Từng tuần khói nhang lượn lờ giữa không trung, lúc thì tựa như con rồng bay quanh cột trụ, lúc lại giống như lớp sương mù mờ ảo tan dần vào hư vô. Linh đường đã được lập mấy tháng nay, từ lâu không còn ai lui tới bái tế, nhưng ngày nào Tào Hưu cũng bầu bạn với mẫu thân trước linh đường.
Nhà Hán vốn coi trọng lễ cư tang, kẻ sĩ để tang ba năm là lẽ thường, Khổng Tử nói: “Quân tử chi cư tang, thực chỉ bất cam, văn nhạc bất nhạc, cư sở bất an.”[1] Nhất là vào thời kỳ kinh học cực thịnh, chữ “hiếu” trở thành một chuẩn mực đánh giá người tốt, kẻ xấu. Không ít người nâng cao được thân phận, địa vị nhờ giữ trọn đạo hiếu, như Viên Thiệu khi xưa cũng vì chịu tang phụ mẫu sáu năm mà tiếng lành đồn xa. Từ khi xảy ra chiến tranh loạn lạc, lễ nghi tiết giảm, người ta không còn câu nệ chuyện để tang ba năm nữa. Có điều, lúc này Tào Hưu thầm nhủ sẽ chịu tang đủ ba năm, không phải vì muốn nâng thân phận và địa vị của mình lên, cũng không phải vì cố chấp bảo thủ, mà là do tình mẫu tử quá sâu nặng.
Tào Hưu là cháu của Tào Đỉnh - tộc thúc của Tào Tháo. Tào Đỉnh từng nhận chức Thái thú Ngô Quận, Thượng thư lệnh, nhưng là một tên quan tham, có nhiều tiếng xấu, cuối cùng bị chết trong ngục, gia cảnh lụn bại. Tào Hưu sinh ra không được hưởng phú quý, lại mất cha từ nhỏ, cô nhi quả phụ phải sống dựa vào nhau. Đổng Trác vào kinh, Trung Nguyên đại loạn, Tào Hưu theo mẫu thân chạy nạn, lưu lạc đến Giang Đông, làm đầy tớ trong phủ Thái thú Ngô Quận, sau này trở về cố hương mới chính thức bước vào đường sĩ hoạn. Tào Tháo mến Tào Hưu nhân ái hiếu thuận, gọi anh ta là “ngựa thiên lý của nhà ta”, quan tâm, đối đãi như với Tào Chân, mẫu thân của anh ta cũng chuyển đến Nghiệp Thành để an hưởng tuổi già. Mấy năm gần đây, Tào Hưu thống lĩnh binh mã, xả thân ra trận, được tấn thăng làm Trung lĩnh quân, trở thành một trong những người nhận được nhiều sự chú ý nhất trong đám hậu bối nhà họ Tào, tiền đồ vô cùng xán lạn.
Con người ta không thể quên gốc, Tào Hưu luôn hồi tưởng về những gì mình đã trải qua thời niên thiếu, hồi tưởng về những ngày tháng lưu vong nơi xứ người. Trong những năm tháng khốn khó đó, để nuôi anh ta nên người, mẫu thân đã phải nhẫn nhịn chịu đựng bao nhiêu vất vả? Trong thân quyến Tào thị, có ai phải chịu nhiều khổ sở như mẹ con Tào Hưu, nên giờ mẫu thân qua đời, anh ta không tận hiếu trước linh đường thì lương tâm không yên. Thực ra theo ý Tào Hưu, sau khi đưa mẫu thân về huyện Tiều mai táng, anh ta muốn cư tang ba năm, không rời phần mộ, nhưng Tào Phi nhiều lần khuyên can, lại sai người thúc giục, anh ta đành phải trở về Nghiệp Thành, chịu tang trong phủ. Mấy tháng nay, Tào Hưu vẫn mặc tang phục, lúc nào cũng chìm trong nỗi buồn. Anh ta nhớ lại những chuyện năm xưa không biết bao nhiêu lần, nhưng vẫn khó mà vượt qua được nỗi bi thương, dường như chỉ khi đứng trước linh đường của mẫu thân, cõi lòng anh ta mới bình lặng. Tào Hưu không động vào đồ mặn và rượu, cơm chay cũng khó nuốt trôi, vì vậy trông người hốc hác, tiều tụy, đầu tóc rũ rượi, nào có còn giống với một vị tướng quân hiên ngang trên sa trường?
Hôm ấy trời mới mờ sáng, Tào Hưu như thường lệ, chưa chải đầu, chưa rửa mặt đã tới quỳ trước linh đường. Thê tử của anh ta tự tay thu dọn đồ cúng ngày hôm trước, mang xuống bếp, cùng đám vú nuôi chuẩn bị lễ tế cho ngày mới, chợt có tiếng gõ cửa dồn dập phá tan sự im ắng trong ngôi nhà có tang.
Tào Hưu không buồn để ý, anh ta đã sớm căn dặn gia nhân, trong thời gian để tang không tiếp bất cứ tân khách nào, có việc gấp thì gửi thư. Gia nhân tự biết xử lý những chuyện này, Tào Hưu vẫn mải chắt dấu vào đèn. Không ngờ, lát sau lại nghe thấy tiếng ồn ào - Khách đã xông vào tận trong nhà.
— Văn Liệt! Mau ra đây!
— Tiên sinh chớ làm vậy, đại nhân nhà tôi đang để tang, không tiếp khách…
— Vớ vẩn! Để lỡ đại sự, liệu nhà ngươi có gánh nổi không?
— Xin tiên sinh thong thả… Tiên sinh thong thả…
Tào Hưu giật mình, nghe giọng nói này rất quen nhưng không nhớ ra được là ai, vội đứng dậy đi ra ngoài cửa, thì trông thấy một nhân sĩ mình mặc áo đen chạy xộc vào sân. Người này khoảng ngoài bốn mươi tuổi, dáng người không cao, mặt to trán rộng, đầu quấn dải khăn tang màu trắng đang bay phất phơ. Không biết vì có việc cấp bách hay vì vừa đôi co với nô bộc mà ông ta đai mũ xiêu lệnh, đầy vẻ phong trần, mồ hôi nhễ nhại, vừa ngẩng đầu lên liền bắt gặp cái nhìn của Tào Hưu, bốn mắt nhìn nhau. Ông ta bất giác thở dài một tiếng như thể bỏ được khối đá đè nặng trong lòng:
— Mau đi theo ta!
Tào Hưu đứng ngây ra một lúc mới nhận ra:
— Ngô… Ngô Quý Trọng? Không phải ông đang làm Huyện lệnh ở Triều Ca ư? Sao lại…
Ngô Chất nắm cổ tay anh ta:
— Chớ nghĩ nhiều như vậy, mau đi theo ta, đại vương băng hà rồi!
— Sao? - Tào Hưu đã quá tiều tụy, lúc này lại nghe được tin dữ, trước mắt tối sầm lại, suýt nữa ngã ra.
Ngô Chất sợ toát mồ hôi:
— Văn Liệt! Thái tử còn phải trông cậy vào ông, ông không thể có chuyện gì được! - Thực ra Ngô Chất cũng rất mệt mỏi, có thể nói hai ngày nay ông ta đã phải kinh tâm động phách. Giờ Ngọ hôm qua, ông ta nhận được mật báo của Tư Mã Ý, lập lức tế ngựa chạy miết về Nghiệp Thành, dọc đường chưa ăn uống gì, giờ cũng thấy xây xẩm mặt mày, nhưng vẫn cố cắn răng chịu đựng. Theo quy chế của triều đình, ngoại quan chưa nhận được lệnh thì không được tự ý rời khỏi chức vị của mình. Nhưng đại vương băng hà bên ngoài, bọn Trần Quần, Tư Mã Ý và Tào Chân đều không có ở Nghiệp Thành, Ngô Chất đành phải tới giúp thái tử một tay. Nếu như lúc này Tào Phi không thuận lợi kế thừa đại thống, thì sự sống chết của những người trung kiên theo phe thái tử như ông ta còn chưa biết được, nói gì đến tiền đồ nữa?
Tào Hưu từ từ định thần lại, hai hàng nước mắt tuôn rơi:
— Ta mới đi được mấy tháng, không ngờ đại vương lại… Tử Hoàn phải đi trước chịu tang chứ?
Ngô Chất quệt mồ hôi:
— Ta tới chính là vì việc này, thái tử triệu ông hộ giá!
Mặt Tào Hưu tỏ vẻ khó coi:
— Ta cũng đang để tang mẫu thân, không thể…
— Giờ là lúc nào rồi mà ông còn câu nệ lễ nghĩa cổ hủ ấy? Đi mau!
Tào Hưu lắc đầu quầy quậy:
— Mẫu thân vất vả nuôi dưỡng ta, hiếu tâm này xuất phát từ đáy lòng, hẳn là thái tử cũng sẽ thông cảm cho ta thôi…
— Yên Lăng hầu nắm giữ binh mã ở gần Trường An, nếu ngài ấy ra tay trước, chiếm được lợi thế, thái tử há chẳng phải gặp nguy hiểm ư? Giả như thái tử có mệnh hệ gì, liệu ông có được kết cục tốt đẹp không.
Tào Hưu chăm chú nhìn vào bài vị của mẫu thân, kiên định nói:
— Tận tâm tận lực mà làm, còn họa hay phúc thì phải nghe theo ý trời, ta đã lập lời thề phải làm hiếu tử trước linh đường rồi.
— Ông, ông… - Ngô Chất cuống lên giậm chân bình bịch, nhìn vào bàn thờ chốc lát, ông ta rảo bước tới trước linh đường, vén áo bào, quỳ sụp xuống khấn, - Lão phu nhân ở trên trời, vãn sinh khấu đầu đau xót. Vãn sinh phụng mệnh thái tử mời Văn Liệt xuống núi, việc này liên quan đến sự an nguy họa phúc của tử tôn lão phu nhân sau này, xin người thứ lỗi cho sự đường đột của vãn sinh! - Rồi dập đầu ba cái, lúc đứng dậy, ông vớ ngay lấy bình rượu cúng đặt trên bàn.
— Ông định làm gì? - Tào Hưu chưa kịp phản ứng, Ngô Chất đã nhào tới ghì cổ ông ta, trút hết bình rượu vào miệng. Người chịu tang không được động vào đồ mặn và rượu, chỉ cần dính một ngụm rượu coi như đã phá vỡ đạo hiếu!
— Khụ khụ khụ!… - Tào Hưu ho sặc sụa, rượu vương khắp người, ông ta nhìn Ngô Chất với ánh mắt oán hận.
— Ông chớ trách ta! - Ngô Chất còn tỏ vẻ tức giận hơn ông ta, mắng ập đầu, - Ông hãy thử nghĩ cho thái tử, nghĩ cho xã tắc! Tề Hoàn Công cả đời làm bá chủ hội họp các nước chư hầu, chỉ vì các nhi tử tranh giành ngôi vị sau khi ông ta chết mà khiến cho nước Tề suy vong, không thể chấn hưng được, lẽ nào Tào Ngụy lại giẫm vào vết xe đổ ấy? Cục thế hiện giờ chưa rõ ràng, lòng người hoang mang, Tôn, Lưu tác loạn bên ngoài, Yên Lăng hầu lại dòm ngó cạnh sườn, vạn nhất có kẻ liều lĩnh làm bậy như Hồ Hợi, Triệu Cao, thì chẳng những không bảo toàn được thái tử, mà xã tắc Tào Ngụy cũng sụp đổ theo!
Tào Hưu nghe những lời này không khỏi rùng mình.
Ngô Chất thấy ông ta dao động, lại nói tiếp:
— Ông thân là Trung lĩnh quân, nắm quyền cai quản trung quân, lúc này ngoài ông ra còn ai có thể thống lĩnh binh mã, bảo vệ thái tử chu toàn nữa đây? Giờ đâu phải lúc giữ tiểu tiết! - Rồi đỡ Tào Hưu đứng dậy, - Thái tử có lệnh, ông mau đi theo ta! - Nước mắt Tào Hưu vẫn chảy ròng ròng, lảo đảo bước ra ngoài như người đi trên mây, ông ta vịn vào khung cửa, lưu luyến nhìn bài vị mẫu thân.
Ngô Chất thực sự hết cách, chỉ còn biết khuyên bảo:
— Thái tử muốn trở thành Ngụy Vương thì ông không thể làm hiếu tử, nên suy nghĩ cho thái tử hay cho bản thân ông? Tuy ông là tử đệ tông thân, nhưng cũng là bề tôi của người ta, thân bất do kỷ. Trung và hiếu há có thể lưỡng toàn?
Nước mắt Tào Hưu lã chã rơi, nghe đến câu này, ông ta cắn răng dằn lòng, ngửa mặt lên trời thở dài:
— Được rồi, được rồi! Ta đi…
Bấy giờ Ngô Chất mới thở phào:
— Thái tử nối ngôi, ít nhất ông cũng kiếm được chức Thiên hộ hầu[2], làm rạng rỡ cửa nhà, đó mới là đại hiếu! - Tào Hưu chưa kịp dặn dò người nhà đã bị Ngô Chất kéo đi.
Cái chết của Tào Tháo là chuyện long trời lở đất, nhưng lúc này Nghiệp Thành lại im ắng đến mức đáng sợ. Các cửa thành đều đóng chặt, chỉ duy cửa Trung Dương mở to, binh lính trong thành, thị vệ trong cung canh gác nghiêm chỉnh, ba bước một đồn, năm bước một trạm, bách tính không hiểu chuyện gì xảy ra, thấy tình hình đó ai còn dám ra đường? Kỳ thực, sứ giả báo tang còn chưa đến, nhưng người của Trần Quần và Ngô Chất đã mật báo với Tào Phi trước rồi, nên phải sớm bố trí đề phòng có kẻ làm loạn.
Lúc này chẳng còn câu nệ phép tắc gì nữa, Ngô Chất thúc ngựa lao đi trên đường Chính Dương, miệng quát lớn: “Ta phụng mệnh thái tử hành sự!” Binh lính nghe câu này không dám ngăn cản, vội vàng tránh đường, Tào Hưu quất roi ngựa theo sát phía sau, hai người không qua phủ thái tử mà chạy thẳng vào vương cung, đến cửa cung mới nhảy xuống, vứt dây cương, bước qua cửa ngách - Rõ ràng Tào Phi đã sớm sắp xếp ổn thỏa cho ngày này.
Trong cung vẫn rất yên tĩnh, không thấy bất cứ điều gì bất thường. Tào Hưu theo Ngô Chất đi qua ba lần cửa, tới trước Thính Chính điện mới nhìn thấy sự thay đổi lớn - Thuộc quan của Đông cung như Vương Sưởng, Lưu Thiệu, Tư Mã Phu và Thái phó Hình Ngung đều đã tới, mặt người nào người nấy tái mét, ánh mắt thẫn thờ như còn đang trong giấc mộng. Các vị Thượng thư trung đài như Thường Lâm, Phó Tốn, Tiết Đễ, Vũ Châu cũng đứng hầu bên cạnh, chỉ thiếu một mình Đinh Nghi. Đang lúc cấp bách, Tào Phi không kịp thay áo, vẫn mặc tiện phục, chắp tay sau lưng, đi đi lại lại trước thềm điện.
— Thái tử! Ta tới rồi đây!
— Văn Liệt… - Tào Phi bước vội xuống thềm, nắm chặt tay Tào Hưu, trong lòng nghẹn ngào, không nói được câu nào. Hai ngày nay Tào Phi như gặp cơn ác mộng, trưa hôm qua y vừa nhận tấu chương nói phụ vương đổ bệnh nặng, định sắp xếp xong chính vụ sẽ đi thăm người, không ngờ y còn chưa kịp sắp xếp thì đến hôm nay, trời chưa sáng đã lại nhận được tin phụ vương băng hà, tưởng như sấm đánh bên tai!
