Cỏ cây tươi tốt, chim chóc bay nhảy, vạn vật hồi sinh chính là sức sống dồi dào của mùa xuân. Bầu trời vẫn xanh thẳm bao la, dòng sông vẫn xuôi dòng không nghỉ, ngàn vạn sinh linh cũng vẫn rộn ràng hối hả, trên thế gian này chẳng có người nào là không thể thiếu được.
Tào Phi trải bao sóng gió, cuối cùng cũng kế thừa được đại thống của nước Ngụy, đặt thụy hiệu cho phụ thân là “Vũ”, Chu thư - Thụy pháp nói: “Chấn định tai ương, biến loạn gọi là Vũ.” Từ khi thời đại của Tào Tháo lui vào lịch sử, nhà Hán đổi niên hiệu thành “Diên Khang” với ý nghĩa nối dài sự nghiệp của tiên vương. Nhưng, phàm là sĩ nhân hiểu biết đều có dự cảm niên hiệu này sẽ không tồn tại được lâu bằng niên hiệu “Kiến An”. Bởi vì, thiết nghĩ triều đình thay đổi niên hiệu là do quyền thần thế tập, vậy vương triều ấy có thể tồn tại được bao lâu đây?
Sau hơn ba mươi năm chiến loạn, bách tính sớm đã không còn bận tâm thiên tử mang họ gì nữa rồi, cái chết của Tào Tháo cũng không gợi lên được bao nhiêu thương tiếc nơi họ. Bởi tất cả còn đang bận chuẩn bị cho mùa màng vụ xuân, chỉ mong sao mưa thuận gió hòa, thóc lúa bội thu để có thể ăn no mặc ấm, nộp đủ tô thuế và nuôi được đàn con, ngoài những chuyện đó ra còn có gì đáng để họ lưu tâm? Khắp một vùng Trung Nguyên rộng lớn, đâu đâu cũng đốt nương làm rẫy, già trẻ lớn bé tập trung ngoài đồng. Trong khi ấy, trên con đường cái quan phía đông thành Lạc Dương, một đoàn người ngựa toàn là quan viên và binh lính mặc tang phục màu trắng đang vội vã di chuyển, thực trái với cảnh tượng rộn ràng chốn thôn dã.
Vài hôm nữa, linh cữu của Ngụy Vũ Vương sẽ được chuyển về nước Ngụy mai táng, những người này đứng đầu là huynh đệ Tư Mã thị, phụng mệnh Tào Phi quay về Nghiệp Thành trước, chuẩn bị tiếp giá. Mới chỉ qua một tháng mà thân phận của huynh đệ Tư Mã thị đã có sự thay đổi lớn, Tào Phi đổi Bí thư thành Trung thư, Tư Mã Phu nhận chức Trung thư lang, còn Tư Mã Ý một bước trở thành Thừa tướng Trưởng sử. Những người khác có quan hệ thân thiết với Tào Phi cũng đều được phong thưởng, Ngô Chất được thăng làm Trung thư lang, kiêm chức Đô đốc cai quản quân vụ U Châu và Tịnh Châu. Trần Quần vẫn là Thượng thư, nhưng được tấn phong làm Xương Vũ Đình hầu, coi như đứng đầu chư thần trung đài. Hạ Hầu Thượng đảm nhận chức Tán kỵ thường thị, trở thành cận thần của nhà vua. Hạ Hầu Mậu và Chu Thước tiếp nhận vị trí thống soái trung quân. Còn Tào Chân và Tào Hưu càng được trọng dụng hơn trước - Tào Chân được tấn phong làm Đồng Hương hầu, Trấn Tây Tướng quân, Đô đốc chư quân vùng Ung Châu, Lương Châu. Tào Hưu được tấn phong làm Đông Dương hầu, Trấn Nam Tướng quân, Đô đốc chư quân vùng Kinh Châu, Dương Châu. Tào Phi dụng binh không bằng phụ thân, nên dùng hai người huynh đệ tâm phúc có tài võ lược cai quản việc quân ở hai lộ quân đông tây, đúng là quyết định sáng suốt…
Ngắm nhìn cảnh đồng ruộng nhộn nhịp, tâm tình Tư Mã Phu cũng thảnh thơi dễ chịu như đang đi du xuân, nhưng với nhiều năm chịu ảnh hưởng từ kinh học, ông ta tự nhủ giờ là tang kỳ của Vũ Vương, phải tỏ vẻ nghiêm túc, trang trọng. Vì vậy, ông ta cố nhìn thẳng về phía trước, làm ra vẻ bi thương, song cũng chỉ giữ được một lúc rồi lại không tiếp tục giả vờ được nữa, đôi khi bất giác nhỏ giọng ngâm thơ. Đương nhiên, sau cái chết của Tào Tháo, họ Tư Mã được lợi nhất, dù cho ông ta thấu đạt đạo lý đến mấy, vui sướng vẫn cứ là vui sướng, mà với tính cách thật thà của ông ta thì không thể nào che giấu được.
Tư Mã Ý già dặn hơn đệ đệ nhiều, tuy rằng ông ta cũng hoan hỉ vui mừng, nhưng lại che đậy rất kỹ, cúi thấp đầu xuống suốt cả chặng đường, một lời cũng không nói, lẳng lặng mà đi, chẳng ai nhìn ra được biểu cảm của ông ta. Lúc này bỗng nghe đệ đệ ngâm nga bài thơ nào đó quen tai, ông ta có chút tò mò, liền lắng tai nghe, hóa ra là Trịnh phong - Truy y trong Kinh thi:
Áo đen ngài mặc đẹp xinh,
Rách thì thay mới tinh anh cho ngài.
Ngài sang quán xá hôm nay,
Khi về cơm đã dọn bày kính dâng…[1]
Tư Mã Ý bất giác nhếch miệng cười - Đệ đệ ngốc, Tào Phi mình mặc áo đen đã hài lòng chắc? Chẳng bao lâu nữa sẽ đổi thành long bào ngay thôi! Ông ta nổi ý muốn trêu chọc đệ đệ, định hỏi “Đệ rốt cuộc muốn theo tổ tiên làm trung thần nhà Hán hay muốn gia nhập vây cánh Tào thị?” Nhưng nghĩ lại đành thôi, ông ta chỉ sợ người đệ đệ đầu gỗ này lại cứ luẩn quẩn mãi với câu hỏi phức tạp ấy mà không thoát ra được. Tư Mã Ý bất lực lắc đầu, hai người tuy là huynh đệ ruột nhưng tính cách khác hẳn nhau, có những việc chỉ mình ông ta nhìn thấu.
Tào Phi muốn làm hoàng đế, việc này chẳng cần nghi ngờ gì nữa.
Thứ nhất, Tào Tháo lúc còn sống cũng đã dòm ngó ngôi cửu ngũ, chỉ vì thể diện nên mới không đi bước cuối. Tào Tháo đã thâu tóm được toàn bộ quyền lực của thiên tử nhà Hán, với ông mà nói, xưng đế chỉ là vấn đề danh phận. Nếu như không phải trong bốn năm đương chính sau cùng, ông liên tục gặp trở ngại bởi thiên tai, phản loạn, chiến bại, có lẽ thiên hạ bây giờ đã mang họ Tào rồi. Ông rất thực tế, chủ trương “không được ham hư danh mà phải xử lý thực họa”, lại thêm cuối đời bản thân đeo nhiều bệnh tật nên cũng không muốn rước lấy phiền phức.
Thứ hai, dã tâm của Tào Phi không hề kém phụ thân của mình. Y mới chỉ ngoài ba mươi, đang tuổi xuân thu đỉnh thịnh, trong thâm tâm luôn thôi thúc một khát vọng tiếp nối sự nghiệp chưa thành của tiên vương, mà chuyện lớn muốn làm trước tiên tất nhiên là xưng đế. Nay, cục diện thiên hạ chia ba đã được xác lập, Lưu Bị chiếm giữ con đường hiểm trở dẫn vào đất Thục, Tôn Quyền lại có được địa thế của sông Trường Giang, không thể một sớm một chiều mà bình định được. Bộ tộc Tiên Ti, Ô Hoàn ở mạn bắc đều đã xưng là phiên thần, chỉ còn Công Tôn thị vùng Liêu Đông, nhưng đường sá xa xôi, đất đai cằn cỗi, vả lại bọn họ cũng đã thần phục, chiếm về cũng chẳng có lợi ích thực tế. Không nói tài dụng binh của Tào Phi kém xa phụ thân, dù y có là “hậu sinh khả úy” đi nữa cũng không có chiến trường nào cho y thi triển tài năng. Bởi vậy nên, ngoài đế vị ra, y còn có thể lấy cái gì để chứng minh mình tài giỏi hơn phụ thân đây?
Tất nhiên, quan trọng nhất vẫn là với thế cục hiện giờ, Tào Phi không thể không xưng đế.
Tào Tháo không xưng đế hẳn là có nhiều điểm lợi, nhưng cũng khiến cho xã tắc Tào Ngụy tiềm ẩn nhiều rủi ro. Lúc Tào Tháo còn sống những nguy cơ ấy chưa lộ rõ, đến khi ông chết đi rồi nó mới bắt đầu xuất hiện - Danh bất chính thì ngôn bất thuận, ngôn bất thuận thì sự khó thành. Sau khi Tào Tháo qua đời, Tào Phi thiếu chút nữa không khống chế được cục thế, phải nhờ vào chiếu thư của thiên tử bù nhìn mới giải quyết được triệt để những rắc rối mà cái chết của Tào Tháo gây ra. Một ông vua nắm thực quyền trong tay còn phải nhờ thiên tử không có thực quyền tới xác nhận, điều này nguy hiểm tới nhường nào?
Suy cho cùng, Tào Ngụy vẫn chỉ là một phong quốc, mà nếu quyền lực của phong quốc lớn hơn nữa sẽ không còn phù hợp với khuôn phép. Tào Tháo lấy thân phận bề tôi để nắm giữ chính sự, chỗ dựa của ông chính là sự không rõ ràng trong quyền hạn, mà quyền hạn của bản thân ông lại vượt lên trên cả sự mơ hồ, chưa nói đến thần liêu dưới trướng, có không ít kẻ kiêm nhiệm nhiều chức vị trong hai cơ quan là Ngụy đình và mạc phủ, thậm chí một số người còn có tên ở triều đình Hứa Đô, với sự sắp xếp chồng chéo ấy, ai là người quản ai đây? May là bọn Trần Kiều, Giả Quỳ, Từ Tuyên đồng lòng phò tá Tào Phi, chứ nếu giữa bọn họ có sự chia rẽ, làm sao khống chế được cục diện? Không xưng đế thì không thể quy định lễ pháp quan chế, cũng không thể xác lập mối quan hệ ràng buộc một cách rõ ràng.
