Để quét sạch trở ngại cho việc sắc lập Tào Phi thái tử, Tào Tháo không chỉ giết hại hai Hiệu sự Triệu Đạt, Lư Hồng mà còn điều đi toàn bộ thuộc quan trong phủ Lâm Tri hầu, sau đó bức chết nàng dâu Thôi thị. Bởi vậy, người trong thiên hạ đều biết Tào Thực bị thất sủng, Tào Tháo chỉ chuyên chú vào một mình Trung lang tướng Tào Phi. Đến tháng Mười năm Kiến An thứ hai mươi hai, Tào Tháo chính thức ban chiếu lệnh, sắc lập Tào Phi làm thái tử nước Ngụy, đồng thời bổ nhiệm Lương Mậu làm Thái phó, Hà Quỳ làm Thiếu phó, bọn Bào Huân, Tư Mã Ý làm Trung thứ tử, còn Tư Mã Phù, Vương Sưởng làm Xá nhân, dựng nên một phủ thái tử tài đức vẹn toàn, mọi mặt đều tốt.
Triều đình Hứa Đô tất nhiên cũng phải vỗ tay chúc mừng, Lưu Hiệp một lần nữa ban chiếu thư cho phép Tào Tháo đội mũ miện đính mười hai tua ngọc, đi xe kim ngân có sáu ngựa kéo và dùng xe phụ ngũ thời. Theo Lễ ký, mũ của tước tử, nam có năm tua, mũ của tước hầu, bá có bảy tua, chỉ mũ của thiên tử mới có mười hai tua. Trên thực tế, mũ mười hai tua ngọc chính là mũ của hoàng đế, xe kim ngân cũng là xe thiên tử ngồi, bánh xe sơn màu đỏ, đòn xe chạm vằn hổ, ách xe hình đầu rồng, thang xe hình chim loan chim tước, lọng xe hình lông kim ô, phía sau gắn mười hai tinh kỳ vẽ con rồng bay lên cùng với mặt trời và mặt trăng, vô cùng lộng lẫy. Hàng chư hầu, vương công đi xe bốn ngựa kéo, duy có thiên tử mới được dùng sáu ngựa kéo, hai bên ngự giá có an xe (xe có ghế và giường nhỏ, thể hiện sự tôn quý của người cưỡi xe) và lập xe (phía trước có thanh ngang để người cưỡi xe vịn vào đó mà đứng lên, tỏ rõ uy thế) gồm năm màu xanh, vàng, đỏ, trắng, đen, mỗi loại một chiếc, vị chi có mười xe, gọi là xe ngũ thời. Tất cả đều thuộc đồ nghi trượng của thiên tử. Tào Tháo đã có quyền lực của thiên tử nhà Hán, nay lại có nghi trượng, phục sức, tinh kỳ của thiên tử, thì đúng là thiên hạ phương bắc xuất hiện cục diện hai thiên tử cùng tồn tại.
Có được đồ nghi trượng, đương nhiên Tào Tháo phải phô trương uy phong, ông dẫn thái tử Tào Phi, tử điệt, thân tín cùng đi tuần một vòng trong ngoài Nghiệp Thành. Những nơi ông đi qua, quan lại và dân chúng sắp hàng hai bên đường nghênh giá, tiếng hô vạn tuế vang động đất trời - Trải qua mấy chục năm binh đao loạn lạc, bách tính từ lâu đã không còn quan tâm ai mới là hoàng đế thật, miễn sao người đó có thể đem lại cuộc sống yên ổn cho họ, thì hô vạn tuế với ai chẳng được?
Xa giá đến doanh trại ở ngoại thành phía nam, Tả Tướng quân Vu Cấm dẫn toàn bộ tướng sĩ cầm giáo diễn võ, góp thêm sự hưng phấn của Ngụy Vương. Đến khi đi săn ở Tây Sơn, vương tử chư hầu đều dẫn thân binh của mình đuổi hươu bắn thỏ, dâng lên phụ vương.
Yên Lăng hầu Tào Chương giỏi cưỡi ngựa bắn cung, săn được nhiều thú rừng nhất, Tào Tháo vui mừng khen ngợi, tưng bừng cả ngày mới trở về Nghiệp Thành. Lúc này Dương Bái đã chuyển làm Kinh Triệu doãn, người được đổi làm Nghiệp Thành lệnh là Sạn Tiềm - một sĩ nhân Nhậm Thành, đã sai người đi rải nước sạch trên phố, nèn đất đỏ trên đường, chúng thần lưu thủ đứng hai bên nghênh giá.
Tào Tháo trống thấy Hạ Hầu Đôn liền gọi:
— Nguyên Nhượng, lên đây cùng ta. - Xe của ông hiện là xe dành cho thiên tử, người ngồi cùng xe với ông có vinh hạnh lớn nhường nào. E là trên dưới nước Ngụy chỉ mình Hạ Hầu Đôn có đủ tư cách này.
Hạ Hầu Đôn không dám tiếm quyền, Phò mã đô úy Khổng Quế tới mời, ông ta từ chối mãi không được, mới e dè bước lên xe. Xa giá vào trong thành, Tào Tháo chỉ khắp phố thị phồn hoa:
— Thuở trẻ, chúng ta có đoán được rằng mình sẽ có địa vị tôn quý như hôm nay không?
— Mạt tướng không dám nghĩ đến, đây đều là hồng đức oai hùng do đại vương tạo nên.
Tào Tháo không hài lòng:
— Nguyên Nhượng, chúng ta thân nhau từ nhỏ, lại cùng dựng đại nghiệp của nước Ngụy. Vũ Đế ngủ chung giường với cố hữu là Nghiêm Tử Lăng, nay ta và ông hiểu nhau hơn cả người xưa, hà tất phải nói mấy lời xu nịnh?
— Dạ. - Hạ Hầu Đôn thầm nghĩ: Giao tình hồi trẻ, cùng dựng cơ nghiệp, đúng là có thật. Nhưng giờ ông ngồi ở tước vương, tới thê tử kết tóc cũng đuổi đi, nhi tử ruột cũng bị dồn vào chỗ khốn khổ khôn cùng, con dâu thì bị bức chết, ai còn dám nói đến giao tình cũ với ông?
Tào Tháo nói:
— Nhà họ Tào và họ Hạ Hầu vốn là một, trong tộc của ông mà có người hiền tài, bất cứ lúc nào cũng phải tiến cử.
— Mạt tướng cố tình học theo Mao Toại tự tiến cử mình. - Hạ Hầu Đôn mỉm cười, - Nước Ngụy đã dựng được hai năm nay, chúng quan văn võ đông đúc, mạt tướng có chức quan không thấp, ấp phong cũng không phải ít, nhưng đến nay vẫn là quan nhà Hán, ngay cả Vu Cấm cũng đã nhận chức Tả Tướng quân nước Ngụy, mạt tướng không muốn bị xếp là di thần của Hứa Đô, xin được làm Ngụy quan.
Tào Tháo thở dài, nắm tay ông ta, nói:
— Cao nhất là sư thần, tiếp đến là hữu thần. Phàm bề tôi là người có đức, nước Ngụy nhỏ bé của ta sao đủ khuất phục ông? Ta với ông là bạn đồng hương, thân như thủ túc, con cái liên hôn, cùng đạo xử thế. Tuy ta là vua nước Ngụy nhưng vẫn là Thừa tướng, ông cũng là Hán thần, hai ta là người cùng một điện, nếu ta nhận ông là bề tôi thì phải chịu sự ước thúc của lễ pháp, liệu có thể đối đãi chân thành như thế này không?
Hạ Hầu Đôn xúc động, ông và Tào Tháo đúng có tình cảm vô cùng sâu sắc, những hoạn nạn năm xưa như đang hiện về trước mắt. Nghĩ đến đây, ông ta buột miệng gọi cách xưng hô đã lâu không dùng:
— Mạnh Đức… Người có tâm ý này khiến mạt tướng cảm kích vô cùng.
— Hay! - Khuôn mặt Tào Tháo hiện lên vẻ sảng khoái.
— Tào Mạnh Đức… Ta không nhớ bao lâu rồi mới có người gọi mình như vậy. Gọi hay lắm! Cái gì mà cô gia với chả quả nhân? Tên mình vẫn hay nhất… - Hai vị huynh đệ già chuyện trò thân mật, nói về những chuyện năm xưa, lúc thì vỗ tay cười lớn, lúc lại ngậm ngùi cảm khái.
Không lâu sau xa giá đến đầu đường Chính Dương, vào thẳng cung vua, cửa Tư Mã mở rộng, Trung úy Dương Tuấn, Lang trung lệnh Hòa Hiệp, Thượng thư lệnh Từ Dịch, Hổ bôn trung lang tướng Hoàn Giai cung nghênh đại giá. Hạ Hầu Đôn muốn dìu Tào Tháo đứng dậy, nhưng ông nói:
— Ông tuổi cũng đã cao mà còn dìu ta, nên để bọn tiểu nhân làm. - Nói rồi quay đầu lại trông thấy Tào Phi đang tiến lại xe Thái phó, dìu Lương Mậu xuống xe. Hồi Tào Phi nhận chức Ngũ quan tướng, người đầu tiên được chọn làm Trưởng sử chính là Lương Mậu, xoay đi xoay lại một vòng, cuối cùng hai thầy trò lại về với nhau. Tào Tháo thấy Tào Phi kính trọng sư phụ thì rất hài lòng, nhưng nhìn kỹ lại thấy một đám đông quan viên xúm quanh nhi tử, ông chợt cảm thấy không vui, kéo Hạ Hầu Đôn ngồi xuống, truyền lệnh:
— Gọi thái tử tới đây!
Đại vương truyền lệnh ai dám không đến? Không chỉ Tào Phi lật đật chạy lại, mà các chư hầu như Tào Chương, Tào Thực, Tào Bưu cũng đến, theo sau là một đám quan viên. Tào Phi dùng đại lễ yết kiến:
— Phụ vương cho gọi nhi thần có gì căn dặn ạ?
— Dạo này thái tử xử lý chính sự vất vả nhỉ? Vất vả công cao cơ mà!
— Nhi thần không dám nhận. - Tào Phi nhận ra trong giọng nói của ông có ý mỉa mai.
— Ta nghe nói gần đây phủ thái tử có rất nhiều tân khách?
— Đó đều là nhờ phụ vương xem trọng, quần thần cảm ân đức của phụ vương, nên mới yêu mến nhi thần. Nhưng nhi thần cũng không dám tự cao với thân phận thái tử mà đàm luận ngang hàng với quần thần. - Tào Phi cẩn thận chọn lời.
Nghe Tào Phi nói vậy, Tào Tháo nguôi giận, tỏ vẻ thờ ơ:
— Hiện thái tử gánh vác nhiệm vụ quan trọng, sức lực lại có hạn, chớ tiếp đãi quá nhiều tân khách, làm xáo trộn công chuyện là không tốt. Bào Huân và huynh đệ Tư Mã thị đều ở bên con, còn chưa đủ sao? Thái tử muốn ai phò tá thì chỉ cần nói với quả nhân, quả nhân sẽ điều ngay người ấy cho con, bất kể là người hiền hay kẻ ngu cũng đều không từ chối.
Tào Phi biết mình đã gợi lên sự đố kỵ trong lòng phụ thân, người túa mồ hôi, nào dám đòi hỏi ai, khấu đầu lia lịa:
— Nhi thần được phụ vương quan tâm, há dám tham cầu. Từ sau nhi thần sẽ chú ý nhiều hơn tới chính sự, không phân tâm nữa.
Tào Tháo trợ uy có tác dụng, cũng hả lòng hả dạ, chỉ tay gọi Tào Chương, Tào Thực tới bảo:
— Bữa trước Thái thú Đại Quận Bùi Tiềm vào triều, nhân đó dâng tặng mười mấy con ngựa tốt của đất U Yên. Ta giữ lại một con, một con cho thái tử, còn lại giao tất cho hai con!
Tào Chương hớn hở:
— Tốt quá, đa tạ phụ vương!
Tào Thực vẻ mặt mệt mỏi cũng nói:
— Tạ ơn phụ vương. - Rồi xoay người thi lễ với Tào Phi, - Tạ ơn thái tử.
— Thái tử là phó quân của đất nước, tuy là huynh đệ nhưng cũng có nửa phần quân thần, không thể tùy tiện như trước. Tào Chương không hiểu điều này, còn Tào Thực đã thành con chim sợ cành cong, nên tự nhiên cẩn thận muôn phần.
Tào Tháo lại nói:
— Phủ Tử Văn đã có nhiều ngựa tốt, san bớt cho Tử Kiến. - Trong lòng ông cũng áy náy, ép Tào Thực đến mức này cũng nên buông tay, - Hai con không bận chính sự, lúc nào rảnh rỗi hãy vào cung bầu bạn với quả nhân, từ nay về sau các con được phép tự do ra vào vương cung, như thế cũng thuận tiện.
Tào Phi thầm lo lắng. Từ khi Lạc Dương bị phóng hỏa, phép tắc rối loạn, Hiến Đế lại không có thái tử, Nghiệp Thành cũng không dựng “Đông cung thái tử”, chế độ Đông cung thực đã không còn, chẳng qua là đổi tấm biển trước phủ Ngũ quan trung lang tướng trước đây làm phủ thái tử, Tào Phi vẫn ở ngoài vườn ngự uyển. Nay các đệ đệ lại được tự do hơn y, điều này thật khó chịu - Tâm thuật đế vương rất tinh tế, vì sự ổn định lâu dài của xã tắc cần phải củng cố địa vị cho thái tử, nhưng cũng vì sự tập trung quân quyền mà lại phải áp chế thái tử, mối quan hệ giữa phụ tử, vua tôi vừa bổ trợ cho nhau vừa chế ước lẫn nhau kiểu này là khó xử nhất. Tào Tháo đã ổn định được ngôi thái tử của Tào Phi, nên từ giờ bắt đầu đề phòng nhi tử nắm giữ quá nhiều quyền bính, những ngày tháng dễ chịu nhất của Tào Phi đã hết rồi.