Tào Hưu thấy Tào Phi siết chặt tay mình như thể muốn bóp vụn xương, lại tựa hồ vớ được cọng rơm cứu mạng, ông ta chợt nghĩ Tào Phi đã ở ngôi phó quân mấy năm mà vẫn lo lắng thấp thỏm như người đi trên băng mỏng, thậm chí tới tận lúc cuối vẫn còn phải mạo hiểm, rồi lại nhớ lúc còn sống đại vương ban cho mình bao nhiêu ân huệ, không kìm được nỗi bi thương trào dâng - Hai người cứ đứng đó nắm tay nhau, sụt sùi mãi không thôi.
Ngô Chất dường như không thương cảm:
— Giờ đâu phải lúc khóc lóc! Thái tử hãy mau chóng ban thủ lệnh, điều Văn Liệt tới đại doanh ở phía nam đô thành tiếp quản binh mã. - Sau đó quay sang hỏi chúng nhân, - Phải chuẩn bị tang lễ thế nào đây?
Vương Sưởng thấy khó nghĩ:
— Tại hạ đã dặn dò thái giám chuẩn bị tang phục, các quý nhân trong hậu cung cũng đã được báo tin. Nhưng thông báo từ trong quân chưa tới, biết cử hành tang lễ thế nào? - Tin Tào Tháo chết chắc chắn là thật, nhưng chưa có thông báo chính thức từ Lạc Dương nên chưa thể tự ý cáo phó.
Ngô Chất nhìn chiếc đồng hồ nước trước điện chỉ gần giờ Mão ba khắc, nóng ruột nói:
— Còn bao nhiêu việc cần làm, lỡ một khắc là mất cả nửa ngày, không phải nghĩ nhiều thế: cử hành tang lễ!
Vương Sưởng nào dám làm chủ việc này? Ông ta ngoảnh lại nhìn các vị Thượng thư, Thường Lâm, Phó Tốn chỉ khẽ gật đầu, không ai tỏ thái độ rõ ràng. Thái tử Thái phó Hình Ngung thấy vậy vội nói vào:
— Nhi tử tận hiếu không câu nệ tiểu tiết, dù cho thất lễ cũng tha thứ được. Di thể của đại vương đang được quàn ở bên ngoài, e là sẽ có bất trắc, nên sớm lên đường. - Ngay cả ông ta cũng nói như vậy rồi, đám Thượng thư chỉ còn biết ngầm đồng ý.
Mệnh lệnh được ban xuống, tiếng chuông hùng hồn, nghiêm trang trong Ngụy đình vang vọng khắp chốn Nghiệp Thành, tự nhân vương cung và duyện thuộc Đông cung lũ lượt hành động, trước tiên tới phủ đệ của các vị công khanh, vương tử báo tang. Chẳng mấy chốc đã ồn ào - Nhiều người mang tâm tư kín đáo, mới sáng ra đã thấy trong thành có biểu hiện khác thường, cũng đoán được vài phần, đến khi tiếng chuông bất ngờ vang lên bọn họ càng không còn nghi ngờ gì nữa, chưa ra khỏi nhà đã mặc tang phục, khóc lóc sụt sùi chạy vào cung. Một truyền mười, mười truyền trăm, chỉ trong vòng một tuần trà, ngoài cửa ngách đã chật kín người, Tào Phi truyền lệnh mở cửa Tư Mã, cho phép mọi người qua.
Cửa Tư Mã vừa mở, liệt hầu vương tử, chư thần cửu khanh, lang quan các bộ, duyện thuộc mạc phủ, học sĩ Phán cung, ùa cả vào trong! Thoáng chốc, quần thần đều phủ phục trước Thính Chính điện, tiếng khóc râm ran át đi tiếng chuông vang rền. Người thì giậm châm đấm ngực, người lại ngửa mặt khóc than, các lão thần tuổi cao như Trình Dục không quỳ được thì ôm cột trụ cửa nghi môn, khóc hết hơi, tới bọn thái giám, cung nữ cũng rưng rức quệt nước mắt. Cảnh tượng trong cung không giấu được dân gian, dù cho cả đời Tào Tháo đối đãi với bách tính như thế nào, dân chúng trong kinh đô Nghiệp Thành vẫn đội ơn Tào thị.
Tin dữ truyền ra ngoài, tất thảy sĩ nông công thương đều khóc tang, nhà nào nhà nấy cũng toang hoang, dân chúng đổ ra ngoài cúi rạp xuống đường khóc lóc ỉ ôi - Tiếng khóc vấn quanh chốn cung đình rồi bay vút lên tận chín tầng mây, thực là long trời lở đất.
Tào Phi đứng trên thềm điện, ra dáng người làm chủ triều đình, cũng không nén được nỗi đau, bật khóc rưng rức. Trông thấy các huynh đệ như Tào Thực, Tào Bưu lấm lem nước mắt, lết lên phía trước, y bước vội xuống định đỡ họ, nhưng không biết vì nỗi buồn trào dâng hay vì cố ý bày đặt mà cả người loạng choạng, suýt nữa ngã sõng soài. Lưu Thiệu, Vương Sưởng vội chạy lại, mỗi người một bên dựng y lên. Ngô Chất nói:
— Đại vương đã băng hà, mọi việc trong thiên hạ hiện giờ đều phải trông vào thái tử. Xin thái tử lấy xã tắc làm trọng, mấy việc vụn vặt không cần ngài phải đích thân lo liệu. - Nói xong liền gọi một đám thị vệ, thái giám tới “chăm sóc” các vị vương tử. Tào Phi đã lệnh cho cung nhân may tang phục, nhưng vẫn không đủ dùng, chỉ chia được cho các vị trọng thần công khanh, thị trung mỗi người một bộ để họ đăng điện nghị sự, còn những quan viên khác phải quấn tạm khăn tang. Một tên thị vệ trèo lên nóc điện treo cờ trắng, mọi việc được sắp xếp đâu vào đấy.
Đinh Nghi nghe được tin dữ, hớt hải chạy vào cung mới biết các Thượng thư khác đã được Tào Phi mật báo từ nửa canh giờ trước, chỉ chừa mỗi mình ông ta ra, lại trông thấy các vương tử như Tào Thực bị thị vệ dồn ra ngồi ngoài hành lang, không được vào điện bàn bạc tang sự, ông ta càng tức giận, định vào điện náo loạn một trận, làm mất hết thể diện của Tào Phi! Nào ngờ, ông ta còn chưa bước tới thềm điện đã nghe có tiếng ồn ào phía sau, ngoái đầu lại nhìn, hình như có một đám mây đen đang xô lại từ phía cửa Tuyên Minh. Đinh Nghi mắt mũi kèm nhèm, phải căng mắt nhìn mãi mới nhận ra đó là một đội binh sĩ trung quân, khôi giáp chỉnh tề, lúc này đã đi đến ngoài cửa Thính Chính - Tào Hưu tiếp quản đại doanh, điểm một đội quân vào cung hộ giá thái tử. Với cục thế này chẳng ai còn dám sinh sự, người nào thọc ngang sẽ bị chém đầu ngay tức thì!
Biết là uổng công, còn ồn ào làm gì nữa? Đinh Nghi nhìn đám giáp sĩ đen kịt, chút ý chí ương ngạnh còn sót lại cũng bay biến, nước mắt trào ra, không biết là khóc cho Tào Tháo, khóc cho Tào Thực hay khóc cho chính bản thân mình. Ông ta hoang mang bước lên đại điện, lặng lẽ đứng vào sau chúng nhân, mặc cho số trời định đoạt.
Tào Phi dù sao vẫn là thái tử, chưa dám tiếm ngôi Tào Tháo, bèn ngồi tạm trên chiếc ghế đặt ở đầu mé đông. Lúc này y chỉ muốn chạy ngay đến Lạc Dương, nhưng vẫn phải làm tròn nghi lễ quan cách, vả lại y đang là hiếu tử cũng không thể bộc lộ dã tâm ra ngoài được, nên đành nén tâm tình lại, lấy ống tay áo che mặt, khóc mãi không thôi.
Ngự sử đại phu Hoa Hâm, Đại lý khanh Vương Lãng, Lang trung lệnh Hòa Hiệp, Phụng thường khanh Hình Trinh, Trung úy Từ Dịch, Thái phó Hà Quỳ, Thiếu phủ Tạ Hoán, Đại tư nông Viên Bá, Thị trung Vệ Khởi, Thị trung Tập Thụ, Trưởng sử Lưu Hoa đều đã ngồi vào chỗ, tới cả Chung Do bị cách chức sau vụ mưu phản của Ngụy Phúng cũng đứng vào hàng. Mọi người vừa khóc một hồi, nỗi bi thương trong lòng cũng vơi đi ba phần, giờ ai nấy đều tính toán việc thái tử kế thừa đại thống. Có điều, Tào Phi chưa mở lời, bọn họ không tiện nêu ra, chỉ biết rơi nước mắt theo. Tư Mã Phu thấy tình hình này vội can gián:
— Đại vương qua đời, thiên hạ còn trông mong thái tử ban bố mệnh lệnh. Thái tử trên phải vì tông miếu, dưới phải vì các phong quốc, sao có thể noi theo đạo hiếu của kẻ thất phu? Kính mong thái tử sớm ổn định đại sự. - Ông ta đã vén bức màn mỏng lên, hết lượt công khanh đều phụ họa theo.
Nhưng Tào Phi vẫn bưng mặt sụt sùi:
— Phụ vương nhắm mắt xuôi tay, để lại giang sơn xã tắc to lớn nhường này, ta làm sao gánh vác nổi?
Có ai không biết là Tào Phi cố ý thăm dò? Quần thần vội đứng lên thi lễ:
— Nước không thể một ngày không có vua, sắc lập thái tử vốn là để chuẩn bị cho ngày này. Xin thái tử mau chóng sắp xếp, đi đón cung quàn của đại vương, sớm lên ngôi tôn!
Tào Phi đoán trước thể nào mọi người cũng nói vậy, liền xuống nước hạ dần tiếng khóc:
— Nếu đã như thế thì ta bạo gan hành sự, mong các vị chỉ giáo thêm…
— Chúng thần xin nghe theo lệnh của thái tử!
Tào Phi tạm thở phào, mở miệng nói tiếp:
— Trung lĩnh quân Tào Hưu đâu?
— Có mạt tướng! - Tào Hưu rẽ chúng nhân bước vào trong điện, chắp tay thi lễ.
— Ông lập tức điểm ba ngàn quân tinh nhuệ, dàn hàng ngoài thành, hộ giá ta và các vị vương tử, quần liêu mạc phủ tới Lạc Dương đón cung quàn của đại vương. Nếu để xảy ra chuyện gì, ta sẽ hỏi tội một mình ông!
— Dạ. - Việc đã đến chân, Tào Hưu đành gác nỗi đau mất mẫu thân sang một bên, lĩnh lệnh mà đi.
Tào Phi lại nói:
— Ta đi rồi, cũng không thể lơi lỏng việc phòng vệ quốc đô. Chu Thước đâu?
— Có! - Chu Thước nóng lòng đã lâu.
— Năm xưa ông từng nhận chức Tư mã trong quân, liệu giờ có thể dẫn dắt binh mã không?
— Sao không thể được ạ? - Chu Thước ưỡn thẳng lưng, - Bọn tướng lĩnh hiện đang ở trung quân năm xưa chỉ là kẻ dắt ngựa khiêng thương cho thần, thần đi cai quản bọn họ, bọn họ phải nghênh đón từ xa, kẻ nào dám không phục?
— Vậy thì được. Ta lệnh cho ông nhận chức Tả hộ quân, cai quản chư quân bảo vệ Nghiệp Đô. - Tào Phi bố trí tướng lĩnh lưu thủ là cần thiết, song việc y lựa chọn Chu Thước lại hoàn toàn vì tình riêng, bởi trong lúc nguy cấp thế này, không thể để binh quyền rơi vào tay người ngoài được. Tào Phi lại quét ánh mắt về phía Hiệu sự Lưu Từ, - Trong thời gian quốc tang phải đề phòng tiểu nhân làm loạn, phiền ông lo lắng nhiều hơn, chớ để bọn gian tà thừa nước đục thả câu.
— Dạ. - Lưu Từ lĩnh mệnh, khẽ ngoái đầu lừ mắt nhìn Đinh Nghi đang đứng ở góc điện.
Việc võ bị đã xong, Tào Phi lại nói:
— Nay chức Tướng quốc tạm thời đang trống, Hoa công đứng đầu quần thần, tất phải đi theo ta, còn có Thường Thượng thư, Phó Thượng thư, Tiết Thượng thư, Lưu Trưởng sử… - Y điểm tên đến người nào, người ấy liền đứng dậy chắp tay.
Mọi sự sắp đặt vốn đã được trù hoạch từ trước, Tào Phi chỉ việc nói ra suy tính trong lòng. Quần thần không thể không phục tùng, Tào Phi an lòng hơn nhiều, y gọi Ngô Chất đỡ mình đứng dậy, đi đến trước mặt các vị công khanh, vái một vái dài sát đất. Quần thần nhận nổi đại lễ này? Vội vàng trả lễ, luôn miệng nói không dám. Nhưng Tào Phi nói:
— Gió to biết cỏ cứng, nước loạn hiển trung thần. Nay ta bôn tang[3], còn phải xin chiếu thư từ thiên tử ở Hứa Đô, ít nhất cũng mất nửa tháng, mọi việc trong nước đều trông cậy vào các ngài. Mong các ngài trên thì nghĩ tới ân trạch của tiên vương, dưới thì niệm lòng thành khẩn của hiếu tử, mà thay Tào gia ta ổn định xã tắc! - Nói xong lại thi lễ lần nữa.
Chung Do vội đỡ lễ:
— Thái tử xin cứ yên tâm, chúng thần tuy đã già, nhưng nào dám quên ơn vua? Mong bệ hạ sớm lên ngôi tôn, chúng thần cung kính đợi người trở về. - Chung Do bị bãi chức vì chuyện của Ngụy Phúng, nhưng vẫn có ảnh hưởng lớn đến chính sự, hơn nữa ông ta còn là người đứng đầu nhóm nhân sĩ Dĩnh Xuyên, ông ta đổi cách xưng hô, gọi Tào Phi là “bệ hạ” coi như đã cho y một viên định tâm hoàn.
Hòa Hiệp suy nghĩ chu toàn hơn, chủ động kiến nghị:
— Xã tắc triều đình vừa là quốc sự, vừa là gia sự, nên mời Thái phó thay bệ hạ tham dự chính sự cùng với chúng thần.
Tào Phi nuốt nước mắt gật đầu, lại nói:
— Thái trung đại phu Giả Hủ xử lý công chuyện thận trọng, già dặn kinh nghiệm mưu tính việc nước, cũng có thể mời tham dự chính sự. - Quần thần ngơ ngác không hiểu, Giả Hủ là Hán quan, xưa nay luôn ru rú trong nhà, chẳng mấy khi giao du với bên ngoài, sao Tào Phi lại muốn cất nhắc ông ta? Có điều, thái tử đã có ý như vậy ai còn nói gì được, tất cả đồng thanh đáp:
— Xin nghe theo ý bệ hạ.
