâu thuẫn với nhau! Đã tin tưởng các tướng, lại còn sợ bọn họ không ứng phó được? Đại vương liên tục phái đi hơn mười bộ quân, binh lực ngoài tiền phương hiện đã nhiều hơn Quan Vũ, ở đây không còn lại bao nhiêu quân, còn phải dẫn theo một đám nữ quyến, đi làm cái gì chứ? Nói cho cùng, lý do ông nôn nóng đánh địch cũng giống lý do ông đưa ra đề nghị dời đô lúc trước, là ông chán ghét chiến tranh đến cực điểm, chỉ muốn sớm kết thúc chuyện này.
Hoàn Giai nhìn thấu tâm tư Tào Tháo, dẫn lời:
— Tào Nhân, Lã Thường đang nằm trong trùng vây mà vẫn không hề suy suyển, hẳn là trong thành một lòng cố thủ, còn bên ngoài đã có cứu binh mạnh, từ đó có thể thấy Tương, Phàn chắc chắn không sao, đại vương lo gì thất bại? Theo ý vi thần, đại vương nếu quyết ý muốn đi, cũng không cần ra tận trận tiền, ta có thể chọn chỗ nào rộng rãi phía sau Từ Hoảng để đóng quân hạ trại, phô trương thanh thế, các tướng được tin tất sẽ càng phấn dũng, còn Quan Vũ biết ta có hậu viện cũng phải khiếp đảm, há chẳng tốt hơn sao?
Tào Tháo cân nhắc một lúc, thở dài nói:
— Cũng được… vậy nên đóng quân ở đâu?
Hoàn Giai còn chưa nghĩ tới việc này, thuận miệng đáp:
— Tới Hứa Đô thì sao ạ?
— Không được! - Tào Tháo trả lời rất dứt khoát. Từ ngày trở mặt với thiên tử, ông chưa từng trở lại Hứa Đô, ngay cả khi gả con gái ông cũng không vào triều tham bái, hành quân qua đó cũng không dừng lại, đến chết ông cũng không muốn đặt chân đến Hứa Đô dù chỉ một bước!
Tư Mã Ý bước ra khỏi hàng nói:
— Phía đông nam huyện Giáp có một cái hồ tên là Ma Pha, dải đất dọc bờ hồ có địa thế cao và rộng, có thể đóng quân được. - Chỗ đó cách Tương, Phàn không xa cũng không gần, đóng quân bên hồ phong cảnh tươi đẹp, đâu phải phô trương thanh thế, mà để Tào Tháo dưỡng bệnh thì đúng hơn chứ?
Quần thần đoán ra ý này, đều nói:
— Đúng vậy, đúng vậy, nên chọn Ma Pha!
Mọi người đều tán đồng chọn Ma Pha, Tào Tháo cũng chỉ biết gật đầu. Tư Mã Ý lại nói:
— Vi thần còn có một kế, xin đại vương cân nhắc.
— Nói đi!
— Sở dĩ bọn Vu Cấm bại trận là vì nước lớn làm ngập đường, chứ không phải vì tấn công thất bại, cho nên chưa tạo thành tổn thất lớn cho đại kế của quốc gia. Lưu Bị và Tôn Quyền nhìn bề ngoài có quan hệ thân thiết, nhưng thực chất lại rất sơ viễn, giờ Quan Vũ đắc chí, Tôn Quyền chắc chắn không hài lòng. Ta có thể sai người khuyên dụ Tôn Quyền uy hiếp Quan Vũ từ phía sau, đồng ý ban đất Giang Nam cho hắn, như vậy tự nhiên cởi được vòng vây Tương Phàn.
— Sao cơ? - Trước mắt Tào Tháo sáng lên: Không sai! Ta cứ luẩn quẩn mãi, sao lại không nghĩ ra kế này nhỉ? Một khi ba nhà đã đứng thành thế chân vạc, ta cố nhiên không muốn Tương, Phàn thất thủ, còn Tôn Quyền cũng dòm ngó Tương, Phàn đã lâu, há cam tâm để cho thế lực của Lưu Bị trở nên lớn mạnh? Lần trước nam chinh, Tôn Quyền đã xin xưng thần, rất có thể đồng ý liên thủ, ta phong đất Giang Nam cho hắn chẳng qua chỉ là hư danh, nhưng nếu hắn có thể thừa cơ đoạt lấy đất của Quan Vũ thì lại chính là thực lợi. Huống chi nếu vì chuyện này mà Tôn Quyền kết thù với Lưu Bị, hai thằng giặc không thể cùng thế, há chẳng phải nhất cử lưỡng tiện ư? Ba nhà đấu sức, hai nhà hợp lại đánh một, hình thế thiên hạ đã thay đổi, ta cũng phải thay đổi sách lược theo đó mới được. Đúng là tuổi trẻ lanh lợi, không uổng công Tử Hoàn tin dùng y, thật mưu trí… Nghĩ đến đây, Tào Tháo bất giác liếc nhìn Tư Mã Ý với ánh mắt tán thưởng:
— Theo lời Trọng Đạt, ngày mai khởi hành, đến Ma Pha rồi lập tức sai người liên lạc với Tôn Quyền.
Ông vừa nói dứt lời, chợt thấy mành trướng được vén lên, Tào Hưu hớt hải chạy vào, còn không đội khôi mặc giáp, quỳ mọp dưới đất, dập đầu bái lạy:
— Đại vương…
Tào Tháo ngạc nhiên hỏi:
— Có chuyện gì thế?
Tào Hưu ngẩng đầu lên, ầng ậng nước mắt:
— Thần được gia nô cấp báo, mẫu thân của thần… - Nói được một nửa cổ họng nghẹn lại.
— Ôi! - Tào Tháo đã đoán ra, - Lão tẩu đi rồi?
Tào Hưu rơi nước mắt, gật đầu nói:
— Khẩn cầu đại vương cho phép thần hồi kinh, lo liệu tang sự của mẫu thân, tận hiếu trước linh đường. - Theo lý mà nói, tướng lĩnh đang mang việc quân, trong nhà có người qua đời cũng không được phép rời khỏi chức vị. Nhưng Tào Hưu là con một, thuở nhỏ mất cha, hai mẹ con tha hương bôn ba, trải nhiều vất vả, không giống những nhà bình thường.