Chúng nhân có mặt đều cảm thấy cách sắp xếp của ông rất tinh tế, nhưng không ai nói gì. Bấy giờ Tào Tháo mới đứng dậy:
— Hồi cung thôi…
— Thưa, thần có chuyện khải bẩm đại vương. - Thị trung Tập Thụ bước ra từ giữa đám quần thần.
— Chuyện gì?
— Ban nãy thần ngồi cùng xe với tướng quân Lâu Khuê, nghe những lời ông ấy nói rất ngỗ ngược.
— Nói những gì? - Tào Tháo hơi nổi giận.
Tập Thụ mới chuyển từ bề tôi nhà Hán sang làm quan nước Ngụy chưa được bao lâu, hôm nay nghe Lâu Khuê nói mấy câu đại nghịch, xung quanh lại có không ít người nghe thấy, nếu truyền ra ngoài sẽ gây họa lớn, không khéo còn kéo cả ông ta vào. Nghĩ vậy Tập Thụ chủ động tố giác:
— Ban nãy xa giá đi trên đường, vi thần ở phía sau, trông thấy dáng vẻ oai hùng của đại vương cùng với thái tử, thuận miệng khen rằng: “Phụ tử đại vương uy nghi như thế, thật vui thay!” Nào ngờ Lâu Tử Bá lại nói: “Đại trượng phu sống ở trên đời, phải tự mình làm lấy, sao lại chỉ biết trông theo kẻ khác?” Đó không phải là phản nghịch…
Tập Thụ chưa nói hết câu, Tào Tháo đã nổi trận lôi đình:
— Hay! Hay cho câu “tự mình làm lấy”! Hắn muốn làm gì? Cũng muốn mở cõi dựng nước làm đế vương sao? Người đâu!… Lâu Khuê ngỗ ngược, không theo phép tắc, lòng dạ khó lường, xử quyết hắn ngay tại chỗ!
Ai nấy đều hoảng sợ - Lâu Khuê và Tào Tháo đã có giao tình bao năm nay, cứ cho là Lâu Khuê nói mấy lời quá phận thì cũng đâu đến nỗi phải xử trí như thế? Ngay cả Tập Thụ cũng không ngờ một câu tố giác của mình lại hại chết người ta, bủn rủn ngã bệt xuống đất.
Quần thần há có thể không cứu? Nhưng họ chưa kịp mở miệng, Tào Tháo phất tay áo quát:
— Kẻ nào xin hộ sẽ bị xử cùng tội! Loại không cha không vua đó chết cũng chưa hết tội! Các ngươi phải biết rằng, trên trời không có hai thái dương, trong lòng không thể thờ hai vua!… - Câu này cho thấy chỗ dựa của Tào Tháo chưa vững chắc, bản thân ông chính là vầng thái dương thứ hai, nhưng cũng vì vậy mà ông tuyệt đối không cho phép người khác cướp mất quyền lực của mình.
Quần thần đành trơ mắt nhìn Tào Tháo nổi cơn đại nộ, không ngừng chửi mắng. Ngẫm lại, gần đây ông giết hại nhiều người mà không cần phân biệt đúng sai, nên chẳng ai dám khuyên can - Tào Tháo chặt đầu Lâu Khuê cũng có ý răn đe, cố tình để cho bọn họ xem. Tới Hạ Hầu Đôn cũng cẩn thận lời nói, ngại ngồi cùng ngự giá với ông, vịn càng xe lặng lẽ lui xuống dưới, đứng hầu bên cạnh.
Tào Tháo không được khỏe, mới chửi được một hồi đã thở hồng hộc. Hạ Hầu Đôn không kìm được nữa, nói nhỏ:
— Lâu Khuê tuổi già lẩm cẩm, tất nhiên cũng không nên… Ây dà! Đại vương quên Vương Tuấn nói gì rồi sao?
Câu nói khẽ khàng ấy khiến Tào Tháo sực tỉnh - Năm xưa, ông và Vương Tuấn, Hứa Du, Lâu Khuê là bằng hữu, vì hoạn quan lộng quyền, ông từ quan ở ẩn, nhờ có Vương Tuấn khích lệ nên mới trở lại sĩ đồ. Nếu như không có chuyện năm đó thì đâu có được Tào Mạnh Đức như ngày hôm nay. Lúc từ biệt, Vương Tuấn dặn đi dặn lại, Hứa Tử Viễn tham lam ngạo mạn, Lâu Tử Bá quật cường thẳng tính, nếu ngày sau có chọc giận ông, hãy niệm tình xưa mà tha cho họ. Ông đã vì nhất thời nóng giận mà giết chết Hứa Du, sao có thể hại thêm Lâu Khuê? Nghĩ đến đó, Tào Tháo vội vàng bước xuống xe, giơ tay hô to:
— Khoan đã! Xá tội cho Lâu…
Ông còn chưa nói hết, một tên lính hổ báo kỵ đã bưng cái đầu người bê bết máu quỳ trước xa giá:
— Chúng thần đã phục mệnh đại vương!
— Ôi! - Tào Tháo nhìn thủ cấp của Lâu Khuê, đứng chết lặng, quần thần cũng không dám lên tiếng, trước cửa cung tĩnh lặng như tờ. Mãi đến khi một cơn gió lạnh thổi qua, làm đu đưa chuỗi tua ngọc trên mũ miện, ông mới khẽ cử động, hít vào một hơi thật sâu, rồi nói:
— Hãy đem ông ta an táng cho chu đáo… Hồi cung thôi… - Bọn Tào Phi, Dương Tuấn cúi đầu, lặng lẽ theo sau, không nói nửa lời.
— Đại vương! - Hạ Hầu Đôn bỗng nhiên quỳ sụp xuống, lết lên phía trước mấy bước, nói, - Khẩn cầu xin đại vương cho mạt tướng làm quan triều Ngụy.
Tào Tháo nhíu mày hỏi:
— Ông hà tất phải làm vậy?
— Thần ở trên đất Ngụy nhưng lại không phải bề tôi nước Ngụy, nên trong lòng luôn bất an.
— Giữa ta và ông… - Tào Tháo định nói tiếp, nhưng thấy Hạ Hầu Đôn cúi thấp đầu, không nhìn rõ nét mặt, còn chòm râu bạc thì đang run rẩy như thể sợ hãi vô cùng, bèn nói, - Thôi được, quả nhân lệnh cho khanh làm Tiền Tướng quân, được rồi chứ?
— Tạ ơn đại vương. - Hạ Hầu Đôn dập đầu thật mạnh.
Thoáng chốc, Tào Tháo cảm thấy bản thân thực sự cô độc, ông như người đứng trên đỉnh núi cao vạn trượng, bao quát khắp thiên hạ, uy danh vang lừng bốn biển nhưng lại không có lấy một bằng hữu thân thiết có thể nói với mình những lời tri kỷ. Trong lòng ông hoang hoải, nhưng không biết làm sao, chỉ đành thở dài, bước vào cánh cửa Tư Mã dành riêng cho mình…
Phương thuật tà đạo
Sắc lập thái tử xong, trong nước không còn việc gì quan trọng, đáng lý nên tiến quân về phía tây dẹp Hán Trung như kế hoạch đã định, nhưng Tào Tháo lại có vẻ đủng đỉnh, suốt ngày say mê phương pháp tu luyện bí hiểm mà không hề đả động tới chuyện tây chinh. Chúng tướng sốt ruột nhưng không gặp được đại vương, còn bọn Chung Do, Từ Dịch đã mấy lần đề cập đến chuyện này, nhưng Tào Tháo chỉ trả lời qua loa rằng đợi sức khỏe của ông chuyển biến tốt lên rồi mới tính. Trước kia chưa từng có chuyện thế này, đây chẳng phải là trễ nải chính sự sao?
Tuy nhiên, Lưu Bị lại rất khẩn trương, đợt cuối năm Hán Trung gửi quân báo, Lưu Bị phái đội quân của Trương Phi, Mã Siêu, Ngô Lan tiến vào Hạ Biện, khiến Tào Tháo không thể thờ ơ được nữa - Hạ Biện là vùng đất trọng yếu của quận Vũ Đô, mà Vũ Đô lại là cửa ngõ đi lên mạn bắc Hán Trung. Từ khi Lưu Bị đánh lui Trương Cáp chiếm Ba Quận, thế lực đã phát triển ra phía tây bắc, nước cờ hiện nay của ông ta là vòng qua địa giới Hán Trung theo hướng tây, chia cắt Hán Trung từ mạn bắc, trùng với kế sách ban đầu của Tào Tháo là cho quân đóng tại ải Dương Bình. Nếu kế ấy thành, Hán Trung sẽ rơi vào cục diện bất lợi, cả hai mạn nam bắc đều bị địch vây khốn.
Cục thế dần trở nên bất lợi, Tào Tháo không thể cứ ngồi yên, dẫu vậy ông cũng chưa quyết định xuất chinh, mà chỉ phái Hộ Tướng quân Tào Hồng dẫn quân cứu viện. Tào Hồng là người dũng mãnh, nhưng giờ đã nhiều tuổi, lại ham vơ vét của cải, cả ngày cầm bàn tính tính toán thiệt hơn, chẳng còn sự quả cảm, chính trực như ngày trước. Tào Tháo không an tâm, lại nhận mệnh cho Kỵ đô úy Tào Hưu, Nghị lang Tân Tỵ làm Tham quân và nhắc đi nhắc lại:
— Các khanh tuy là Tham quân, nhưng thực chất là thống soái. - Tào Tháo giao hết việc quân cho bọn họ, rồi lại trở về Đồng Tước đài ngâm cứu thuật dưỡng sinh.
Hai tháng nay, người khổ nhất là Tào Phi, được làm thái tử rồi thì cũng bắt đầu phải chịu tội. Tào Tháo không ngó ngàng chính sự, buộc Tào Phi phải lo liệu hết, nhưng y bị phụ thân đố kỵ, thành thử chẳng dám làm việc quá siêng năng, cũng chẳng dám tùy tiện tiếp đãi tân khách, đúng là thật khó để giữ đúng mực. Hằng ngày, y đến trung đài ngồi nửa buổi, những chuyện vụn vặt thì tự xử lý cùng với Chung Do và Từ Dịch, còn gặp chuyện lớn thì đi một chuyến tới Đồng Tước đài, tâu rõ với phụ thân sau đó mới quyết định. Qua giờ Ngọ, y lại đến vấn an phụ thân, rồi cáo từ, về tới phủ liền đóng cửa lớn, không gặp gỡ một ai. Làm thái tử thế này cũng thật khổ!
Chớp mắt mùa đông đã qua, mùa xuân lại đến, một năm nữa lại trôi đi, chuyện tây chinh vẫn bị gác lại vô thời hạn, tới Tào Phi cũng không nhẫn nại được nữa. Một sáng nọ, Tào Phi đến Thượng thư đài, ngồi trước thư án với một chồng công văn chất cao như núi, mặt mày ủ rũ, thỉnh thoảng lại ngáp một hơi dài. Bọn Vũ Châu, Trần Kiều thấy y có tâm sự, không muốn làm y phiền lòng thêm, bàn nhau mang chỗ công văn đi.
Phó Tốn khát nước nhưng không gọi tiểu lại, tự đi lấy nước, lại rót thêm một chén mang đến trước mặt Tào Phi:
— Mời thái tử.
— Ồ, đa tạ Phó công. - Tào Phi định đứng lên cảm ơn, nhưng Phó Tốn ấn y ngồi xuống.
— Thái tử không khỏe sao? Ta thấy gò má ngài sưng lên, phải chăng bị bốc hỏa?
Suốt ngày lo lắng tiều tụy, sao không bốc hỏa cho được? Trong lòng Tào Phi chứa đầy tâm sự, nhưng không tiện nói với ông ta, chỉ bảo:
— Gần đây phụ vương lại mời thêm một đám phương sĩ, ta thấy chuyện này đi hơi xa.
— Chẳng phải thế ư? - Trần Kiều nghe Tào Phi nhắc đến chuyện này lại thấy bực bội, bèn gác bút, nói chen vào, - Người tên Đông Quách Diên Niên có vẻ rất thích lộn ngược, nói cái gì mà đứng lộn ngược có thể trường thọ, thế là ý gì? Người tên Vương Chân, biết phép quy tức[1], nín thở như người chết, ta thấy hắn thể hiện bản lĩnh cũng bình thường thôi, cả ngày nằm nín thở như thế thì trường thọ hay không cũng khác gì nhau. Còn có một kẻ du mục ở Thượng Đảng tên là Hác Mạnh Tiết, miệng ngậm hạt táo, nghe đâu đã nhịn ăn được mấy năm rồi, không biết thật hay giả. - Nghe xong ai cũng cười ha hả.
Tào Phi cười nhăn nhó:
— Hôm qua phụ vương còn nói với ta, ở Lũng Tây có một người tên Phong Quân Đạt, xưng là Thanh Ngưu đạo sĩ, có thuật trường thọ, lệnh cho ta nghĩ cách tìm hắn về. Tin đồn kiểu này biết đâu mà lần?