Thứ nữa, Tào Phi có được danh phận thái tử quá muộn màng, lại chịu sự áp chế của phụ thân nên không nắm được nhiều thực quyền, người trong thiên hạ cũng còn khá lạ lẫm về y, chính vì vậy Tào Chương mới có ý tranh ngôi. Huynh đệ trong nhà còn chưa xử lý được, thử hỏi làm sao giải quyết nổi chuyện trong triều, làm sao sắp xếp nổi quân ngũ? Bởi vậy, Tào Phi buộc phải ngồi lên ngai vàng, một khi y làm hoàng đế, chúng nhân mới có thể vin rồng núp phượng, văn võ bá quan trong triều mới có thể thuận nước đẩy thuyền, mưa móc thấm đều. Đây là một cách dễ nhất để lôi kéo nhân tâm. Chỉ khi để chúng nhân cảm nhận được ân đức, cảm nhận được lợi lộc, họ mới bắt đầu quy thuận y, và quyền lực của y cũng mới ổn định.
Người bình thường luôn nghĩ rằng làm vua là chuyện vô cùng tốt đẹp, nên có dã tâm là điều đương nhiên, mà không hề biết người làm vua cũng có nhiều chỗ bất lực. May thay, bản thân Tào Phi là người tham quyền, y vui vì nó, chứ không lấy làm mệt…
— Nhị ca, sắc trời thay đổi, e sắp có mưa. - Tiếng gọi của Tư Mã Phu cắt ngang dòng suy nghĩ của ông ta.
Tư Mã Ý ngẩng đầu lên nhìn, quả nhiên mây đen đang kéo đến, che kín bầu trời, từng trận gió lạnh bắt đầu táp vào mặt. Ông ta lập tức ngoái lại nói với đoàn người theo sau:
— Mọi người nhanh chân lên! Đi thêm vài dặm nữa là tới dịch trạm, chúng ta tạm trú mưa ở đó.
Cả đoàn người quất ngựa chạy, tới được dịch quán thì trời cũng nổi sấm vang rền, cơn mưa nặng hạt bắt đầu đổ xuống. Huynh đệ Tư Mã thị thở phào vì may, sai dịch thừa[2] lấy cỏ cho ngựa ăn, chuẩn bị lương khô, rồi mỗi người kéo một chiếc ghế nhỏ ra ngồi ở cửa trạm ngắm mưa. Lúc này không có người ngoài bên cạnh, Tư Mã Phu cũng được thả lỏng tâm tình, ông ta đưa tay đón lấy những giọt mưa, cười nói:
— Mưa xuân hiếm lắm, năm nay có lẽ mùa màng sẽ bội thu!
Nhưng Tư Mã Ý lại có chút phiền muộn:
— Trận mưa này đến thật chẳng đúng lúc, ta định trước khi trời tối phải đến được Mạnh Luật, xem tình hình này có lẽ sẽ làm lỡ hành trình.
— Huynh việc gì phải vội thế? Về Nghiệp Thành cũng đâu phải chuyện gấp gáp.
— Việc này chưa nói chắc được. Đại vương đang định cử hành tang lễ của tiên vương, có thể sẽ bảo chuẩn bị nhiều châu báu, khôi giáp, chúng ta nên về trước hai ngày làm cho tốt, tránh tới lúc cần lại vội vã.
Tư Mã Phu liền cười:
— Nhị ca hồ đồ rồi ư? Tiên vương chẳng đã căn dặn phải bạc táng đấy sao?
Tư Mã Ý cũng mỉm cười, nhưng là cười nhạt:
— Ta thấy đệ mới là người hồ đồ. Đệ tưởng người đệ phò tá bây giờ vẫn là tiên vương à?
Tư Mã Phu chợt hiểu ra:
— Chẳng lẽ đại vương không định bạc táng theo lệnh của tiên vương? Chuyện này đã được viết trong di lệnh…
— Người chết không thể làm chủ người sống được! - Tư Mã Ý đành phải nói rõ với đệ đệ mình, - Xưa, Quang Vũ Đế khởi xướng bạc táng, nhưng Hiếu Minh Đế có tuân theo không?
— Hình như là không, lăng thế tổ hoàng đế vẫn đào trộm.
— Vì sao lại không tuân theo?
— Vì Hiếu Minh Đế rất hiếu thuận, nhớ ơn phụ thân…
— Ha ha ha! - Tư Mã Ý cười đệ đệ ngây thơ, - Không đúng! Bởi vì Hiếu Minh Đế vốn không phải là thái tử, mãi sau này mới được đổi phong. Khi ông lên ngôi các huynh đệ khác không phục, Quảng Lăng Vương âm mưu tạo phản ngay trong thời gian cư tang. Cho nên, ông bắt buộc phải làm một tang lễ, hạ táng long trọng cho tiên vương để người trong thiên hạ biết được ông là người hiếu thuận nhường nào, biết được tiên vương tôn quý, anh minh bao nhiêu, đem ngai vàng truyền lại cho ông mới đúng đắn ra sao! - Tư Mã Ý lấy tích cổ châm biếm hiện tại, ám chỉ chuyện nhà họ Tào, vả lại Tào Phi còn muốn làm hoàng đế, trong lúc quan trọng này, y càng phải tổ chức một tang lễ long trọng với thật nhiều vật tùy táng. Chỉ khi Tào Phi đưa phụ thân của mình lên cao, y mới có thể theo đó mà leo lên cao được, và cũng mới có thể thuận lợi mưu tính đế vị - Hơn nữa, việc lo liệu tang sự của người chết như thế nào hoàn toàn thể hiện ý nguyện của người sống, kỳ thực không liên quan nhiều tới người chết.
Tư Mã Phu không nói gì nữa, lặng nhìn cơn mưa bên ngoài, rõ ràng ông ta không tán đồng việc Tào Phi làm trái di ngôn của tiên vương. Tư Mã Ý cũng lẳng lặng nhìn cơn mưa, nhưng trong lòng lại nghĩ khác:
Tào Mạnh Đức, ngài không ngờ tới đúng không? Ngài anh minh một đời, tính toán hậu sự của mình chu đáo như thế mà đến cuối cùng cũng đành phải chịu bất lực. Dù ngài hung hãn ngang tàng, giết người như ngóe hay liều lĩnh ngồng cuồng, kết cục cũng chỉ là công cụ giúp hậu duệ duy trì đại thống. Tùy táng vàng ngọc cố nhiên rất vẻ vang, nhưng cũng vô cùng nguy hiểm, bởi thế nào cũng sẽ có kẻ để mắt đến nó, nên không tránh khỏi việc thi thể bị động chạm - Đây cũng là cái giá ngài phải trả để đổi lấy một đời độc đoán xưng bá!
Bất kể người khác nghĩ thế nào, trong mắt ta, Tào Mạnh Đức không phải minh quân.
Tuân Tử có câu: “Ông phải minh trẫn, bất cản hữu dĩ tư quyết trạch dã, bất cản hữu dĩ tư thủ dữ dã, dĩ thuận thượng vi chí, thi sự thánh quân chi nghĩa. Điều nhi bất lưu, nhu nhi bất khuất, khoan dung nhi bất loạn, hiểu nhiên dĩ chí đạo nhi vô bất điều hòa dã, nhi năng hóa dị, thời quan nội chi, thi sự bạo quân chi nghĩa đạt.”[3] Lấy đạo làm tôi này để xét lại quân vương của mình, thì Tào Mạnh Đức rốt cuộc là minh quân hay bạo quân? Công bằng mà nói, sợ rằng thiên về đáp án bạo quân chăng?
Không thể không thừa nhận họ Tào ngài có tài võ lược xuất chúng, cũng không thể không thừa nhận tấm lòng nhiệt thành cứu thế của ngài. Thậm chí, ngay bản thân ta cũng nhận thấy mưu đồ soán ngôi của ngài là hoàn toàn dễ hiểu, con người ai chẳng có dã tâm!
Nhưng làm người phải biết thức thời…
Từ thời Tần, Hán đến nay, việc hào môn thế gia lớn dần là sự thực không thể chối cãi, không thể tránh khỏi hay kháng lại. Khi ngoại thích lộng hành, hoạn quan chuyên quyền, không phải do tầng lớp hiền sĩ duy trì chính nghĩa, chống đỡ cục diện hay sao? Ngày trước, hôn quân Hiếu Linh Đế mở trường Hồng Đô môn trọng dụng bọn tiểu nhân hàn sĩ, họ Tào ngài chẳng phải cũng từng lên án gay gắt sao? Nhưng, đến khi ngài nắm đại quyền trong tay, tất thảy đều thay đổi, cái gọi là “chỉ cử người tài” so với bản chất của trường Hồng Đô môn có gì khác nhau? Chẳng qua, đám người mà ngài thu nhận là những người giúp ngài mưu việc thiên hạ, còn đám người Hiếu Linh Đế chọn dùng là những kẻ dỗ vui cho ông ta…
Viên Thiệu là anh hùng cũng được, hay xuẩn tài cũng được, ít nhất con đường vi chính của ông ta không đi lệch xu hướng của thời đại là thế gia đại tộc lên nắm quyền. Còn họ Tào ngài cả đời kêu gọi “chỉ cử người tài”, quanh co một vòng, đến cuối cùng chẳng phải vẫn trở về con đường này đấy ư? Ngài giành thắng lợi trên chiến trường, thắng về mưu lược trong trận Quan Độ, song lại không thắng được được triều đường.
Xã tắc lý tưởng của ngài rất tốt đẹp, nhưng xã tắc lý tưởng của Vương Bôn còn đẹp đẽ hơn! Kết cục thì sao?
Con người ta phải học cách từ bỏ lý tưởng để chấp nhận hiện thực, đợi khi ngài nắm giữ được hiện thực rồi mới đi xây dựng ước mơ. Họ Tào ngài không hiểu điều này, tới khi phát hiện ra con đường vi chính của mình không hợp thời, ngài còn chần chừ, miễn cưỡng từ bỏ. Triều đường là một nơi vô cùng thực tế, ngài không thể nhẫn tâm được thì cũng đừng ở đấy mà kêu gọi lòng nhân ái, trong chốn triều đường điều đó được coi là thiếu đạo hạnh! Sở dĩ ngài không thể làm hoàng đế chính là vì đạo hạnh chưa đủ.