Quân lưu thủ đã lọt vào tay Tào Phi, chính sự trong triều cũng do y tiếp quản, Nghiệp Thành không còn trở ngại gì nữa, Tào Phi an tâm mà đi. Ngô Chất lại bước ra, hô to:
— Việc không nên chậm trễ, mời thái tử và các vị vương tử mau chóng thay y phục để khởi giá! - Tào Phi không cần hồi phủ, thái tử tẩy mã[4] Nhan Phi đã mang sẵn y phục tới, đám thái giám biết Tào Phi chính là chủ tử sau này, nghĩ ngay tới việc nịnh bợ, vội dìu y vào ôn phòng thay y phục. Chuyến đi lần này là họa hay phúc còn chưa dám chắc, Tào Phi mặc áo giáp mềm bên trong, khoác áo tang bên ngoài, lại cài bội kiếm dưới lớp áo, sửa sang một hồi trước gương mới cảm thấy an lòng. Y đang định bước ra ngoài điện, chợt thấy một người phụ nữ tóc tai lòa xòa, bế đứa trẻ quỳ trước mặt.
— Vương chiêu nghi? - Tào Phi luống cuống, không biết có nên đưa tay ra đỡ thứ mẫu không.
Vương thị ấn đầu Tào Cán dập đầu với Tào Phi, khóc lóc nói rằng:
— Đứa trẻ này ba tuổi mất mẹ, năm tuổi mất cha, tiên vương từng cho thần thiếp nhận nó làm con thừa tự để có chỗ nương tựa. Nhưng giờ đại vương băng hà, cô nhi quả phụ chúng ta xin được bệ hạ che chở! - Nói rồi dập đầu lia lịa.
Tào Phi bước vội lại đỡ:
— Chiêu nghi không cần dùng đại lễ, ta được làm thái tử cũng nhờ chiêu nghi vun vén, nhất định hậu đãi với hai mẹ con người. Nay việc bôn tang gấp gáp, sau này chính thức lên ngôi ta sẽ gia phong ban thưởng, thứ mẫu đại nhân hãy an tâm!
— Tạ ân bệ hạ! - Vương thị cởi được nỗi lo trong lòng, ôm Tào Cán mừng mừng tủi tủi.
Tào Phi chắp tay mà đi, chưa được mấy bước lại nghe tiếng nữ quyến gào khóc - Triệu cơ cũng kéo nhi tử là Tào Mậu đuổi theo. Người phụ nữ này cũng liên tục dập đầu:
— Tiện thiếp năm xưa đắc tội với bệ hạ, xin bệ hạ bỏ qua ân oán cũ mà khoan đãi với con ta!
Tào Phi nén giận cười nhạt:
— Thứ mẫu hà tất phải làm thế? Ta sao gánh nổi? - Rồi chỉ tay vào Tào Mậu:
— Mậu nhi cũng không còn nhỏ, không phải đứa trẻ quấn tã nữa, phụ vương băng hà không được bỏ lễ. Còn không mau đổi y phục theo ta bôn tang?
Tào Mậu mới chục tuổi đầu, nghe tin phụ thân mất, còn chưa hiểu được là chuyện gì, thấy đại ca nghiêm mặt trừng mắt nhìn mình, lắp bắp nói:
— Đệ không đi, không… - Tự nhân đâu cần biết cậu bé có chịu đi hay không, cứ kéo đi theo lệnh của Tào Phi.
— Mau đưa vương tử ra ngoài thành, chuẩn bị khởi giá. - Tào Phi ném ra câu này rồi bỏ đi, mặc cho mẹ con họ khóc lóc ầm ĩ cũng không thèm ngoái lại.
Ba ngàn giáp sĩ đã tập hợp ở ngoại thành phía nam Nghiệp Thành, sứ giả Lạc Dương cũng vừa mới tới, chỉ chậm hơn so với mật báo một canh giờ - Một canh giờ quý giá ấy làm được bao nhiêu việc lớn! Sứ giả thấy Nghiệp Thành đã cử hành tang lễ trước, cũng cởi được khối đá trong lòng xuống, bước vào hàng ngũ chuẩn bị quay trở lại. Các vương tử như Tào Thực, Tào Bưu, Tào Lâm cũng đã ra ngoài thành, sự đãi ngộ mà bọn họ nhận được khác một trời một vực so với Tào Phi. Họ vào cung thì bị thị vệ canh chừng, ngoài mặt là hầu hạ nhưng thực chất lại đang cưỡng chế, về đến phủ chưa kịp dặn dò thê nhi câu nào đã phải khoác áo tang ra ngoại thành. Tào Phi đề phòng huynh đệ tới tận mức này!
Tào Thực nhìn chúng thần như quần tinh ủng nguyệt tiễn huynh trưởng, trong lòng không kìm được nỗi buồn, mới qua một đêm mà thế đạo đã thay đổi, hôm qua y còn là vương tử tự do tự tại, hôm nay đã thành bề tôi bị huynh trưởng ước thúc, ngày mai sẽ còn như thế nào nữa đây? Nhớ lại bữa tiệc ở Lạc Dương, Tào Thực lạnh lòng, y thực sự không đoán được sau này vị huynh trưởng bụng dạ hẹp hòi, có thù tất báo kia sẽ chà đạp mình như thế nào.
— Thái tử khởi giá!… Thái tử khởi giá!…
Chư thần lưu thủ thi lễ cung tiễn, Tào Phi cưỡi ngựa đi giữa, Hoa Hâm theo sát phía sau, các thân tín như Ngô Chất, Tư Mã Phu, Vương Sưởng, Nhan Phi đi bên cạnh hiến kế, các tướng lĩnh như Đặng Triển, Vương Đồ, Lã Chiêu, Nhậm Phúc bảo vệ xung quanh, còn những thân thích như Tần Lãng, Hạ Hầu Mậu, Tào Thái, Biện Lan theo cùng hàng. Thường Lâm, Phó Tốn, Tiết Đễ, Lưu Hoa cũng đã ngồi trên lưng ngựa, Tào Hưu đích thân làm tiên phong dẫn đường, ba ngàn binh sĩ đầu quấn khăn trắng, tay cầm cờ trắng, trông rất uy nghiêm.
Tào Phi vừa kéo dây cương đi được vài bước, lại có hai người chạy lại, người đi phía trước mình mặc khôi giáp là tướng lĩnh trung quân, tên Đoàn Chiêu, theo sau ông ta là một thiếu niên mặc áo vải, đeo bội kiếm. - Gặp thái tử còn không mau thi lễ? - Đoàn Chiêu liên tục giục người này, thấy cậu ta vụng về chậm chạp, còn đá một cái vào mông, - Mau khấu đầu! Khấu đầu!
Tào Phi không hiểu chuyện gì:
— Người này là ai?
Đoàn Chiêu chắp tay nói:
— Bẩm bệ hạ, đây là khuyển tử Đoàn Mặc, mới đến tuổi nhược quán, nhưng từ lâu đã muốn dốc sức báo ơn vua. Xin bệ hạ cho phép nó đi theo hộ giá, hầu hạ người để được toại ước mong! - Đây đâu phải hộ giá? Rõ là vin rồng núp phượng. Sau ngày hôm nay Tào Phi sẽ trở thành Ngụy Vương, sau này gần như chắc chắn sẽ là thiên tử, muốn tiến thân bằng con đường hạnh tiến thì chỉ còn hôm nay thôi!
— Chẳng có quy củ gì cả!
Đoàn Chiêu ngọt nhạt nói:
— Mạt tướng dốc sức cho Tào doanh hai mươi năm, lại liên hôn với vương thất, nên cũng muốn tử tôn đời đời phụng sự vương thất. Xin bệ hạ niệm lòng trung của mạt tướng mà thu nhận nhi tử của thần! - Đoàn Mặc bị đá một cái, sực hiểu ngay ra, vội quỳ xuống trước ngựa của Tào Phi, dập đầu lia lịa.
— Chớ làm loạn nữa! - Tào Phi phất tay áo một cái, - Ban ngựa, có thể coi là thị vệ Đông cung, đi mau, đi mau! - Đúng là được thơm lây.
Tào Thực so ra thấy mình kém hơn hẳn huynh trưởng - Từ nay về sau người ta muốn hô mưa được mưa, gọi gió được gió, được người trong cả thiên hạ xu nịnh, còn ta phải đứng dưới hiên thấp. Y đưa mắt nhìn xung quanh, bên cạnh chỉ có thị vệ “hầu hạ”, chẳng có ai thân thuộc, những huynh đệ khác cũng bị binh sĩ tách ra, không thể chuyện trò qua lại nên càng cảm thấy thê lương, bất lực. Y bất giác ngoái nhìn quần thần tống hành, mãi lâu sau mới nhận ra Đinh Nghi - Ông ta đang đi cạnh tường thành, Hiệu sự Lưu Từ theo sát phía sau, không rời nửa bước.
— Chính Lễ… - Tào Thực gọi một tiếng bất lực, nước mắt trào ra, nhưng lần này không phải y khóc cho phụ thân, mà khóc cho chính mình. Tuân Uẩn trẻ tuổi chết sớm, Dương Tu bị giết trong quân, những người phụ tá đều tản mát hết cả, giờ chỉ còn lại huynh đệ Đinh thị.
Y có dự cảm chẳng lành, rất có thể hôm nay chính là ngày vĩnh biệt của hai người. Y đã mất quá nhiều bằng hữu, giờ lại mất thêm Đinh Nghi nữa, thử hỏi một người phong lưu, phóng khoáng như y sao có thể sống nốt những ngày tháng cô độc ấy đây?
Đinh Nghi không nghe được tiếng gọi, nhưng Tào Phi lại nghe rõ, không lâu sau Ngô Chất chui ra từ giữa đám người, thi lễ nói:
— Lâm Tri hầu là đệ đệ cùng mẫu thân với thái tử, mong thái tử nghĩ đến tình thủ túc, mời hầu gia đi cùng hàng.
— Tình thủ túc? Tình thủ túc? Ha ha ha!… - Tào Thực ngậm nước mắt cười nhăn nhó, chẳng nói được câu nào!
Bề tôi lập vua
Về sau Tào Phi mới biết tình hình ở Lạc Dương còn phức tạp hơn những gì y phỏng đoán, từ lúc Tào Tháo quy tiên cho đến lúc Tào Phi tới được Lạc Dương chỉ cách nhau có ba ngày, thế nhưng ba ngày ấy lại vô cùng nguy ngập. Nếu như không có sự giúp sức của các bậc lão thần ở ba nơi là Nghiệp Thành, Lạc Dương và Hứa Đô, không ai dám chắc liệu y có thể lên ngôi được hay không…
Tào Tháo băng hà, quần thần khóc đến chóng mặt, cổ họng khản đặc, nhưng khi tiếng khóc vừa dứt, một nỗi hoang mang, lo sợ lại ập đến - Đại vương chết bên ngoài, thái tử còn đang ở Nghiệp Thành, trước mắt phải làm thế nào? Phản ứng đầu tiên của quần thần sau khi lau nước mắt là phong tỏa tin tức, cung Lạc Dương tạm thời được chuyển làm linh đường, rồi phái người tới Nghiệp Thành báo tang; thay vương bào, đội mũ miện cho Tào Tháo, đặt di thể nằm trên điện, sai thuộc quan chuẩn bị quan quách thượng đẳng; khuyên Biện vương hậu và các vị phu nhân vẫn đang khóc lui vào hậu điện, ủy thác cho Biện quốc cữu chăm sóc bọn họ; tiếp đến, ra lệnh may tang phục, mọi người ngồi quây lại trong sân điện, cùng bàn bạc kế sách cấp bách. Lúc này, luận về tước vị đương nhiệm, Vệ Tướng quân Tào Du là người có địa vị cao nhất, lại là tộc thúc của Ngụy Vương, nhưng tiếc là tài sơ không có chủ ý gì. Hoàn Giai là người đầu tiên đề nghị:
— Muốn chuyện này êm ấm, phải đóng cửa thành không phát tang, đợi thái tử đến lên ngôi trước linh vị, rồi mới công bố tin dữ với toàn thiên hạ.
— Không ổn. - Trần Quần một mực phản đối, - Mấy vạn đại quân đều đang đóng ở ngoài thành, há có thể giấu nhẹm chuyện này được? Huống chi… - Ông ta nói nửa câu lại thôi, huơ huơ hai ngón tay về phía chúng nhân.
Thấy vậy, mặt quân thần đều biến sắc - Nhị vương tử Tào Chương, Yên Lăng hầu đã nhận được chiếu lệnh, không lâu nữa cũng sẽ tới đây, thấy Lạc Dương không báo tang, không khóc tang, ngộ nhỡ y dẫn tướng sĩ tới hỏi tội thì biết ứng phó ra sao? Vấn đề lúc này không chỉ đơn giản là khi nào cử hành tang lễ. Lúc hấp hối Tào Tháo không chỉ rõ thái tử nối ngôi như thế nào, còn người có uy vọng lớn nhất để ổn định đại cục là Hạ Hầu Đôn lại ngã bệnh theo, Tào Nhân ở Tương, Phàn, Tào Hồng ở Vũ Đô, ngay tới một tướng lĩnh thân cận cũng không có, tình thế này chẳng phải quá nguy hiểm hay sao? Yên Lăng hầu dũng mãnh hiếu chiến, lại lập được chiến công, khá được lòng chư tướng, nếu không phát tang, Tào Chương đến trước kích động tướng sĩ ủng hộ mình, thì không những quần thần không chống đỡ nổi, mà cuối cùng vương vị sẽ thuộc về ai cũng khó nói! Nhưng công bố tin dữ cũng không phải không có nỗi lo, quân Tào nhìn bề ngoài kỷ luật nghiêm minh, chứ thực ra chỉ nghe theo lệnh của một mình Tào Tháo, Tào Tháo qua đời giống như tảng đá trấn yêu bị sụp đổ, ai có thể khống chế đám võ nhân ở tám phía đây? Tào Chương tranh ngôi hay binh biến cũng đều là đòn chí mạng với xã tắc Tào Ngụy, e rằng thi thể Tào Tháo còn chưa cứng, tâm huyết cả đời của ông đã đổ xuống biển, phương bắc lại trở về thời kỳ hỗn loạn như những năm niên hiệu Sơ Bình!
Im lặng một lúc lâu, Trưởng sử Trần Kiều đột nhiên vỗ đùi đứng dậy nói:
— Một khi đã không thể tránh được nguy hiểm, hãy để thái tử tức vị.
— Hả? - Chúng nhân vô cùng kinh ngạc. Thái tử còn đang ở Nghiệp Thành cơ mà!
Trần Kiều giải thích rõ hơn:
— Nước không thể một ngày không có vua, đại vương băng hà bên ngoài, thiên hạ hoang mang lo sợ, thái tử nên nén nỗi đau lại để kế vị, kết chặt nhân tâm gần xa. Vả lại, ái tử của đại vương hiện ở sát sườn, để lâu sinh biến thì xã tắc nguy mất! Chúng ta lập tức cử hành tang lễ, tôn thái tử lên làm vua từ xa. - Ông ta không chỉ đích danh Tào Chương, nhưng mọi người đều hiểu “ái tử của đại vương” được nói đến ở đây là ai. Có điều Tào Phi vắng mặt, mà muốn đưa y lên ngôi, thực quá liều lĩnh.
Gián nghị đại phu Giả Quỳ mở miệng nói:
— Cũng được, ít nhất thì chiếu lệnh ban ra cũng có gốc…
— Việc đã đến nước này, đành thử một phen! - Tân Tỵ đứng lên hưởng ứng, - Tân mỗ ta xin thề, lúc này xin tôn thái tử làm vua!
Bọn Hoàn Giai, Trần Quần, Tư Mã Ý đều thuộc phe Tào Phi, há lại không theo? Cũng hưởng ứng:
— Bọn ta nguyện đồng lòng với các ngài, từ lúc này trở đi xin tôn thái tử làm vua.