Tào Tháo xót lòng nói:
— Hiền điệt, khanh là đứa hiếu thuận nhất, mau về chịu tang đi. Cũng đừng quá đau buồn, con người ta sớm muộn gì cũng có một lần như thế, ngay như quả nhân cũng chưa biết chừng… Không biết đến lúc đó các nhi tử của ta có khóc tang ta giống như khanh khóc tang mẫu thân mình hay không…
— Đại vương… - Quần thần cùng quỳ xuống, - Xin người chớ nói ra những lời không tốt lành ấy, chúng thần làm sao chịu nổi?
Tào Tháo mệt mỏi phất tay áo:
— Không nói nữa, tất cả lui xuống đi, sáng sớm mai khởi hành.
Sáng sớm hôm sau, trung quân nhổ trại, từ Lạc Dương đến Ma Pha không xa lắm, nhiều nhất chỉ mất hơn một ngày đường. Nhưng mọi người sợ Tào Tháo không được khỏe, cố ý đi chậm lại, Khổng Quế dẫn đội nghi trượng đi từ từ, mãi gần ba ngày mới đến Ma Pha. Thứ sử Duyện Châu là Bùi Tiềm đã sớm nhận được tin, dẫn thân binh đến trước, chuẩn bị sẵn lương thảo và vật dụng.
Tào Tháo dựng trại bên bờ hồ, chỉ nửa ngày đã xong, định sai người đi Giang Đông theo kế sách của Tư Mã Ý, không ngờ sứ giả của người ta lại đến trước một bước - Tôn Quyền dòm ngó Kinh Châu đã lâu, lúc nghị hòa ông ta đã có tính toán, phó thác việc mưu đoạt Kinh Châu cho Lã Mông, vốn định rằng sẽ nhận mệnh một văn nhân là Nghiêm Tuấn làm Đốc quân Lục Khẩu sau khi Lỗ Túc chết, để Quan Vũ lơ là cảnh giác. Tiếc là Nghiêm Tuấn rất biết lượng sức mình, lại không nhận ra mưu kế bên trong, nên nhiều lần từ chối. Tôn Quyền đành phải tính cách khác, sai sứ giả qua sông cầu thân với Quan Vũ, muốn con trai mình lấy con gái Quan Vũ, giả kết duyên Tấn Tần. Nhưng Quan Vũ cự tuyệt thẳng thừng, còn trả lời rất ngạo mạn, Tôn Quyền vô cùng căm hận mà vẫn phải cố nhẫn nhịn để đợi cơ trời.
Hầu Âm tạo phản, Hán Trung đổi chủ, Quan Vũ xuất binh đánh Tương, Phàn, nước ngập bảy đạo quân Vu Cấm bại trận. Lã Mông nhận thấy đây chính là một cơ hội tốt để đoạt lấy toàn bộ Kinh Châu, liền hiến kế với Tôn Quyền để cho ông ta cáo bệnh, xin đổi Thiên Tướng quân Lục Tốn là người ít kinh nghiệm, cai quản việc quân ở Lục Khẩu. Lục Tốn là người họ Lục ở Ngô Quận, lấy con gái Tôn Sách, trẻ tuổi nho nhã, giấu tài thao lược, vừa đến Lục Khẩu đã gửi thư cho Quan Vũ dưới thân phận là một thư sinh, dùng lời lẽ khiêm nhường tán dương Quan Vũ “huân công của tướng quân ngài đủ để truyền mãi muôn đời. Cho dù là năm xưa đội quân của Tấn Văn Công đánh bại quân Sở trong trận chiến Thành Bộc, hay mưu lược của Hầu Âm hầu đánh bại quân Triệu cũng không thể sánh với thắng lợi của ngài lần này”. Ông ta nịnh Quan Vũ giỏi hơn cả những danh tướng là Trùng Nhĩ, Hàn Tín, lại còn tự xưng mình “là một thư sinh tài sơ ngu độn, thật lấy làm hổ thẹn vì được Ngô Vương trao cho quan cao. May là còn có một vị tướng quân uy đức như ngài đây ở gần, nên thành tâm muốn đi lại”.
Quan Vũ đang bày binh ở Yển Thành, nhận được thư này rất vui, đoán là Lã Mông sinh bệnh thật, còn Lục Tốn chẳng qua là một văn sĩ nhu nhược nên không phòng bị Giang Đông, điều quá nửa binh mã ở Giang Lăng và Công An đi trợ chiến, chỉ để lại My Phương và Sĩ Nhân đồn trú hai nơi này, trù vận lương thảo. Tôn Quyền thấy thời cơ chín muồi, một mặt nhận mệnh Lã Mông làm Đại đô đốc, lên kế hoạch tập kích Kinh Châu; mặt khác lại sai Hiệu úy Lương Ngụ đi sứ, xin Tào Tháo liên thủ để tấn công Quan Vũ từ cả hai phía…
Tào Tháo tiếp kiến Lương Ngụ, đọc thư do Tôn Quyền thủ bút, trong lòng mừng thầm nhưng vẫn giả bộ xem thường:
— Có đoạt được Kinh Châu hay không là việc của chúa công nhà ngươi, chẳng can hệ gì tới quả nhân. Lần trước Giang Đông đã đồng ý xưng thần mà không thấy sứ thần tiến cống, dự lễ triều hạ, nay vì việc binh lại tới nhờ vả, thực là bất kính.
Lương Ngụ biết ông ra vẻ làm cao, nên cười nói:
— Có câu: “Đồng tình tương thành, đồng dục tương xu.”[6] Giang Đông mở đất, bệ hạ cũng cởi được mối nguy, hai nhà kết giao chính là thiên ý. Một khi cùng phá Quan Vũ, thì có việc gì không thành?
Tào Tháo thực sự quá nóng lòng muốn kết thúc trận chiến, không làm căng nữa, lập tức xuống nước:
— Nếu đã như vậy, quả nhân ân chuẩn.
Lương Ngụ thi lễ cảm tạ, nói tiếp:
— Giang Đông đã điều binh lên phía tây, Giang Lăng và Công An đều là những trọng trấn, Quan Vũ mất hai thành này tất sẽ bỏ đi, Tương, Phàn không cần cứu cũng tự giải được vòng vây. Xin bệ hạ chớ để lộ thiên cơ, kẻo Quan Vũ có sự phòng bị.
— Tất nhiên rồi… - Người đâu, chuẩn bị rượu thịt khoản đãi sứ giả.