Trong trường hợp gặp phải sự chống đối, ngài rất hung hãn, bạo tàn, giết Khổng Dung, giết Thôi Diễm, giết Dương Tu, đã có bao nhiêu danh sĩ chết dưới tay ngài? Mấy năm cuối đời, chẳng phải ngài cũng trở thành một bạo quân đấy ư? Lý tưởng tan vỡ liền thể hiện sự phẫn nộ, dùng quyền uy để tự củng cố địa vị, trâu không muốn uống nước thì cố mà đè sừng, vậy có khác gì Đổng Trác đâu? Giết người không phải là có bản lĩnh, chỉ cần có quyền lực, có gươm đao là có thể giết người, nhưng nếu ngài khiến người ta nghe lời của ngài, thật tâm đi theo ngài, đó mới gọi là bản lĩnh thực sự.
Bàn về điều binh khiển tướng, ta phục ngài mười phần; bàn về tâm cơ sách lược, ta phục ngài bảy phần; nhưng nếu bàn về đạo vi chính ta chỉ phục ngài ba phần…
Ngài tất nhiên có thể áp chế thế gia đại tộc một thời gian, nhưng sau khi ngài chết thì sao! Ngay tại thời điểm này, Trần Quần đã soạn ra một chế độ tuyển chọn quan lại mới theo lý tưởng của ông ta, gọi là “cửu phẩm trung chính”, Tào Phi đã phê chuẩn, từ nay về sau những người tài do các châu quận tiến cử lên đều phải lấy tài đức, học thức, môn đệ để thẩm xét đánh giá, và được phần làm cửu phẩm: Thượng thượng, thượng trung, thượng hạ, trung thượng, trung trung, trung hạ, hạ thượng, hạ trung, hạ hạ, tiếp nhận chức quan theo từng cấp bậc. Có thể nói, cách làm này đã đẩy lùi nguyên tắc tuyển chọn quan lại trước đây, hay nói cách khác, nó đã xóa sạch tàn tích cuối cùng của chế độ “chỉ cử người tài”.
Tào Mạnh Đức, chớ xem thường trưởng tử của ngài. Y thức thời hơn ngài nhiều, y biết che giấu dã tâm, dùng nụ cười để diễn với đời. Giờ không phải là thời đại Lưu Bang dẫn huynh đệ đi đánh thiên hạ, cũng không phải thời đại Lưu Tú có thể một tay điều khiển Lục Lâm quân, một tay nắm chặt thế gia cường hào mà chơi thuật điều hòa âm dương, thời đại này chỉ có cách buộc chặt triều quyền vào xe ngựa của mình thôi. Không phải do ta là tử đệ danh môn mà có thể huyên thuyên được mãi, cục thế ngày nay cần bọn ta đứng vào trong triều, bọn ta tất phải đứng vào, nếu ngài kiên quyết không cho phép, dù có phải đánh đổ ngài bọn ta cũng phải làm. Còn một ngày nào đó khi cục thế không cần bọn ta nữa, bọn ta chỉ còn cách thoái lui, bởi nếu tham luyến không chịu lui về, thì cũng sẽ có kẻ đánh đổ bọn ta - Lịch sử tàn khốc như vậy đấy!
Những chuyện ngài không thể làm được, trưởng tử của ngài làm được, cho nên những người ngài xem là kẻ thù tiềm ẩn lại trở thành bằng hữu của y, y sát cánh bên họ để đoạt lấy vương vị của ngài…
Đang nghĩ tới đây, bỗng có người chạy lại bẩm báo ngựa đã được ăn no, lương khô cũng đã chuẩn bị đầy đủ. Tư Mã Ý gật đầu, bên ngoài mưa cũng ngớt nhiều - Mưa xuân thường nhanh đến nhanh đi, cơn mưa này cũng đủ làm mọi thứ ẩm ướt rồi. Tư Mã Ý ngay lập tức đứng dậy:
— Chúng ta mau khởi hành thôi.
Nhưng Tư Mã Phu nói:
— Gấp gì chứ? Chờ mưa tạnh hẳn rồi hãy đi.
— Còn trì hoãn nữa thì không kịp tới Mạnh Luật đâu. - Tư Mã Ý nói xong bèn hô tùy tòng dắt ngựa.
Tư Mã Phu lại bảo:
— Huynh vội đi như thế, còn bao nhiêu người theo sau thì thế nào? Huynh cũng phải biết nghĩ cho người ta chứ, để mọi người nghỉ ngơi thêm chút nữa.
Tư Mã Ý liền trừng mắt:
— Bảo đệ đi thì đệ cứ đi, dài dòng thế làm gì? - Rồi nhảy lên yên ngựa trước, kéo dây cương phi ngựa vào trong làn mưa. Sở dĩ ông ta vội vã như vậy là vì sợ Tào Phi tiếp sau đó còn có việc phân phó; mà bất kể Tào Phi giao cho việc gì, ông ta cũng phải cố hết sức làm càng nhanh càng tốt, tuyệt đối không thể vì bản thân có giao tình cũ với đại vương mà trong lòng tồn tại nửa phần đắc ý. Bởi ông ta thực sự quá hiểu Tào Phi:
Tuy ta giúp Tào Phi ngồi lên ngai vàng, không uổng phí mấy năm vất vả, nhưng vui mừng cũng chỉ dừng lại ở những ngày này thôi. Chí hướng không được tự mãn, vui mừng không được thái quá, những ngày tháng sau này càng cần phải thận trọng hơn. Có thể trên nhiều phương diện khác Tào Phi không bằng phụ thân của mình, nhưng có một điểm hơn, đó là: y biết đùa giỡn với quyền lực, và ra dáng một thiên tử đúng nghĩa.
Một kẻ lòng đầy dã tâm phải đứng dưới cái bóng của phụ thân, nhẫn nhịn che giấu nửa đời người, nhẫn nhịn tới nỗi trong tim đã hình thành những khe ngang rãnh dọc, trăm đau ngàn nhức, loại người này một khi nắm được đại quyền sẽ trút hết cơn giận ra ngoài, cảnh sát phạt chắc chắn phải như cuồng phong sấm sét, quyền uy tôn nghiêm ấy không thể dung thứ nửa phần khinh nhờn!
Kỳ thực, sự báo thù của y đã bắt đầu, Đinh Dực bị khống chế, bản thân Đinh Nghi ở Nghiệp Thành sớm đã bị giam vào ngục, chưa nói đến tính mạng của hai huynh đệ họ, chỉ e cả nhà Đinh thị sẽ chẳng còn ai sống sót. Khổng Quế chưa bị trị tội, song đã bị chuyển nhậm làm Thích gian lệnh sử, là chức quan chuyên đắc tội với kẻ khác, chỉ cần để lộ một chút sơ hở, cái mạng nhỏ cũng khó giữ. Dương Tuấn cũng không tốt đẹp gì, chẳng qua vì ông ta có uy vọng cao nên tạm thời thả cho làm Thái thú một quận, chờ qua một thời gian nữa người đời quên đi những ân oán cũ kia, ai biết được ông ta sẽ rơi vào tình cảnh nào? Biệt quân của Tang Bá tự ý đánh trống bỏ đi, món nợ này cũng phải tính, cho dù y không truy cứu trách nhiệm, thì sớm muộn cũng nghĩ cách đoạt lại binh quyền của ông ta, vùng duyên hải Thanh, Từ tự trị đã nhiều năm, cũng nên sớm thu về dưới sự cai quản trực tiếp của triều đình…
Y đối xử với huynh đệ ruột thịt cũng rất vô tình, mấy ngày trước còn đề cập với ta, chờ sau khi hoàn tất tang sự phải sắp xếp cho các huynh đệ đến đất phong, không có chiếu lệnh thì không được phép hồi kinh, mà ở đất phong cũng không được phép nắm quân ngũ, phong quan viên, còn hà khắc hơn chế độ chư hầu từ thời Quang Vũ Đế phục hưng nhà Hán. Đó chẳng phải là sợ có kẻ nhòm ngó tới quyền lực của y ư? Lâm Tri hầu Tào Thực, Yên Lăng hầu Tào Chương chính là những đối tượng cần đặc biệt đề phòng, chắc chắn không tránh khỏi sự báo thù của y!
Cho dù là cựu thần phò tá từ thuở đầu thì đã sao? Bào Huân không thể nói là có ít công lao, nhưng vì quyết tâm xử tử đệ đệ của Quách quý nhân mà không hề nể mặt, lại còn phải chờ thời cơ mới tính sổ ư? Tất cả đồng liêu ở Đông cung trước đây đều được thăng quan tiến chức, duy chỉ có một mình ông ta không những không được thăng quan mà thiếu chút nữa còn bị bãi miễn. Chỉ cần xúc phạm đến Tào Phi dù là tý ty cũng có ngày gặp thảm họa - Nửa đời người y tôi rèn sự giả tạo, dối trá, quá hiểu phải ẩn nhẫn, phải chờ đợi và quá hiểu mình nên làm thế nào để từng bước ép người ta đi vào tử lộ.
Làm bề tôi của ông vua như thế, càng là công thần thì càng phải cẩn thận, làm gì có cái gọi là cậy công mà tự kiêu? Thời Tào Tháo cần phải thận trọng, khi Tào Phi tại vị thì càng phải khiêm tốn làm người… Hành trình gian nan mới lại sắp bắt đầu rồi.
Ôi! Tào Tháo và Tào Phi đều là những kẻ tàn bạo, kỳ thực trong mắt ta có chút coi thường cặp phụ tử này. Họ Tư Mã là danh môn ở Hà Nội, năm xưa lão tổ tông Tư Mã Ngang là Ân Vương được Hạng Vũ phân phong, tằng tổ Tư Mã Quân là Chinh Tây Đại tướng quân dưới thời Hiếu An Đế, tổ phụ từng nhận chức Thái thú Dĩnh Xuyên, phụ thân là Kinh Triệu doãn, còn huynh đệ chúng ta hiện giờ lại phải phò tá cho nòi giống xấu xa của hoạn quan để lại, quả là có phần không đáng.
Nhưng con người đều phải sống chứ? Ai cũng có hoài bão, có lý tưởng chứ? Ngoài việc phải chấp nhận hiện thực ra, còn có thể làm được gì nữa? Đã vào chốn quan trường, chớ nghĩ đến việc thảnh thơi thoải mái, bởi nó vốn đã như vậy rồi. Tư Mã Ý ta xem thường nhất những kẻ gặp ai cũng nói bản thân mình khổ sở, muốn từ quan ở ẩn, nhưng nếu cho họ từ quan thì họ lại nói toàn những lời bất đắc dĩ nào là thê nhi phụ mẫu của mình biết trông cậy vào ai. Hừ! Chẳng qua là đem bản lòng tự tôn để đổi lấy những giọt nước mắt thương hại.