Vậy là quần thần đã có mối quan hệ tương trợ với Tào Phi, Tào Phi không mượn vào sức của họ thì không thể lĩnh ngôi vua, còn bọn họ không mượn danh Tào Phi cũng không thể áp chế ba quân. Tình thế dồn ép con người, quần thần lũ lượt tỏ thái độ ủng hộ, chỉ có Thái thú Ngụy Quận là Từ Tuyên chẳng nói chẳng rằng lảng ra chỗ khác.
Không phải ông ta có ý phản đối, mà chỉ vì xưa nay ông ta luôn bất hòa với Trần Kiều, nên không muốn ra mặt, chỉ tỏ vẻ ngầm đồng ý.
— Vậy được! - Trần Kiều nói chắc nịch, - Bây giờ lấy danh nghĩa của thái tử công bố tin dữ với ba quân, ký tên ngài ấy dưới sắc lệnh để vỗ về tướng sĩ.
Tư Mã Ý nói thêm:
— Quan trọng nhất là phải phái sứ giả tới Hứa Đô xin đương kim hoàng thượng bố cáo với thiên hạ việc cho thái tử nối ngôi Ngụy Vương và lĩnh chức Thừa tướng.
Hoàng môn thị lang Đinh Dực hí hửng vì nghĩ rằng mình được ông trời ban cho một cơ hội tốt, dù không thể phò tá Tào Thực kế thừa đại thống, nhưng để Tào Chương cướp ngôi cũng tốt hơn việc bị Tào Phi chém đầu, nên đang ngầm suy tính trong lòng. Nhưng ông ta còn chưa nghĩ ra được kế sách tương trợ, Trần Kiều đã quyết định vượt quyền kẻ cúng tế thay thế người đầu bếp. Nếu bọn họ xin được chiếu thư, há chẳng phải không thể cứu vãn được nữa sao? Nghĩ đến đây, ông ta đứng dậy, cao giọng nói:
— Không được! Ngài làm bề tôi mà lập vua!
— Không sai, ta chính là muốn bề tôi lập vua. - Trần Kiều không hề phủ nhận, - Nước không thể không có chủ, không lập vua thì sao ổn định được bốn phương? Huống chi thái tử còn là phó quân của đất nước, kế thừa đại thống là lẽ đương nhiên, chẳng lẽ ông có ý khác?
Tất nhiên Đinh Dực có ý khác, nhưng Tào Phi mang danh là thái tử, nếu ông ta công nhiên phản đối, đám đại thần này tất gán cho tội phản nghịch. Đinh Dực nhìn xung quanh nói:
— Tại hạ không có ý phản đối thái tử, có điều nhà vua kế vị là chuyện lớn bậc nhất của xã tắc, há có thể vượt quyền làm loạn? Danh bất chính thì ngôn bất thuận, ngôn bất thuận thì sự khó thành, nên đợi thái tử tới rồi hãy tiến hành mọi việc.
— Đợi thái tử tới không phải tất cả đều muộn rồi sao? - Tư Mã Ý nhếch miệng cười, đứng lên nói, - Ông tưởng ta không biết quỷ kế của nhà ông?
Đinh Dực nghe vậy nổi giận, hai mắt như sắp biến thành hai hòn lửa:
— Tư Mã Ý! Ông lấy bụng tiểu nhân đo lòng quân tử! Các ngài nhìn thấy cả rồi chứ? Người này đặt điều nói xấu đồng liêu ngay trước tang điện của đại vương, đúng là đồ không cha không chúa! - Câu tố tội của Đinh Dực cũng không hẳn là không có lý, tuy nhiên quần thần đã đoàn kết một lòng, ai còn chịu nghe lời ông ta?
— Im miệng! - Tân Tỵ quát lên một tiếng, - Việc kế thừa đại thống xuất phát từ đạo nghĩa công bằng chính trực, cũng là vâng theo sự sắp đặt của tiên vương, người nào phản đối người đó chính là kẻ tiểu nhân gian tà! - Lấy lễ pháp ra làm cái cớ không phải là muốn cản trở việc Tào Phi lên ngôi ư? Tân Tỵ quả quyết khẳng định: Người nào phản đối tức là có dụng ý khác, và cũng chính là gian thần.
Đinh Dực lôi pháp bảo cuối cùng ra:
— Chuyện lớn thế này, nhỡ có sơ sảy gì thì ai gánh vác?
Trần Kiều vỗ ngực trả lời:
— Chỉ cần có lợi cho xã tắc, chết cũng không từ. Dù có bị ngàn đao vằm xác, tru di cửu tộc, lão phu cũng một mình gánh vác!
Quần thần bội phục ông ta tuổi già mà cứng cỏi, ý chí sắt đá, cũng đồng thanh đáp:
— Nguyện cùng gánh vác!
Nói đến nước này rồi, Đinh Dực không còn gì để đối lại nữa. Bọn Trần Kiều, Hoàn Giai đều là người già dặn, dựa vào sức của một mình ông ta làm sao đấu lại được? Đinh Dực cố cãi thêm một câu:
— Chỉ e là các ngài không gánh nổi. - Rồi phất tay áo đi sang điện bên cạnh. Tư Mã Ý nháy mắt ra hiệu với Hiệu sự Lưu Triệu đứng đằng xa, Lưu Triệu biết ý bám đuôi theo dõi.
Quần thần đã áp chế được Đinh Dực, nhưng chưa thở phào được, bởi vẫn còn rất nhiều việc phải làm. Đầu tiên căn dặn Lưu Phóng, Tôn Tư soạn sắc lệnh dưới danh nghĩa của Tào Phi, chuẩn bị gửi văn thư báo tang cho các châu quận, bố trí sứ giả tới Hứa Đô khẩn cầu thiên tử ban chiếu thư, bí mật triệu tập toàn bộ giám quân, hộ quân kể rõ tình hình, để nhờ bọn họ đến các doanh vỗ về tướng sĩ. Treo màn trướng màu trắng ở linh đường, đặt lư hương lên bàn thờ, lại kê thêm một chỗ ngồi cho Tào Phi ở cạnh đó, tới ấn tín của Ngụy Vương, Thừa tướng cũng đều được đặt lên trên tượng trưng cho việc chúng đã được trao cho Tào Phi, rồi còn vào hậu điện bẩm rõ tình thế với vương hậu, để xin bà cùng phối hợp… Đúng giờ Ngọ, ai nấy thay áo tang vào linh đường, truyền lệnh mở cửa cung. Việc bọn họ có thể làm đều đã làm rồi, còn lại chỉ biết cầu trời phù hộ.
Tang báo được truyền ra, không lâu sau, bên ngoài vẳng lại tiếng ồn ào, tám vạn tướng sĩ thì khí thế nhường nào? Người thì khóc lóc thảm thiết, kẻ thì ngậm ngùi xót thương, người thì gào thét xé tai, ở tận trong cung Lạc Dương cũng còn nghe rõ mồn một! Có những thuộc quan non gan đứng trong linh đường run lập cập. Đây đâu phải chuyện có tám vạn mặt người hay tám vạn binh khí, một khi có kẻ khơi mào, có chuyện gì bọn họ không làm được?
Sợ điều gì thì điều ấy lại đến, tướng lĩnh nườm nượp kéo đến bái tế, luận về công hay tư đều không thể ngăn cản, nhưng lúc này sao có thể cho bọn họ vào được? Sắc lệnh viết rõ là thái tử kế vị, mà chỗ ngồi của hiếu tử vẫn trống không, chẳng thấy người đâu! Hứa Chử đau buồn quá độ, liên tục thổ huyết, cũng cố gượng tinh thần ra ngăn cản, nhưng tiếng khóc càng lúc càng to, còn xen lẫn cả tiếng chửi:
— Hứa Trọng Khang, ông muốn làm gì? Ông được túc trực bên cạnh đại vương, còn không cho bọn ta được vào bái tế người sao? Thế là lý gì hả?
— Mẹ kiếp! Ta há lại lập ít công hơn ngươi, mà muốn khóc thương chủ cũng không được hay sao? Còn lảm nhảm nữa, ta liều đọ đao sắc với ngươi!
Triệu Nghiễm tai còn rất thính, nghe những lời này, lo túa mồ hôi:
— Cho Từ Công Minh và Chu Văn Bác vào đi, hai người họ to lớn, chúng ta không ngăn nổi.
Hoàn Giai lắc lắc đầu:
— Đừng cản, cản nữa sẽ thành họa mất. Để bọn họ vào khóc tang, khóc đủ rồi sẽ nguôi ngoai thôi… Cho hai người họ vào.
Mệnh lệnh được truyền xuống người dưới, Từ Hoảng, Chu Linh gào khóc xông vào cung.
— Đại vương! Người hãy mở mắt ra nhìn mạt tướng!… - Từ Hoảng nhào tới bên cạnh di thể Tào Tháo, nước mắt chảy ròng ròng, cả người lảo đảo, - Mạt tướng còn muốn theo đại vương ra trận, đại vương còn nhớ trận Đồng Quan không? Thiên hạ chưa bình định được, sao đại vương có thể nhắm mắt xuôi tay mà đi chứ?
Chu Linh quỳ trước linh đường, nện đầu xuống đất phát ra tiếng cộp cộp:
— Mạt tướng không dám trái quân lệnh nữa, đại vương nói gì mạt tướng nghe nấy! Chỉ xin người mau tỉnh lại… Xin đại vương tỉnh lại đi… - Suy cho cùng, việc đắc ý nhất trong cuộc đời Tào Tháo đều diễn ra trên sa trường, ngoài những chiến công hiển hách ra, điều đáng quý hơn cả là thuật dùng người. Những võ nhân này yêu mến ông như cha anh, tôn kính ông như thần thánh, giờ thần tướng trong mắt họ đã ngã xuống, mãi mãi phân ly bởi sự sống và cái chết.
Tiếng khóc của hai đại hán tựa như tiếng hổ gầm, bò rống làm rung cả mái ngói, bên cạnh sự đồng cảm, quần thần còn thấy sợ hãi nhiều hơn, ai dám lại gần khuyên nhủ bọn họ? Chúng nhân liếc mắt nhìn Triệu Nghiễm. Triệu Nghiễm nuốt nước miếng: Họ biết ta tốt tính, nên những việc dỗ dành, an ủi này đều đẩy hết cho ta đây mà. Ông không biết làm sao, đành nhắm mắt bước lên phía trước, muốn đỡ hai người đứng dậy mà không đỡ nổi, chỉ có thể ngọt nhạt nói bên tai:
— Xin hai vị tướng quân bảo trọng, đại vương còn trông mong các ngài phò tá thái tử… - Lời này còn chưa nói hết, lại thấy dội lên một tràng khóc thảm thiết hơn. Hai tướng được vào khóc tang khiến những người khác không phục, hợp sức đẩy ngã thân binh, rồi nối nhau xông vào. Một đám tướng tá như Ân Thự, Vương Trung, Lưu Nhược, Giả Tín, Chu Cái, Từ Thương, Lã Kiến, Mã Tuân, Lưu Trụ đều ùa cả vào linh đường, chốc lát tiếng khóc vang lên chói tai.
Triệu Nghiễm không thể khuyên nổi nữa rồi, giương mắt nhìn đám người vạm vỡ này khóc lóc inh ỏi, đang lúc bối rối lại trông thấy một vị tướng quân chạy đuổi theo sau là Trung hộ quân Tào Chân. Nhận được tin dữ, Tào Chân tưởng như sấm đánh ngang tai, nghĩa phụ đối với anh ta ân tình sâu nặng, sao lại không xót thương cho được? Nhưng anh ta thuộc phe Tào Phi, biết lúc này phải ổn định tình hình, nên cố nén đau thương an ủi chúng tướng cùng với giám quân, giờ nghe có rất nhiều người chạy đến cửa cung xin vào bái tế đại vương, anh ta vội đi khuyên can. Không ngờ lại không khống chế được tình hình, đám đông xô vào, anh ta cũng chỉ biết chạy vào theo.
Tào Chân không vào còn đỡ, vừa vào linh đường trông thấy di thể của nghĩa phụ, anh ta không gượng nổi nữa. Tào Chân nhớ ơn dưỡng dục của nghĩa phụ, nuôi mình khôn lớn, coi mình như con đẻ, lại còn cho mình hưởng phú quý, ban chức quan, ân tình ấy cao hơn trời, sâu hơn biển! Tào Chân hai gối mềm nhũn, khuỵu xuống đất:
— Phụ vương! Người mở mắt ra nhìn nhi thần… mở mắt ra nhìn nhi thần đi! Sao người đã đi rồi… - Tào Chân mới khóc được hai tiếng bỗng nhiên bị người khác dựng dậy, vội quay đầu nhìn lại với ánh mắt còn đang nhòa lệ: thì ra là Trần Quần và Tư Mã Ý.
Tào Chân còn chưa kịp hiểu chuyện gì đã bị hai người họ kéo sang điện bên cạnh, tiếp đến một đám lão thần đi vào, bảy tám đôi tay xúm lại cởi khôi giáp, thay áo tang, đội mũ gai cho anh ta. Trần Quần vừa quấn khăn tang cho Tào Chân vừa giải thích:
— Tuy thái tử đã kế vị, nhưng vẫn còn ở Nghiệp Thành, không thể mời vương hậu ra nói chuyện với đám võ nhân đó chứ? Giờ ngài chính là hiếu tử, hãy thay thái tử làm chủ tang!
Tào Chân quệt nước mắt:
— Làm vậy liệu có ổn không?
Trần Kiều vỗ vai động viên:
— Ngài là nghĩa tử của đại vương, đương nhiên hợp tình hợp lý. Chớ khóc nữa, ngài gần gũi với các tướng hơn, hãy khuyên họ trở về doanh giữ trại, phải giúp bọn ta ổn định đại cục!
Vì quần thần và cũng vì Tào Phi, Tào Chân nghiến răng nhận lời, mọi người lại dìu anh ta đến cạnh chỗ trống của Tào Phi, vừa gào khóc vừa khấu đầu cùng với chúng tướng. Tư Mã Ý lo xong việc bên này, chợt ngẩng đầu lên lại nhìn thấy Hạ Hầu Thượng đang phục dưới thềm điện khóc nức nở, ông ta vội qua đó kéo kéo:
— Ông không được khóc tang! Tử Đan ở lại đây rồi, ông phải trở về doanh an ủi tướng sĩ, mau đi đi, đi mau! - Hạ Hầu Thượng cố kìm nước mắt, lảo đảo bước ra ngoài. Tư Mã Ý đảo mắt lại nói, - Ông gọi tất cả tướng lĩnh Tào thị trong doanh tới đây.
Tào Chân mình mặc áo đại tang thay Tào Phi làm hiếu tử, Triệu Nghiễm đứng đầu một đám lão thần ăn nói nhẹ nhàng, cố gắng ổn định được cục diện. Từ Hoảng, Chu Linh gào khóc khản cổ, khô cả nước mắt, buồn bã lui ra, nhưng tướng hiệu trong quân quá đông, hết tốp này lại đến tốp khác vào bái tế, bên ngoài còn cả một đám người đều là võ nhân dũng mãnh, đại đao sáng loáng, ai dám cản? Cách làm của Tư Mã Ý quả không tồi, giờ thiếu nhất là nội tộc, nên dù là họ hàng xa xôi bắc tám cây sào chưa tới cũng được lôi ra. Không lâu sau, Hạ Hầu Thượng dẫn mười mấy người đến thay áo đại tang khóc cùng, trông như thật. Tào Du cũng bị chúng nhân ấn vào ngồi ghế đầu, tốt xấu gì ông ta cũng là trưởng bối nhà họ Tào, nên cũng có sức nặng.
Cứ như vậy gần hai canh giờ, không xảy ra hỗn loạn. Trần Kiều đứng ở cửa điện, kiễng chân lên quan sát:
— Những người khi nãy đều là tướng quân, hiệu úy, giờ đến lượt quân hầu, tư mã, ta thấy chắc sẽ không sao.