— Thanh Ngưu đạo sĩ? - Phó Tốn dở khóc dở cười, - Theo thư tịch chép lại, vào thời Hiếu Vũ Đế có một vị Thanh Ngưu đạo sĩ, cưỡi con trâu màu đen, uống nước thủy ngân, đã hơn một trăm tuổi. Nếu thật sự có người tên Phong Quân Đạt ấy, thì ít nhất bây giờ hắn cũng phải bốn trăm tuổi, há chẳng phải chuyện lạ sao?
Tào Phi rất khổ não:
— Thật cũng được mà giả cũng được, phụ vương đã muốn tìm, ta phải tìm thử xem sao. Thực ra bọn Khích Kiệm, Tả Từ trước kia cũng có thể nói là người biết pháp thuật, dẫn dắt điều khí không phải tà đạo, có điều đó là thành quả của mấy chục năm tu luyện. Phụ vương ta tuổi tác đã cao, giờ mới tu luyện e là khó thu được hiệu quả, còn đám người mới chiêu nạp sau này… - Y cũng không dám nói thẳng bọn chúng là những kẻ lừa đảo, tránh để đến tai phụ thân.
Mọi người đang nói chuyện, Lệnh sử Lý Đàm đi vào, ôm mấy quyển văn thư rón rén đặt lên bàn Tào Phi, thi lễ xong rồi đi ra. Vũ Châu cười khà khà gọi anh ta lại:
— Lý Lệnh sử, nghe nói ngươi cũng thử luyện qua thuật tịch cốc cảm giác thế nào?
Lý Đàm mới ba mươi tuổi nhưng cũng hào hứng tham gia tu luyện, sau hai ngày nhịn đói, anh ta sắc mặt tái nhợt, chân tay bủn rủn, thế mà ngoài miệng vẫn đáp:
— Tinh thần sảng khoái… Tinh thần sảng khoái… - Đoạn chầm chậm lui ra, ai nấy đều che miệng cười.
Phó Tốn nghiêm mặt, nhấp ngụm nước tiếp lời:
— Ta thấy chẳng có gì đáng cười. Loại người này bản tính hạnh tiến, đại vương thích phương thuật, hắn liền tin theo, chẳng phải là xiểm nịnh ư? Nghe đâu còn có người tên Quân Lại, sáng nào cũng ngồi xếp bằng trước nha môn để luyện khí, chả phải là cố tình gây chú ý với những người xung quanh hay sao? Cứ cái đà này, phép dưỡng sinh chưa tìm được, ngược lại còn vun vén cho một lũ tiểu nhân! Trước đây chỉ có một tên Khổng Quế, giờ đâu đâu cũng thấy Khổng Quế.
Tào Phi suy nghĩ thận trọng, sợ chỉ đích danh người ta sẽ gây ra chuyện thị phi, liền pha trò chuyển chủ đề:
— Có một chuyện thú vị, bữa trước ta đến Đồng Tước đài đúng lúc bắt gặp thái giám Nghiêm Tuấn đang nói chuyện với Tả Từ, ta đi ngang qua nghe được, Nghiêm Tuấn cũng tính học thuật phòng the đấy!
— Ha ha ha!… - Tất cả đều ngửa mặt cười nghiêng ngả, công văn rơi cả xuống đất.
Phó Tốn bị sặc nước, ho khù khụ một hồi mới nói được:
— Thái giám cũng đòi học thuật phòng the? Ha ha ha!… Thái tử thử hỏi Nghiêm Tuấn xem, hẳn là tên tiểu tử ấy đã có đối thực[2]! - Đang buồn cười không đừng được, bên ngoài lại có tiếng người ồn ào - Tướng quốc Chung Do và Tham quân Bùi Tiềm người trước kẻ sau bước vào.
Bùi Tiềm làu bàu:
— Vì sao triều đình không cho bỉ chức trở lại Đại Quận? Bỉ chức muốn gặp đại vương! - Ông ta vốn là Thái thú Đại Quận, mới được điều về Nghiệp Thành, tạm thời giữ chức Tham quân.
Chung Do trả lời:
— Đại vương không tiếp ông đâu. Thứ sử Duyện Châu Tư Mã Lãng bệnh chết, đại vương chỉ định ông tiếp nhận vị trí của ông ấy. Ông ở Đại Bắc vất vả nhiều năm, nay được điều làm quan Trung Nguyên không phải quá tốt sao?
— Bỉ chức không nói là không tốt, chỉ có điều công việc của bỉ chức ở Đại Quận vẫn chưa làm xong, đổi người khác thể nào cũng sinh loạn. - Bùi Tiềm tỏ ra ngang ngạnh không phục.
Nghe vậy, Trần Kiều cũng giúp Chung Do khuyên giải:
— Đại vương không phủ nhận công lao của ông đâu, không phải quan lại thường xuyên được thay đổi, điều động đó sao?
— Vậy sao bọn Đỗ Kỳ, Lã Kiền, Lương Tập vẫn chưa được chuyển nhậm? Tại hạ có chỗ nào bì được với bọn họ? - Trong triều có một số nhân vật uy danh lừng lẫy một phương, rất khó thuyên chuyển, như Điền Dự trấn giữ U Yên, Lã Kiền trấn giữ Thái Sơn, Lương Tập trấn giữ Hà Sóc, Khoái Kỳ trấn giữ Phòng Lăng, Đỗ Kỳ trấn giữ Hà Đông, Tô Tắc trấn giữ Tây Lương, dù thời thế thay đổi ra sao, chỗ đứng của họ cũng sẽ không bị lung lay, không được thăng quan, cũng chẳng bị giáng chức, cứ ở nguyên vị trí của mình, đó là nhờ sự ngưỡng vọng của người dân địa phương mà người khác không thể nào so được.
Chung Do thực sự hết cách với ông ta, đành nói thật:
— Ta nói thật cho ông biết, đại vương ghét ông trị người Hồ quá hà khắc. Nay người Ô Hoàn ở Đại Quận đã xưng là phiên quốc với nước ta, vậy mà vẫn dùng phép cai trị hà khắc, khó tránh khỏi mất công đạo.
— Công đạo? - Bùi Tiềm nhếch miệng cười, - Tại hạ khoan hòa với bách tính, nghiêm khắc với người Hồ, thử hỏi bất công ở chỗ nào? Người kế nhiệm hiện nay cho rằng pháp lệnh của tại hạ quá hà khắc, mà làm việc thêm khoan dung, độ lượng. Người Ô Hoàn vốn kiêu ngạo, buông thả, quá khoan thứ với họ tất sẽ lỏng lẻo, mà đã lỏng lẻo rồi lại đổi sang nghiêm trị. Lúc thì khoan thứ lúc thì hà khắc, thay đi đổi lại chắc chắn sinh loạn!
Chung Do không biết làm sao:
— Lão phu biết ông nói có lý, nhưng đây là ý trên, ta cũng không có quyền thay đổi. - Đó là sự thật. Chung Do tuy là Tướng quốc nhưng thực tế chẳng khác chức Thượng thư là mấy, thuộc hạ của ông ta như Ngụy Phúng đều không có thực quyền, chỉ được hư danh. Nghĩ lại, Tào Tháo dựng nghiệp từ chức Tư không, Thừa tướng, rồi mở phủ nạp sĩ, tiếm quyền nhà Hán, sao có thể để cho người khác bắt chước mình được? Tới nhi tử của mình còn không tin nữa là người ngoài. Bùi Tiềm không phục, ồn ào một hồi, cuối cùng không làm gì được, cũng đành nhận chức Thứ sử Duyện Châu, hậm hực bỏ đi.
Trần Kiều đợi ông ta đi khỏi mới nói:
— Bùi Văn Hành nói có lý, người Ô Hoàn vốn là phiên thuộc của nhà Hán, phía bắc lại thông với vùng đất của người Tiên Ti, muốn bọn chúng đổi điện rồng, tận trung với đại vương quả thực không dễ, phải tăng cường phòng bị mới được!
Chung Do không phải không hiểu, năm xưa Tào Tháo cùng bàn luận quốc chính với quần thần, phải đắn đo cân nhắc mãi mới đưa ra được điều lệ, nay đổi thành quan hệ vua tôi, người khác trù hoạch, Tào Tháo gõ nhịp nhưng lại trễ nải chính sự, không nắm được tình hình, cũng không không cho phép người khác gõ nhịp, thử hỏi làm sao không xảy ra chuyện? Có điều, sai lầm này liên quan đến vương quyền, Chung Do không thể chạm vào, chỉ biết liệu việc mà xét. Ông ta nói với Tào Phi:
— Phiền thái tử khi nào tới Đồng Tước đài thì nhắc lại chuyện này với đại vương, có thể điều Bùi Tiềm trở lại Đại Quận là tốt nhất.
— Được. - Tào Phi đứng dậy, - Cũng sắp đến giờ Ngọ rồi, ta qua bên đó đây. - Từ Thượng thư đài tới Tây uyển khá xa, nhưng ngày nào trước khi rời cung Tào Phi cũng đi một chuyến, may là bây giờ đang vào đầu mùa xuân, chưa có nắng gắt.
Y vừa đến cửa ngách ở Tây cung, bỗng gặp Tào Thực dẫn theo hai tên thái giám bê một chiếc hộp tiến lại từ hướng bắc:
— Tham kiến thái tử. - Thần sắc Tào Thực đã khá hơn trước nhiều, hai tháng nay Tào Tháo không gây khó dễ cho y nữa, ngược lại còn ban nhiều ân huệ, cho phép y được thường xuyên vào thăm mẫu thân. Tất nhiên, Tào Thực vẫn mang nỗi đau mất thê tử, nhưng dù sao lệnh phụ thân và lệnh vua đều khó trái cả, biết làm sao được?
— Huynh đệ trong nhà, hà tất phải khách sáo như vậy? - Lúc này Tào Phi có phần ngưỡng mộ dáng vẻ ung dung, tự tại của đệ đệ, - Đệ cũng định tới Đồng Tước đài à?
Tào Thực chỉ vào chiếc hộp:
— Đây là đồ Yên thị của Hung Nô dâng tặng, mẫu thân bảo đệ mang qua cho phụ vương xem.
Tào Phi có ý cùng Tào Thực đi sóng đôi, nhưng Tào Thực không dám, tụt lại phía sau huynh trưởng một bước. Hai người qua đường Tây Giáp vào Tây uyển, được một đoạn xa thì nghe thấy giọng ồm ồm như con lừa đực của Tào Chương - Y được tự do ra vào cung cấm nên gần như ngày nào cũng ở lỳ trong vườn ngự uyển, không trêu đùa với đám thị vệ thì chạy tới chỗ Biện thị ăn chực, Tào Tháo cũng mặc kệ không quản.
— Đại ca! Có cái gì hay thế? - Tào Chương không câu nệ phép tắc, sán lại chiếc hộp.
Tào Thực vội che lại:
— Phụ vương còn chưa xem mà.
— Bọn ta cũng không biết là cái gì, nếu đệ muốn biết thì cùng bọn ta đi gặp phụ vương đi. - Tào Phi nhận thấy đây là cơ hội tốt, ba huynh đệ đi cùng nhau, hòa thuận vui vẻ, càng thể hiện sự thông thái và sáng suốt của một vị thái tử như y!
Ba người dắt nhau bước lên thềm, vừa đến cửa gác đã nghe bên trong vọng ra tiếng nói cười, cách một tấm rèm, họ nhìn thấy một đám phương sĩ gồm Khích Kiệm, Tả Từ, Cam Thủy, Vương Chân, Hác Mạnh Tiết đều ở trong đó, còn có Khổng Quế và Tần Lãng hầu hạ bên cạnh. Tào Tháo ngồi dựa vào giường, nét mặt tươi tỉnh. Nghiêm Tuấn biết ông đang cao hứng, không bẩm báo mà dẫn ba người đi thẳng vào.
— Tham kiến thái tử… Tham kiến Yên Lăng hầu, Lâm Tri hầu… - Chúng nhân rối rít thỉnh an.
Tào Tháo vẫn chìm trong câu chuyện khi nãy, nóng lòng hỏi:
— Cam tiên sinh, ông kể được một nửa rồi. Ông kể sư phụ của ông họ Hàn, tên là Hàn Nhã, sống ở Nam Hải, trước đây ông theo sư phụ tu hành, sau này thì thế nào?
Cam Thủy tóc bạc nhưng da dẻ hồng hào như trẻ con, mỉm cười đáp:
— Sư phụ tại hạ tu được thuật luyện vàng, hằng ngày người luyện vàng trên đảo Nam Hải, luyện xong thì đổ xuống biển, chỉ trong mấy năm tại hạ ở bên sư phụ đã có hàng vạn cân vàng đổ xuống biển.
Tào Thực không kìm được hỏi:
— Đã luyện được vàng, sao còn phải đổ xuống biển?.
Cam Thủy cười:
— Hầu gia không biết đó thôi, sư phụ tại hạ là cao nhân đắc đạo, không thích đồ vàng bạc, đổ xuống biển làm phép cầu phúc.
Tào Tháo tỏ ra quan tâm đến kỳ nhân này:
— Sư phụ của ông có diệu pháp, sao không tìm ông ấy về?
Cam Thủy lại đáp:
— Nói đến chuyện này cũng phải trách tại hạ từ lúc rời khỏi đảo đã không quay lại. Năm xưa, tại hạ cũng từng mấy lần ra biển hỏi thăm, nhưng đều không tìm được tung tích hòn đảo ấy.
Tào Thực muốn gặng hỏi, nhưng Vương Chân cướp lời, nói nịnh:
— Ôi chao! Sư phụ ngài đúng là thần tiên! - Cả đám phương sĩ đều họa theo:
— Là thần tiên, chắc chắn là thần tiên… Thần tiên đều có linh dược, uống vào là được trường sinh bất lão, hơn hẳn bọn ta phải vất vả tu luyện! - Bọn chúng cùng tán tụng lẫn nhau.