Còn có một loại người tuy rằng rất nhẫn tâm, nhưng lúc nào cũng nhăm nhe đến lợi ích cá nhân, cùng lắm cũng chỉ là hàng hạ dâng. Họ chỉ đáng giá từng ấy, chẳng có tiền đồ gì to tát.
Nếu đã làm thì chớ phí lời vô ích, mà một khi đã làm thì phải làm cho ra dáng. Cứ coi như bản thân từng coi thường Tào thị, nhưng bây giờ ta cũng phải dốc sức cho Tào thị. Ta phải khiến cho Tào Phi vui vẻ mới có cơ hội tiến thân, phải khiến cho Tào Phi hài lòng mới có cơ hội thực hiện được ý nguyện. Đến nay, tốt xấu gì ta cũng được tính là cựu thần, sau này hy vọng được coi là công thần khai quốc, chí ít cũng được hưởng vinh hoa phú quý, từng bước từng bước thực hiện vậy thôi.
Giống như những lời ta nói với Trần Quần đêm túc trực bên linh cữu: Hôm nay thế này, ngày mai chưa biết ra sao! Ai cũng có thể nói chuyện đạo lý, nhưng con người ta sống trên đời mãi mãi chỉ là đi bước nào tính bước ấy. Thế sự không đẹp đẽ như mơ, nhưng cũng chẳng đến nỗi tồi tệ như trong tưởng tượng! Đừng ôm hy vọng, nhưng cũng đừng bao giờ thất vọng, phải nhìn chính xác con đường dưới chân mình, chôn chặt mộng tưởng trong đáy lòng, đừng để cho người khác nhìn thấy, và cứ kiên định bước về phía trước là được rồi.
Thời vận ơi thời vận, hẳn là sẽ có lúc biến hóa. Vận mệnh luôn không lường trước được, có thể tương lai một ngày nào đó Tư Mã thị ta còn gặp vận may nữa, việc này không ai đoán được…
Tôn Quyền
Bóng chiều đỏ thắm, gió hiu hiu thổi, quận phủ thành Vĩnh An thật tưng bừng. Khúc ca ngân nga, điệu múa lả lơi, yến tiệc linh đình, rượu thơm nồng đượm, văn sĩ nâng chén chúc tụng vái chào nhiều như mây, võ tướng cất giọng hát vang mồ hôi túa như mưa. Tất cả đều đang cười hát, rộn ràng, chỉ có điều thời gian trôi đi, cảnh còn người mất, nhân vật xuất hiện trong cuộc vui này không phải là phe đảng của Lưu Bị, mà là chủ nhân mới - Tôn thị ở Giang Đông.
Đối với Tôn Quyền mà nói, những ngày này có chúc mừng thế nào cũng không hết, bởi một là ông ta đã đoạt được Kinh Châu, chiếm cứ Giang Biểu, hai là được tấn phong làm Phiêu Kỵ Tướng quân, lĩnh chức Kinh Châu mục, ba là kẻ thù lớn trong đời là Tào Mạnh Đức cũng đã chết. Gió đông vừa ngừng gió tây lại thổi, người mới thay người cũ, lão anh hùng ngã xuống, mà Tôn Quyền mới ba mươi chín tuổi, xuân thu đỉnh thịnh, giang sơn như họa tiền đồ như gấm, tráng chí hào hùng đã ngầm trù hoạch.
Tất nhiên, trước mắt còn có một rắc rối nhỏ, Tào Tháo đã chết, song Tôn Quyền vẫn phải diễn tiếp vở kịch “xưng thần” với Tào Ngụy. Có điều, đối với Tôn Quyền mà nói, Tào Phi không xứng là kình địch:
Nghe nói Tào Phi tài hoa hơn người, nhưng ta cho rằng điều đó không quan trọng. Bởi, điềm quan trọng nhất của kẻ làm vua thì y lại không có - Y chưa từng trải qua cảm giác khi đứng trước sự tồn vong, sinh tử.
Năm xưa, khi huynh trường của ta bị hành thích mà chết, ta mới đến tuổi nhược quán đã phải gánh vác gia nghiệp. Hồi đó, Tào Tháo xưng hùng phía bắc, Lưu Bị dòm ngó phía đông, hào tộc Giang Đông nhân tâm chưa hướng về, thổ phỉ đạo tặc khắp nơi tạo phản, sao ta có thể đỡ nổi gánh nặng ngàn cân ấy? Ta khóc lóc không thôi trước linh đường của huynh trưởng, không còn biết trời đất đâu nữa… Nhưng nước mắt có giải quyết được vấn đề hay không? Ông trời là kẻ điếc, còn con người trên thế gian này đều là những kẻ ích kỷ, muốn tồn tại chỉ có thể dựa vào bản thân mình!
Tào Phi, ngươi có biết hai mươi năm qua ta chịu bao nhiêu giày vò, khổ sở không? Ngươi có biết trong trận Xích Bích, ta đã gặp bao nhiêu nguy hiểm không? Không thành công thì thành nhân, ngươi có mấy lần phải đứng trước ranh giới giữa sự sống và cái chết? Ngươi sinh ra trong gia đình công hầu, lớn lên trong vòng tay mẫu thân, đường đời thênh thang sớm đã được phụ thân ngươi trải sẵn, ngươi chỉ biết vâng lệnh phụ thân tìm ngựa qua tranh, nói dễ nghe, ngươi là một đứa con ngoan ngoãn hiếu thuận, còn nói khó nghe, ngươi là công tử bột bàn việc binh trên giấy, ngồi hưởng thành quả mà thôi. Ta tuy xưng thần nạp cống cho ngươi, nhưng thực chẳng coi ngươi là gì. Chưa trải qua gian khổ sao biết trân trọng, chưa gặp phải nguy nan sao biết sống chết là thế nào, ta hiểu thói đời này hơn ngươi. Luận về chí rong ruổi thiên hạ, ta với Tào Mạnh Đức phụ thân ngươi cùng một bậc, ngươi kém ta năm tuổi, nhưng cùng lắm chỉ xứng làm hậu bối của ta thôi.
Còn như giặc tai to… Ông già nua khốn khó rồi, hay là vẫn giữ chí của ngày trước? Năm đó, ông trở mặt cưỡng chiếm Kinh Châu, ta chỉ có thể tức giận, nhưng nếu đổi lại là ta, đặt mình vào vị trí ấy, ta cũng làm như vậy, người không vì mình trời tru đất diệt, nếu không há bị coi là đê tiện. Một khi ông đã cưỡng chiếm Kinh Châu bất tuân đạo lý, thì cũng chẳng thể trách ta phá vỡ giao ước mà đoạt đất của mình. Đương nhiên đây là món nợ phải trả, nhưng thất bại vẫn cứ là thất bại, thói đời này chỉ chấp nhận kẻ mạnh!
Không có bằng hữu nào là mãi mãi, cũng chẳng có kẻ địch nào là ngàn năm, Kinh Châu đổi chủ không có nghĩa ta và ông không đội trời chung. Dù sao Tào Ngụy mới chính là kẻ thù lớn nhất hiện nay, hai ta liên thủ chống lại phương bắc là tốt nhất. Nhưng bảo ta trả đất Kinh Châu lại cho ông, đừng có mơ! Chúng ta tiếp tục làm bằng hữu, bình định phương bắc trước rồi mới tranh giành thiên hạ; hay là bắt đầu thành kẻ thù từ đây, ta tiếp tục làm bề tôi của Tào Ngụy để khống chế ông, thì: ông hãy tự nghĩ xem nên làm thế nào. Ta cho rằng ông chưa đến nỗi lú lẫn, bên nào nặng bên nào nhẹ tự ông phải biết. Tào Phi rõ rành muốn làm hoàng đế, còn ông nửa đời người lấy danh nghĩa tông thất nhà Hán, hẳn là cũng muốn nối phúc nhà Hán để hưởng lộc trời chứ?
Chớ vội, Tôn mỗ sao có thể thua hai nhà các người? Xưa, Hạng Vũ xưng bá chín châu, Câu Tiễn vây đánh Trung Nguyên, lẽ nào Giang Đông không phải đất rồng nổi lên? Bốn phương tám hướng rộng lớn vô cùng, dù có ba thiên tử cùng trấn giữ thiên hạ cũng đâu phải chuyện không thể. Nhưng hãy chờ xem, ai mới là kẻ cười đến lúc cuối cùng…
Tiếng ồn ào chói tai cắt ngang dòng suy nghĩ của Tôn Quyền. Ông ta nhướng mắt lên nhìn, chỉ thấy một đám võ tướng như Chu Nhiên, Phan Chương đều đã say lờ đờ mà vẫn thả sức uống tiếp, ngửa mặt lên trời cười lớn. Tôn Quyền không quan tâm đến sự thất lễ của bọn họ, ngược lại còn cảm thấy như vậy càng tốt, bởi suy cho cùng họ đang chúc mừng cho đại nghiệp của Tôn thị, họ càng vui vẻ càng chứng tỏ sự trung thành. Tào Tháo dùng người trọng ở quyền mưu, còn Tôn Quyền sai khiến thần hạ không chỉ dựa vào quyền mưu, mà còn dựa vào sự tương đắc. Nghĩ đến đây, ông ta nâng cao chén rượu:
— Ta đã nói trước rồi, hôm nay không say không về. Ta thấy các ông vẫn chưa say, nào nâng chén! Chúng ta cùng uống liền ba chén!
Chúng tướng đồng thanh đáp một tiếng “dạ”, nâng chén cùng uống. Có người sớm đã uống nhiều, nhưng họ cho rằng uống rượu như ra chiến trường, chỉ cần chúa công có lệnh, dù có chết vì say cũng phải uống! Thế là ngửa hàm, dốc cạn chén rượu. Tôn Quyền trông cảnh này ngửa mặt cười ha hả, nhìn khắp các tướng đang vui mừng uống rượu. Tuy nhiên, niềm vui cũng phảng phất một chút ưu thương, bởi tiệc rượu hôm nay thiếu mất vài người.