— Lúc này quần thần mới được thở phào, đi tìm sập ngồi nghỉ một lát, nhưng chưa kịp đặt mông xuống, chợt nghe loáng thoáng bên ngoài có tiếng ầm ầm như là tiếng trống!
Không đánh trận sao lại nổi trống? Quần thần lo lắng, chưa kịp sai người ra hỏi đã thấy Hạ Hầu Thượng hốt hoảng chạy vào linh đường:
— Chuyện lớn rồi, Thanh…
— Gián nghị đại phu Giả Quỳ vội bịt miệng ông ta:
— Chớ lên tiếng, qua bên này nói. - Lúc này vốn đã ồn ào, nếu để chúng tướng nghe được thì loạn mất. Hai người vội sang điện bên cạnh, mọi người cùng qua đó, rồi Hạ Hầu Thượng mới nói:
— Biệt quân Thanh Châu tách quân khua chiêng đánh trống tự ý nhổ trại mà đi.
Các quận vùng duyên hải Thanh Châu đều do Tang Bá, Tôn Quan tự cai trị, quân ngũ cũng là bộ khúc thuộc quyền cai quản riêng của họ. Lớp trưởng bối mang lòng biết ơn nên còn dè chừng, chứ bọn Đường Tư, Sái Phương mới lĩnh quân đều không phục tùng triều đình, chẳng qua họ sợ uy của Tào Tháo mà thôi. Biệt quân đóng ở Lạc Dương này được điều từ Thanh Châu tới khi Tương, Phàn cáo nguy, không do Tang Bá trực tiếp thống lĩnh, họ được tin Tào Tháo đã chết, trong quân không có người làm chủ, liền không coi triều đình ra gì nữa, tự ý cuốn gói về nhà.
Quần thần không nén được sợ hãi. Cánh quân Thanh Châu chẳng đáng là bao, chỉ có ba bốn ngàn người, nhưng việc làm của họ gây ảnh hưởng vô cùng xấu. Tào Tháo để lại di mệnh, căn dặn rất rõ ràng, “Tướng sĩ đồn trú đều không được rời khỏi chỗ đóng quân”, thế mà bọn họ ngang nhiên kháng lệnh. Một khi bọn họ có thể tự ý rút binh, người khác tất sẽ làm theo, toàn quân tan rã hết thì làm thế nào?
Giả Quỳ nhăn mày nói:
— Đại tang đang quàn, thái tử chưa lên ngôi, lúc này phải dàn xếp mọi việc ổn thỏa, mau công bố một đạo sắc lệnh nói rằng Tôn Quyền ở Giang Đông có động tĩnh khác thường, triều đình điều họ đi. Ổn định các bộ quân khác trước đã mới là việc quan trọng. - Bàn tay Tôn Tư thật linh hoạt, vừa cầm cán bút đã viết xong ngay.
Đinh Dực đứng phía sau quan sát, chợt nảy ra ý nghĩ:
— Phe Tào Phi mong ổn định, ta lại cầu hỗn loạn, nếu Lạc Dương xảy ra binh biến, Yên Lăng hầu có thể danh chính ngôn thuận chỉnh đốn binh mã, đến lúc đó binh quyền nằm hết trong tay ông ta, thái tử còn làm gì được? Tuy rằng binh biến hung hiểm, rất có thể còn gây họa cho xã tắc, nhưng để sau này được vô lo thì đành phải thử mạo hiểm một lần thôi! Đinh Dực quyết định như vậy, nhân lúc chúng nhân không để ý, rón rén vòng ra chính đường, tới cạnh Vệ Tướng quân Tào Du:
— Lão tướng quân, ngài còn ngồi đây mà khóc được à? Xảy ra chuyện lớn rồi!
— Sao cơ? - Tào Du bị quần thần xoay như chong chóng, sớm đã thành con chim sợ cành cong.
Đinh Dực nói lời hù dọa:
— Quân Thanh Châu tự ý khua chiêng đánh trống bỏ đi, những bộ binh mã khác cũng đang rục rịch giải tán, e là sắp có binh biến.
Tào Du hoang mang:
— Vậy phải làm thế nào mới được, làm thế nào mới được?
— Tám vạn giáp sĩ đồn trú ngoại thành, nhân tâm bất đồng thể nào cũng gây ra đại họa. - Đinh Dực hiến diệu kế, - Việc cấp bách lúc này là phải đổi tướng lĩnh, thay hết thống soái các bộ bằng người đất Bái, tốt nhất là cận thần của Tào thị, vậy mới có thể đồng tâm đồng đức chuyển nguy thành an. - Cách này quá nguy hiểm. Đổi tướng lĩnh là việc nhạy cảm nhất trong quân, huống chi đang trong thời gian cư tang? Bọn Từ Hoảng, Chu Linh, Ân Thự, Giả Tín tuy không phải hương nhân Tào thị, nhưng đã dốc sức trên chiến trường hai mươi năm, rất có uy vọng, Tào Tháo vừa chết đã đổi hết bọn họ, há chẳng phải người đi trà nguội? Liệu binh sĩ có phục không? Có khi lại kích động bọn họ gây chuyện.
Tào Du tuy bất tài, nhưng là trưởng bối Tào gia, bất cứ hành động nào của ông ta lúc này cũng rất có sức nặng, vô tình rơi vào bẫy của Đinh Dực:
— Cũng có lý… để ta thương lượng với mọi người.
— Còn thương lượng gì nữa, giờ ngoài ngài ra, ai dám làm chủ? Lão ngài mà khoanh tay đứng nhìn thì còn trông vào ai được? - Đinh Dực nói xong huých nhẹ Khổng Quế đang quỳ bên cạnh, - Khổng đại nhân nói có phải không?
Khổng Quế quỳ cạnh di thể Tào Tháo từ sáng sớm, khóc đến sưng húp cả mắt, thân là nịnh thần, Tào Tháo là chỗ dựa duy nhất của hắn, không ai đau lòng hơn hắn. Hắn biết mình khó tránh được việc sau này bị Tào Phi tính sổ, cho nên đã nản lòng. Lúc này thấy Đinh Dực đột nhiên hỏi mình, lại còn nháy mắt ra hiệu, Khổng Quế liền hiểu ngay ra. Cùng lòng thì vun vén cho nhau, cùng muốn thì cùng nhau theo đuổi, hắn cũng nhận thấy đây chính là cơ hội để mình xoay chuyển vận mệnh, vội đem sự lanh lợi, tài ăn nói hằng ngày của mình ra phụ họa:
— Không sai, việc này cần phải được làm khẩn trương, lão ngài là thúc phụ của Ngụy Vương, ngài làm vậy không chỉ giúp ổn định cục diện mà còn tạo phúc cho tử tôn. Hậu bối Tào gia có ai lại không gọi ngài một tiếng lọt tai? Họ nắm binh quyền còn không biết ơn lão ngài sao?
— Cũng đúng. - Tào Du bị ma xui quỷ khiến, cảm thấy có lý, - Nếu đã như vậy…
Câu này chưa nói xong, Trần Kiều đã hằm hằm xông vào, hỏi thẳng vào mặt:
— Các ngài muốn làm trò gì hả? - Lưu Triệu nhìn chằm chằm vào Đinh Dực, một bên bàn tính, còn bên kia rình bẩm báo.
Tào Du trông thấy vẻ mặt tức giận của Trần Kiều, sợ giật nảy mình, cuống quýt khai thật:
— Đinh đại nhân xin đổi hết tướng lĩnh các bộ bằng đồng hương đất Bái.
Trần Kiều là người điềm tính mà cũng tức lên, chỉ tay vào mặt Đinh Dực mắng:
— Tiểu nhân nhà ngươi còn lo thiên hạ chưa loạn hả?
Âm mưu bại lộ, Đinh Dực chẳng màng giữ thể diện, trả đũa lại:
— Trần Quý Bật, ông chẳng qua cũng chỉ là Trưởng sử mạc phủ mà nhấp nhổm cả ngày, hành động của các ông hôm nay có còn được coi là bề tôi không? Vệ Tướng quân là trưởng bối Tào gia, đáng lẽ mọi việc ở đây phải do lão ngài làm chủ!
— Đúng vậy! - Khổng Quế cũng vun vào, - Phải có trên dưới, nước Ngụy là của Tào thị, há lại do các ông định đoạt? Để người nhà họ Tào nắm giữ binh mã mới là kế sách vạn toàn. - Tào Du nhìn trái nhìn phải, không biết nên nghe theo bên nào.
Trần Kiều giận run người, đang định chửi lớn, chợt nghe sau lưng có một giọng nói điềm đạm:
— Hai vị nói sai rồi. Lúc còn sống đại vương từng có lời dạy rõ ràng “Dùng trí lực của thiên hạ, lấy đạo nghĩa mà chế ngự, chẳng gì là không thể”. Giờ thiên hạ đã thống nhất, người nào cũng mang tấm lòng trung thành muốn dốc sức vì nước, hà tất phải dùng người đất Bái, huyện Tiều mà khiến cho chư tướng cảm thấy lạnh lòng?
Câu này mang sức nặng ngàn cân, còn dẫn cả lời Tào Tháo lúc sinh thời, Khổng Quế tạm cứng họng, nhưng Đinh Dực vẫn cãi cố:
— Chúng ta thân là bề tôi, không có tài lược như đại vương, sao có thể rập khuôn theo?
— Vậy ư? - Lão thần này lại nói, - Đinh đại nhân mở miệng ra là lại nói đến đạo nghĩa vua tôi, há lại chưa nghe câu “Tam niên vô cải vu phụ chi đạo[5]”? Chẳng lẽ di thể của đại vương còn chưa lạnh, ông đã muốn đổi những tướng lĩnh mà tiên vương phó thác thì đó là hành động của một bề tôi? - Câu hỏi này khiến Đinh Dực á khẩu không nói được gì, nghiến răng nghiến lợi, chỉ biết hậm hực bỏ đi.
Trần Kiều hả giận, quay đầu lại nhìn - Lão thần trượng nghĩa tương trợ ấy chính là lão oan gia Từ Tuyên nửa đời người đấu chọi với ông! Bọn Hoàn Giai, Giả Quỳ, Trần Quần cũng kéo cả vào, bảy tám cái miệng xúm lại khuyên Tào Du không nên làm bừa. Tào Du ong đầu, cũng không hiểu ẩn tình bên trong, chắp tay vái một vái dài:
— Mặc ý các ngài, ta hoàn toàn nghe theo.
Quần thần thoát được một kiếp nạn, ai nấy đều lén lau mồ hôi, lúc này Từ Tuyên kiến nghị:
— Quân Thanh Châu bỏ đi như thế, tuy chúng ta không hỏi tội, nhưng e là bọn họ sẽ quấy phá dân địa phương. Hãy ban thêm chỉ lệnh với các quận ở Đông Châu, lệnh cho các nơi quân Thanh Châu đi qua cung cấp lương thảo, vỗ về an ủi, để làm ổn định nhân tâm. Đợi đến khi giải quyết xong chuyện lớn, sóng yên biển lặng sẽ tính sổ Tang Bá sau.
— Đúng vậy, đúng vậy. - Trần Kiều kéo tay ông ta, - Từ Bảo Kiên, Trần mỗ đa tạ ông! Vừa nãy nếu ta mà tức giận lên thì hỏng hết chuyện, may là có ông tương trợ! Năm xưa ta có chỗ nào đắc tội, mong ông lượng thứ…
Từ Tuyên cười nhăn nhó:
— Ta và ông cãi nhau cả nửa đời người không phải đều vì việc công đó sao? Lấy đại nghĩa làm đầu, nói gì đến ân oán, chuyện đúng sai trước đây… Thôi, bỏ đi. - Đôi oan gia này vào lúc nguy cấp cuối cùng trăm sông cũng đổ về một mối, mỉm cười hóa giải ân oán.
Thực ra không chỉ riêng hai người họ, hằng ngày các lão thần khác cũng hục hặc với nhau trong rất nhiều chuyện, nhưng để vượt qua cửa ải khó khăn, để phò tá thái tử lên ngôi, và quan trọng hơn là để thiên hạ không loạn thêm, bọn họ đều cởi bỏ ân oán, kết thành một mối. Có lẽ đúng là Tào Tháo ở trên trời đã phù hộ, cả một ngày ồn ào coi như tạm ổn, cho đến khi mặt trời lặn về hướng tây, bóng tối đổ xuống, linh đường mới yên tĩnh trở lại, ai nấy đều mệt lử. Người có công đầu là Tào Chân, cả ngày làm hiếu tử, quỳ mỏi gối, khóc khản cổ. Nếu là Tào Phi thì có thể đáp lễ qua loa do sự khác biệt giữa vua tôi, nhưng còn Tào Chân chẳng qua cũng chỉ là một tướng lĩnh, một nghĩa tử, không biết đã phải dập đầu mấy ngàn cái, lúc này gục xuống bên cạnh nghĩa phụ, ngủ thiếp đi. Hạ Hầu Thượng chạy ra chạy vào mấy chục lượt, sớm đã mệt hết hơi, ngã quay ra nền đất. Triệu Nghiễm kiên nhẫn dỗ dành mọi người, cũng đã khô môi khô miệng, vẫn phải bắc ghế ra ngồi ở cửa điện khuyên đám tướng lĩnh đang đòi ở lại trực đêm kia trở về doanh. Bọn Trần Kiều, Từ Tuyên, Hoàn Giai đều đã gần sáu mươi tuổi, thực sự không chịu nổi nữa, lui ra phía sau thỉnh an vương hậu một tiếng, rồi chui vào góc điện chợp mắt. Trong khi đó, Tôn Tư và Lưu Phóng lại không tài nào ngủ được, mắt cứ mở thao láo, nghĩ lại những việc xảy ra trong ngày mà thấy sợ. Hai người không biết mình đã viết bao nhiêu văn thư chiếu lệnh, tuy có quần thần chống lưng, nhưng dù sao quá nửa số đó cũng là “giả mạo thánh chỉ”, nên đến giờ tim vẫn đập thình thịch, làm sao ngủ được?
Gần chân Tào Tháo thắp một ngọn đèn trường minh, thái giám, thân binh liên tục thêm dầu, Trần Quần và Tư Mã Ý đang ở tuổi tráng niên, sức lực dẻo dai, ngồi xuống trước ngọn đèn trò chuyện đêm khuya. Quần thần bạo gan hành sự xuất phát từ nghĩa công, nhưng với hai người họ mà nói thì cũng có chút tư lợi trong đó, bởi một khi Tào Phi kế thừa đại thống, tiền đồ của họ sẽ vô cùng xán lạn.
Trần Quần cảm khái muôn phần:
— Một ngày mà tựa một đời, đại vương cứ như thế mà đi…
Tư Mã Ý thấy những người bên cạnh đều đã ngủ say, cười nhăn nhó:
— Lúc còn sống đã giết không biết bao nhiêu người, đến khi chết đi rồi cũng không bớt chuyện, còn quẳng lại một đống phiền phức thế này.
Trần Quần đặt hai tay lên trán:
— May là quần thần đồng tâm.
— Ông chớ quên, còn chưa qua cửa ải của Yên Lăng hầu đâu đấy. - Tư Mã Ý khép hờ hai mắt, - Hôm nay thế này, ngày mai chưa biết ra sao. Con người ta sống trên đời mãi mãi chỉ là đi bước nào tính bước ấy.