— Chuyện này há lại có thật? - Tào Thực có ý xem thường.
Cam Thủy cười tươi như hoa:
— Hầu gia không biết đấy thôi, con người ta nhận khí từ trời, tuy rằng số mệnh mỗi người thọ yểu khác nhau, nhưng nếu có thần dược hoặc phương pháp tu luyện tốt thì hình thể có thể thay đổi, số mệnh cũng có thể tăng thêm. Chuyện này thời xưa đã từng có, thân thể cao quý như đại vương đây vốn tràn đầy anh khí, nếu dùng tiên dược thì tuổi thọ không đoán được, ít nhất cũng phải trăm tuổi.
Tào Tháo cũng không tin lời này:
— Từ xưa đến nay mấy ai sống được đến trăm tuổi?
Khổng Quế được dịp vội nói chen vào:
— Văn Vương chín mươi bảy tuổi qua đời, Vũ Vương chín mươi ba tuổi mới mất. Chu Công là đệ của Vũ Vương, huynh đệ hơn kém nhau chưa đến chục tuổi. Sau khi Vũ Vương mất, Chu Công phụ chính bảy năm, suy ra ông ấy cũng thọ khoảng trăm tuổi. Thiệu Công là huynh của Chu Công, đến thời Khang Vương vẫn còn khỏe mạnh, cũng thọ khoảng hơn trăm tuổi. Nay công lao của đại vương cao hơn Chu Công, đức hạnh của đại vương vượt xa Thiệu Công, thọ trăm tuổi há là nói bừa? - Tiểu nhân giỏi nhất việc hùa theo ý của người khác, Tào Tháo thích nghe những lời này, nên Khổng Quế phải nghĩ vắt óc nghênh hợp.
Tào Phi nãy giờ vẫn liếc mắt nhìn trộm bức sách lụa đặt trên bàn phụ thân, đó là một bài thơ. Nếu là bài thơ bình thường thì không nói làm gì, đằng này lại là thơ tả thần tiên. Tào Tháo cả đời không tin vào mệnh trời, đến cuối đời lại mê tín đạo này:
Núi Hoa Dương, ngỡ mình to thật, cao trăm trượng, nằm ngay dưới chân mây.
Tiên nhân đáp xuống đây, ta cùng đón gió, nghênh mưa.
Thổi ống tiêu, gảy đàn sắt, hương thơm ngào ngạt.
Rượu ngon với múa hát, nay vui thật là vui.
Ngọc nữ đứng lên, biểu diễn đã lâu, nhạc tấu rộn ràng.
Tiên nhân từ phía tây bắc tới, người cưỡi rồng người cưỡi mây, sao đông đúc đẹp đẽ.
Ngao du tám cực, tới tận núi Côn Luân, bên cạnh Tây vương mẫu, thần tiên dáng vẻ như vàng như ngọc.
Ai người đến đây? Xích Tùng Tử, Vương tử Kiều, đi vào cửa công đức.
Ăn uống vui vẻ đến hoàng hôn, thần tiên quây lại chuyện trò, tụ họp vạn năm, con cháu thêm lợi.[3]
Tào Thực không nghe lọt nữa, định tranh luận đến cùng với đám phương sĩ, nhưng Tào Phi giữ tay y lại, không cho nói tiếp. Còn trong đầu Tào Chương lúc này chỉ nghĩ đến những thứ đựng trong chiếc hộp kia, vội gọi thái giám mang đến, mở ra xem, là đoản đao, chén vàng, đai Khuếch Lạc, đều do người Hung Nô chế tác rất tinh xảo, ngoài ra còn có một hộp bánh sữa.
Tào Chương lấy ngay thanh đoản đao đựng trong bao da trâu: Phụ vương thưởng cho nhi thần thứ này nhé?
— Nói rồi nhét vào ngực, chạy vụt mất, Tào Tháo chỉ cười cho qua. Trong suy nghĩ của Tào Tháo thực sự không được phạm vào lễ pháp ư? Chẳng qua nó chỉ là thủ đoạn để ông đả kích người khác mà thôi, chỉ cần ai đó vừa mắt ông thì dù có vô phép thế nào cũng chấp nhận được.
Tào Thực mở hộp bánh sữa, nếm thử một miếng trước rồi dâng bằng cả hai tay lên:
— Mời phụ vương thưởng thức.
Tào Tháo nếm hai miếng, thấy nồng, ít vị ngọt, không thích lắm. Ông nhanh trí nghĩ ra một trò đùa trêu cợt chúng nhân, liền đậy nắp hộp lại, lấy bút để lên trên ba chữ “nhất hợp tô”[4], đưa lại cho Tào Thực:
— Con để cái này ở Thính Chính điện, còn những thứ khác con và Tử Văn chia nhau.
Tào Phi nhìn đỏ mắt, nhưng không tiện nói, dù sao ta cũng giành được ngôi thái tử rồi, còn tính toán gì chút quà thường? Nhưng ta đứng ngay bên cạnh mà không được sờ vào thứ nào, thực khó chịu.
— Tử Hoàn, - Tào Tháo nói với Tào Phi, vẻ mặt lập tức trở nên nghiêm nghị, - Con đến thật đúng lúc, ta có hai chuyện cần bàn. Hôm qua ta ở trên lầu xem Trần Y đấu kiếm với Tử Văn, tên này võ nghệ không tồi, Tử Văn cũng phải chịu thua hắn. Lần trước nam chinh, hắn hầu hạ mẫu thân con chu đáo, hiện nay hậu cung cũng đang thiếu người bảo vệ, ta muốn cất nhắc hắn làm Trường Lạc Vệ úy, con thấy thế nào?
— Nhi thần xin tuân lệnh. - Tào Phi nào dám không theo? Chức Trường Lạc Vệ úy là trưởng quan thị vệ trong cung điện của hoàng hậu, nhưng Trường An, Lạc Dương đều có cung Trường Lạc, còn Nghiệp Thành thì không, điện chính trong hậu cung là Hạc Minh điện, chức quan này chẳng qua là gọi theo tên cũ. Tào Phi không bận tâm đến một chức trưởng quan thị vệ nhỏ bé, chỉ có điều dường như Trần Y nhờ vào Tào Chương mới có được chức quan này, nên y không vui lắm.
— Vậy thì được. - Tào Tháo lại nói, - Còn một chuyện nữa, gần đây thêm quân vụ phía tây bắc, mà Tân Tỵ lại được điều đi rồi, phải bổ sung vài người vào trung đài, con có quan hệ tốt với Trần Quần đúng không, hãy điều hắn vào trung đài, để Thôi Lâm tiếp nhận vị trí Ngự sử trung thừa. - Thôi Lâm là người cùng họ với Thôi Diễm, nhưng có quan hệ khá xa, nay hai thúc điệt Thôi Diễm đều chết cả rồi, không còn ai liên lụy nữa, Tào Tháo vẫn muốn trọng dụng Thôi thị ở Thanh Hà. Tào Phi còn chưa kịp vui mừng vì Trần Quần được điều làm Thượng thư, Tào Tháo lại nói tiếp, - Công việc của tây tào đổi cho Trần Kiều nắm giữ, để Đinh Nghi cũng được điều làm Thượng thư.
Tào Phi thầm giận trong lòng, thù hận giữa y và Đinh Nghi chưa thể cởi được, giờ phụ thân còn muốn đưa Đinh Nghi vào trung đài. Một năm trở lại đây, không dễ gì Tào Phi mới thân được với bọn Phó Tốn, Vũ Châu, Đinh Nghi mà đến tất gây chia rẽ, sau này có nói chuyện riêng cũng phải cẩn thận đề phòng. Nhưng Tào Phi cũng chỉ biết nhẫn nhịn:
— Tất cả đều nghe theo sự sắp xếp của phụ vương ạ.
— Được rồi, các con lui đi. Cam tiên sinh, thuật luyện vàng đó có thể… - Tào Tháo bàn giao xong công chuyện, lại chú tâm vào phương thuật.
Đáng lẽ Tào Phi nên nhắc chuyện của Bùi Tiềm, nhưng lúc này y không còn tâm trí đâu mà nghĩ đến chuyện ấy nữa, bèn thi lễ lui xuống. Tào Thực cũng theo ra:
— Vì sao ban nãy thái tử không để tiểu đệ vạch trần những lời dối trá của tên phương sĩ đó?
Tào Phi cười nhăn nhó:
— Bỏ đi, phụ vương đang vui mà.
— Phương thuật gạt người, pháp thuật lạ lùng, trù ếm tà đạo. Năm xưa phụ vương sáng suốt là vậy, không bao giờ tin vào chuyện thần tiên ma quỷ, sao giờ lại thành thế này? - Tào Thực lắc đầu quầy quậy.
Tào Phi thở dài:
— Đệ còn trẻ, bệnh tật chưa đeo bám. Khi đệ ở vào độ tuổi của phụ vương thì sẽ lờ mờ tin theo. Tần Thủy Hoàng thôn tính sáu nước, tự cho mình là nhất, vậy mà cũng bị phương sĩ Từ Phúc lừa gạt. Hiếu Vũ Đế cả đời bạo ngược, cuối đời còn mắc sai lầm vì bùa chú[5]… - Nói toạc ra là bọn họ sợ chết, con người ta không sợ trời, không sợ đất nhưng đều sợ chết, Tào Tháo cũng không vượt qua được điều này, - Hiếu thuận, hiếu thuận, lấy thuận làm hiếu, chỉ cần đám phương sĩ đó không làm hao mòn của cải đất nước, và không gây tổn hại cho sức khỏe của phụ vương, thì cứ nghe theo những lời nói vớ vẩn của bọn chúng đi, coi như nuôi mấy tên lộng thần.
— Ngược lại, cũng… - Tào Thực không có cách nào khả thi, - Còn chuyện tây chinh thì sao?
— Ây dà! Còn thế nào được nữa? Dù phụ vương không sa đà vào phương thuật thì với sức khỏe hiện giờ của người, có thể yên tâm để người xuất chinh được không? - Tào Phi nhìn thấu sự tình - Hơn hai chục năm qua, Tào Tháo luôn đích thân ra trận, không gì thay thế được uy phong của ông. Hiện ông thân thể mang bệnh, khó có thể lặn lội đường xa mà chỉ huy chiến sự, qua trận ôn dịch vừa rồi, ông thậm chí còn mang tâm lý sợ hãi và cảm thấy chán ghét việc xuất chinh. Nhưng nếu giao toàn quyền chỉ huy cho một vị tướng khác thì ông không yên tâm, vả lại trước mắt cũng không có người nào đảm đương được đội quân hơn mười vạn binh mã. Viên định tâm hoàn cho nỗi sợ hãi của tướng sĩ ba quân là Tào Tháo không còn phát huy tác dụng được như trước kia nữa, nước Ngụy sau này sẽ bước tiếp như thế nào, chưa ai dám nói chắc.
Im lặng chốc lát, Tào Thực lại nói:
— Chuyện Đinh Nghi vào Thượng thư đài không liên quan gì đến tiểu đệ…
— Ta biết. - Tào Phi vỗ vai tiểu đệ, - Sao đệ có thể tiến cử ông ta chứ? Đây hẳn là ý của phụ vương.
Tào Thực thấy Tào Phi tỏ vẻ không quan tâm, không biết lời này có phải thật lòng hay không. Thực ra, Tào Thực cũng không muốn Đinh Nghi gây thêm rắc rối, y không còn muốn tranh giành ngôi vị nữa, nếu cứ tiếp tục ồn ào, thì đến ngày phụ vương quy tiên, liệu y có được sống yên ổn không?
Tào Phi không hoàn toàn tin tưởng: Đệ nói chuyện này không liên quan đến đệ, liệu có thật không?
Hai huynh đệ đều không muốn nhắc đến chuyện này, cố tránh né, chỉ nói về tiết trời. Tào Phi đến Hạc Minh điện vấn an mẫu thân rồi về thẳng phủ như thường lệ, dọc đường lòng y rất phiền muộn. Theo tình hình hiện nay, có vẻ các đệ đệ còn có thể diện lớn hơn cả thái tử là y, dù cho bọn họ không có ý tranh ngôi, nhưng cứ thế này há lại là điều lợi? Từ khi Tào Xung chết, y đã phải mất gần chục năm tâm huyết mới giành được ngôi vị này, nên vẫn phải hết sức thận trọng. Đối thủ trước đây của Tào Phi là huynh đệ, nên có thể dùng âm mưu quỷ kế, còn người chèn ép y hiện giờ là phụ thân, ngoài nhẫn nhịn ra còn làm được gì? Tào Phi thầm cầu mong chiến sự thuận lợi, thiên hạ thái bình. Chỉ cần giữ vững cương thổ, còn chuyện bình Ngô diệt Thục sau này bàn tiếp, quan trọng là xã tắc thái bình vô sự, có vậy y mới yên ổn làm thái tử được. Chứ nếu thế sự rối ren, nhiều thị phi, ai dám chắc triều đình nước Ngụy sẽ chuyển biến theo hướng nào? Và ai dám chắc y sẽ không tuột mất ngôi thái tử?
Tào Phi cứ mải nghĩ như vậy rồi không biết đã quay lại cửa sân Thượng thư đài từ lúc nào, nhân tiện ghé vào lấy mấy quyển văn thư mang về phủ xem. Không ngờ, y vừa bước qua ngưỡng cửa thì bị một người từ bên trong đi ra đâm sầm vào. Tào Phi suýt nữa ngã ngửa, ngẩng đầu lên nhìn mới biết là Tướng quốc Chung Do - Chuyện gì khiến vị lão thần nho nhã này trở nên hấp ta hấp tấp vậy?