Điển Mãn cung kính mời Lương Ngụ ra ngoài, mấy vị trọng thần nãy giờ đều đứng một bên nghe chuyện, thấy Lương Ngụ đã đi xa, Đổng Chiêu liền nói:
— Việc quân chuộng ở quyền biến, nhưng cũng phải hợp thời. Nếu giữ kín bí mật để Tôn Quyền được như ý thì cũng không phải thượng sách. Thần thiết nghĩ, đại vương cứ ngầm lệnh cho Từ Hoảng tiết lộ việc này với quân địch. Quan Vũ được tin Tôn Quyền đánh lén, nếu hồi quân tự vệ, vòng vây Tương, Phàn càng được giải nhanh hơn; lại còn có thể khiến Tôn Quyền và Quan Vũ đối đầu nhau, quân ta chỉ việc ngồi đợi bọn chúng kiệt sức.
— Công Nhân nói hợp ý quả nhân, mau sai người đi báo việc này cho Từ Hoảng biết. Việc nghị hòa đã xong, cũng có thể tạm thời rút quân đồn trú Cư Sào, điều Trương Liêu hồi sư tiễu trừ tặc khấu Tôn Lang. - Tào Tháo đưa tay vuốt chòm râu bạc, cuối cùng cũng nở được nụ cười lâu lắm không nhìn thấy, nhưng ông cũng chỉ cười trong chốc lát rồi thu lại. Cả đời ông ngang tàng, sau cùng lại phải nhờ kẻ địch tương trợ, ngẫm thực đáng thương!
Quyết trận cuối cùng
Chuyện hai nhà Tôn, Tào liên thủ rất nhanh được truyền đến Phàn Thành, các tướng Tào doanh thở phào nhẹ nhõm, làm theo kế của Đổng Chiêu, buộc công văn kể rõ việc Tôn Quyền đánh úp Giang Lăng vào đầu mũi tên, bắn vào Phàn Thành và liên trại của Quan Vũ.
Tào Nhân hay tin, sĩ khí tăng cao, càng kiên định thủ thành; trong khi đó, Quan Vũ lại tỏ ra khá thờ ơ. Chớp mắt, lại mười ngày nữa trôi qua, quân Kinh Châu không những không lui binh, ngược lại còn ồ ạt điều quân ở phía nam sông Hán Thủy đi lên mạn bắc, vây thành chặt hơn. Lúc này Tào doanh đã tập hợp được hơn mười bộ binh mã, đóng tại phía bắc Phàn Thành theo sự chỉ huy của Từ Hoảng, tất cả gần bảy vạn quân, đủ sức phân cao thấp với Quan Vũ một trận. Tiếc rằng quân Kinh Châu phòng giữ quá nghiêm ngặt, nhất thời khó mà thắng được…
Các tướng lên bãi đất cao ngoảnh mặt về phía nam quan sát: Quân Kinh Châu doanh lũy san sát chiếm vùng xung yếu, lớp lớp công sự phong tỏa đường đi, chòi cao canh gác cẩn mật, cung cứng giăng bủa khắp nơi. Mấy vạn hùng binh bao vây Phàn Thành ở cả bốn mặt, đến một ngọn gió, một giọt mưa cũng không lọt qua được. Thang mây, xung xa[7] tấn công cả ngày lẫn đêm, bụi cát mù mịt che phủ bầu trời, quân lính giữ thành cố sức chống trả, mệt mỏi vô cùng, chốc chốc lại có người rơi xuống chân thành.
Đại trại tiền quân lại nằm ngay phía bắc Phàn Thành chặn quân cứu viện, trước trướng trung quân dựng tinh kỳ cao vút của Quan Vũ, binh sĩ chỉnh tề doanh trại nghiêm cẩn, xích hầu cưỡi ngựa liên tục chạy qua chạy lại, xe chở quân nhu nối nhau không dứt. Hơn chục lớp hàng rào chông chà đều có binh sĩ bảo vệ, đao thương tựa như cây lúa, kiếm kích tựa như rừng đay, sáng lóa dưới ánh mặt trời, khiến người ta giật mình kinh hãi. Đại quân tiến lui có trật tự, đúng là tòa liên trại không một kẽ hở!
Chu Cái nhìn cảnh tượng này, cơn giận lại trào lên:
— Thất phu Quan Vũ thực hống hách. Sào huyệt của mình sắp mất đến nơi rồi, còn ở đây diễu võ dương oai. Cứ chờ xem, vài ngày nữa trước sau cùng tiến đánh ắt khiến ngươi không còn một mảnh giáp!
Ân Thự cảm thấy nghi hoặc:
— Bên địch đã nhận được tiễn thư nói việc Tôn Quyền xuất binh sao còn chưa lui quân, hay là chúng không tin chúng ta, cho rằng đó là kế ngụy báo?
— Không đâu. - Từ Hoảng nhìn thấu suy nghĩ bên địch, - Quan Vũ hẳn là đã xác thực chuyện Kinh Châu. Có điều ông ta cho rằng Giang Lăng đủ sức chống đỡ, không thể bị phá trong một sớm một chiều được, nên muốn đoạt lấy Tương, Phàn trước, rồi mới nhân đà thắng lợi điều quân trở về cứu Giang Lăng. Chuyện nước lớn làm ngập bảy bộ quân dường như là được trời giúp, nếu nửa chừng bỏ đi thì bao nhiêu công sức trước đó đều mất hết, chẳng biết đến khi nào mới lại có tình thế như vậy. Lợi lớn đang ở trước mặt, chẳng khó hiểu khi ông ta quyết chiến không lùi. - Xuất phát từ giao tình riêng, ông ta lo lắng thay cho Quan Vũ - Lúc nên lùi không lùi, tham lợi không bỏ, đó là đại kỵ của người làm tướng. Quan Vũ quyết đánh cược một lần, nhưng nếu cược thua, cả tiền phương và hậu phương đều sẽ thất thủ, thực quá mạo hiểm.
Giả Tín đứng bên cạnh quan sát một lúc lâu, có phần lo lắng:
— Quân ta đến được Yển Thành, nhưng quân địch cũng đã tập hợp một chỗ, thế công thành càng mạnh. Cứ tiếp tục thế này, Tào tướng quân sẽ không giữ được mấy ngày nữa, e là chưa đợi được đến lúc Tôn Quyền đắc thế, Phàn Thành đã mất rồi. Sự tồn vong, an nguy của Phàn Thành chẳng thể trông vào người ngoài được, chúng ta không thể cứ ngồi không đợi Tôn Quyền. Mà dù có mượn tay hắn giải vây, thì cũng… - Ông ta nói được một nửa thấy không hay, nên lại không nói nữa.