— Ta không nghĩ như vậy. - Trần Quần chăm chú nhìn di thể của Tào Tháo, chậm rãi nói, - Đi bước nào tính bước ấy không phải đạo của bậc trí giả. Hơn nữa, đại vương anh minh một đời, nhưng cũng phạm phải không ít sai lầm. Không nói việc đại vương tàn bạo, đa nghi, chỉ riêng đạo vi chính cũng có chỗ thiên lệch, tuy rằng đại vương cất binh dựng nước vào thời loạn, nhưng cũng phải có pháp lệnh. Những pháp lệnh mà đại vương ban bố trong đời đều không được duy trì lâu dài, sáng ban ra tối lại đổi, mặc theo ý mình, hơn nữa còn hà khắc, có lòng nhân ái mà thiếu việc làm nhân ái, có tâm thuật đế vương mà không ra dáng một bậc đế vương, chỉ dùng thưởng phạt để định thiên hạ, há có thể vững bền? Nếu có chế độ quân ngũ rõ ràng, hôm nay chúng ta còn phải lo lắng về đám võ phu ở ngoài thành đó sao? Nếu có lễ pháp cấp bậc nghiêm minh, còn xảy ra nhiều rắc rối thế này sao? Sau này thái tử kế vị mà trọng dụng ta, việc ta muốn làm đầu tiên là xây dựng pháp lệnh cho đất nước, việc tuyển chọn sĩ nhân, khảo hạch quan viên đều phải tuân theo pháp lệnh ấy, đó cũng chính là công lao bất hủ! Ông nói có phải không… - Trần Quần nói một hồi, quay đầu lại nhìn, Tư Mã Ý dựa vào cột trụ ngủ thiếp đi từ lúc nào rồi.
Trần Quần không nhịn được cười - Ta thật ngốc, chuyện thái tử kế vị chưa đâu vào đâu, là họa hay phúc cũng chưa biết được, sao lại nghĩ xa vậy? Vẫn là Tư Mã Ý vô tư, lúc nào cũng ngủ khì được.
Trần Quần và Tư Mã Ý đều là tử đệ danh môn, nhưng khác nhau ở chỗ Trần Quần tinh thông thư tịch, giỏi về chính sự, còn Tư Mã Ý sành sỏi quan trường, giỏi về mưu lược, hai người đều vì chuyện của Tào Phi mà trở nên thân thiết với nhau. Cho nên Tư Mã Ý có thể ung dung bình thản, còn Trần Quần lại suy nghĩ đăm chiêu, lúc thì lo lắng, lúc thì mơ mộng, lúc lại tưởng tượng về công lao bất hủ của mình. Ông ta cứ miên man suy nghĩ mãi mà vẫn không thấy buồn ngủ, liền đứng dậy vươn vai, trông trời mới tờ mờ sáng, ông ta cầm ngọn đèn bước ra ngoài sảnh đường xem kỹ - Chiếc đồng hồ nước đang chỉ giờ Sửu hai khắc, nửa canh giờ nữa trời sẽ sáng hẳn.
Trần Quần xốc lại y phục, hít mấy luồng khí lạnh, tinh thần tỉnh táo hơn, đi dạo hai vòng quanh bãi cỏ hoang, vừa xoay người định vào linh đường, chợt nghe ngoại viện có tiếng bước chân người chạy lại, một thân binh ló mặt ra từ trong bóng tối:
— Xích hầu phía tây cấp báo!
Cánh tay Trần Quần đang cầm ngọn đèn khẽ rung lên:
— Có tin gì?
— Yên Lăng hầu nhận được tang báo, ngày đêm lên đường, hiện chỉ còn cách Lạc Dương chưa đầy hai mươi dặm!
Một loạt tiếng sột soạt, người nằm nghỉ trong linh đường bật cả dậy - Chuyện lớn ở trước mặt, ai có thể ngủ yên được? Trần Kiều ho húng hắng mấy tiếng, nặng nề bước ra nói:
— Tiếp tục thám thính! - Rồi quay người đưa ánh mắt nhìn chúng nhân, - Không ngờ đến nhanh vậy… - Vế sau ông ta không nói hết: Đến càng nhanh càng chứng tỏ có chuyện!
Tư Mã Ý bất giác nhíu mày:
— Không biết thái tử đã khởi hành chưa. Người được phái tới Hứa Đô xin thiên tử ban chiếu thư cũng đã đi được một ngày một đêm, sao lúc này vẫn chưa trở về? Lẽ nào thiên tử không chịu hạ chiếu?
Giả Quỳ thở dài một tiếng:
— Là phúc thì không phải họa, mà là họa thì không tránh được. Chúng ta cứ tiếp tục gắng gượng ứng phó, sớm muộn cũng qua được cửa ải này thôi!
Trần Kiều nắm chòm râu ngẫm nghĩ hồi lâu, bỗng nhiên nói với Tào Chân:
— Phiền tướng quân ra phía sau sai thái giám đánh thức vương hậu dậy, không có lão bà tọa trấn thì không được.
Biện hậu khóc lóc đến tận khuya, cũng vừa mới đi nghỉ chưa được bao lâu, giờ lại quấy rầy người liệu có ổn không? Tào Chân ngần ngừ, đang định thoái thác, nhưng trông mấy vị lão thần đều đang nhìn chằm chằm vào mình với ánh mắt nghiêm nghị, anh ta không dám hé miệng, cúi đầu đi vào hậu điện.
Bụi trần lắng đọng
Ánh nắng chiếu xuống thành Lạc Dương khiến tòa thành cũ trông càng hoang phế. Lần đầu tiên trong đời quần thần cảm nhận được, thì ra ánh nắng buổi sáng sớm cũng làm người ta chói mắt đến vậy. Tất nhiên là do đêm qua bọn họ không ngủ được, nhưng nhiều hơn là do khôi giáp của Yên Lăng hầu rọi chiếu!
Tào Chương bôn tang không được mặc khôi giáp màu vàng, vì vậy đã đổi sang một bộ màu sáng bạc. Tuy y khoác áo tang bên ngoài, trên mũ đâu mâu còn quấn một dải khăn trắng, nhưng dưới ánh mặt trời chiếu rọi, trông vẫn rất rực rỡ lấp lánh, lại thêm y có thân hình to lớn, dáng vẻ nghiêm trang, theo sau còn một đội binh mã, càng tỏ rõ vẻ oai phong lẫm liệt. Vào khoảnh khắc y ruổi ngựa đến trước cửa thành, tim quần thần đều rộn lên - Họ ước chừng hơn một canh giờ nữa Tào Chương mới đến nơi, giờ thấy ông lù lù xuất hiện nên hơi thiếu sự chuẩn bị.
Tào Chương không đến một mình, y dẫn theo hai trăm binh sĩ, toàn là kỵ binh. Tuy trước đó đã có lệnh phải trao trả binh mã, nhưng y vẫn cố tình giữ lại hai trăm binh sĩ tinh nhuệ làm hộ vệ. Đỗ Tập và Hạ Hầu Nho không dám gây chuyện với vị vương tử này, liệu rằng khi y đến Lạc Dương, Tào Tháo tất điều hai trăm quân này sang bộ khác, ngờ đâu đại vương đã chết rồi!
— Chúng thần tham kiến hầu gia. - Trần Kiều, Tân Tỵ đứng đầu quần thần thi lễ với y.
Tào Chương xoay người xuống ngựa, nhưng không mở miệng đáp lễ. Y ngước nhìn thành Lạc Dương loang lổ, như thể đang vận sức, chuyện xảy ra trong hai ngày qua tựa như một giấc mơ, phụ vương uy vũ là thế mà đột ngột qua đời, đến giờ y vẫn thấy tất cả không phải sự thực, y chưa có dũng khí đối diện với di thể của phụ thân.
Nhưng lúc này quần thần lại có phần sốt ruột, bởi binh sĩ đồn trú gần đó đều đã nhận ra Tào Chương - Vị tướng quân mặc giáp bạc kia chẳng phải là nhị vương tử dẹp loạn U Châu, đánh một trận hàng hai rợ Hồ đó sao? Ban đầu bọn họ chỉ xúm lại nhìn ngắm với vẻ sùng bái, nhưng tiếp đến có tướng lĩnh tiến lên thi lễ với Tào Chương, thậm chí còn có người còn khóc lóc trước mặt y. Trước tối hôm kia, vị tướng quân dụng binh như thần được đám võ nhân này kính trọng nhất chính là đại vương Tào Tháo, đại vương xây dựng Tào doanh, thân trải trăm trận, ngồi trong trướng mà có thể chỉ huy trận chiến cách xa hàng ngàn dặm, quân lệnh như núi, đại vương chính là tướng trong tướng, thần trong quân! Nay đại vương băng hà giống như ngôi miếu thiếu mất pho tượng thần linh, ai có thể thay thế vị trí của ông được đây? Dưới con mắt của binh sĩ bình thường, chỉ cần một người thiện chiến là được. Đúng lúc này lại có một người như vậy xuất hiện, hơn nữa còn là nhi tử của lão thần tướng, liệu còn ai thích hợp hơn Tào Chương không?
Trần Kiều thấy binh sĩ càng lúc càng xúm lại đông hơn, vội giục:
— Mời hầu gia vào thành.
Tào Chương cố hít vào một hơi:
— Đi thôi. - Y nói câu này vốn không sao, nhưng những kỵ binh đi theo y và cả đám binh sĩ tụ tập phía sau cũng di chuyển lên.
Quần thần vội quát lại:
— Binh sĩ không được phép vào thành!
Giờ không có ai làm chủ chính thức, Tào Chương trở thành chỗ dựa tin cậy của họ, nào còn để ý đến lời của đám quan văn? Có lão binh nuốt nước mắt cãi lại:
— Tôi chỉ là một đội trưởng tép riu, nhưng cũng đã tòng quân nửa đời người, theo đại vương xuất chinh bao nhiêu lần! Chẳng lẽ đến nhìn mặt đại vương lần cuối cũng không được? Những người chỉ biết múa bút như các ngài sao lại đề phòng bọn tôi như lũ giặc vậy? - Lời này nói ra đã kích động đám binh sĩ, có kẻ mạnh miệng đề nghị:
— Xin hầu gia làm chủ cho chúng tôi, chúng tôi muốn theo ngài vào bái tế đại vương!
Quần thần trong lòng như lửa đốt. Đám người thô kệch ấy không biết lợi hại bên trong, còn muốn theo vào cho loạn thêm! Tú tài gặp lính tốt, có lý mà không thể nói lại, cũng không thể giải thích với họ.
Ban đầu Tào Chương còn chìm trong nỗi buồn, chưa để ý, lúc sau thấy khó trấn áp được tình cảm của chúng nhân, không biết do tâm tính của một võ nhân trong y bị xao động hay là do y thực sự có dụng ý khác, mà nghiêm nghị nói:
— Được rồi! Ta dẫn các ngươi vào bái tế đại vương!
Nhìn chúng binh sĩ tiến lên mà quần thần dần mất hy vọng, bởi nếu để bọn họ vào trong thì coi như ván đã đóng thuyền. Giữa lúc chỉ mành treo chuông, tất cả binh sĩ bỗng đứng khựng lại, không ai làm ồn nữa, ai nấy đều đưa mắt nhìn chằm chằm vào chỗ cổng thành. Trần Kiều ngoái lại nhìn: Hạ Hầu Đôn được Lý Đương Chi dìu đến đứng trước cửa thành!
Hạ Hầu Đôn vùng dậy từ trên giường bệnh, còn chưa đeo miếng vá mắt, phơi con mắt hung dữ ấy trước mặt chúng nhân. Binh sĩ hoảng sợ - có ai không biết vị tướng quân một mắt này chính là tâm phúc của đại vương? Mỗi lần đại vương không ở trong quân, ông ta chính là người đứng đầu, chớ nói là binh sĩ bình thường, mà đến cả những đại tướng như Tào Nhân, Tào Hồng, Trương Liêu, Từ Hoảng cũng phải kính nể vài phần.
Hạ Hầu Đôn nghiêm mặt, quét ánh mắt nhìn khắp một lượt binh sĩ, lúc sau mới mở miệng nói:
— Theo di mệnh của đại vương, tất cả tướng sĩ đều không được tự ý rời khỏi doanh trại đồn trú của mình. Kẻ nào trái lệnh sẽ bị chém đầu! - Chỉ cần một câu này cũng đã có hiệu nghiệm, đám binh sĩ dần dần tản đi như nước triều rút. Tướng lĩnh đứng ở trong quân dựa vào kinh lịch và uy tín, mà uy vọng của Hạ Hầu Đôn đủ áp đảo tất cả.
— Binh sĩ của hầu gia cũng không được vào. - Hạ Hầu Đôn quay sang nói với Tào Chương, - Mẫu thân ngài và rất nhiều nữ quyến đều đang ở bên trong, ngài dẫn nhiều binh sĩ dữ tợn thế này vào không phải sẽ làm mọi người nhốn nháo lên ư? - Ông ta vốn là họ hàng thân tộc, lại tận mắt nhìn Tào Chương trưởng thành, cho nên không cần nói mấy câu lễ nghi khách sáo với vãn bối.
Tào Chương thở dài:
— Vậy còn thân binh có thể vào được chứ?
Lần này Hạ Hầu Đôn không thể ngăn cản được nữa, chỉ biết trầm giọng dặn dò:
— Hãy nghe lời phụ vương và mẫu hậu của ngài, làm người con hiếu thuận.
Không biết Tào Chương có hiểu ẩn ý sâu xa của câu nói này không, y dẫn mười thân binh đi lướt qua, quần thần cũng theo sát phía sau. Còn Hạ Hầu Đôn chỉ đứng im, dõi mắt nhìn mọi người đi xa dần, lát sau bỗng khuỵu xuống - Ông ta bệnh rất nặng, thân binh phải dùng xe kéo đưa ông ta đến. Mặc dù biết Tào Chương vào thành tất xảy ra biến cố, nhưng ông ta cũng không còn sức chống đỡ, chỉ giúp được đến đây thôi.
Tào Chương vừa bước đi vừa hồi tưởng về sự anh hùng uy vũ của phụ thân năm xưa, ban nãy ở chỗ đông người, y còn cố tỏ ra bình tĩnh, lúc này khó có thể nén được nữa, vừa qua điện Dương An nước mắt đã chảy vòng quanh, vội bước nhanh chân gần như chạy qua phục đạo tới thẳng cung điện quàn linh cữu. Y nhìn phụ thân đầu đội mũ miện đính mười hai tua ngọc, mình khoác cát phục màu đen làm từ gấm Tứ Xuyên, chân xỏ hài đỏ dây ngọc, eo đeo Thanh Cang bảo kiếm, nét mặt ôn hòa, thần thái ung dung, râu tóc ngay ngắn, khóe miệng hơi méo được che đi bằng vệt son đỏ - Vẫn là dáng vẻ nghiêm trang, đoan chính đó, mà từ nay lại chẳng thể cất lời được nữa!
— Phụ vương ơi!… - Tào Chương cúi xuống di thể gào khóc, - Nhi thần tới muộn… Người mau mở mắt nhìn con đi! Nhi thần không phụ lòng phụ vương, vẫn luyện binh ở Trường An… còn sai người thám thính thu thập được rất nhiều quân báo bên đất Thục, để đưa đến cho người nữa. Người mở mắt ra đi… Nhi thần không làm người nổi giận nữa… Nhi thần muốn phò tá người đánh dẹp thiên hạ, đi trước mở đường cho người… Sao người đã đi rồi? Vì sao!