Công thần bậc nhất trong việc đánh chiếm Giang Lăng là Lã Mông đã qua đời. Từ khi bình định được Kinh Châu ông ta ngã bệnh nặng, cho dù Tôn Quyền gia phong ông ta làm Thái thú Nam Quận, Sàn Lăng hầu, thưởng mười vạn tiền cùng với năm trăm cân vàng cũng không thể khiến ông ta ngồi dậy được, hai tháng ngắn ngủi sau đó ông ta ngậm ngùi ra đi khi tuổi đời mới chỉ bốn mươi. Tiếp đến, viên đại tướng quan trọng nhất trong tông thất Tôn thị là Tôn Hiệu cũng lâm bệnh mà chết.
Tôn Quyền đau đớn, buồn bã mất một thời gian, lại nhớ đến Chu Du, Lỗ Túc năm xưa, ông trời dường như đã giáng lời nguyền, những hiền tướng đắc lực của Giang Đông có công trừ giặc đều mất sớm ở tuổi tráng niên, sao mà không thở dài thương tiếc cho được? Dù vậy, Tôn Quyền cũng không quá lo lắng, bởi lúc lâm chung Lã Mông đã tiến cử Chu Nhiên; trong cuộc điều binh tây tiến lần này, Lục Tốn cũng thể hiện tài trí siêu phàm. Đời đời không thiếu anh tài, chỉ cần dùng được những anh tài này, Giang Đông không phải lo có ngày suy vong. Công bằng mà nói, bản lĩnh của Tôn Quyền trên chiến trường vẫn còn kém phụ thân và huynh trưởng của mình, nhưng xét về mắt nhìn người, gan dùng người thì đúng là hơn, có lẽ đó chính là gốc rễ để ông ta chấn hưng đại nghiệp.
Ba bát rượu xuống bụng, các tướng càng cười nói om sòm, át cả tiếng đàn tiếng sáo, trong khi đó các quan văn ngồi ở mé đối diện lại vô cùng trầm mặc. Tư mã mạc phủ là Cố Ung vốn tính không thích uống rượu, còn bọn Lưu Cơ, Gia Cát Cẩn tửu lượng không cao, chỉ uống hai chén nhỏ góp vui. Tôn Quyền bỗng phát hiện ra bàn đầu bị trống, lão thần Trương Chiêu được thần dân trong ngoài triều tôn là “trọng phụ” không thấy đâu nữa, liền vội vàng hỏi:
— Trương công đi đâu rồi?
Mọi người chẳng ai để ý, cuối cùng chỉ có một tên vệ binh giữ cửa bẩm báo:
— Trương công vừa nãy không nói không rằng ra khỏi phủ, hiện đang ngồi trong xe bên ngoài ạ.
— Lại giận gì rồi? - Tôn Quyền không khỏi cau mày, - Ngày vui thế này, một mình chui trong xe làm gì? Mau mời lão ngài ra đây. - Binh sĩ đi mời, không ít thần liêu cũng đứng dậy ra ngoài nghênh đón. Không lâu sau, Lưu Cơ, Tiết Tông một người bên phải một người bên trái dìu Trương Chiêu tóc bạc trắng bước vào. Trương Chiêu vẻ mặt trầm lặng, ánh mắt giận dữ, không nói lời nào.
Tôn Quyền ngượng ngập hỏi:
— Ta cùng mọi người đang vui vẻ, sao ngài lại không vui?
— Hừ! - Trương Chiêu đã nhiều tuổi nhưng còn rất rắn rỏi, gạt tay hai vị đồng liêu dìu mình ra, nghiêm túc nói:
— Xưa, vua Trụ nhà Thương đổ rượu làm ao, treo thịt làm rừng, phóng túng vô độ, ăn uống thâu đêm, bấy giờ cũng cho rằng là vui, chứ không có gì là xấu cả!
Lời hù dọa của ông ta tựa như tiếng chuông vấn quanh xà nhà, vang vọng hồi lâu. Bỗng chốc, tiếng nhạc ngừng tấu, điệu múa ngừng nhảy, ngay các võ nhân cũng ngừng ồn ào, tất cả đều dồn mắt vào chúa công của mình. Ai cũng biết bây giờ Tôn Quyền đã trở thành chủ nhân trẻ tuổi, một mình nắm giữ đại quyền, không được phép xúc phạm, ai dám dội một gáo nước lạnh lên đầu ông ta như vậy? Tôn Quyền ngây người nhìn Trương Chiêu một lát, sau cùng chỉ cười nhăn nhó:
— Dù đang yên ổn cũng phải nghĩ đến lúc nguy nan, ta không dám quên điều này, nhưng hiếm khi có được buổi mừng như hôm nay, ngài hà tất phải làm mất hứng? Nếu đã như vậy, mọi người giải tán đi…
— Dạ. - Các quan văn võ lần lượt cáo lui. Tôn Quyền ngoảnh mặt lại nhìn Trương Chiêu, mỉm cười vui vẻ, chậm rãi rời khỏi đại đường, đứng dưới hiên ngắm trời đêm.
Trương Tử Bố từng chủ trương hàng Tào, nhưng cũng là lão thần khai cơ mở nghiệp, được nhân sĩ Giang Đông ngưỡng vọng, huống chi những lời ăn tiếng nói của ông ta từ trước đến nay đều xuất phát từ nghĩa công, không hề có nửa ý tư lợi. Quốc gia có bề tôi can gián, đó là phúc của xã tắc, đối với đám người này ta há phải quá hà khắc? Tào Tháo vì không hợp quan điểm vi chính mà bức chết công thần Tuân Úc, tức giận bởi vì can gián mà giết hại danh sĩ Khổng Dung, quá bạc tình phụ nghĩa, hung hãn tàn bạo, ta không muốn học theo ông ta.
Suy cho cùng, cả đời Tào Mạnh Đức chỉ có một khuyết điểm duy nhất là bạo ngược hiếu sát, còn luận về tài điều binh khiển tướng đủ để sánh vai với các danh tướng thời xưa, đem so với Ngô Khởi, Hàn Tín cũng không quá. Tiên phụ cùng tuổi với Tào Tháo, cũng từng được xem là bậc anh dũng, nhưng so với Tào Tháo vẫn còn kém.
Thế đạo khó lường, may là năm đó phụ thân nương theo Viên Thuật, nên mới có Giang Đông ngày nay, chứ nếu ngay từ đầu người đã ở dưới trướng của Tào Tháo, thì e huynh đệ ta bây giờ đều đã trở thành đầy tớ nhà họ Tào.
Nói một cách công bằng, đứng đầu anh hùng lúc bấy giờ ngoài Tào Tháo ra không còn ai. Lão tặc này tận dụng cơ trời, lấy ít địch nhiều, trị lý động loạn, nếu nói không bái phục thì không đúng. Nhưng một nhân vật tài giỏi như vậy, đến khi về già cũng không tránh khỏi sai lầm - Tự cao ngạo mạn đến nỗi đại hại trong trận Xích Bích, dùng hình pháp hà khắc dẫn đến các nơi liên tục tạo phản, đa nghi thành bệnh khiến không ít công thần chết thảm, còn chuyện lập thái tử thì lại ồn ào tới mức không người nào không biết. Có tài cái thế mà không biết cẩn thận khắc chế bản thân, cuối cùng vẫn không thể sửa chính thiên hạ.
Hãy răn mình! Răn mình! Sau này chớ giẫm vào vết xe đổ của ông ta…
Tôn Quyền quả là có con mắt tinh tường, nhìn thấu sai lầm của Tào Tháo trong những năm cuối đời là tự cao ngạo mạn, hình pháp hà khắc, đa nghi thành bệnh, do dự lập thái tử. Lúc này Tôn Quyền đang hả hê đắc ý và quyết tâm mở ra nghiệp đế, nên luôn nhủ đi nhủ lại sau này mình không được phạm vào những sai lầm đó.
Thế nhưng Tôn Quyền đâu ngờ được rằng, về sau ông ta cũng tham công lớn dẫn đến việc tướng sĩ chết oan ở Liêu Đông, cũng trọng dụng Hiệu sự khiến cho người trên kẻ dưới trong triều đều cảm thấy bất an, và cũng đa nghi vô cớ khiến cho trọng thần của đất nước phẫn uất mà chết. Còn trong chuyện lập thái tử, Tôn Quyền đã sai lại càng sai, nhẫn tâm giết hại cả con ruột của mình - Tất cả sai lầm mà Tào Tháo mắc phải trong những năm cuối đời đều lặp lại ở ông ta.
Con người ta có thể thấy rõ người khác, nhưng lại không nhìn thấu được bản thân mình…
Lưu Bị
Xa cách ngàn trùng, tin tức khó thông, khi cái chết của Tào Tháo truyền đến được Thành Đô thì cũng đã là cuối tháng Hai. Ngoài dự liệu của tất cả mọi người, Hán Trung Vương Lưu Bị tỏ ra vô cùng đau lòng trước cái chết của Tào Tháo, thậm chí còn phái mạc liêu Hàn Nhiễm đến điếu tang. Quan lại nước Thục bối rối, mối quan hệ giữa Lưu Bị và Tào Tháo có thể nói là không đội trời chung, sở dĩ chủ nhân của bọn họ phải lưu vong nửa đời người, nói cho cùng cũng là vì đối đầu với Tào Tháo. E rằng trên đời này không ai có thể hận Tào Tháo hơn Lưu Bị.
Người ta thường nói đời người lúc lên lúc xuống, nhưng đối với Lưu Bị, lên quá nhanh mà xuống cũng quá nhanh, khiến ông ta khó chấp nhận được. Tám năm trước, ông ta còn gửi thân dưới cửa kẻ khác, đã ngoài năm mươi mà vẫn phải băn khoăn về tấc đất cắm dùi, tráng chí tràn trề dường như không thể nào thực hiện được nữa. Nhưng, Pháp Chính xuất hiện tựa như món quà từ trên trời rơi xuống, những cửa ải hiểm trở đi vào Thục quốc đã được mở ra, vùng đất Xuyên Thục màu mỡ giống như vị tân nương mà ông tương tư từ lâu, chỉ chờ ôm lấy.