— Tướng quốc, ngài sao thế?
Chung Do loạng choạng, may là tên đầy tớ ở phía sau đỡ kịp, tay ông vẫn nắm chặt thư cấp báo, hổn hển nói:
— Mau! Mau bẩm báo lên đại vương… Hứa Đô… Hứa Đô làm loạn rồi!
Hứa Đô tạo phản
Ngày Giáp tý, tháng Giêng năm Kiến An thứ hai mươi ba (ngày 18 tháng 2 năm 218 sau Công nguyên), vừa bước sang năm mới, trong khi dân chúng các nơi còn đang chìm trong niềm vui, Hứa Đô lại nặng mùi tử khí.
Triều đình nhà Hán vốn rất coi trọng lễ đón mừng năm mới, từ tháng Chạp năm trước đến tháng Giêng năm sau có hàng loạt hoạt động lễ nghi long trọng. Đầu tiên là lễ đại na được cử hành vào tối ngày mồng bảy, tháng Chạp: thái giám Trung hoàng môn trùm da gấu, đeo mặt nạ, hóa trang thành Phương Tương thị[6] và mười hai thần thú[7], giơ cao bó đuốc, nhảy múa. Ngoài ra, còn tập hợp một trăm hai mươi tử đệ của quan viên trong độ tuổi từ mười đến mười hai, đầu đội khăn đỏ, mình mặc áo đen, tay cầm cây cung làm bằng cành đào, mũi tên làm bằng cây lau, hát theo tiếng trống. Nghi lễ này có ý nghĩa xua đuổi tà ma, bệnh dịch, tiêu trừ tai họa, cầu phúc, cũng khá thú vị, bởi nó làm tăng không khí náo nhiệt của ngày tết.
Tiếp đến là lễ tế tự, còn gọi là lễ tế lạp, tổ chức vào ngày mồng tám, tháng Chạp. Dù là quan lại hay dân đen cũng đều phải cúng tế tổ tiên, thiên tử đến nhà thái miếu dâng hương bái lạy tiên hoàng các triều. Mồng một Tết cử hành đại lễ triều hạ: đúng bảy khắc đêm[8], thiên tử mặc cát phục bước vào chính điện, chuông vàng ngân lên, lễ triều hạ chính thức bắt đầu. Trước tiên là công khanh, tướng quân, đại phu, trăm quan, sau đó tới sứ giả của Hung Nô, Khương Hồ, Tiên Ti, Man Di, và cuối cùng là thượng kế lại[9] do quận quốc phái đến, xếp thành hàng lần lượt vào cung. Quan cao hơn hai ngàn thạch trở lên được vào điện yết kiến, còn những thần tử khác khấu đầu trước thềm điện, tôn thất chư hầu đầu đội mũ lưỡng lương, mình mặc áo ve sầu, đứng ở mé tây, tất cả dâng lễ vật như ngọc bích, dê, nhạn, trĩ theo cấp bậc, và cùng hô to câu vạn tuế. Thiên tử ban tiệc chiêu đãi trăm quan, còn cho diễn tạp kỹ.
Sau lễ triều hạ đến lễ bái tế lăng tẩm tiên đế, không chỉ thiên tử, trăm quan mà cả công chúa, phong quân, nữ quyến, ngoại thích cũng được tham gia. Dưới núi Bắc Mang ngựa xe như mây, khó có thể diễn tả hết cảnh vui mừng, náo nhiệt. Được biết dưới thời Hiếu Minh đế, triều đại hưng thịnh, mỗi dịp năm mới có đến hơn một vạn người dự lễ triều hạ, tiếng hô vạn tuế động đến tận thiên đình. Do khi ấy hoàng tộc đông đúc, lại có Ban Siêu mưu tính An Tây, các nước Tây vực cũng lũ lượt sai sứ tham dự, sứ giả những nước nhỏ ở nơi xa xôi mỗi lần dự triều hội năm mới phải đi đường hết nửa năm. Thời Quang Vũ Đế ban tiệc chiêu đãi trăm quan vô cùng độc đáo, không có múa hát, tấu nhạc mà yêu cầu trăm quan biện giải kinh học làm vui, ai thua không những bị phạt rượu còn bị phạt đứng, nhường chỗ cho đối thủ. Đại nho Nhữ Nam là Đới Bằng thông đạt kinh nghĩa, được bái làm Thị trung cũng từ trò vui này, ai hỏi gì ông ta đáp nấy, cái miệng lanh lợi của ông ta đánh ngã quần hùng, thu hơn năm chục chỗ ngồi… Lễ tết náo nhiệt là thế, triều đình phong nhã là thế, đất nước to lớn rực rỡ là thế, mà nay thảy đều không còn được như xưa.
Hứa Đô không sánh bằng Lạc Dương, nhưng hồi mới dời đô nhờ có sự đôn đốc của bọn Tuân Úc, Khổng Dung, Tuân Duyệt, lễ chế từng được khôi phục, chẳng qua là vì cùng với việc Tào Tháo dựng nước, tất cả lễ nghi lại bị bãi bỏ. Triều đình nhà Hán hiện nay tới quan lại cũng thiếu hụt nghiêm trọng, người nào có chút tiếng tăm, tài cán đều đã bị điều đến Nghiệp Thành, còn tổ chức triều hội làm gì nữa? Vào dịp năm mới, hoàng cung thắp thêm vài ngọn đèn, càng tỏ rõ sự trống trải, quạnh quẽ. Đổi lại là quận huyện khác, ít ra cũng được hưởng lây không khí vui vẻ của bách tính, còn Hứa Đô chỉ có dăm ba hộ dân, những người trồng trọt đều là dân đồn, ở mãi ngoại thành. Trong thành phần lớn là phủ đệ của những quan viên nhàn rỗi, bất đắc chí, quanh năm nhàm chán vô vị, nếu không tính kế làm thế nào chui được đến Nghiệp Thành, thì cũng chẳng có mong cầu gì ngoài việc đợi đến lúc cáo lão về quê, ai còn có tâm tình đón năm mới? Cho nên, vào những lúc đáng phải vui vẻ rộn ràng, kinh đô nhà Hán lại là nơi buồn tẻ nhất thế gian, đúng là “phượng hoàng rụng lông chẳng bằng gà”.
Trưởng sử Vương Tất chịu trách nhiệm lưu thủ tướng phủ. Nói là lưu thủ, chứ thực ra từ khi Tào Tháo rời đến Nghiệp Thành, nơi đây gần như bỏ không, ông ta chỉ thống lĩnh một đội quân nhằm bảo vệ Hứa Đô, đồng thời giám sát trăm quan. Mỗi khi đến mùa đông, Vương Tất luôn phải chuyển doanh trại vào đường Chính Dương trong thành, một là tránh gió, hai là đề phòng trong thành xảy ra hỏa hoạn.
Đếm đốt ngón tay, Vương Tất đã Lưu lại Hứa Đô mười lăm năm, năm sau kém vui hơn năm trước, và tới năm nay ngay cả bản thân ông ta cũng cảm thấy quạnh quẽ. Buổi tối hôm đón năm mới, ông ta dẫn thân binh đi tuần qua loa một vòng, căn dặn thị vệ canh giữ hoàng cung vài câu, rồi trở về doanh nghỉ ngơi. Các thân binh rất chu đáo, chuẩn bị sẵn cho ông một vò rượu tiêu bách[10] cùng với bảy tám món ngon, nhưng một mình Vương Tất khó nuốt trôi những đồ này.
— Đức Vĩ sao vẫn chưa đến? - Vương Tất nhớ người bạn vong niên là Kim Y. Mấy năm qua, Kim Y luôn ở bên ông ta, thường xuyên đi lại với người trong doanh nên cũng thân thiết. Lúc này có tiểu tử ấy cùng uống rượu cũng khuây khỏa.
Thân binh cười đáp:
— Trưởng sử đại nhân quên rồi à? Ban chiều Kim đại nhân ghé qua, nói là buổi tối ngài ấy tụ tập với mấy bằng hữu đồng hương, xin Trưởng sử đại nhân cho nghỉ.
— Ờ! Hắn ta còn trẻ, có nhiều bằng hữu cũng phải thôi. - Vương Tất khẽ nhấp ngụm rượu, vẫy tay gọi, - Các ngươi vào cả đây, năm mới đến chớ buồn tẻ thế.
Các thân binh hào hứng hẳn lên, lính gác doanh trướng cũng kéo cả vào, dù không được phép uống rượu, nhưng vào trong sưởi ấm cũng tốt. Vương Tất trong lúc hưng phấn đã kể lại chuyện năm xưa - Ông ta vốn chỉ là dân thường quận Cửu Giang, thuở trẻ cũng từng đọc sách, thích kết giao bằng hữu, nhưng vì ra tay giúp bạn đánh chết người mà bị quan phủ truy bắt, may được Thái thú Cửu Giang lúc bấy giờ là Lưu Mạc khoan dung, thu nạp làm tiểu lại trong phủ. Đổng Trác vào kinh, thiên hạ đại loạn, Tào Tháo đến Dương Châu mộ binh, Lưu Mạc lại tiến cử ông ta với Tào Tháo, ban đầu cũng chỉ đứng đầu một đám thân binh, về sau Tào Tháo đứng chân ở Duyện Châu, phái ông ta đến Tây Kinh dâng biểu. Dọc đường đi vô cùng gian nan nguy hiểm, ông ta nhờ có Đổng Chiêu tương trợ mới đến được Trường An, lại nhờ có bọn Chung Do, Đinh Xung giúp sức cuối cùng cũng xin được sắc lệnh chính thức bổ nhiệm Tào Tháo làm Duyện Châu mục. Từ đó, Vương Tất được tấn phong Trưởng sử, trở thành trọng thần của Tào doanh…
Vương Tất không nhớ mình đã kể chuyện này với thân binh bao nhiêu lần, ông ta thực sự quá cô đơn. Trước đây còn có Tuân Úc, Hạ Hầu Đôn, giờ người thì đã khuất, người thì ở xa, ông ta không còn đồng liêu thân thiết, ngoài tiểu bối Kim Y ra, tới người nói chuyện tri âm cũng không có. Mỗi khi đến dịp lễ tết, Vương Tất lại nhớ người thân bội phần, trong đó ông ta không chỉ nhớ phụ mẫu, còn nhớ những bằng hữu quá cố, có lẽ do đã bước sang tuổi năm mươi, nên ngày càng hay nhớ bạn cũ. Dạo gần đây, ông ta thường nhớ đến Lâu Dị, Điển Vi, năm xưa bọn họ xuất thân ngang hàng, Lâu Dị bỏ mạng trong trận đại hỏa hoạn ở Bộc Dương, còn Điển Vi chết trong trận Uyển Thành, chỉ còn lại Hứa Chử, nhưng cách xa ngàn dặm, không thể gặp nhau. Bên cạnh đó, ông ta còn nhớ ân công Lưu Mạc, lão thần đức cao, là tông thất nhà Hán, lúc còn sống lão nhân gia từng nhiều lần nhắc nhở ông nên thận trọng trong việc kết giao bằng hữu, nay lão ngài ở thế giới bên kia mà biết ông ta phò tá Tào thị gần như đã cướp được thiên hạ của nhà họ Lưu, trong lòng sẽ nghĩ như thế nào? Và tất nhiên, người ông ta nhớ đến nhiều nhất vẫn là chúa công Tào Tháo, từ khi Tào Tháo chinh phạt Hà Bắc đến nay vẫn chưa trở lại Hứa Đô, mười mấy năm qua, chúa công cũng đã sáu mươi tư tuổi, không biết hiện giờ người còn rắn rỏi, khỏe mạnh không. Tuy đại vương thường xuyên ban thưởng cho ông, mỗi lần Đổng Chiêu, Hoa Hâm qua Nghiệp Thành, ông cũng gửi lời hỏi thăm đại vương, nhưng không được tương kiến nên trong lòng vẫn vấn vương nỗi nhớ. Vương Tất ngầm định, đợi hết tháng Giêng sẽ dâng thư xin chuyển đi, mười lăm mùa xuân ở đây đã nếm đủ sự cô đơn, quạnh quẽ.
Đám thân binh vỗ tay, Trưởng sử đại nhân nói gì bọn họ cũng hùa theo, nhưng Vương Tất chán nản bảo:
— Thôi đi. Ở cùng các ngươi thật chán, chỗ còn lại thưởng cho các ngươi, bản quan đi nghỉ đây. Nhưng, phải nhớ không được uống quá chén, canh bốn sáng mai gọi ta dậy, còn phải đi tuần kinh thành. - Vương Tất quản giáo thuộc hạ cực kỳ nghiêm khắc, đây là ông ta thông cảm cho bọn họ đã làm việc vất vả cả một năm, nên mới thả lỏng một chút. Thân binh vui mừng hoan hỉ, rối rít vâng dạ, hầu Vương Tất vào trong trướng nghỉ, rồi lại chạy vụt ra ngoài uống tiếp, không có quan trên trông coi, bọn họ xúm vào chơi trò đố nhau phạt lệnh, vô cùng náo nhiệt.