Hu hu hu!… Nhi thần tới muộn…
Y đã tới muộn, không chỉ riêng hôm nay, đối với y mà nói, tất cả đều đến quá muộn! Xét trong một gia đình có ba người con, con thứ thường lép vế nhất. Phụ mẫu xem trọng con trưởng, cưng chiều con út, con thứ không được xem trọng bằng con trưởng, cũng không được cưng chiều bằng con út. Tào Chương là người con thứ hai của Biện thị, rơi đúng vào hoàn cảnh trên. Hơn nữa, thuở nhỏ y không thích đọc sách, bị Tào Tháo ghét bỏ, năm Kiến An thứ mười sáu lần đầu phong hầu cho các nhi tử, Tào Phi thân là đích trưởng tử, nhận chức Ngũ quan trung lang tướng, không được phong hầu, theo lý phải phong hầu cho người con thứ hai, nhưng Tào Tháo đã gạt y ra mà phong hầu cho tam đệ Tào Thực, mãi đến khi đệ đệ nhỏ tuổi nhất là Tào Cán chào đời, Tào Chương mới được phong hầu, nhưng lúc đó y đã gần ba mươi tuổi rồi mà vẫn chưa có chức quan. Tào Chương vốn không có hy vọng, cũng không ôm hy vọng, chỉ biết gửi gắm ước mơ của mình trên sa trường, cho đến tận khi dẹp loạn U Châu… lập chiến công vang dội, được cả thiên hạ chú ý, Tào Chương mới nghe được lời ca tụng thật lòng của tướng sĩ, nhìn thấy ánh mắt tán thưởng của phụ thân, cũng chính lúc đó y mới nhận ra là mình đã lầm. Ước muốn trong lòng y đâu chỉ dừng lại ở việc làm một vị tướng quân giống như Vệ Thanh, Hoắc Khứ Bệnh! Nhưng đã muộn, ngay cả Tào Thực cũng đã thất bại, tuy rằng hai năm cuối đời Tào Tháo có thiện cảm với y, thậm chí còn hơi yêu thích, nhưng nhiều nhất ông cũng chỉ được coi là một người ngoài cuộc quan trọng - Y đã muộn mất gần mười năm.
Tào Chương khóc như mưa, quần thần cũng thấy thê lương, nhưng đó không phải việc quan trọng, Tân Tỵ đánh bạo bước lên khuyên một lời hai ý:
— Xin hầu gia bớt đau buồn, chớ khóc quá nhiều hại đến quý thể, tiên vương ở trên trời có linh cũng sẽ không an lòng.
Tiếng khóc bỗng im bặt: Tiên vương? Ông ta gọi phụ vương là tiên vương, tất phải có kim vương! Tào Chương cố ngậm nước mắt, ngẩng đầu lên nhìn mới phát hiện ra cạnh chân phụ thân kê một chiếc bàn, văn thư quân báo, binh phù lệnh tiễn đều được đặt ngay ngắn trên đó, quan trọng hơn là chỗ ngồi ở đấy đang trống, chỉ có Tào Chân đứng hầu bên cạnh.
Nếu Tào Phi có ở đây thì không thể nói gì, nhưng hiện giờ vị trí của người kế thừa đại thống chỉ là một chỗ trống. Tào Chương bản tính hiếu thắng, lại cậy mình lập được công lớn nên không phục huynh trưởng, lúc này khó mà dẹp bỏ ý nghĩ quá phận. Năm xưa Tiểu Bạch[6] cướp ngôi làm chủ nước Tề, Lưu Bang lấy trộm phù lệnh của Hàn Tín, từ ngàn xưa cơ hội chỉ đến trong chốc lát rồi lại biến mất, giờ ngôi vị chí tôn ở ngay trước mặt, sao ta có thể bỏ lỡ cơ hội tốt này được? Tuy Tào Chương là người lỗ mãng, nhưng trong thô lỗ cũng có sự tinh tế, y thầm suy nghĩ: Lúc này tuyệt nhiên không thể hỏi ai là người kế thừa đại thống, một khi đã hỏi quần thần lập tức chứng thực bằng lời nói của mình. Ta cũng không thể gặp mẫu hậu, nếu mẫu thân tuân theo lễ pháp tỏ thái độ ủng hộ đại ca, thì chuyện này không ổn… Tào Chương quét ánh mắt lạnh lùng qua từng người đang có mặt ở đây, ai nấy đều cúi đầu, tránh ánh mắt của y. Thấy thế Tào Chương bạo gan, xoay người đến trước bàn, ngồi thử xuống.
Trần Kiều thấy Tào Chương tự ý ngồi vào chỗ của Ngụy Vương, định ngăn lại, nhưng Tư Mã Ý kéo ống tay áo ông ta, cao giọng nói:
— Vậy cũng tốt, ở Lạc Dương không có tông thân của đại vương, hầu gia đã tới đây rồi thì nên tạm thay thái tử làm chủ tang. - Tư Mã Ý cố ý nhấn giọng vào hai từ “tạm thay”.
Tào Chương không thèm đôi co với ông ta, mà xem kỹ những vật được đặt trên bàn, phát hiện ra sự bất thường: ấn tỷ, ấn Ngụy Vương, ấn Thừa tướng, ấn Ký Châu mục đều không có một cái nào. Không có ấn tỷ thì chẳng thể ban bố bất cứ điều lệnh gì!
Tào Chương ngẩng phắt đầu lên, nhìn thẳng vào quần thần với ánh mắt bức người:
— Ấn tỷ của phụ vương ta ở đâu?
Muốn làm rắn rồi! Tim mọi người như sắp bắn ra ngoài. Trần Kiều đã sớm đoán được y không chịu từ bỏ dã tâm, nên đã giấu hết ấn tỷ, nhưng đó chẳng qua cũng chỉ là trò bịt tai trộm chuông, nếu Tào Chương cứ một mực đòi ấn tỷ thì phải ứng phó thế nào đây? Im lặng không phải cách, Triệu Nghiễm lấy tinh thần tiến lên hai bước, - Hầu gia không nên hành sự lỗ mãng, chuyện quốc gia không giống như trò đùa. Người làm tôi giữ tiết tháo, người làm em nên kính nhường, có câu “Bất kỹ bất cầu, hà dụng bất tàng,”[7] “Dũng tắc hại thượng, bất đăng minh đường đạt.”[8] Tự cổ… - Tư Mã Ý đứng đằng sau nghe mà sốt ruột. Tào Chương là người liều lĩnh, chưa từng đọc qua cuốn sách nào, ngài giảng những đạo lý trong Xuân Thu, Kinh thi với ngài ta có ích gì?
Quả là như vậy, Tào Chương chẳng thèm đếm xỉa đến Triệu Nghiễm, quát hỏi lần nữa:
— Ấn tỷ của phụ vương ta ở đâu? - Cùng lúc này, hơn chục thân binh của ông đứng bên ngoài cũng xông vào cửa điện. Đám tiểu tử ấy theo y đã nhiều năm, dù thường ngày đi săn hay thảo phạt Ô Hoàn cũng đều không rời, tớ theo chủ nên cũng quen thói vô phép vô thiên.
Thấy mềm mỏng không ăn thua, Gián nghị đại phu Giả Quỳ đứng lên. Ông ta là người cương nghị nhất trong số quan viên, năm xưa từng thẳng thắn can gián khiến Tào Tháo nổi giận, bị nhốt vào đại lao, giờ ông ta lại lấy dũng khí của mình ra, chắp tay thi lễ nói:
— Thái tử ở Nghiệp Thành, nước nhà đã có phó quân. Ấn tỷ của tiên vương không phải thứ hầu gia nên hỏi! - Một câu nói thật cứng rắn.
Tào Chương cười nhạt, hỏi ngược lại:
— Ta thân là vương tử còn không được hỏi, các ông là bề tôi mà lén giấu ấn tỷ là có ý gì? - Lời này cũng thật sắc sảo.
Giả Quỳ nói thẳng:
— Đại vương băng hà, trong quân không có người làm chủ, chúng thần cất ấn tỷ đi là để đề phòng những kẻ có mưu đồ bất chính. Vì muốn bảo vệ xã tắc, nên mới phải dùng phép quyền biến vậy!
Tào Chương vẫn không chịu nhường:
— Đem ấn ra đây, ta với các ông cùng bảo vệ xã tắc.
Quần thần đưa mắt nhìn nhau, “cùng bảo vệ xã tắc” là bảo vệ kiểu gì? Tào Chương lập được công trạng trong quân, luôn được binh sĩ ái mộ, nếu để y cai quản ba quân, tất có kẻ nhảy ra tôn y làm vua. Tào Phi há lại chịu để yên? Hiện giờ Tào Phi đang nắm giữ đất Hà Bắc, cũng có thế lực trong quân, Tào Ngụy thế nào cũng giẫm vào con đường huynh đệ tương tranh, đất nước diệt vong, lẽ nào vết xe đổ của Viên thị vẫn chưa đủ thê thảm hay sao?
Lần này Giả Quỳ không nói được nữa, chỉ biết nghiến răng lắc đầu quầy quậy.
— Mấy vạn đại quân đang ở ngoài kia, làm sao có thể không có người làm chủ được, ta tạm thời cai quản! - Tào Chương nói giọng cương ngạnh như thể không chấp nhận sự cự tuyệt, đám thân binh đứng ở cửa cũng tiến gần hơn - Quần thần còn không trả lời, e là họ sẽ ra tay cướp.
Đã nói đến hết nước rồi, ai nấy cũng túa mồ hôi. Đầu tiên, mọi người nhìn Tào Du với ánh mắt mong chờ, nhưng vị thúc công này thực sự chẳng có được cái uy của bậc trưởng bối, sợ hãi thụt dần lại phía sau; kế đến, lại nhìn Tào Chân, nhưng nghĩa tử dù có thân mấy vẫn chỉ là con nuôi, làm sao kháng lại được con ruột của Ngụy Vương? Quần thần đã đi bẩm báo với Biện hậu, nhưng vẫn chưa thấy bà ra, lỡ như lão bà nhất thời hồ đồ, giữ thái độ công bằng, bỏ mặc chuyện của hai nhi tử thì hỏng! Hậu viện có nhiều nữ quyến như vậy, quần thần cũng không thể cứ chạy xộc vào được, làm thế nào bây giờ? Hơn mười thân binh đằng đằng sát khí, trong khi Hứa Chử cũng dẫn binh trấn bên ngoài, nếu thực sự đụng đao, linh đường sẽ lập tức biến thành một bãi chiến trường! Tào Tháo đã chết, danh dự của ông chỉ là chuyện nhỏ, có điều ai dám đả thương vương tử? Nếu thật sự làm vương tử bị thương, ai gánh nổi tội? Huống chi còn có Đinh Dực, Khổng Quế chầu chực ở điện bên. Chuyện này không ổn rồi…
Tào Chương sắp mất kiên nhẫn, đanh giọng hăm dọa:
— Mau giao ấn ra đây!
— Được lắm! Thi hài của phụ vương còn chưa lạnh mà đã muốn cướp ấn, hay cho một nhi tử hiếu thuận! - Một giọng nói kỳ quặc vẳng lại, phá vỡ cục diện bế tắc.
Ai dám làm con ngựa biết hí trong đội nghi trượng giữa lúc quan trọng này chứ? Chúng nhân giật mình ngoảnh nhìn, trông thấy một ông cụ bước ra từ sau màn trướng, dáng người thấp nhỏ, gầy guộc, đầu quấn khăn trắng, mình mặc áo đại tang, khoảng sáu mươi tuổi, râu đã ngả màu hoa râm, dựng mày trợn mắt, nghiến răng nghiến lợi, nhìn chằm chằm vào Tào Chương - Đó chính là quốc cữu Biện Bỉnh!
Tào Chương nhăn mày. Biện Bỉnh là đệ đệ của mẫu thân, hơn nữa lại rất thương y, Tào Chương có thể không nói lý với ai, chứ làm sao ồn ào với cả vị cữu cữu này được? Y chỉ biết chắp tay thi lễ:
— Thì ra là cữu phụ, điệt nhi…
— Ngươi vẫn còn nhận ra ta à? Vinh hạnh, vinh hạnh! - Biện Bỉnh không để y nói hết câu đã mắng thẳng vào mặt, - Ta còn tưởng tiểu tử ngươi lĩnh binh, đánh trận, làm tướng quân rồi thì không còn nhận ra ai nữa! Ngươi nhìn đi, mọi người ở đây đã mệt thế nào? Trần công, Tân công, còn có Từ quận tướng nữa, bọn họ… đều là những người có tuổi, từ lúc phụ vương ngươi nằm xuống, họ bận trong bận ngoài, chạy ngược chạy xuôi, thử hỏi có ai đã kịp thở chút nào chưa? Bên ngoài còn tám vạn đại quân đấy, nếu không nhờ liệt vị lão thành mưu quốc ổn định đại cuộc thì đã loạn rồi!
— Điệt nhi, điệt nhi…
— Ngươi làm sao? Ngươi có lý! Ngươi vào thành chẳng thèm cảm ơn quần thần lấy một tiếng, cũng không đến vấn an mẫu thân, trái lại còn bới lông tìm vết, chào hỏi phách lối nhỉ! - Biện Bỉnh chống nạnh, - Còn dám hỏi ấn tỷ? Ngươi mà cũng xứng sờ vào món đồ ấy hả?
— Điệt nhi chỉ tạm thời nắm quyền. - Tào Chương đợi mãi mới chen vào được một câu.
— Hừ! Ngươi coi ta là đứa trẻ lên ba hả? Ta nói cho ngươi biết, nhà có trưởng tử, nước có phó quân, phụ vương ngươi đã có ý truyền ngôi rõ ràng, không có phần của ngươi!
Tào Chương không nén được sự kích động nữa, gào lên thất thanh:
— Không có phần của điệt nhi! Không có phần của điệt nhi! Từ nhỏ đến lớn chuyện tốt gì cũng không đến lượt điệt nhi! Điệt nhi có chỗ nào không bằng đại ca? Điệt nhi là người đánh bại phản quân Ô Hoàn, cứu nguy cho nước Ngụy kia mà! Rong ruổi thiên hạ, diệt trừ Ngô Thục, có mười Tử Hoàn cũng chẳng sánh bằng một mình diệt nhi! Phụ vương dùng võ lược để định thiên hạ, há lại để một kẻ tầm thường, hèn nhát như Tử Hoàn kế thừa đại thống? Muốn bình thiên hạ phải dựa vào vũ dũng!
Biện Bỉnh còn quát to hơn:
— Đúng! Dựa vào vũ dũng! Ban đầu Công Tôn Toản, Lã Bố cũng nghĩ như vậy, giờ thì bọn chúng đang ở đâu? Tiểu tử ngươi có biết trời cao đất dày là gì không? Ngươi đã đọc được mấy cuốn sách? Quan lại địa phương trong thiên hạ, ngươi biết được mấy người? Ngươi có biết Hoài Nam, Quan Trung có bao nhiêu dân đồn không? Ngươi có biết mỗi năm xã tắc phải tốn mất bao nhiêu lương thảo để nuôi binh dưỡng mã không? Ngươi có biết có tất cả bao nhiêu phong ấp của liệt hầu không? Ngươi có biết việc xây dựng Nghiệp Thành cần đến bao nhiêu dân công, của cải không?
Một chuỗi câu hỏi làm khó Tào Chương, miệng y ấp a ấp úng:
— Điệt nhi, điệt nhi…
— Ngươi cái gì cũng không biết, chỉ biết mỗi đánh trận! - Biện Bỉnh lại chỉ vào đám thân binh đứng ở cửa, - Giỏi! Còn dẫn cả thân binh vào. Giỏi lắm! Ta mừng thay cho phụ vương ngươi. May là ông ấy đã sớm tắt thở, chứ bằng không các ngươi sẽ lặp lại chuyện của người xưa, làm một cuộc chính biến ở cung Sa Khâu, để Triệu Vũ Linh Vương chết đói[9] chăng? - Câu này quá gay gắt, chụp hẳn tội danh mưu phản lên đầu bọn họ. Mười mấy thân binh bạo tợn cũng phải kinh hãi, lui vội xuống dưới thềm điện.
Nhuệ khí của Tào Chương đã bị đè bẹp, chỉ biết phân bua:
— Điệt nhi không có ý đó! Không có ý đó!