Trong thời gian khoảng ba năm, Lưu Bị đoạt được Ích Châu từ tay Lưu Chương, trong đó, ngoài việc gặp một chút trở ngại ở Lạc Thành, trí sĩ Bàng Thống bị chém ra, tất cả coi như thuận lợi. Vận may bắt đầu từ đó, mọi việc sau này tựa như giấc mộng vậy. Nói là do may mắn cũng được, mà do thực lực cũng chẳng sao, cuối cùng Hán Trung cũng đã rơi vào tay ông ta. Nhổ được chiếc răng nanh trong miệng hổ của Tào Tháo, vui biết chừng nào? Lưu Bị càng khẳng định được rằng mình được ông trời phù hộ, ông ta cắt đất xưng hùng phân nửa mé tây nam, không hề do dự đội lên đầu mũ miện của nhà vua. Quan Vũ còn nhân lúc Nam Dương tạo phản mà điều quân lên phía bắc, mượn nước lũ dìm bảy đạo quân Tào để bao vây Tương, Phàn. Hào kiệt trung thổ nghe tin liền đứng lên hưởng ứng, đúng là chấn động Hoa Hạ, rung chuyển thiên hạ!
Nhưng… tất cả những điều này chỉ duy trì được chưa đầy nửa năm, sau nửa năm ngắn ngủi, giấc mộng đẹp hoàn toàn tan vỡ, Lưu Bị đang từ đỉnh cao rớt xuống vực thẳm. Nam Quận, Vũ Lăng, Linh Lăng đều bị mất hết, viên đại tướng có thể trông cậy vào nhất là Quan Vũ về chầu âm ty, đồng minh năm xưa là Tôn Quyền xưng thần với Tào Ngụy. Lưu Bị lại một lần nữa thấy mình bị làm nhục, bị cô lập, ngoài vương miện hào nhoáng ra, ông ta không còn vớt vát được gì.
Lưu Bị và Quan Vũ không chỉ có mối quan hệ vua tôi thông thường, hai người cùng chung hoạn nạn ba mươi năm trời, sớm đã có tình cảm thân thiết hơn cả huynh đệ ruột thịt. Nhưng nay sống chết phân ly, ngay đến cả cơ hội được ôm thi thể của Quan Vũ khóc một trận ông ta cũng không có, thân vùi ở Kinh Châu, đầu chôn ở Lạc Dương. Việc Lưu Bị có thể làm chỉ là lập một áo quan ở Thục Trung cho người huynh đệ tốt, và hậu đãi gia phong cho hậu duệ. So với cái chết của Quan Vũ, việc để mất Kinh Châu càng khiến Lưu Bị không thể chấp nhận được. Tiểu nhân vô sỉ, vong ơn bội nghĩa, ám tiễn hại người, đê tiện bỉ ổi… Lưu Bị dùng rất nhiều từ ngữ cay độc để mắng chửi Tôn Quyền, song không thể không nhìn thẳng vào sự thật - Địa thế hiểm trở của Giang Giáp đã giúp hai nhà Tôn, Tào vốn là kẻ thù chống nhau kết thành đồng minh, rất khó đoạt lại được Kinh Châu.
Vì vậy Lưu Bị phải cử người đi điếu tang Tào Tháo. Mà điếu tang chỉ là tấm màn che, còn mượn việc này xây dựng quan hệ hòa hảo mới là mục đích thực sự. Chỉ cần có thể kéo cán cân Tào Ngụy nghiêng về phía mình, nhằm đạt được vị trí ngang bằng với Tôn Quyền thì dù có phải lùi một bước, ông ta cũng sẽ nén lòng tự trọng mà đi thương thảo với Tôn Quyền. Dẫu cho không lấy lại được ba quận đã mất, chỉ được hai quận phía bắc để giữ lại cửa ngõ bắc phạt theo hướng đông cũng đã tốt lắm rồi.
Nhưng kết quả không như mong muốn, sứ giả Hàn Nhiễm không dám mạo muội vào vùng địch, dừng chân ở đất Thượng Dung, dâng thư tín và lễ vật cho Ngụy thần chuyển lên. Tào Phi tỏ thái độ cự tuyệt, căn bản không nhận thành ý của Lưu Bị. Y không hổ là nhi tử của Tào Tháo, hồ ly già nuôi một hồ ly con. Tào Phi hiểu rõ dụng ý bên trong, nhưng vẫn không cho Lưu Bị cơ hội, nhất định để cho hai nhà Tôn, Lưu kết thù, còn mình tọa sơn quan hổ đấu, làm ngư ông được lợi. Một chút lợi thế để xoay chuyển tình hình cũng không có, vậy Lưu Bị phải làm thế nào?
Tào Phi cự tuyệt sứ thần đi lại cũng không sao, tin tức Hàn Nhiễm hồi báo có liên quan đến Thượng Dung mới khiến Lưu Bị phẫn nộ - Trước đây, ông ta phái Lưu Phong cùng với cựu tướng Thục Trung là Mạnh Đạt trấn giữ ba quận Thượng Dung, hai người họ vì mâu thuẫn cá nhân, thề không cùng sống. Lưu Phong ỷ là nghĩa tử của Lưu Bị, tác oai tác quái, chèn ép người Thục; Mạnh Đạt lại tự cho mình là công thần dẫn Lưu Bị vào đất Thục, không phục sự cai quản của Lưu Phong. Lại thêm thủ lĩnh hào tộc địa phương là Thân Đam, Thân Nghi tham gia ly gián bọn họ nhằm mưu lợi riêng, nên cuối cùng gây chuyện đến mức Lưu Phong tự ý tước đoạt binh quyền của Mạnh Đạt.
Quan Vũ bị vây khốn ở Mạch Thành, Thượng Dung họ không những không cử viện binh đi cứu, ngược lại còn gây chuyện trong nội bộ.
Chuyện của Lưu Phong, Mạnh Đạt đã gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh với Lưu Bị, ông ta tự nhận thấy mâu thuẫn giữa những kẻ tâm phúc của mình và người Thục mãi mãi không thể hóa giải được, vô số tai họa tiềm ẩn bên mình. Càng bất lợi ở chỗ, Lưu Chương đang lánh mặt ở Giang Lăng cũng rơi vào tay Tôn Quyền. Tôn Quyền hiểu rõ tác dụng của bù nhìn, liền xây dựng mạc phủ ở Tỷ Quy, tấu phong ông ta làm Ích Châu mục, từ đó gạt bỏ tính hợp pháp của việc Lưu Bị thống trị Ích Châu, khiến lòng người Thục Trung dao động.
Lưu Bị không thể tiếp tục khoanh tay ngồi nhìn, bắt đầu bàn bạc với các thần hạ kế sách đoạt lại Kinh Châu. Nhà dột lại liên tục hứng mưa đêm, đúng lúc này mưu sĩ bậc nhất dưới trướng của ông là Pháp Chính ngã bệnh, thân thể chỉ còn da bọc xương, ho ra đờm lẫn máu, e là không sống được bao lâu nữa. Trước lúc lâm chung, Lưu Bị đến thăm, Pháp Chính yếu ớt nắm lấy tay ông ta, còn khuyên ông ta cẩn thận hành sự - Rõ là Pháp Chính không tán thành việc vội vàng dụng binh với Kinh Châu.
Lưu Bị liên tục gật đầu tỏ vẻ đồng ý, nhưng trong thâm tâm lại luôn thấy bất an, đặc biệt là sau khi hồi triều đối diện với các quan văn võ của Kinh Châu, ông ta vô cùng lo lắng. Tuy rằng không ai đả động đến chuyện Kinh Châu, nhưng ánh mắt thất vọng của họ đã nói lên tất cả.
Kinh Châu đã vĩnh viễn bị mất!
Lưu Bị tự nhốt mình trong cung, cả ngày không gặp ai, xem bản đồ đất Kinh Xuyên, tìm kế sách dụng binh. Kinh Châu diện tích rộng lớn, địa hình phức tạp, là con đường xung yếu thông với thiên hạ, trọng trấn phía tây đặt ở Di Lăng, nếu chiếm được Di Lăng, có thể tấn công Tương, Phàn từ phía bắc, dòm ngó Nam Quận từ phía đông. Một khi các quận phía nam như Vũ Lăng cũng nằm gọn trong tay, sẽ không khó để phục thù Kinh Châu. Tuy nhiên, thế cục hiện nay là Tôn Quyền đã bố trí binh lực tại Giang Giáp, làm thế nào mới có thể đột phá phòng ngự, đoạt lấy Di Lăng đây?
Lưu Bị tìm đi tìm lại trên bản đồ, muốn tìm giữa Kinh Châu, Thục quốc và Giang Giáp một vị trí phù hợp để đóng quân. Bỗng có một địa danh lọt vào tầm mắt - Thành Bạch Đế!
— Thành Bạch Đế… Thành Bạch Đế… - Lưu Bị nhắc đi nhắc lại tên địa danh này, trong lòng ngầm xuất hiện một chút dự cảm chẳng lành.
Cuối thời Tân Mãng, Thái thú Thục Quận là Công Tôn Thuật[4] nhìn thấy phía huyện Ngư Phục, Ba Quận có khói trắng bay lên, cho rằng đó là điềm lành, bèn dựng thành trì tại đây, lấy tên là “thành Bạch Đế”. Công Tôn Thuật đăng cơ ở Thành Đô, hiệu là Bạch Đế, cùng tranh đoạt thiên hạ với Quang Vũ Đế. Mưu sĩ Lý Hùng hiến kế cho ông ta, lấy đất Thục làm nền móng, phía bắc chiếm giữ Hán Trung, phía đông vượt sông Hán Thủy có thể dòm ngó đất Tần, phía nam thuận theo thế sông Trường Giang có thể uy hiếp Kinh Châu, Dương Châu. Kế sách này sao lại giống với “Long Trung đối”[5] của Khổng Minh đến vậy?
Nhưng Công Tôn thị có kết cục như thế nào? Kinh Châu đại bại, Công Tôn Thuật cố giữ đất Thục, yên phận với nghiệp vương, về sau quân binh nhà Hán vây hãm Thành Đô, Dược Mã - Công Tôn Thuật quyết một phen sống mái. Ông ta dũng thì có dũng, nhưng cuối cùng ít không địch lại đông, đành phải bỏ mạng trên sa trường, tâm chí sục sôi hóa thành bọt bể… Lịch sử thật đáng sợ, kế sách của ta với Bạch Đế Công Tôn thị y như một, đến nay ta cũng đã để mất Kinh Châu! Lẽ nào ta lại giẫm vào vết xe đổ của Bạch Đế, lẽ nào cứ chờ bị diệt vong ở đất Thục sao?
Thành Bạch Đế… Công Tôn Thuật… Chẳng lẽ đây là mệnh trời đã định?
Lưu Bị lắc đầu quầy quậy, dường như muốn hất bay ý nghĩ ấy ra khỏi đầu, nhưng vẫn không thoát ra được, ngược lại càng trở nên chân thực hơn.