Vương Tất thực sự mệt mỏi, ban nãy lại uống hai chén rượu, đầu nhớp nháp mồ hôi, liền cởi khôi giáp, nằm nghiêng người trên giường, ngủ thiếp đi… Đang lúc nửa tỉnh nửa mê, ông ta chợt nghe bên ngoài vẳng vào tiếng ồn ào, ban đầu ông ta nghĩ là binh sĩ vui đùa, nhưng tiếng ồn mỗi lúc một to, làm người ta khó chịu. Vương Tất không nhịn được nữa, nhỏm dậy khoác khôi giáp vào, chẳng buồn thắt đai, uể oải bước ra ngoài trướng:
— Các ngươi ồn ào gì thế? Chớ uống nữa! Tất cả về… - Chưa nói xong, ông ta chợt cảm thấy tình hình không ổn, trong doanh lờ mờ ánh lửa.
Thân binh chạy lại:
— Bẩm đại nhân, các huynh đệ nhất thời không cẩn thận để cháy kho cỏ hậu doanh!
— Hừ! Một lũ vô dụng! - Vương Tất chạy ra hậu doanh, quả nhiên trông thấy hai đống cỏ khô đang cháy, một đám binh sĩ cầm cành cây, vải bạt liên tục dập lửa. Mùa khô xảy ra hỏa hoạn không phải chuyện hiếm, may là chỉ thiệt hại ít cỏ khô, Vương Tất vội dặn:
— Các ngươi chớ dập lửa nữa, dù sao cũng ở giữa đường, kệ cho nó cháy hết đi. Mau chuyển số cỏ khác đi, thu hết lán trại lại, tránh để tro tàn bay tứ tung làm đám cháy lan rộng ra những chỗ khác.
Binh sĩ vâng mệnh mà làm, bỏ mặc đám cháy, vội chất số cỏ còn lại lên xe, chở đi chỗ khác. Trong doanh rối loạn, Vương Tất chống nạnh chửi:
— Mẹ kiếp, vừa thả cho các ngươi một lúc đã gây ra chuyện rồi, đúng là một lũ ăn hại! Đêm nay không ai được ngủ, phải điều tra rõ ràng xem kẻ nào gây ra đám cháy sẽ phải phạt một trăm gậy! - Vừa nói dứt lời, bỗng nghe mé tây vang lên tiếng kêu thất thanh, nhờ ánh lửa, ông ta nhìn thấy hơn chục tên áo đen bịt mặt, cầm gươm sắc trèo từ ngoài hàng rào vào!
Trong chốc lát, nói Vương Tất hoảng sợ không bằng nói ông kinh ngạc: Bọn giặc nào to gan thế, dám tập kích quan quân trong kinh thành?
Nhưng kỳ lạ hơn, bọn chúng còn nhận ra Vương Tất, tên cầm đầu đứng tít đằng xa chỉ về phía ông ta nói:
— Giết thằng giặc đó trước! - Mười mấy tên áo đen cùng xông vào Vương Tất.
Binh sĩ sao chịu để yên? Vội vàng quẳng quân nhu đi, nhặt bừa binh khí dưới đất, chạy lại ngăn cản, thân binh bảo vệ Vương Tất ở giữa vòng, bọn giặc không lại gần được. Khi giao đấu, họ mới nhận ra không chỉ có mười mấy tên xông tới, mà phía sau còn cả một đám người lúc nhúc chui ra, có tên khua đao chém đổ hàng rào để chúng tràn cả vào.
Vương Tất hơi hoảng, vội triệu tập toàn bộ binh mã trong doanh, còn mình cũng rút bội kiếm đốc thúc binh sĩ tác chiến. Những tên áo đen đều có gươm đao trong tay, nhưng là bọn kém cỏi, lại không mặc khôi giáp, chỉ đấu được hai ba hiệp đã không địch nổi, lập tức bị quan quân vây giết. Không ngờ có tên nhanh trí, nhặt thanh gỗ dúi vào đống lửa châm mồi, rồi ném vào lán trại.
Quan quân sợ hãi, muốn dập lửa nhưng không còn kịp nữa. Những tên khác cũng bắt chước, tên thì hất tung đống cỏ đang cháy lên, tên thì ném bó đuốc vào quân nhu. Chớp mắt, bốn phía lửa cháy ngùn ngụt, mấy trăm binh sĩ trong toàn doanh đều bị kinh động, ùa ra chống lại bọn giặc. Vương Tất chạy ngược chạy xuôi, hô to:
— Mau chia quân cứu hỏa! Mau cứu hỏa! - Vương Tất hô hào được vài tiếng thì thấy sau lưng đau điếng: hóa ra ông ta bị một tên giặc chém xiên một đao.
Trong doanh hỗn loạn, thân binh bị phân tán, nghe tiếng thét giận dữ, bọn họ liền chạy lại đỡ Vương Tất đang bị thương, may là ông ta mặc áo giáp nên vết thương không sâu, chúng nhân nhìn trước ngó sau không thấy giặc áo đen đâu, mà chỉ thấy binh sĩ bên mình hò nhau cứu hỏa. Nhát đao làm Vương Tất sực tỉnh: trong doanh có gian tế! Đây là một kế hoạch tạo phản đã được tính toán kỹ lưỡng lửa là do gian tế châm, lửa cháy là tín hiệu tạo phản… Nghĩ đến đây, ông ta nhịn đau đứng dậy, đúng lúc trông thấy một quân hầu dưới trướng đã được trọng dụng nhiều năm chạy lại, ông ta gào lên:
— Chính là quân phản loạn! Ngươi mau dẫn binh sĩ dưới quyền vào cung, cùng với thị vệ đóng chặt cửa cung lại, đề phòng bọn giặc tấn công hoàng cung!
— Còn đám giặc trong doanh…
— Ở đây đã có ta đối phó, ngươi mau đi đi! - Đuổi được quân hầu đi, Vương Tất phấn chấn hơn hẳn, đích thân khua đao xông ra mặt phía tây. Lúc đến gần, ông ta mới nhìn rõ, đám phản loạn đâu chỉ có một hai trăm tên, chúng nhảy ra từ khắp các hang cùng ngõ hẻm mé tây, có những tên không mặc áo đen, cũng không cầm binh khí, chỉ biết huơ huơ ngọn đuốc, gậy gộc, rõ ràng là gia nhân, đầy tớ trong các phủ đệ. Phía tây kinh thành có không ít phủ đệ quan viên, rốt cuộc ai tổ chức bọn chúng tạo phản? Vương Tất đâu rảnh mà nghĩ nhiều, dẫn quan quân ra sức chém giết. Mặc dù liên tiếp đánh lui loạn đảng, nhưng bọn chúng không những không tản ra, còn tụ lại đông hơn. Vương Tất đang không biết làm sao, lại nghe phía sau cũng là một trận hỗn loạn, một tên tiểu hiệu mang mũi tên trên người hốt hoảng chạy tới:
— Bẩm đại nhân, không xong rồi! Có kẻ chặt khóa cửa thành phía đông cho một đám thổ phỉ xông vào, ít nhất cũng phải đến bốn năm trăm tên, đã đánh đến viên môn rồi!
Vương Tất nghiến răng nghiến lợi, chia quân ngăn chặn, nhưng ở viên môn mũi tên bắn ra như mưa: Bọn giặc đến từ phía đông đều là thổ phỉ được trang bị vũ khí, không chỉ có sẵn cung tiễn, còn có không ít ngựa tốt. Phía trước phía sau quan quân đều bị tấn công, nhất thời hỗn loạn, Vương Tất ngoái lại nhìn, không thể khống chế hỏa hoạn được nữa, ngọn lửa theo gió cháy lan đến tận trướng trung quân, lại nghe tiếng hô giết vang lên bốn phương tám hướng, hẳn là đại doanh cũng đã bị loạn đảng bao vây. Cứ tiếp tục thế này, dẫu không chết trận thì cũng bị chết cháy!
Lòng quân đã loạn, viên môn khó giữ được lâu, Vương Tất ruột gan phẫn nộ, múa kiếm chỉ huy đội quân, nhưng trông thấy tường trại phía đông bắc đổ rầm xuống, một đám loạn đảng mình mặc áo giáp, khoác da trâu đã đánh đến. Mưa tên xuyên qua ánh lửa bập bùng tựa như con thiêu thân lao vào lửa, ba bốn thân binh thét lên rồi ngã gục, Vương Tất cũng bị trúng một mũi tên vào vai.
Có tên tiểu tướng dũng cảm, khua đại giáo tập hợp bại binh chặn khe hở, vừa ra sức chống trả vừa nói lớn:
— Chúng tiểu nhân chống đỡ được một lúc, đại nhân mau lui đi!
Vương Tất bị thương hai chỗ, vẫn muốn gắng gượng, nhưng bị thân binh kéo ra chuồng ngựa, định phi ngựa xông ra ngoài thành xin viện binh, nào ngờ trong chuồng không có lấy một con ngựa - Chúng đã bị gian tế thả hết từ lâu! Trong doanh ầm ĩ vang trời, một đám loạn đảng đã xông được vào, dưới ánh lửa người nào cũng là một màu đỏ rực, không phân biệt được đâu là địch đâu là ta, các thân binh bảo vệ Vương Tất, cố xông ra khỏi vòng vây. Họ muốn vào hoàng cung lánh nạn, nhưng nhìn doanh trướng phía bắc đã biến thành một biển lửa, đành quay người chạy về hướng nam, chật vật đánh ra cửa doanh.
Vừa ra khỏi cửa doanh phía nam, đập vào mắt bọn họ lại là mấy chục loạn đảng đã dàn sẵn hàng ở phía trước, hai tên đứng đầu mình mặc áo giáp, đầu đội mũ võ biền, đều ngoài năm mươi tuổi. Vương Tất nghiến răng phẫn nộ: đó là Thiếu phủ Cảnh Kỷ và Tư trực Vi Hoảng!
Cảnh Kỷ chính là kẻ chủ mưu cuộc tạo phản, ông ta bố trí loạn đảng ở các lộ đâu đấy, giờ khắc này chỉ quan sát thế lửa đợi người bẩm báo, trông thấy một toán binh sĩ nhảy ra ngoài cửa doanh, ông ta nhận ngay ra Vương Tất, đanh giọng quát:
— Tay sai của Tào tặc đang ở đây, còn không giết hắn đi? - Bên cạnh Cảnh Kỷ đều là những gia tướng tâm phúc, được lệnh liền rút đao xông lên, đám loạn đảng xung quanh cũng xông lên theo.
Vương Tất căm tức lồng lộn: Cảnh Kỷ gian trá đa đoan, mưu phản đã đành, nhưng sao một người của tướng phủ là Vi Hoảng cũng tham dự vào! Vương Tất quyết liều mạng với chúng, song lại sợ Hứa Đô thất thủ làm hỏng chuyện lớn của chúa công, đành cướp đường mà chạy. Hơn chục thân binh xả thân chống đỡ, Vương Tất nhân lúc hai bên giao chiến hỗn loạn, chui vào con hẻm kế bên, chạy được một lúc, nghe phía sau râm ran tiếng truy sát, đoán chừng những thân binh kia đều đã chết.
Lúc này bên cạnh Vương Tất chỉ còn lại chưa đến mười người, họ không dám nghỉ chân, cũng không để ý đông tây nam bắc, cứ thấy đường thẳng là tránh, thấy khúc cong là rẽ vào, gặp người đi trên đường không cần biết có phải loạn đảng hay không đều chém gục tại chỗ, cắt đuôi truy binh. Không biết chạy được bao lâu, nghe tiếng truy sát đã bị bỏ lại đằng xa, họ mới dám dừng lại thở. Hai vết thương trên người Vương Tất chưa được bọc lại, còn liều đánh một hồi và chạy trốn khắp nơi, khiến máu ồ ạt trào ra, Vương Tất bắt đầu thấy chóng mặt. Đang lúc nguy ngập, có thân binh chỉ vào phủ đệ chỗ ngã rẽ:
— Đó không phải nhà Kim đại nhân sao? Trưởng sử đại nhân và Kim đại nhân kết giao với nhau, tâm đầu ý hợp, sao chúng ta không vào trong phủ ngài ấy lánh tạm?
Câu này thức tỉnh Vương Tất: hiện giờ ta thân cô thế cô, muốn trốn cũng không trốn được, nhưng dựa vào giao tình giữa ta và Kim Y, mà nhờ anh ta tập hợp gia nhân cùng kháng cự thì có thể đấu chọi được một thời gian. Giờ có lẽ cũng ngoài canh ba rồi, chỉ cần cầm cự đến sáng, các bộ đồn điền ở ngoại thành chắc chắn sẽ đến cứu viện.
Nghĩ đến đây, Vương Tất muốn đích thân gõ cửa, nhưng vì mất quá nhiều máu, nên ngã trước bậc cửa, thân binh vội đỡ ông ngồi xuống, một người khác thay ông gõ cửa. Nhưng không hiểu vì sao, gõ cửa một lúc lâu mà không thấy ai trả lời, trong thành nhiều loạn đảng, thân binh lại không dám to tiếng, chỉ biết nhẫn nại chờ đợi. Mãi lúc lâu sau, cửa phủ mới kêu “ken két”, hé ra một khe hở: Thường ngày người gác cửa đều là đầy tớ nhanh nhẹn, đêm nay người mở cửa lại là một nô bộc già, râu tóc bạc phơ, ít nhất cũng phải ngoài sáu mươi.
Thân binh không còn tâm trí đâu giải thích, đang định dìu Vương Tất vào trong, không ngờ lão bộc này lại nói mấy câu nhảm nhí khiến bọn họ giật nảy mình:
— Ai bị thương thế? Tình hình sao rồi? Đã giết được Vương Tất chưa?
Vương Tất tưởng như sét đánh ngang tai, ngay lập tức hiểu ra: Ngoài ta ra, còn ai có thể tự do ra vào doanh? Ai có cơ hội bố trí gian tế trong doanh? Không phải Kim Y thì còn ai vào đây nữa!