Từ Hoảng lừ mắt nhìn ông ta vì hiểu nỗi niềm ấy. Quân Tào liên tục bại trận, đã đủ thảm hại, giờ có mượn sức của Tôn Quyền giải vây được Phàn Thành thì cũng mất hết thể diện. Trước mắt không chỉ là vấn đề cứu viện, mà còn phải vớt vát thể diện cho Tào Tháo.
— Liều thôi! - Chu Cái lại hét ầm lên, - Chúng ta người đông thế mạnh, luân phiên ra trận, dẫu không hạ được doanh trại quân địch thì ít nhất cũng có thể quấy nhiễu việc công thành. - Tất cả chúng tướng đều hùa theo, nhưng Từ Hoảng vẫn chưa tỏ thái độ gì, chỉ nói:
— Tất nhiên phải liều, nhưng không thể liều chết. - Ông ta ngẩng đầu nhìn xung quanh, quan sát thật kỹ cách bày bố của quân Kinh Châu, rồi dừng mắt ở một bãi đất cao mé tây nam - Quan Vũ dựng bốn doanh trại khác ở đó, chia một vạn quân do đô đốc Triệu Lũy thống lĩnh, một khi quân Tào tấn công Quan Vũ, Triệu Lũy sẽ luồn tới chặn đánh phía sau.
Quan sát một lúc lâu, Từ Hoảng giơ chỉ về mé đó nói:
— Có cách rồi, dương đông kích tây điệu hổ ly sơn.
— Điệu hổ ly sơn? - Chúng tướng đưa mắt nhìn nhau: Kế này không có gì đặc biệt, doanh trại của Quan Vũ phòng bị kiên cố, dù có thể làm phân tán một ít binh lực tiền doanh, thì còn chục lớp hàng rào chông chà, đâu phải dễ dàng đột phá?
Từ Hoảng cũng chưa có tính toán gì, lại hỏi Tham quân Triệu Nghiễm:
— Phía sau còn có viện binh chưa đến không?
Triệu Nghiễm nói:
— Ngoài quân của Trương Liêu và biệt bộ của Tang Bá ra, hơn mười bộ binh mã đều đã đến hết. Biệt bộ Thanh Châu chỉ có mấy ngàn quân không đáng kể, Trương tướng quân đang truy quét Tôn Lang, nghe nói liên tục báo tin thắng lợi, vài ngày nữa cũng sẽ hội họp được ở đây.
— Việc quân cấp bách không thể đợi Văn Viễn. - Từ Hoảng đưa mắt nhìn từng người trong số các tướng lĩnh, cuối cùng dừng lại chỗ Chu Linh, - Văn Bác, biết nhiều khổ nhiều, lần này phải nhờ ông đánh trận đầu.
Chu Linh nổi tiếng dũng mãnh, gan dạ, lại thường kề vai chiến đấu cùng với Từ Hoảng, nên hai người cũng có quan hệ thân thiết hơn những người khác, cười nói:
— Khách khí cái gì? Đại vương không ở đây, Chinh Nam Tướng quân thì đang bị bao vây, mọi việc đều do ngài quyết định, ngài chỉ đâu ta đánh đó.
— Được! - Từ Hoảng yên tâm sai phái, - Rạng sáng ngày mai, ông dẫn bốn vị tướng quân là Lưu Nhược, Phùng Khải, Từ Thương và Lã Kiến tấn công bốn doanh trại mé tây nam.
Lệnh này vừa ban ra không chỉ Chu Linh mà tất cả mọi người đều kinh ngạc - Năm người họ đều là đại tướng trung quân, bọn họ dẫn quân xuất kích chia mất gần một nửa binh mã, số còn lại đánh đại quân của Quan Vũ chẳng phải càng khó hơn sao? Từ Hoảng không để cho Chu Linh có cơ hội hỏi lại, nghiêm giọng truy vấn:
— Ông có thể lĩnh mệnh không?
— Được! Xin theo sự sắp xếp của tướng quân.
Từ Hoảng mủm mỉm cười:
— Để dụ địch ra khỏi hang, đánh giả cũng phải làm giống thật.
— Tướng quân yên tâm, đời này ta chưa biết giả cách là thế nào. Ngài để ta ra đánh, ta sẽ chơi thật với Triệu Lũy, không phá được địch doanh quyết không thu binh!
— Vậy là tốt nhất. - Từ Hoảng tắt dần nụ cười, - Các bộ còn lại sẽ tập trung đợi lệnh, mỗi bộ chọn ra những binh sĩ tinh nhuệ cảm tử theo ta tiến đánh đại doanh của Quan Vũ. - Chúng tướng giật mình: Từ Hoảng có tiếng là già dặn thận trọng, thế mà lần này lại thống lĩnh đội quân tiên phong xuất chiến, xem chừng thực sự phải liều mạng rồi…
Sáng hôm sau, vừa qua giờ Mão, trống lệnh và trống trận bên doanh trại quân Tào nổi lên ầm ầm, năm tướng đứng đầu là Chu Linh dẫn bản bộ binh mã hùng dũng xông đến đánh mé tây nam. Triệu Lũy được tin báo, vội vã điều quân cố thủ. Từ Hoảng cùng với các tướng còn lại như Ân Thự, Chu Cái và Giả Tín điều toàn bộ binh lực đến tiền doanh, lệnh cho mọi người cúi thấp người di chuyển, không được phép nói chuyện, tránh để cho xích hầu bên địch phát hiện ra.
Năm bộ quân của Chu Linh có đến mấy vạn binh mã, vượt xa binh lực của quân địch, nhưng Triệu Lũy dựa vào địa thế cao mà tử thủ, tạm thời hai bên đang ngang sức. Quân Tào lần lượt xông lên, lại lần lượt bị cung tiễn bắn trả, vậy mà Chu Linh vẫn đốc quân tiến lên phía trước. Triệu Lũy giật mình trước thanh thế của quân Tào, chỉ huy tướng sĩ tận lực chống cự, gấp đến độ cuống cả chân tay. Thực ra, trong lòng chúng tướng Tào doanh còn sốt ruột hơn, bởi xích hầu chạy tới chạy lui, mà chỉ thông báo động tĩnh của Triệu Lũy, còn không có tin tức gì bên phía Quan Vũ. Chiến sự mé tây đã ở vào thế giằng co, nhưng đại doanh đối diện vẫn không có một chút động tĩnh, nhử hổ xa rừng mà hổ không chịu ra, phải làm thế nào đây? Ai nấy đều liếc nhìn Từ Hoảng, song ông ta vẫn rất bình tĩnh, ngồi xếp bằng cạnh cột cờ, điềm nhiên lau chùi đại đao.