Tình hình của ta còn đáng lo hơn so với Công Tôn Thuật!
Công Tôn Thuật vốn là Thái thú Thục Quận dưới triều Vương Mãng, còn ta đoạt được đất Thục từ tay Lưu Chương, lấy được Hán Trung chỉ trong chưa đầy một năm. Thời của phụ tử Lưu Yên, nhân sĩ Thục Trung chia thành hai phái là Đông Châu và Tây Châu, tâm phúc của ta lại là nhân sĩ Kinh Châu. Người mới người cũ, Kinh đảng Thục đảng như một mớ bòng bong. Đáng tin nhất đương nhiên vẫn là nhân sĩ Kinh Châu mà đứng là Khổng Minh, nhưng Kinh Châu giờ đã thất thủ. Điều này có nghĩa ra sao?
Phan Tuấn được ta coi trọng, là người Linh Lăng, còn là biểu đệ của Thượng thư Tưởng Uyển, giữ chức Trị trung Kinh Châu, là một người cương trực. Khi Tôn Quyền đoạt được Kinh Châu, ông ta rơi lệ lã chã, nằm dài không dậy, nhưng sau khi khóc xong một trận thì lại hàng địch. Còn Hác Phổ, năm năm trước Tôn Quyền đoạt được ba quận, ông ta trúng kế đầu hàng, nhưng nghe tin Kinh Châu chưa mất hoàn toàn, lại nghĩa khí trở về dưới trướng của ta. Lần này Kinh Châu hoàn toàn thất thủ, ông ta lại đầu hàng Tôn Quyền, nhưng không quay trở lại nữa… Vì sao chứ? Bởi vì Kinh Châu là nhà của họ, có thân thích của họ, có điền viên của họ. Phan Tuấn, Hác Phổ chưa hề bất trung với ta, càng khó từ bỏ cố hương. Gốc là người Kinh Châu thì mãi mãi vẫn là người Kinh Châu, nếu như mất đi quê hương bản quán, họ sẽ trở thành cái cây không có gốc, dòng nước không có nguồn, như vậy có thể toàn tâm toàn ý phò tá ta chăng?
Những người đã theo ta nhiều năm, liệu có đáng tin cậy không? Sĩ Nhân là tướng lĩnh U Châu, theo ta từ hồi còn ở dưới trướng của Công Tôn Toản, chỉ vì đố kỵ Quan Vũ có được trọng quyền mà bó tay hàng địch. My Phương còn là đệ đệ của My Trúc, vốn có tình lang cữu với ta, kết quả thì như thế nào?
Nhân sĩ Thục Trung chưa toàn tâm quy phục, nhân sĩ Kinh Châu đã lại dao động, ta coi như xong đời!
Không được! Nhất định phải đoạt lại Kinh Châu, không những còn có cái để ăn nói với nhân sĩ Kinh Châu, mà quan trọng hơn là củng cố vương nghiệp của ta!
Nghĩ đến đây, Lưu Bị thở sâu một hơi, khích lệ bản thân, tiếp tục quan sát bản đồ, nhưng trong lúc mãi mê suy nghĩ theo những nét vẽ trên tấm bản đồ, những nỗi lo lắng ban nãy lại dần hiện lên.
Muốn đoạt lại Kinh Châu, tất phải đưa quân sát bên địch. Sông Trường Giang cuồn cuộn trải dài hàng ngàn dặm, xuôi dòng đi xuống tất nhiên là dễ, trở về mới khó. Vạn nhất trận chiến bất lợi, ngược dòng trở về khó khăn, đại quân lại nằm ở đúng hiểm địa Giang Giáp, Tôn Quyền thừa dịp đánh lén phía sau thì e là tâm huyết nửa đời này của ta sẽ bị hủy trong chốc lát!
Quá nguy hiểm, muốn cược ván này thì phải thận trọng…
Còn nếu từ bỏ Kinh Châu sẽ như thế nào? Ta buộc phải cho nhân sĩ Kinh Châu dựng lại quê hương thứ hai ở đất Thục, để họ làm quan to, hưởng điền sản, nhưng liệu người Ích Châu có đồng ý không? Ruộng đất của họ, tiền đồ của họ biết phải đòi ai? Họ có cam tâm để cho kẻ khác cưỡi lên đầu mình hay không? Dùng cường quyền có thể áp chế nhất thời, chứ không thể hữu dụng cả đời. Tào thị sớm đã trọng dụng đại tộc địa phương, Tôn thị cũng hòa hợp với quận vọng Giang Đông, trong khi ta mới đang bắt đầu chơi trò dùng tâm phúc của mình để trấn áp nhân sĩ địa phương, đi sau bọn họ mất cả chục năm, chẳng khác nào chưa động binh đao đã thua ở chiêu thức trước rồi.
Làm vậy, dù cho nhân sĩ Kinh Châu chính trực trị quốc, một lòng phò tá, con đường của ta cũng ngày càng thu hẹp lại, đất nước chìm trong trì trệ. Thế gia đại tộc Ích Châu bị người Kinh Châu chặn mất tiền đồ, sẽ không thể nào yêu quý xã tắc này được nữa. Hương thân địa phương lại càng hận ta, chỉ mong đổi chủ nhân mới, núi cao đường xa chẳng quản nổi bọn họ, lúc đó họ càng tiêu dao hơn. Còn lê dân bách tính phải lấy một vùng đất nhỏ bé để chèo chống cả một triều đình, còn phải nộp thuế, trồng lúa, đánh trận, thực quá khốn khổ.
Kết quả của việc từ bỏ là ta có thể lôi kéo được một đám cố đảng Kinh Châu, nhưng lại đánh mất nhân tâm Ích Châu ở mọi tầng lớp. Chỉ cần bọn họ treo cờ trắng, tất cả phiền não đều hết! Hoặc giả, ta liên tục bắc phạt, chinh chiến có thể chuyển dời mâu thuẫn, tránh được trì trệ, nhưng địa thế hiểm trở của Thục Trung chặn địch ở bên ngoài, nhưng cũng lại tự nhốt mình bên trong. Vậy mới nói muốn hạn chế bách tính không thể chỉ dựa vào ranh giới biên cương, muốn củng cố binh mã không thể chỉ dựa vào sông núi hiểm trờ. Vả chăng Tào thị dễ đối phó Quan Trung ngựa no đao sắc, Trần Thương dễ phòng khó công, sạn đạo khó vận chuyển quân lương, kiến công nói sao dễ thế? Lúc này ta còn chẳng bằng Tôn Quyền, nói gì đến Tào thị, lấy sức của một châu mà không ngừng gây chiến với bốn biển, quá khó… Đánh mất nền móng là nhân tâm, chỉ biết dụng võ với bên ngoài để chuyển đổi mối lo trong nước, kết cục cuối cùng chỉ có thể là trong ngoài đều khốn, sớm muộn cũng diệt vong!
Lưu Bị vắt óc suy đi tính lại, thấy kiểu gì cũng là đường chết, chẳng có lấy một tia hy vọng, mà ba chữ “thành Bạch Đế” lại cứ chạy lòng vòng trước mắt. Cuối cùng ông ta chán nản không xem nữa, vứt bản đồ đi, ngửa mặt nằm xuống, với tay lấy chiếc gương đồng ở cạnh giường, buồn bã soi mình.
Chiếc gương lấp lánh phản chiếu khuôn mặt của Lưu Bị. Khuôn mặt đã từng rất anh tuấn ấy, giờ hai lọn tóc mai như sương, da dẻ nhăn nheo, mệt mỏi. Phong thái tài hoa đã tan thành mây khói, năm tháng cứ thế trôi đi. Lưu Bị lại nghĩ đến lão oan gia đã thành người thiên cổ là Tào Tháo, bất giác cảm khái.
Ây dà! Thời gian chẳng buông tha ai… Tào Mạnh Đức, ông thanh thản ra đi rồi, sớm muộn ta cũng phải theo gót ông.
Ta không cần phải lừa mình dối người nữa, đời này người ta kiêng sợ nhất là ông, nhưng người mà ta kính phục nhất cũng chính là ông. Lưu mỗ ta xuất thân thấp kém, song những nhân vật tầm thường cũng khó lọt được vào mắt ta, duy có ông hoàn toàn xứng đáng được gọi là anh hùng. Hai lần tấn công Từ Châu đánh cho ta tan tác, trong trận Quan Độ lấy ít địch nhiều, Lấy yếu chống mạnh. Chiến dịch Đương Dương, Trường Bản hung hiểm nhường nào? Truy binh ở ngay phía sau, chậm một chút là mất mạng. Dù có chiến thắng trong trận Xích Bích, nhưng nếu như không có Trương Tùng, Pháp Chính dẫn ta vào đất Thục, e là ta vẫn không thoát khỏi lòng bàn tay của ông. Ông có vương đạo của ông, ta cũng có mộng tưởng của ta, nên trở thành kẻ thù của nhau là lẽ đương nhiên, ta không oán hận ông… Ta hận là hận ông trời, hận thói đời!
Ông tuy sinh ra trong nhà hoạn quan, nhưng dù sao cũng là quan lại sân đình, được tổ tiên giúp đỡ bước vào sĩ đồ, từ lúc thiên hạ chưa loạn đã được nhận chức ở châu quận, nắm giữ binh mã, cũng có chút tiếng tăm trong ngoài triều. Còn ta thì sao? Ta sinh ra trong gia đình sa sút, dệt chiếu bán giày trầy trật mưu sinh, để đi được đến ngày hôm nay ta đã phải chịu khổ hơn ông gấp chục lần. Lúc nhàn nhã, ông thích ngâm thơ, làm phú, viết văn, phong nhã nhường nào! Tôn Quyền thích săn bắn, uống rượu cùng với quân tướng, sảng khoái biết bao! Còn ta những lúc ấy đang làm gì? Thực ra cả đời ta vất vả, bôn ba, làm gì có lúc nào vô ưu vô lo? Ngay cả khi có một giờ nửa khắc nhàn rỗi, ta cũng chỉ biết giở nghề cũ ra, lấy mấy cọng lông bò làm đồ trang sức. Một là cho đỡ buồn, hai là có thể tặng cho binh sĩ đeo món đồ do chính mình làm ra để họ luôn cảm thấy ta quan tâm đến họ. Chẳng thế mà trong đội quân tinh nhuệ của ta người nào cũng đeo bạch mao do ta tự làm cho họ, người Thục còn gọi họ là “quân Bạch mao”. Các ông có sẵn tiền của, lương thực, binh mã vô số, nên chẳng bao giờ dùng một việc nhỏ này để lôi kéo nhân tâm đúng không? Dù ta không đọc nhiều sách, nhưng cũng có cách xử thế của mình.