Bằng hữu phản bội, doanh trại bị đốt, Vương Tất vừa đau vừa hận, ruột gan sôi lên, không biết sức mạnh từ đâu đến, ông ta nhặt thanh kiếm lên, đứng bật dậy, đạp tung cửa lớn của Kim phủ, đấm lão bộc một nhát. Tiếng kêu thảm thiết vang lên, lúc này bọn họ muốn lánh mình cũng không lánh được nữa, thân binh cũng hận Kim Y thấu xương, cầm đao tiến vào trong phủ, gặp người nào giết người ấy, phút chốc người trong phủ đều bị giết sạch - Họ toàn là đàn bà, trẻ nhỏ và người già, thanh niên trai tráng đều tạo phản bên ngoài.
Sau một hồi chém giết, Vương Tất chống kiếm mà đứng, cả người không ngừng run lẩy bẩy, máu liên tục nhỏ xuống theo tay áo và ống quần - Trong đó, có máu người bị giết hại và cả máu của ông ta, hai vết thương vẫn liên tục chảy máu, ông ta sắp không trụ được rồi.
— Đại nhân. - Thân binh cũng nhuộm màu máu đỡ ông, - Tiếp theo nên làm thế nào?
Vương Tất đau lòng mãi không thôi, ông ta tự hỏi mình đối xử với Kim Y không tệ bạc, sao ngờ được rằng hắn ta lại phản bội mình. Năm xưa, Lưu Mạc nhắc nhở ông nên thận trọng kết giao bằng hữu, không ngờ vào năm định mệnh lại giẫm lên vết xe đổ một lần nữa, thử hỏi ông ta còn mặt mũi nào đi gặp Tào Tháo? Ông ta thật sự muốn đâm đầu chết quách ở đây cho xong, nhưng vì đại sự của nước nhà, nếu như Hứa Đô có sơ sảy gì, thiên tử bị khống chế thì Tào gia sẽ có kết cục ra sao? Ông ta nghiến răng nhịn đau, nhìn những xác chết ngổn ngang dưới đất, nói:
— Nơi này nguy hiểm không thể ở lâu, mau đổi quần áo, quân giặc đã mở cửa thành phía đông, chúng ta phải nghĩ cách trốn ra ngoài thành.
Mấy người cùng hành động, trước tiên kéo xác lão bộc vào trong, đóng cửa phủ lại, tiếp đến đi xung quanh nhà tìm y phục, có người lột luôn quần áo trên xác chết mặc vào. Thân binh băng bó vết thương cho Vương Tất, lau vết máu, thay cho ông ta một bộ áo vải bình thường rồi bôi đất lên mặt để giấu tướng mạo. Chuồng ngựa phía sau chỉ còn lại một con ngựa còm, thân binh nhường cho Vương Tất cưỡi, nhẹ nhàng mở cửa sau chuồn ra.
Lúc này trong thành Hứa Đô, ánh lửa nổi lên bốn phía, rất hỗn loạn, khắp các hang ngõ đều có người cầm gậy gộc đi đi lại lại, những phủ đệ không hiểu rõ sự tình đều đóng chặt cổng, tránh dây vào chuyện thị phi. Bọn người của Vương Tất nhân lúc hỗn loạn, lần ra theo hướng đông, họ đã cải trang nên loạn đảng chỉ coi là người đi cùng đường, chẳng ai gặng hỏi. Khó khăn lắm mới đến được phía đông kinh thành, quả nhiên cổng thành mở toang, nhưng có một đội quân phản loạn canh gác trước cửa, không cho phép bất cứ kẻ nào ra ngoài. Ánh lửa soi rõ kẻ cầm đầu là hai thanh niên mình mặc áo da, đầu đội mũ võ biền, Vương Tất nhận ra là Cát Mục và Cát Mạc, hai nhi tử của Thái y lệnh Cát Bản.
Các cổng thành khác vẫn đóng chặt, dựa vào sức của mấy người Vương Tất khó có thể mở được, nên sống hay chết chỉ có duy nhất con đường này. Không còn cách nào khác, Vương Tất nói với mấy thân binh còn sót lại:
— Ta có ngựa có thể cố thoát thân, chỉ e các ngươi không thoát được. Các ngươi tìm chỗ lánh đi, nếu ta giữ được mạng thì sau này chúng ta sẽ gặp lại. - Rồi không để thân binh ngăn cản, ông thúc ngựa đi ra đầu ngõ, miệng còn nhẩn nha hát, ra vẻ thong dong. Ban đầu, đám loạn đảng không để ý, tưởng là người của mình, không ngờ người này chẳng nói chẳng rằng chạy thẳng ra cổng. Cát Mục sinh nghi, vội quát đứng lại:
— Đứng lại! Ngươi là thuộc hạ của ai? Cửa này chỉ được vào, không được ra!
Vương Tất không chần chừ, tay trái ôm chặt cổ ngựa, tay phải cầm kiếm chọc vào mông ngựa - Con ngựa già tuy chậm chạp, nhưng bị đau như vậy há lại không lồng lên? Nó tung bốn vó lên, va trúng đầu Cát Mục rồi nhắm theo hướng cổng thành mà xông ra. Cát Mạc đâu chịu để yên, hô tả hữu bắn tên, mũi tên từ các chòi canh trên thành tua tủa bắn ra, Vương Tất cả người và ngựa đều bị trúng mấy mũi tên, nhưng vẫn lao qua cửa.
Cát Mục bò dậy:
— Mau đuổi theo! Mau đuổi theo!
Mấy thân binh nấp trong ngõ trông thấy Vương Tất lại bị trúng tên, mắt họ đỏ sọng, tất cả hô nhau xông vào đám loạn đảng. Huynh đệ họ Cát buộc phải quay người lại nghênh chiến, thân binh dũng cảm nhưng cũng không chống nổi, người nào cũng bị chém đến hơn chục đao, lúc sắp chết vẫn ôm chặt chân ngựa của Cát Mạc. Vương Tất đã chạy xa, mất dạng trong đêm tối…
Loạn đảng tuy đông người, tập kích thuận lợi, nhưng chỉ huy lộn xộn, chỉ là một lũ ô hợp. Căn nguyên sự việc là do Thiếu phủ Cảnh Kỷ, Thái y lệnh Cát Bản và Tư trực Vi Hoảng không được Tào Tháo tín nhiệm, lại bất mãn chuyện sĩ nhân Quan Trung không được trọng dụng, cho nên có ý đồ tạo phản, câu kết với Kim Y lập kế làm loạn. Vả lại, Lưu Bị đang ồ ạt tiến quân xâm chiếm Vũ Đô, bọn Cảnh Kỷ đinh ninh ông ta sẽ đánh đến đây, muốn chiếm lấy kinh sư, khống chế thiên tử nghênh đón Lưu Bị, liền tập hợp gia nhân bản phủ cùng với bọn phản loạn chốn hương dã, tất cả hơn ngàn người bạo động trong đêm. Kim Y bố trí nội ứng phóng hỏa, còn Cát Bản từ sẩm tối đã vào cung chuẩn bị hưởng ứng với quân phản loạn, uy hiếp thánh giá.
Khởi sự coi như thuận lợi, loạn đảng thiêu hủy được doanh trại quân Tào, song lại tuột mất Vương Tất - người nắm giữ binh quyền kinh kỳ, hơn một ngàn loạn đảng lùng sục khắp nơi trong thành cũng không bắt được ông ta. Cảnh Kỷ liệu rằng không thể kéo dài cuộc bạo động, lập tức truyền lệnh tấn công hoàng cung, có điều một bọn ô hợp khó làm nên chuyện lớn, Hứa Đô lúc này rối như canh hẹ, có kẻ nhân lúc hỗn loạn cướp bóc, phóng hỏa thiêu rụi không ít nhà dân, số người tuân thủ mệnh lệnh chưa đến một nửa. Hoàng thành tường cao kiên cố, Vương Tất lại sớm chia quân canh giữ, trong khi loạn đảng lăn lộn tới nửa đêm cũng đã đuối sức, không đánh được vào. Chẳng mấy chốc trời đã sắp sáng mà trong cung vẫn không có động tĩnh gì, tám phần là Cát Bản thất thủ, đã bị bắt, lại nghe tin có người xông ra ngoài từ cửa thành phía đông, Cảnh Kỷ và Kim Y biết tình hình không ổn, tập hợp đồ đảng trốn ra khỏi thành. Không ngờ, bọn chúng vừa đến cửa thành thì trông thấy đại đội binh mã rầm rập xông tới, trên cờ hiệu đề chữ “Điền nông trung lang tướng Nghiêm Khuông”.
Nghiêm Khuông cai quản đồn điền quận Dĩnh Xuyên, mùa màng đã thu hoạch xong, lương thực được đưa vào kho, dân đồn trú cũng vui vẻ đón năm mới. Giữa đêm hôm khuya khoắt, được tin có kẻ tạo phản, Nghiêm Khuông tức tốc tập hợp toàn bộ binh mã của mình, cùng với các bộ tướng và những điền nông lực lưỡng được hai ba ngàn người cùng đi dẹp loạn ngay trong đêm. Loạn đảng chỉ có tất cả hơn ngàn người, còn không có đủ vũ khí, khôi giáp, lăn lộn cả đêm cũng chỉ còn phân nửa quân số cố theo tiếp, làm sao chống lại được quân Tào nhiều gấp mấy lần? Đồ đảng còn đang kinh sợ, lại trông thấy hai viên tướng đứng dưới cờ hiệu quân Tào, người bên trái là Nghiêm Khuông, còn người bên phải thân cao bảy thước, vai rộng eo tròn, râu hùm hàm én, không phải Vương Tất thì còn ai? Cảnh Kỷ mặt mày tái mét, binh khí tuột khỏi tay rơi xuống đất.
— Chúng ta xong rồi… - Kim Y cũng vứt binh khí, đau đớn khép mắt lại. Đám loạn đảng kinh hãi chốc lát, rồi sột soạt cởi bỏ khôi giáp, chạy tứ tán như bầy ong vỡ tổ.
Vương Tất đã thay một bộ khôi giáp khác, cưỡi trên lưng ngựa, nhưng thực ra ông ta đang gắng gượng chịu đựng, khoảnh khắc nhìn thấy quân phản loạn tan tác, binh sĩ của Nghiêm Khuông hò hét xông lên, cuối cùng ông cũng an tâm được rồi. Tấm thân to lớn của ông ta lắc lư, chực rớt khỏi lưng ngựa.
— Trưởng sử đại nhân! - Nghiêm Khuông nhảy xuống ngựa, đỡ lấy ông ta.
Hai mắt Vương Tất lờ đờ, ông ta nhìn thấy môi Nghiêm Khuông mấp máy, nhưng không nghe được từ nào, tới tiếng huyên náo trên chiến trường cũng không có, yên tĩnh đến lạ thường. Khuôn mặt mọi người trở nên mờ ảo, méo mó, dần dần trước mắt ông ta đều hóa thành một màu đen…
Lạm sát người vô tội
Phản loạn Hứa Đô đã được dẹp, tin tức truyền đến Nghiệp Thành, Tào Tháo vừa phẫn nộ vừa thương xót trước cái chết của Vương Tất, hạ lệnh tru di ba họ bốn phản thần nhà Cảnh, Cát, Vi, Kim, tất cả những người tham gia cuộc biến loạn đều bị khép vào tội chết. Trong một thời gian ngắn, Hứa Đô máu chảy thành sông, bốn tên phản thần cùng với gia quyến đều phải nhận hình phạt theo đúng sắc lệnh, tới tận lúc sắp chết Cảnh Kỷ vẫn cố nghiến răng chửi Tào tặc. Tào Tháo dường như chưa hả giận, truyền lệnh áp giải cả một đám quan lại Hứa Đô và người nhà, nô bộc của họ đến Nghiệp Thành.
Bấy giờ đã vào đầu mùa xuân, nhưng tiết trời vẫn còn lạnh, một cơn gió buốt từ phía đông bắc thổi tới làm tinh kỳ cắm trên lầu thành bay phần phật, phát ra những tiếng vù vù. Tào Tháo khoác áo lông cừu, vịn vào lan can, đứng trên lầu thành cửa Trung Dương, vẻ mặt u ám nhìn xuống. Dưới thành là tử đệ, gia nhân của trăm quan được áp giải từ Hứa Đô về, trong đó có một vài tiểu lại cửa công, tất cả mấy ngàn người, ai nấy tỏ vẻ sợ hãi, run rẩy. Bọn họ đang ở trong vòng vây của hai vạn quân Tào mình mặc khôi giáp, tay cầm binh khí, chỉ chờ hiệu lệnh. Phía sau binh lính là một hố xác lớn đã được đào sẵn, sự sống chết của những con người này chỉ phụ thuộc vào một quyết định của Tào Tháo.
Tào Tháo đưa mắt nhìn những con cừu đang đợi làm thịt đó, chẳng mảy may thương xót mà chỉ còn lại sự phẫn hận: Tào thị có được quyền lực như ngày hôm nay là nhờ khống chế thiên tử, nếu thiên tử rơi vào tay bọn phản loạn, kế đến bị Lưu Bị khống chế thì công sức nửa đời người của ông coi như đều đổ xuống biển. Tào thị chẳng còn tư cách gì mà kiêu ngạo với Tôn, Lưu, danh nghĩa đàng hoàng cũng mất hết. Chuyện chiếu thư trong đai ngọc năm xưa vẫn thường lởn vởn trong cơn ác mộng của Tào Tháo, lần này còn tồi tệ hơn, Tư trực vốn được ông phái đến Hứa Đô giám sát trăm quan, thế mà lại là một trong những kẻ chủ mưu tạo phản. Thực đáng sợ, khắp cõi trời liệu còn có ai đáng tin không?