Biện Bỉnh không cho y cơ hội giải thích, cướp bước tiến lại, chỉ thẳng vào mũi y mà chửi vống lên:
— Ngươi có ý gì? Ngươi hỏi ấn tỷ làm gì? Dùng máng ngựa làm quan tài, ngươi cũng trưởng thành rồi đấy. Toàn dựa hơi phụ vương và nhà vợ mới có thế lực, ở trong quân được hai năm đã chẳng coi ai ra gì! Ta vô cùng bực tức ở trong lòng, rồng sinh chín loại, không loại nào giống loại nào, sao tỷ tỷ của ta lại sinh ra cái loại bất nghĩa như ngươi thế này! Trước đây tỷ phu cho ngươi lấy tộc muội của Tôn Quyền chính là để ngươi dẹp bỏ ý nghĩ này! Giờ không phải ngươi muốn tranh ngôi ư? Ngươi giết ta trước đi, rồi đâm luôn cho mẫu thân ngươi một nhát đao nữa! Ngươi cũng hãy giết hết đám huynh đệ của mình đi để tỏ rõ được đức hạnh của Tào gia! Làm rạng rỡ tổ tông cho phụ vương ngươi được nở mày nở mặt… - Ông ta nói thao thao bất tuyệt, toàn là những lời chửi mắng khó nghe, chớ nói là nhà đế vương, mà kèn trống đám ma trong dân gian cũng chỉ ồn ào đến thế là cùng! Quần thần đứng ngây ra như khúc gỗ - Ai ngờ được vị quốc cữu thường ngày ít khi ra khỏi nhà lại lợi khẩu như vậy?
Tào Chương nghe chửi, cả người run lên, nhìn quần thần xung quanh không hề có ý can ngăn, y chợt cảm thấy mình đã mất hết thể diện, tay đặt vào chuôi kiếm, mà run run không sao rút kiếm ra được, dù gì người đứng trước mặt cũng là cữu cữu luôn hết mực yêu thương y!
Biện Bỉnh tiến lên hai ba bước lại gần y, tuy giọng vẫn hùng hổ bức người, nhưng mắt đã ầng ậng nước:
— Tên súc sinh, không phải ngươi muốn làm chuyện lớn ư? Tới đây! Một nhát đâm chết cữu cữu! Hồi nhỏ ngươi đái lên bụng ta, ị lên đầu ta, cữu cữu thương ngươi nhất. Ngươi giết ta rồi, ta sẽ không hận ngươi, ngược lại còn an tâm vì ít nhất cũng không phải trông thấy cảnh huynh đệ các ngươi tương tàn! - Nói rồi, ông ta quay đầu nhìn thi thể của Tào Tháo, - Tỷ phu, huynh trải qua trăm ngàn trận đánh mới gây dựng được giang sơn như ngày hôm nay, không ngờ lại sắp sụp đổ theo gót Viên Thiệu… Huynh hãy mở to mắt ra mà nhìn đám tử tôn bất hiếu này đi!
Tào Chương dù lòng dạ sắt đá, nghe được những lời này cũng mềm lòng, cánh tay buông thõng, bội kiếm rơi tuột xuống nền đất, bao nỗi ấm ức trong lòng chẳng có chỗ trút ra, hoài bão một đời cũng chẳng thể thi triển. Đúng lúc này, y chợt thấy màn trướng phía hậu điện khẽ lay động, Biện hậu khuôn mặt lấm lem nước mắt được thị nữ dìu ra:
— Con của ta…
Tào Chương trông thấy mẫu thân, ngay đến hai từ “mẫu hậu” cũng không thốt ra được, quỳ phịch xuống, gọi một tiếng:
— Mẹ! - Rồi lết đầu gối đến chỗ mẫu thân, vùi đầu vào lòng bà, hai mẹ con ôm nhau khóc.
Biện hậu ôm chặt nhi tử, nghẹn ngào nói:
— Cữu cữu mắng con là bởi sợ con trẻ người non dạ sẽ làm chuyện dại dột, đây cũng là nỗi khổ tâm của phụ vương con!
— Nhi thần tủi khuất… - Tào Chương khóc không ra tiếng.
— Mẫu thân thương con, yêu con, nhưng ngôi vị của phụ vương con chỉ có thể truyền lại cho một mình đại ca của con, đó cũng là vì sự ổn định lâu dài của cơ nghiệp Tào Ngụy… Nghe lời phụ vương con…
Tào Chương thấy mẫu thân cũng nói như vậy, còn hy vọng gì nữa? Chỉ biết khóc rống lên. Quần thần vội quỳ xuống khuyên giải, Biện hậu cố gạt nước mắt, chậm rãi nói những lời sâu xa:
— Các vị đều là cánh tay phải của triều ta, hãy thay ai gia soạn một ý chỉ lập thái tử Phi làm vua, như vậy không còn sơ sảy gì nữa. - Quần thần đều ngẩn người. Tâm tư của thái hậu có thể hiểu được, thân là mẫu thân của ba nhi tử, bà không muốn trông thấy cảnh huynh đệ bọn họ tranh giành nhau thêm nữa. Nhưng, việc thái hậu sắc lập tân vương có hợp quy tắc không? Nếu người chết là nhi tử của bà, lại không có người nối dõi, thì thái hậu muốn lập ai cũng có thể miễn cưỡng chấp nhận được. Nhưng hiện giờ là Tào Tháo băng hà, há có thể do bà làm chủ? Quần thần biết rõ là không hợp phép tắc, nhưng không nói ra, vẫn ban bố ý chỉ ấy, vì ít nhất nó cũng cho Tào Phi thêm một sự đảm bảo.
Nhìn hai mẹ con bà sụt sùi dìu nhau vào hậu điện, mọi người mới thở phào nhẹ nhõm. Biện Bỉnh đã rút hết sức lực, ngã xệt xuống đất, ôm thi thể trang nghiêm của Tào Tháo:
— Tỷ phu ơi, tỷ phu, may mà huynh còn nghĩ ra chủ ý này. Huynh giao cho đệ việc gì thế này…
Một cơn sóng gió coi như đã qua, hai ngày sau thái tử Tào Phi mới đến được Lạc Dương, quần thần trong thành và chúng tướng ngoài thành cung kính nghênh giá, như quần tinh ủng nguyệt đưa y vào cung. Tào Phi bộ dạng vô cùng nghiêm trang, mình khoác áo đại tang nhưng vẫn không che hết được khí khái cao quý. Y chính là người chiến thắng sau cùng.
Tào Phi cảm tạ quần thần, vấn an mẫu thân rồi quỳ xuống trước di thể của phụ thân mà khóc, mỗi cử chỉ, mỗi lời nói, thậm chí mỗi tiếng khóc đều dìu dặt, đúng mực. Lúc này, Tào Chương mới bắt đầu cảm thấy sợ hãi, y bỗng nhớ ra những thủ đoạn mà huynh trưởng đã dùng để tranh giành ngôi vị trong hơn mười năm qua, nhớ ra cách đối nhân xử thế của huynh trưởng xưa nay. Nỗi sợ hãi dâng lên xâm chiếm tâm trí y - Vì sự ổn định của xã tắc, cuối cùng Tào Chương đã chịu buông tay, nhưng dù sao y cũng đã có ý tranh ngôi, chuyện hỏi ấn tỷ không thể giấu được, vậy sau này vị huynh trưởng luôn ra vẻ ôn hòa, nho nhã kia sẽ đối đãi với y thế nào đây?
Tào Chương hoang mang, lặng lẽ tiến lại chỗ tam đệ đang khóc, nhỏ giọng nói:
— Lúc lâm chung phụ vương cho gọi ta đến, căn dặn ta phò tá đệ làm vua. - Y ôm một tia ảo tưởng, nếu huynh đệ hai người hợp lực thì vẫn có thể tranh giành với Tào Phi, nên dệt nên một lời nói dối nhằm lôi kéo tam đệ, thậm chí y còn ảo tưởng rằng có lẽ các huynh đệ khác như bọn Tào Bưu cũng sẽ đứng ra giúp sức.
Nhưng Tào Thực dường không còn hứng thú gì với chuyện này, chỉ lắc đầu nói:
— Chuyện lớn đã định, không thể tranh đấu được nữa. Mà dù có thể tranh đấu thì huynh cũng không thấy kết cục thảm bại của Viên thị đó sao?
Không biết Tào Phi có nghe được những lời thì thầm giữa hai người không mà đột nhiên ngưng khóc, ra hiệu bằng tay với quần thần theo quân. Ngự sử đại phu Hoa Hâm hai tay bưng một bản sách lụa màu vàng, bước ra khỏi hàng:
— Chiếu thư của thiên tử đang ở đây. - Quần thần kinh ngạc quỳ hết cả xuống. Hoa Hâm hắng giọng, mở chiếu thư đọc dõng dạc:
Trước kia hoàng thiên giao phó tiên phụ của Phi phò tá hoàng gia ta, diệt trừ hung đồ, an định chín châu, công lao to lớn, chiếu sáng thiên hạ, nhờ vậy trẫm mới không phải vất vả hơn hai mươi năm. Có điều, trời không giữ người già, nhưng còn chừa lại cho một người, tiên phụ của Phi đã mất thật rồi, thương tiếc lắm thay. Lệnh cho Phi tiếp quản trăm quan văn võ, nối nghiệp tiền nhân. Nay, trẫm sai Ngự sử đại phu Hoa Hâm có quyền phù tiết mang sắc thư đến trao ấn tín Thừa tướng, ngọc tỷ Ngụy Vương lại cho Phi, lĩnh chức Ký Châu mục. Hiện giờ, bên ngoài có tàn quân của địch, Man Di chưa chịu thuần phục, cờ trống còn ở biên cương, chiến tranh chưa dập tắt, vì vậy Phi cần phải phát dương cơ nghiệp lớn lao, lập công để lại tiếng thơm ngàn năm. Há lại sửa lễ cư tang, học theo chí của Tâng, Mẫn?[10] Phi hãy kính phục mệnh lệnh của trẫm, nén lại nỗi đau, dẹp bỏ những tâm tư khác mà dựng công lao hiển hách để xứng với tâm ý của trẫm.
Tư Mã Ý cả kinh, thậm chí còn hơi ngờ vực chiếu thư kia liệu có phải do thiên tử ban. Ông ngước mắt nhìn xung quanh, bất ngờ trông thấy Đổng Chiêu đã mất tích nhiều ngày nay cũng bước vào theo đoàn người của Tào Phi, liền hiểu ngay ra: Đại vương đã sớm trù liệu! Thì ra ngay từ lúc đại vương còn chưa chết, Đổng Chiêu đã được điều tới Hứa Đô ép thiên tử nhà Hán viết chiếu thư, đến khi nhận được tang báo, ông ta không quản việc ở Lạc Dương mà nhằm thẳng hướng Nghiệp Thành, giữa đường gặp Tào Phi nên đã truyền đạt chiếu thư. Lạc Dương đưa Tào Phi lên ngôi, nhưng thực ra là giả, chiếu thư do Hứa Đô ban xuống mới là thật, trong lúc đại vương sắp xếp cho Biện Bỉnh mắng chửi Tào Chương, thái tử đã nhận được chiếu thư từ lâu, danh chính ngôn thuận lên làm Ngụy Vương. Chẳng trách lúc đại vương lâm chung lại không hề đả động đến việc thái tử kế vị, chẳng trách ông còn có tâm tư mà nói những lời từ biệt lâm ly với cơ thiếp. Hóa ra, tất cả đều nằm trong kế hoạch của ông.
Tiếng khóc của quần thần lại vang lên lần nữa, nhưng không bi thương, thống thiết như lúc đầu, mà lúc trầm lúc bổng, như thể họa theo tiếng khóc của Tào Phi, lại cũng có vẻ qua quýt. Vào thời khắc này, không ai thành tâm truy điệu tiên vương nữa, người đang nằm đây chẳng qua chỉ là một đống thịt, hồn lìa khỏi xác, tất cả còn mãi suy tính cho ngày mai…
❀ ❀ ❀
[1] Người quân tử để tang, ăn miếng ngon không biết ngọt, nghe tiếng nhạc không thấy vui, ở trong nhà của mình mà vẫn không an lòng.
[2] Chỉ tước hầu hưởng thuế khóa của một ngàn hộ dân trong ấp được phong.
[3] Thời xưa, nghe tin nhà vua, phụ mẫu hay bậc tôn trưởng qua đời, người từ nơi khác về phúng viếng hoặc lo liệu tang sự đều được gọi là bôn tang.
[4] Thái tử tẩy mã, gọi tắt là tẩy mã, là thuộc quan của thái tử. Chữ tẩy ở đây được mượn dùng thay cho chữ “tiên”, “tẩy mã” chính là “tiên mã” ý chỉ người đi phía trước dẫn đường.
[5] Ba năm không đổi đạo của cha.
[6] Tức Tề Hoàn Công, họ Khương, tên Tiểu Bạch. Thời Tề Tương Công, quốc chính rối loạn, Bào Thúc Nha đưa công tử Tiểu Bạch trốn sang nước Cử, còn Quản Trọng và Thiệu Hốt đưa anh trai của công tử Tiểu Bạch là công tử Củ trốn sang nước Lỗ. Sau khi Tề Tương Công và công tử Vô Tri lần lượt bị giết, các quan đại phu sai người sang nước Lỗ đón công tử Củ về nối ngôi. Công tử Tiểu Bạch biết tin, bàn với Bào Thúc Nha mượn quân nước Cử để về nước. Quản Trọng lo công tử Tiểu Bạch ở nước Cử, rất gần với nước Tề, nếu về trước sẽ có lợi thế hơn, nên xin dẫn một toán quân đón đường mà đánh. Quản Trọng bắn trúng vào vòng đai của công tử Tiểu Bạch, công tử Tiểu Bạch giả chết, báo tin về nước Lỗ, nước Lỗ mừng lắm, từ từ đưa công tử Củ về, mãi sáu ngày sau mới đến nơi. Lúc đó, công tử Tiểu Bạch đã lén trở về nước Tề trước, lên nối ngôi, tức Tề Hoàn Công.
[7] Chẳng đố kỵ, chẳng tham cầu, làm gì chẳng tốt.
[8] Dũng mà hại đến người trên, sẽ không được ghi công.
[9] Chuyện xảy ra ở nước Triệu thời Chiến quốc. Năm 299 trước Công nguyên, Triệu Vũ Linh Vương nghe theo ý của ái thiếp là Ngô thị phế thái tử Chương, truyền ngôi cho thứ tử Hà, còn mình làm chủ phụ. Năm 296 trước Công nguyên, chủ phụ phong cho công tử Chương làm An Dương quân, sai Điền Bất Lễ phò tá công tử Chương. Năm sau, chủ phụ đi thăm cung Sa Khâu, thương công tử Chương làm anh mà phải chầu em, muốn chia nước Triệu làm hai để cho công tử Chương làm vua ở đất Đại. Mấy hôm sau, công tử Chương và Điền Bất Lễ tạo phản, muốn giết Huệ Văn Vương Hà. Phi Nghĩa chết thay vua, Lý Đoái và công tử Thành dẫn quân dẹp loạn, giết công tử Chương cùng với Điền Bất Lễ. Hai người sợ chủ phụ truy tội, bèn nhốt một mình chủ phụ ở trong cung Sa Khâu, ba tháng sau mở cửa thì thấy chủ phụ đã bị chết đói rồi. Lịch sử gọi là chính biến cung Sa Khâu.
[10] Tức Tăng Sâm, Mẫn Tử Khiêm, cả hai đều là học trò của Khổng Tử, nổi tiếng về hiếu hạnh. Ý câu này là khuyên Tào Phi không nên chìm đắm trong nỗi buồn mất cha, để tang tròn ba năm.