Chớp mắt, hai quân giao chiến được một canh giờ, quân Tào chưa phá được địch doanh. Đánh nghi binh đã sớm biến thành đánh thật, Chu Linh thấy tấn công vô ích, bèn lùi lại phía sau bày trận thế bao vây doanh trại quân địch từ ba đường. Phút chốc, mưa tên từ hai bên bắn ra tới tấp, nhưng quân Kinh Châu có tường trại che chắn nên chống trả được; quân Tào vẫn tiếp tục nghênh công, gần hai vạn binh sĩ được bố trí ở sườn núi bị thương vong rất nặng. Quân báo đưa tới doanh, chúng tướng càng lo lắng, ngay cả Triệu Nghiễm cũng ngồi không yên, chất vấn Từ Hoảng:
— Kế này có khả thi không?
Từ Hoảng đặt đại đao xuống, sửa lại túi tên, thuận miệng đáp:
— Quan Vũ sợ quân ta ồ ạt tấn công, mới đặt bốn doanh ở mé tây nam để làm thế ỷ dốc, đó là phép ứng cứu lẫn nhau. Nếu Triệu Lũy thất thế, rút về thành trì cố thủ thì dù có nhiều binh mã hơn nữa cũng chỉ là cô quân, cho nên bọn họ buộc phải cứu bốn doanh này. Giờ quân địch chưa chịu ra, chắc chắn là nghi ngờ ta dùng kế dương đông kích tây. Đợi thêm lúc nữa, Triệu Lũy rơi vào tình thế vô cùng nguy ngập, Quan Vũ tất phải ra thôi.
— Nói rồi ông ta quay lại căn dặn tiểu tướng Nhạc Lâm, - Ngươi dẫn một nửa binh mã của mình cầm cờ hiệu của ta lên trước trợ chiến.
Nhạc Lâm lĩnh mệnh mà đi, dẫn theo hai ngàn binh mã, chúng tướng nôn nóng xoa nắm đấm. Nhưng Từ Hoảng vẫn tỏ ra bình tĩnh, hạ giọng khuyên giải:
— Quan Vũ cũng là người trí dũng song toàn, không dễ lừa đâu. Lưu Bị cả đời dụng binh rất ít khi chia quân, thế mà khi đã chia quân lại trao cho Quan Vũ, đủ thấy ông ta cũng có tài dụng binh. Giao đấu với một danh tướng như vậy không thể nôn nóng được.
Từ Hoảng sai Nhạc Lâm cầm cờ hiệu của mình đi trước, phần vì muốn lung lạc quân địch, phần vì muốn khích lệ tướng sĩ bên mình. Lúc này bọn Chu Linh, Từ Thương đã quên mất ý định ban đầu chỉ là đánh nghi binh, dẫn binh sĩ mạo hiểm xông lên phía trước. Bên địch thấy quân Tào xông đến doanh lũy, vội chia quân ra ngăn chặn, giáp chiến với trung quân. Phùng Khải và Lưu Nhược tiến đánh từ hai phía tả hữu, quân Kinh Châu lăn cây lăn đá xuống, đúng là một trận đấu trí đấu dũng ác liệt!
Xích hầu bên Tào doanh dồn dập đưa tin nhưng vẫn không có động tĩnh của Quan Vũ. Chúng tướng lòng như lửa đốt, nhìn trời sắp chuyển sang giờ Tỵ, tiền phương báo tin Chu Linh đã đánh đến viên môn của Triệu Lũy. Chu Cái thực không nhịn được nữa, nhảy bật dậy:
— Đủ rồi! Ta xin lĩnh binh đi giúp Chu Linh, dù Quan Vũ không chịu ra, lấy được bốn trại mé tây nam cũng có thể…
— Cấp báo! - Câu này còn chưa nói xong, lại có một tên xích hầu chạy tới:
— Cửa phía tây đại doanh của Quan Vũ đã mở, có một đội binh mã ra khỏi doanh gấp rút chi viện cho Triệu Lũy.
Chu Cái nghe tin giật mình, vụt ra chòi canh chỗ viên môn, trèo lên cây sào, tận mắt nhìn ra bên ngoài, rồi mừng rỡ nói:
— Đúng là Quan Vũ! Hổ ra khỏi núi rồi!
Chúng tướng nhấp nhổm đứng cả dậy. Từ Hoảng dường như còn hoài nghi, ngồi dưới lạnh lùng quát:
— Ngồi xuống, chớ động đậy… Ông có nhìn nhầm không?
— Không sai đâu! - Chu Cái nói xuống phía dưới, - Người lĩnh binh chính là Quan Vũ, dù hắn có hóa thành tro ta cũng nhận ra.
Từ Hoảng lại hỏi:
— Dẫn bao nhiêu binh?
— Ít nhất cũng phải năm sáu ngàn quân!
Quan Vũ tiếp quản bộ quân Kinh Châu, phá liền hai quận được khá nhiều hàng binh, lại thu nạp bảy bộ binh mã rơi rớt của Vu Cấm, tổng binh lực lúc này cũng đến năm sáu vạn. Quân bao vây Tương Dương, Phàn Thành chiếm hai vạn, các doanh đóng ở hai bờ sông Hán Thủy cùng với quân phòng giữ hàng rào chông chà cũng chiếm hơn một vạn, Triệu Lũy chia một vạn quân đồn trú mé tây nam, đại doanh tiền quân chỉ còn nhiều nhất hơn một vạn binh mã nhưng có công sự nghiêm ngặt, không một kẽ hở.
Giờ Quan Vũ đích thân dẫn quá nửa binh lực đi chi viện, đại doanh càng trống, không hạ thủ còn đợi khi nào nữa?
Bọn Giả Tín rối rít xin lệnh:
— Đến lúc rồi, ra tay thôi!
Từ Hoảng thong thả đứng dậy, chúng tướng cứ tưởng ông ta sắp truyền lệnh, ai ngờ ông đến trước chiến mã của mình, thắt chặt yên cương:
— Tình thế chưa chín muồi, ắt còn có biến, cứ chờ thêm chút nữa.