Lửa giận tích tụ trong lồng ngực, Tào Tháo quát hỏi:
— Các ngươi đã biết tội chưa? - Nhưng giọng nói quá nhỏ, không truyền được xa, một lúc sau ông nhắc lại, tới bản thân mình cũng không nghe thấy, vừa bị hụt hơi, lại còn chóng mặt nữa. Dù dùng phương thuật hay thuốc thang cũng không thể chữa được bệnh của ông, và cũng không thể kéo dài tuổi thọ được. Tào Tháo nghĩ đến những sự bực bội này, rồi lại nhìn từng khuôn mặt hốt hoảng, bất lực bên dưới, chỉ cảm thấy căm ghét vô cùng, đôi tay run rẩy bấu chặt vào lan can. Khổng Quế và Nghiêm Tuấn đứng hầu phía sau, vội bước lên đỡ lấy ông, nháy mắt ra hiệu với một thân binh gần đó.
— Đại vương hỏi các ngươi, tại sao lại thông đồng với nhau tạo phản? - Binh sĩ thay Tào Tháo hỏi, giọng nói cao vút vang vọng cả một góc lầu thành.
— Chúng tiểu nhân bị oan!… xin đại vương khai ân!…
— Mấy ngàn người quỳ dưới đất ầm ầm nói, họ ngẩng đầu lên nhìn dáng người thấp bé, tóc bạc trắng ấy, không ngớt lời cầu xin, ầm ĩ chẳng nghe được gì, chỉ thấy ù ù.
Một lúc sau, lại nghe binh sĩ bên trên hỏi:
— Vào đêm phản đảng làm loạn, nhiều nơi trong thành Hứa Đô bị cháy, các ngươi có nhân lúc hỏa hoạn mà cướp bóc, cùng làm loạn không?
— Không!… không!… - Muôn cái miệng cùng thốt ra một từ giống nhau. Đúng vậy, trước khi bọn Cảnh Kỷ làm loạn không ai biết gì, đến đêm hỏa hoạn, tiếng chém giết trong thành Hứa Đô dậy khắp bốn phía, lòng người hoang mang, không ai biết xảy ra loạn gì. Bọn họ còn không kịp khép cửa đóng cổng, nào dám chạy ra ngoài? Nói gì đến chuyện cùng tham gia làm loạn.
Lại một hồi ầm ầm, chợt thấy quân Tào dựng hai lá cờ, chúng nhân đang không hiểu chuyện gì thì nghe người trên lầu thành nói:
— Đại vương có lệnh, trong các ngươi có ai cứu hỏa không. Do các ngươi quá đông, không hỏi từng người được, phàm người nào cứu hỏa thì đứng sang lá cờ bên trái, còn người nào không cứu hỏa thì đứng sang lá cờ bên phải. Mau đứng vào chỗ!
Ai chẳng biết cứu hỏa tức là có công, còn không cứu hỏa nghĩa là mang tội? Đao phủ dữ tợn mài đao xoèn xoẹt, vào giờ khắc này không mong có công mà giữ được tính mạng mới là quan trọng, nên người dưới thành dù có tham gia cứu hỏa hay không đều nháo nhào chạy qua bên trái. Không ít người bị chen ngã sõng soài, vẫn lồm cồm bò sang bên trái, có người sợ chỗ mình đứng chưa được tính là bên trái, còn cố len vào trong. Chỉ còn lại vài người đứng bên phải, nếu không phải thật thà đến mức ngớ ngẩn, thì cũng là người không thiết sống nữa. Vào khoảnh khắc giao nhau giữa sự sống và cái chết, không ai dám chậm trễ, ồn ào một hồi cho đến khi mấy ngàn người đứng ngay ngắn vào chỗ rồi mới dần yên lặng trở lại.
Nhưng rất lâu sau trên thành không có động tĩnh gì, chỉ thấy Tào Tháo nói gì đó với người bên cạnh, cả thị tòng và tướng lĩnh đều tỏ ra kinh ngạc, mãi sau có người hỏi:
— Lời các ngươi nói đều là sự thật? Không thay đổi?
— Chúng tiểu nhân thực sự vô tội!… - Mấy ngàn người lại hét ầm lên.
Bỗng nhiên trên thành phất cờ lệnh, quân Tào ở bốn phía dồn lại như nước triều dâng, dây cung kéo căng, đao tuốt khỏi vỏ, người đứng dưới hai lá cờ đều bị vây kín. Chúng nhân sợ hãi, liên tục thét chói tai, tựa như bầy cừu co cụm một chỗ đợi bị làm thịt.
Binh sĩ trên lầu thành rướn cổ nói:
— Đại vương nói, quân phản nghịch làm loạn, cả thành Hứa Đô hoang mang, khép cửa đóng cổng còn không kịp, nói gì đến cứu hỏa? Những người tự nhận là cứu hỏa đều bị coi là đồng đảng với quân phản nghịch, dù đúng hay sai cũng đáng bị trị tội khi quân! Giết toàn bộ người đứng dưới lá cờ bên trái!
Nghe vậy ai cũng kinh ngạc, không chỉ người bị giết mà cả binh sĩ Tào doanh cũng giật mình, nhưng chỉ trong chớp mắt, có người sực nhận ra mình phải chấp hành mệnh lệnh, liền vung đao chém giết. Mấy ngàn người gào khóc rúng động trời đất, tiếng kêu thét, tiếng khóc lóc, tiếng nhận tội, tiếng van xin, tiếng rên rỉ hòa với tiếng chém giết vô tình, không rõ tiếng gì với tiếng gì, khiến người trên thành ong cả đầu.
Nạn nhân giẫm đạp lên nhau, trốn trái trốn phải vẫn không thoát được những tên đồ tể bao quanh bốn mặt. Đội quân đen kịt dồn dập áp sát lại như trời long đất lở, những tia máu phọt lên, bay đi theo làn gió, bao phủ một góc địa ngục trần gian. Có kẻ đụng trước đụng sau đến khi đụng phải lưỡi đao của quân Tào; có kẻ nằm nhũn dưới đất, bị những kẻ khác xéo nát như bùn; có kẻ chợt nảy ra ý nghĩ kháng cự, vớ được thứ gì là quẳng vào quân Tào thứ ấy; có kẻ liều mạng đánh nhau với quân Tào, mong tìm được lối thoát… Nhưng thảy đều vô ích. Ai đó hô lên một tiếng:
— Bắn tên! - Những mũi tên đoạt mạng lao đi vun vút và dày đặc tựa như đàn châu chấu, người ở trong vòng vây loạng choạng, nghiêng ngả cùng với tiếng mũi tên xé gió, tiếng kêu rên, như tạo nên một điệu múa kỳ dị và náo nhiệt…
Tào Tháo nhìn toàn cảnh chém giết không hề chớp mắt, sự sống chết của những con người này không nằm trong suy nghĩ của ông, không giết bọn họ thì không dựng được uy nghiêm, không giết bọn họ thì không dọa được những kẻ khác, và không giết bọn họ thì cũng không xả được cơn giận! Giết! Giết hết bọn chúng đi! Ông chăm chú nhìn biển máu, trong lòng ngoài sự phẫn nộ ra còn có chút chán nản - Ông đã đoạt được quyền lực của thiên tử, đồ nghi trượng của thiên tử cũng có rồi, nhưng lại gần như mất hết sức sống. Trong năm vừa qua, nếu ông đánh thắng Lưu Bị thì dù có phải thực hiện một cuộc đảo chính đẹp đẽ, ông cũng muốn lên ngôi chí tôn, dẫu biết mình chẳng còn sống được bao lâu. Nhưng cuộc phản loạn lần này đã phá tan ảo tưởng cuối cùng của ông, mới tháng Giêng đã loạn thế này, mấy kẻ mang đầy dã tâm ấy còn cố dựng lại cờ hiệu của thiên tử, thử hỏi làm sao ông có thể chạm vào ngai rồng, chẳng lẽ ông lại tự đi chứng minh mình có tội? Thôi xong, xong hết rồi… Sức khỏe của ông không còn, ước vọng của ông cũng tan vỡ rồi…
Rất lâu sau, mãi đến khi tiếng gào thét cuối cùng xé toạc bầu trời vút xa, Tào Tháo mới lấy lại được tinh thần từ những giả tưởng cố chấp. Ông nhìn kỹ những xác chết nằm la liệt bên dưới: có xác chết ngửa mặt lên trời, mắt trợn ngược, mồm há hốc như kêu oan với trời xanh; có thi thể úp mặt xuống đất, tay cào cấu, chân dạng ra như cầu cứu mặt đất; có người bị giẫm đạp mà chết, ngực vỡ, bụng bẹp, đầu bể, máu chảy, chỉ thấy một đống nhầy không nhận ra mắt mũi, dường như đã biến thành ác quỷ; có kẻ bị loạn tiễn cắm vào bảy tám chỗ, đứng không được ngã cũng chẳng xong, trông hệt như con nhện khổng lồ bê bết máu; có tấm thân nằm dưới đất mà đầu nơi khác, đến lúc chết vẫn ở trong tư thế giơ tay, như thể cố tìm kiếm cái đầu của mình. Có kẻ chưa tắt thở, còn cố nhúc nhích bò ra ngoài, kéo theo một vệt máu dài, mãi đến khi không động đậy được nữa… Những cái xác đó tựa hồ đều khóc không ra tiếng, linh hồn oan ức lởn vởn trên bầu trời Nghiệp Thành…
Tào Tháo chinh chiến ba mươi năm trên sa trường, tận mắt chứng kiến vô số cái chết, từ lâu đã coi chuyện này là bình thường. Nhưng không hiểu sao hôm nay tự đáy lòng ông lại dâng lên cảm giác ớn lạnh, dường như những xác chết kia đều biến thành quỷ dữ, và có thể bật dậy tức thì…
Chết, chết… chưa bao giờ Tào Tháo lại sợ chết như lúc này!
Ông trấn định tinh thần, quát lớn:
— Đốt xác! Mau đốt xác! - Chợt có cảm giác ai đó đụng vào cánh tay, ông giật nảy mình, quay mặt lại thét lên, - Ngươi muốn làm gì? Lui xuống!
Nghiêm Tuấn không hiểu chuyện gì:
— Đại vương, là nô tài…
Ai nấy đều biết ông đã giết người đến đỏ cả mắt, sợ hãi lùi lại phía sau.
— Lui xuống! Không ai được đụng vào quả nhân! - Tào Tháo cầm thanh kiếm sắc lóa, đưa mắt dò xét xung quanh. Dường như những người bên cạnh đều không đáng tin, ai cũng rắp tâm hại ông!
Tất nhiên những thi thể dưới thành đều được thiêu sạch, nhưng lý do không phải vì binh sĩ sợ những xác chết đó biến thành quỷ dữ, mà họ sợ xác chết thối rữa sẽ lại gây ra bệnh dịch. Binh sĩ kéo thi thể vào hố xác, rải cỏ tranh rồi châm một mồi lửa, khói đen bốc lên nghi ngút, mùi da thịt cháy khét lẹt, xộc thẳng vào mũi. Tào Tháo cảm thấy tức ngực, trước mặt mờ dần rồi đầu óc quay cuồng như sắp nổ tung, bội kiếm tuột khỏi tay rơi xuống đất. Bấy giờ chúng nhân mới dám tiến lại đỡ lấy ông.
— Mau truyền Lý Đương Chi! Bệnh đau đầu của đại vương lại tái phát rồi… Mau đi đi! - Khổng Quế hớt hải rống lên, không chỉ vì cứu đại vương, mà còn vì cứu chính mình.
❀ ❀ ❀
[1] Quy tức là một thuật ngữ của Đạo giáo, chỉ kiểu hít thở điều hơi giống như con rùa, không ăn không uống mà được trường thọ. Có một thuyết cho rằng, khi con rùa ngủ, hơi thở thoát ra từ lỗ tai nên sống lâu.
[2] Chỉ cung nữ và thái giám thời xưa lén kết thành phu thê trên danh nghĩa.
[3] Trích bài Khí xuất xướng của Tào Tháo.
[4] Nghĩa là “một hộp bánh”.
[5] Năm Chính Hòa thứ nhất (năm 92 trước Công nguyên) xảy ra vụ án vu cổ, Hán Vũ Đế quyết định sai sủng thần Giang Sung điều tra. Giang Sung vốn có hiềm khích với thái tử Lưu Cứ, nên đã vu oan giá họa nói cung của Vệ hậu và thái tử Lưu Cứ có bùa yểm, khiến thái tử buộc phải làm phản.
[6] Tên quan, do võ nhân đảm nhiệm, phụ trách việc xua đuổi tà ma và bệnh dịch.
[7] Mười hai thần thú giúp trừ tà đuổi bệnh, được gọi tên là: Giáp Tác, Khưu Vị, Hùng Bá, Đằng Giản, Lãm Chư, Bá Kỳ, Cường Lương, Tổ Minh, Ủy Tùy, Thác Đoạn, Cùng Kỳ, Đằng Căn.
[8] Khoảng 4 giờ 15 phút sáng.
[9] Quan địa phương, thường do quận thừa hoặc quận quốc trưởng lại đảm nhận, có nhiệm vụ báo cáo sổ sách, nhân khẩu, tài vật của quận quốc với triều đình trung ương, và thay quận thú tham gia triều hội được tổ chức vào ngày mồng một Tết cùng với những hoạt động điển lễ đi kèm.
[10] Rượu thơm được làm bằng cách trộn lẫn với hoa tiêu và lá bách.