Các tướng nôn nóng đến độ nghiến răng nghiến lợi, giậm chân bình bịch cũng không lay chuyển được Từ Hoảng, đành đi dắt ngựa của mình tới, chuẩn bị sẵn sàng xuất chiến. Chu Cái trèo lên bên trên, nhìn rõ toàn cảnh, lúc này lại tỏ vẻ bình tĩnh, chăm chú nhìn đội quân của Quan Vũ… Một lúc nữa lại trôi qua, ông ta bỗng ngoái đầu lại hô to:
— Quan Vũ giao chiến với Nhạc Lâm rồi!
Từ Hoảng liên tục gật đầu:
— Được, được, được… - Nói xong ông ta tung người lên ngựa, giơ đại đao nói, - Tướng sĩ ba quân đứng lên nghe lệnh! Việc cứu viện Phàn Thành đều nằm ở trận này, lập tức mở cửa trại theo ta xông lên!
Tướng sĩ chờ đằng đẵng gần hai canh giờ đã dồn sức chuẩn bị từ lâu, nghe được hiệu lệnh, tất cả nhảy lên lưng ngựa, viên môn cửa trại mở toang, trống đánh vang trời, thế như ngựa phi - Gần ba vạn quân cùng xông ra.
Trận đánh thật lúc này mới bắt đầu, Quan Vũ đã ra khỏi doanh, nhưng mười lớp hàng rào chông chà vẫn còn đó. Một ngàn binh sĩ cảm tử của quân Tào xung phong lên trước, đội kỵ sĩ đầu tiên mình mặc hai lớp áo giáp, cho trước mặt có bao nhiêu loạn tiễn bay lại, vẫn cố chạy thẳng tới chỗ hàng rào! Phía sau chông chà đều có quân địch phòng thủ, dùng thương dài kích lớn đâm vào cổ ngựa, khiến chiến mã hí lộn. Nhưng Từ Hoảng đã có sắp xếp, đội kỵ sĩ này buộc phải hy sinh mở đường cho bộ binh theo sát phía sau; kỵ binh có sức tấn công mạnh, bộ binh nhân lúc quân địch chưa kịp rút thương, rút kích ra khỏi cổ ngựa đã nhảy lên khua đao. Loạt tiếng keng keng vang lên, binh đao của quân Kinh Châu đều bị chém gãy; lại một đội nữa xông lên, chém đinh chặt sắt một hồi, phá hỏng chông chà, giết chết quân địch - Phòng tuyến mà Quan Vũ dày công bố trí đã bị đánh phá như vậy.
Từ Hoảng suy nghĩ sâu xa sớm đã tính toán từ trước, quân cảm tử dũng mãnh gan dạ vô cùng, nhưng chỉ phá được bốn lớp chông chà đã kiệt sức. Dù là bảo mã cũng ngã khụy, huống hồ quân địch ở phía sau đã nhận ra chiến thuật của quân Tào. Đến hàng rào thứ năm chiến mã đã hết, quân cảm tử phải quơ đao chém, thương đâm đao chặt, máu tươi phun lên, có tên trèo lên lan can chưa kịp giao đấu đã bị đâm trúng bụng còn cố vung đao về phía địch, chiến hào gần như lấp đầy thi thể!
Đến hàng rào thứ sáu, quân cảm tử đều đã bỏ mạng gần hết. Từ Hoảng hiểu dụng binh quý ở thần tốc, không thể chậm trễ kéo dài, nên phóng ngựa quát lớn:
— Hôm nay giao đấu chỉ được tiến không được lùi, kẻ nào lùi lại một bước sẽ bị chém ngay tức khắc! Toàn quân tiến lên! - Mệnh lệnh truyền xuống điều một đội kỵ binh xông lên trước, tên đã kéo dây không thể không bắn, đội kỵ binh không cần biết trước mặt là địch hay ta, đều quất ngựa xông thẳng lên. Có kẻ tế ngựa vọt qua chông chà, có kẻ xéo lên xác chết mà đi, vô số người trúng thương ngã dưới chiến hào, phía sau lớp lớp quân Tào chạy qua phòng tuyến này.
Mười lớp hàng rào đã phá được một nửa, giờ muốn thu tay về cũng không được nữa. Các tướng như Giả Tín, Ân Thự cũng không quan tâm có quân lệnh hay không, dẫn binh mã cùng tiến lên phía trước, các bộ đồng loạt phi ngựa tựa như sóng lớn tràn tới. Binh sĩ Tào doanh phấn sức chiến đấu, họ đã xông qua được mấy phòng tuyến tiếp theo. Có điều, tấn công kiểu này cũng khiến quân Tào tổn thất nặng nề, những nơi đi qua chất đầy xác chết, người phía sau giẫm lên thi thể chiến hữu mà đi…
Lúc này đang vào giờ Ngọ, mặt trời tỏa ánh nắng chói chang trên đầu, quân Tào xông đến lớp phòng tuyến cuối cùng, lúc này đã thực sự đuối sức. Quân Kinh Châu mở toang doanh trại, bố trí toàn bộ cung thủ trước viên môn, liên tục bắn ra những trận mưa tên. Quân Tào đã mất đội hình, các bộ binh mã rối loạn, hiệu lệnh không truyền đến được, binh sĩ lại bị tên bắn, tự giẫm đạp lên nhau. Từ Hoảng múa cờ kêu gào mà hoàn toàn vô ích, liền phóng ngựa xông ra - Tướng sĩ hai bên trân trân nhìn đại tướng uy phong lẫm liệt mạo hiểm xông lên giữa màn mưa tên, người trúng mấy mũi tên vẫn không lùi bước. Nháy mắt, Từ Hoảng đã xông đến trước trận, con hắc mã tung vó nhảy vọt qua hàng rào chông chà tựa một đám mây đen. Chỗ vó ngựa đặt xuống chính là giữa trận địa của quân địch, ông ta quơ đại đao hết quật trái lại chém phải, dũng mãnh vô song.
Hiệu lệnh của quân Tào bị rối, nhưng lúc này hành động của chủ tướng chính là hiệu lệnh vô thanh! Binh sĩ nhanh chóng ổn định lại, nhìn Từ Hoảng rơi vào vòng quân địch, tính mạng nguy ngập - Mấy vạn dũng sĩ chớ nói là kiến công lập nghiệp, nếu ngay cả chủ soái của mình còn không bảo vệ được thì đi lính làm gì? Tướng sĩ hò hét rúng trời, đồng loạt xông lên phòng tuyến cuối cùng. Vạn người đồng lòng, dời núi lấp bể, cung tiễn của quân Kinh Châu khó mà cản được, phòng tuyến cuối cùng cũng bị phá!
Đao sắc giao nhau tạo nên một trận hỗn chiến, tướng sĩ hai quân đều bị bao phủ trong màn sương máu. Tướng sĩ Tào doanh nhìn viên môn của quân địch đã ở gần trong gang tấc, ai nấy kêu gào như điên dại, múa loạn binh đao, không theo phương pháp nào cả, mà chỉ muốn xông lên chỗ có nhiều địch. Chu Cái dẫn một đội thân binh lên trước, đánh vào trùng vây cứu Từ Hoảng, trông Từ tướng quân bị trúng hơn chục mũi tên, may mà có áo giáp dày nên không đáng lo, Chu Cái tấm tắc luôn miệng. Dù đang ở giữa trận, ông ta cũng khó nén được sự kinh phục mà phải thốt lên rằng:
— Từ trước ta chỉ biết tướng quân trị quân nghiêm cẩn, hôm nay mới biết ngài cũng dũng mãnh chẳng kém gì Nhạc Tiến, Trương Liêu! Mạt tướng thật lấy làm hổ thẹn!… - Song Từ Hoảng chẳng hơi đâu đối đáp với ông ta, nhịn đau thúc giục binh sĩ tiến lên.
Chỗ dựa của quân Kinh Châu chính là mười lớp hàng rào chông chà này, giờ đã bị quân Tào phá hết nên kinh hồn bạt vía, đánh được một lúc đã không cự nổi, còn đám cung thủ kia càng không có sức chống đỡ, bị quân Tào đánh cho tứ tán. Giả Tín đang hô hào kỵ binh xông lên, chợt trông thấy dưới viên môn có một viên quan bên địch múa cờ lệnh chỉ huy, người đó chính là Hồ Tu, nguyên Thứ sử Kinh Châu đã phản quốc hàng địch.
Nỗi phẫn hận từ trong tâm can ngùn ngụt bốc lên, Giả Tín giơ đao chỉ về phía Hồ Tu, đanh giọng quát:
— Phản thần Hồ Tu bán chủ cầu vinh! Giết tên giặc đó trước! - Tiếng quát như sấm đánh bên tai, Hồ Tu sợ đến tim đập chân run, quay ngựa định bỏ chạy. Tiếc là hắn chưa vào được trong doanh thì lưng đã bị trúng mấy mũi tên, không nhịn được đau, ngã quay xuống đất, liền bị vó ngựa của bại quân Kinh Châu giày xéo!
Tất cả chướng ngại đều đã được quét sạch, quân Tào lúc này không có tổ chức, nhưng thắng lợi ở ngay trước mặt, sĩ tốt đều quên đau, hò hét xông vào đại doanh. Tiền phương đại bại, người chết vô số, trong doanh trống trơn, chỉ có hơn một ngàn quân do Quan Bình đốc suất là còn sức chiến đấu. Tiểu tướng này không hổ là con của hổ tướng, lòng dạ sắt đá, võ nghệ xuất chúng, dốc sức đánh giết mà không hề nao núng, tiếc là anh ta có quá ít binh mã, không thể xoay chuyển được cục thế. Quân Tào ùn ùn kéo vào lùng sục, đánh giết, trong doanh là một mớ hỗn loạn.
Đúng lúc này, chợt nghe mé tây có tiếng hò hét, quân Kinh Châu lại ùa đến - Thì ra Quan Vũ biết đại doanh bị đánh úp, vội vàng chạy về!
Cái dũng của Quan Vũ nổi tiếng thiên hạ, năm xưa ông ta từng giết chết Nhan Lương trong đám loạn quân, có ai không biết? Lúc này trông thấy ông ta hầm hầm quay về cứu nguy, tướng sĩ Tào doanh sớm đã mệt lử, lại thêm khiếp sợ, vừa giao đấu đã không chống nổi thế phục thù của quân Kinh Châu. Từ Hoảng đang bị thương không có sức đánh tiếp, nhưng việc đến nước này buộc phải bảo toàn thắng lợi, ông ta cũng đoán được rằng Quan Vũ đột nhiên vòng trở lại, phía sau hẳn là còn có truy binh bên mình. Vì vậy trong tình thế cấp bách, ông ta hô to với chúng nhân:
— Chớ quên ước hẹn lần trước, kẻ nào giết được Quan Vũ sẽ được thưởng ngàn cân vàng!
Treo thưởng hậu hĩnh tất sẽ có dũng phu, Từ Hoảng nhắc lại chuyện cũ, quả nhiên nhiều kẻ phấn khích, cầm binh khí xông lên đương đầu với quân địch. Có người dẫn đầu, những tên sau cũng bạo gan làm theo. Đấy đâu phải đánh nhau vì Quan Vũ, rõ là muốn tranh một ngàn cân vàng kia!
Trái ngược với Quan Vũ đang hùng dũng múa đao chém giết những kẻ xông đến, không hiểu vì sao bộ hạ của ông ta lại mất sức chống đỡ. Việc Giang Lăng bị tập kích đã được xác nhận từ mấy ngày trước. Gia quyến của những tướng sĩ Kinh Châu này đều đang ở hậu phương, bọn họ chỉ nóng lòng muốn chạy ngay về, nhưng Quan tướng quân lại hiếu chiến, không phá được Tương, Phàn quyết không hồi quân, thành thử mọi người chỉ biết cố nén nỗi lo mà liều mạng ở đây. Giờ mười lớp phòng tuyến đều đã bị quân Tào phá tan, chớ nói là hạ được Phàn Thành, ngay đến đại trại cũng sắp không giữ được. Quan Vũ vội vàng trở về cứu viện, bọn Lã Kiến, Từ Thương còn truy sát phía sau, trận này đánh thế nào được nữa? Tình thế dồn ép, quân Kinh Châu sắp sửa tan vỡ… Nhìn binh sĩ trốn chạy không nghe hiệu lệnh, Quan Vũ biết mình không còn khả năng vãn hồi, chỉ có thể xông lên cứu nhi tử, hai cha con dẫn đám tàn quân phá cửa trại phía đông, thu một bộ binh mã tại doanh trại khác.
Tòa đại doanh mà quân Tào chiếm được giáp với cửa bắc Phàn Thành, thế là cuối cùng cũng giải được nạn vây thành. Có điều, thắng lợi này không mang đến sự vui vẻ hoan hỉ, mà là một bầu không khí trầm mặc, bởi có rất nhiều binh sĩ đã phải bỏ mạng - Quân Tào dùng kế dương đông kích tây, nhưng đã khi nào phải đánh một trận gian nan, phá hơn mười phòng tuyến, tiến thẳng vào hang vuốt râu hùm như vậy đâu?
Từ Hoảng vẫn chưa được nghỉ ngơi, vừa rút tên cắm trên áo giáp, vừa sai người vào thành liên lạc với Tào Nhân, điều xích hầu tiếp tục theo dõi động tĩnh của Quan Vũ, rồi còn thu gom lương thảo cướp được và tra hỏi tù binh. Ông ta vừa thở được một chút, Ân Thự đã hằm hằm dẫn một người đang bị trói chặt tới trước mặt:
— Các ngài xem ta bắt được ai này?
Chúng tướng quay ra nhìn, cơn hận lại trào lên - Thì ra là Thái thú Nam Hương Phó Phương nạp đất hàng địch!
— Phản tặc vô sỉ, có biết được mình sẽ có ngày hôm nay không?
Phó Phương run lập cập, khóc lóc van xin:
— Xin chư vị nghĩ đến tình đồng hương trước đây mà giữ lại mạng sống cho tại hạ…
Từ Hoảng giận dữ nói:
— Ngươi là người được đại vương đích thân cất nhắc mà lại bất trung bất nghĩa, dâng thành hàng địch, còn mặt mũi nào nói đến chữ “tình”? Nếu như không giết ngươi, há có thể an ủi vong linh các tướng sĩ tử nạn? Làm sao giải được nỗi hận trong lòng đại vương? Lôi ra ngoài, chém! - Đâu phải chỉ đao phủ mới thi hành được hình pháp? Ân Thự vung đao chém một nhát giữa lưng Phó Phương, các tướng khác cũng hận hắn thấu xương, bước lên băm vằm để xả cơn giận.
Đúng lúc ấy, xích hầu phóng ngựa tới báo:
— Quan Vũ vừa truyền lệnh thu quân, bỏ lại các doanh ở Giang Bắc.
Công sự của các bộ Kinh Châu đều đã bị phá hết, doanh của Triệu Lũy cũng bị Chu tướng quân đoạt được, chiến thuyền của địch che kín đường thủy đang rút về bờ nam.
Chu Cái ngửa mặt cười to, lại lấy lại tinh thần:
— Các vị, chúng ta nhân cơ hội này mau chóng dẫn quân truy kích, không những giải được nguy cho Tương Dương, còn có thể cướp được quân nhu, bắt sống Quan Vũ!
Nào ngờ ông ta còn chưa nói dứt lời đã có người lên tiếng ngăn lại:
— Không được, không được, đại vương nếu có ở đây cũng sẽ không cho phép ông làm vậy! - Chư tướng quay lại nhìn. Tham quân Triệu Nghiễm được một đội thân binh bảo vệ hớt hải chạy lại.
Chu Cái cười nhăn nhó:
— Sao Triệu công toàn tới không đúng lúc thế?
— Các vị tướng quân vất vả rồi. - Triệu Nghiễm xuống ngựa chắp tay.
Từ Hoảng nhíu mày hỏi:
— Ngài hiểu được ý của chúa thượng, có thể giải thích cho chúng tôi được không?
Triệu Nghiễm mỉm cười nói:
— Quan Vũ bại trận, rút về giữ bờ nam nhưng lòng quân hoảng loạn, khó có thể phấn chấn lại được, Tương Dương thành cao hào sâu không có gì đáng lo. Quân ta lúc này nên lấy việc tu bổ Phàn Thành, cứu chữa binh sĩ bị thương làm trọng, mặc cho Quan Vũ chủ động rút quân, đánh nhau với Tôn Quyền. Nếu truy kích vào sâu, Tôn Quyền tất sẽ nghi ngờ chúng ta có ý làm ngư ông được lợi, hoặc là lại nối giao tình với Quan Vũ mà gây họa cho ta. Đại vương cũng vì chuyện này mà sẽ lo lắng không yên. - Những lời này của Triệu Nghiễm đều có lý, có điều ông ta chưa từng nghĩ rằng: Đoạt được Kinh Châu chính là tâm nguyện đau đáu của Tôn Quyền, nên ông ta sẽ không đời nào từ bỏ giữa chừng. Huống chi Giang Đông đã kết đồng minh với Tào Ngụy, lại làm hỏng chuyện lớn của Quan Vũ, muốn quay đầu lại đâu có dễ? Kỳ thực, gốc rễ của việc này cũng không nằm ở hình thế, mà ở chỗ Tào Tháo đã mệt mỏi cùng cực, chỉ cần giữ được Tương, Phàn là được, chứ chẳng mong lại cuốn vào một trận chiến khác.
Từ Hoảng hiểu được suy nghĩ của Triệu Nghiễm, mãi tận lúc này ông ta mới trút được một tiếng thở dài, phút chốc toàn bộ sức lực trong người dường như tiêu hao hết, xoa vết thương vì bị trúng tên trên vai, thều thào nói:
— Dừng lại ở đây thôi, để đại vương được an lòng…
❀ ❀ ❀
[1] Một tên gọi khác của huyện Bái kể từ sau thời Hán, nay thuộc huyện Bái, tỉnh Giang Tô.
[2] Binh mã lâm trận quý ở tinh nhuệ, không quý ở số lượng.
[3] Chỉ lực lượng vũ trang ở địa phương. Thời Tần, Hán có đặt binh lực ở quận quốc, mỗi quận lại có đô uý, nắm quyền cai quản binh mã. Một khi đất nước có biến sẽ điều động binh mã của quận quốc.
[4] Gia Cát Phong là một danh thần thời Tây Hán, họ hàng xa với Gia Cát Lượng, bản tính chính trực, ngay thẳng, nổi tiếng vì đã hàn đặc quyền thần trừ gian.
[5] Chín chức quan cao cấp trong chính quyền trung ương thời xưa. Tên gọi và tư chức mỗi triều đại có hơi khác nhau, riêng thời Hán cửu khanh gồm Thái thường, Quang lộc huân, Vệ uý, Thái phó, Đình uý, Đại hồng lô, Tông chính, Tư nông và Thiếu phủ.
[6] Đồng tâm thì thành toàn cho nhau, đồng dục thì cùng nhau theo đuổi.
[7] Chỉ một loại binh xa dùng để tấn công thành trì, có tám bánh, năm tầng. Tầng dưới cùng là các binh sĩ có nhiệm vụ đẩy xe đi lên phía trước, còn bốn tầng kia chở các binh sĩ có nhiệm vụ đánh thành. Xe cao khoảng mười hai mét, rộng sáu mét, dài tám mét.