Có lẽ đến lúc chết ông vẫn coi thường ta, trong mắt ông ta chỉ là một kẻ hiếu loạn, không biết tự lượng sức mình, tráo trở vô thường. Kỳ thực, ông không hiểu ta… So với những tháng ngày trước đây phải sống khổ sở thấp hèn, thì đối với ta bại trận có là gì? Người đi qua để lại tên, nhạn bay qua để lại tiếng, cho dù Lưu mỗ ta không đạt được dã tâm, trở thành trò cười cho thiên hạ, cái tên Lưu Bị này cũng sẽ được ghi lại trong sử xanh, hơn hẳn những kẻ bán giày vô danh chứ? Nghĩ như vậy, ta có gì mà không dám cược?
Chuột sinh ra trong nhà xí thì sẽ ăn những thứ dơ bẩn; chuột sinh ra trong kho triều đình thì sẽ ăn gạo, ăn bắp. Cũng giống như ta với ông, ông là chuột trong kho nhà nước, ăn mặc không thiếu, tất nhiên có thể thanh cao, có thể nói suông rằng “Người quân tử biết có những việc có thể làm, có những việc không thể làm.” Còn ta là con chuột sinh ra trong nhà xí, muốn ngóc đầu lên thì phải không từ thủ đoạn, tráo trở vô thường. Ông chớ coi thường người nghèo khổ, chê họ lương tâm đen tối, đánh mất tiết tháo, thực ra đó không phải bản ý của họ, mà suy cho cùng cũng chỉ vì cuộc sống. Bởi vậy nên, trong mắt ta trên đời này không có ai đáng ghét, ta bằng lòng làm bằng hữu với tất cả mọi người, không làm bằng hữu được là do không có duyên phận, muốn trách thì trách thói đời…
Thôi, ông tôn trọng ta cũng được, coi thường ta cũng được, giờ sống chết cách trở, tất cả những điều này không còn quan trọng nữa. Ngược lại, trong lòng ta rất ngưỡng mộ ông, ít nhất ông có thể yên tâm thanh thản mà ra đi, hơn nữa đến lúc chết ông vẫn chưa xưng đế, nên giữ được lớp mặt nạ cuối cùng là “bề tôi nhà Hán”. Ông có nhiều nhi tử có thể chọn làm thái tử, có nhiều nghĩa tử văn võ song toàn có thể trở thành cánh tay đắc lực, lại còn có vô số trọng thần cùng gánh vác quốc chính. Còn ta thì sao? Nhi tử của ta vẫn còn là đứa trẻ tóc để chỏm, nghĩa tử của ta lại là đứa gây phiền phức, quần thần dưới tay ta chỉ có Gia Cát Lượng là có thể an tâm giao phó chính sự. Đến khi ta về già không biết sẽ thế nào đây…
Hàn Nhiễm hồi báo, nhi tử của ông đang lên kế hoạch xưng đế, việc này lại làm khó ta. Ta sống dưới danh nghĩa khuông phù nhà Hán, nếu như nhà Hán không còn nữa, ta phải làm sao? Chỉ có thể tự mình xưng đế mà thôi… Đăng ngôi cửu ngũ chính là ước nguyện cả đời ta, nhưng bây giờ chuyện này giống như chuyện cười vậy. Kinh Châu thất thủ, đến nay tính đi tính lại, ta cũng chỉ có một châu, còn muốn làm thiên tử, lập bách quan, dựng hậu cung, phong tước hầu, ngôi hoàng đế này có ngồi lên hay không cũng có gì khác biệt, dân chúng không có lấy một chút của cải. Nhưng biết làm sao, để giữ vững thế lực danh chính ngôn thuận, ta cũng chỉ có thể đi con đường này! Quan Vũ đã chết, Pháp Chính bệnh nặng, không thể cứ thế này được nữa, ta cần phải có trách nhiệm với những thần liêu đã theo mình nhiều năm qua, tóm lại là khi còn sống, ta cần ban cho những công thần khai quốc ấy một danh phận.
Năm đó, ta tham cầu phú quý, khao khát dương danh thiên hạ, giờ đi đến bước đường này mới hiểu thế nào nào là cưỡi cọp khó xuống. Đời ta càng đánh càng bại, càng bức càng mạnh, vốn chưa từng yếu lòng, nhưng gần đây cũng bắt đầu cảm thấy mệt mỏi, chán nản, lực bất tòng tâm. Khi ý chí vẫn tràn đầy, ta luôn mộng tưởng có thể vác gươm đi khắp thiên hạ, nhưng đến khi thực sự cảm thấy mệt mỏi, ta mới nhận ra rằng rèn gươm thành cái cày đã là quá tham vọng. Trong ngoài trăm ngàn khó khăn dồn dập, ta phải xử lý mối bòng bong này như thế nào đây?
Chẳng có cách nào nữa, đời người vốn là con đường không có lối quay lại, còn quyền lực tựa như một trò chơi mà ta không thể tự rút ra được, một khi đã đặt một chân vào thì chỉ có thể thân bất do kỷ mà bước tiếp. Ông cũng đã nhận thức sâu sắc được điều này, đúng không? Tào Mạnh Đức, ông ở trên trời nếu có linh thiêng nhất định phải chờ ta, sẽ có một ngày ta đi tìm ông, đến lúc đó chúng ta cùng bắt tay nhau làm bằng hữu, lại cùng uống rượu luận anh hùng…
Lưu Bị cứ nghĩ miên man rồi ngủ thiếp đi từ lúc nào không biết. Ông ta quả thực đã quá mệt mỏi.
Tào Tháo cuối cùng đã chết, nhưng ông cũng đã đến tuổi lục tuần. Khổng Tử nói rằng: “Lục thập nhĩ thuận,”[6] người đàn ông này hơn nửa đời người sống dưới cái bóng của Tào Tháo, đã đứng giữa ranh giới sống chết, nào là đánh mất Kinh Châu, xưng đế lập quốc, đông chinh Tôn Quyền, còn bao nhiêu phiền não rối rắm. Ông ta chỉ có thể giống như Tào Tháo, chìm trong bóng đêm mò mẫm mà đi, cứ thế đến thời khắc cuối cùng của cuộc đời…
Phàm là con người, ai cũng đành cắn răng nghênh chiến với tất cả những điều mình chưa biết trước.
Biện vương hậu
Đây là đêm cuối cùng Ngụy Vũ Vương ở lại Lạc Dương, di thể của ông nằm trong quan tài đang chìm vào giấc ngủ an tĩnh, quan quách mãi mãi đóng kín. Tào Phi tổ chức mai táng giản tiện ở một mức nhất định theo mệnh lệnh của ông lúc còn sống, xung quanh lăng mộ ở Hà Bắc không dựng nhiều công trình nghi lễ, nhưng đã chuẩn bị không ít vàng ngọc, châu báu, đến cả những vũ khí như kiếm, kích mà ông thường dùng cũng được chôn theo. Còn nghi thức đưa tang có yêu cầu khắt khe hơn, buộc phải long trọng trang nghiêm, do đó Tào Phi lệnh cho Hạ Hầu Thượng cầm phù tiết dẫn dắt cả đội nghi trượng. Tào Phi tin rằng tang lễ của tiên vương chắc chắn khiến nhiều người phải mở to mắt ra nhìn, và chắc chắn gây ấn tượng sâu sắc cho toàn dân thiên hạ. Còn y là người thừa kế của nhân vật bất diệt này, không những kế thừa huyết thống của ông, quyền lực của ông mà còn kế thừa uy nghiêm bất khả xâm phạm của ông nữa. Tiếp sau đó, vẻ uy nghiêm này sẽ tiếp tục được thăng hoa, đánh đổ bức bình phong cuối cùng của quần thần, trở thành người chí cao vô thượng, duy ngã độc tôn! Ngày đó sắp đến rồi…
Thời khắc này, Tào Phi quỳ ngay ngắn trước linh cữu, Yên Lăng hầu Tào Chương, Lâm Tri hầu Tào Thực chia nhau quỳ bên tả hữu cạnh y, Ngự sử đại phu Hoa Hâm, Gián nghị đại phu Đổng Chiêu đứng đầu quần thần quỳ ở hai bên chái nhà. Đèn dầu, nến thơm chiếu sáng như ban ngày, đến cái bóng cũng không có, nhưng ánh sáng ấy không thể thắp sáng những u ám trong lòng chúng nhân, không khí trang trọng không xua tan được sự nặng nề. Đã một tháng trôi qua, ngoài Ngụy Vương Tào Phi tinh thần phấn khởi ra, chúng nhân đều sắp không chịu nổi nữa, chỉ mong đêm nay mau qua đi để kết thúc tang sự dài đằng đẵng này; còn họa phúc sau này tạm thời không vội nghĩ đến, nghỉ ngơi vài ngày trước đã mới là việc cấp thiết nhất. Nước mắt đã cạn, không còn ai khóc, chỉ có tiếng thở dài mệt mỏi.
Mé tây điện quàn linh cữu buông một tấm mành thưa, vương hậu Biện thị đứng đầu các vị phu nhân trông nom ở đó. Biện vương hậu đã gần sáu mươi tuổi, lại thêm nỗi đau mất phu quân giày vò nhiều ngày như vậy mà tinh thần vẫn còn rất tốt. Lúc này, ánh mắt của bà sáng quắc, thần thái ôn hòa, thi thoảng lại đưa tay nhẹ nhàng vuốt ve linh cữu của trượng phu, miệng khẽ lẩm bẩm. Nhưng không ai biết bà thổ lộ điều gì, ngay cả thị nữ quỳ bên cạnh cũng không nghe rõ.
Thiếp luôn muốn trò chuyện tâm sự với chàng, nhưng chàng lại hay nóng nảy, không kiên nhẫn nghe thiếp nói. Giờ chàng cuối cùng cũng yên tịnh rồi, nên thiếp có thể nói hết nổi lòng của mình với chàng. Phu quân, nếu như chàng còn nghe thấy thì chớ tức giận, cũng chớ nôn nóng, lẳng lặng mà nghe thiếp nói, được không?
Cuộc đời này trôi qua thật nhanh, có vui vẻ cũng có bi thương, cuộc gặp gỡ giữa thiếp và chàng như mới ngày hôm qua, vậy mà chớp mắt, chàng đã không nói không rằng nằm đây mà ngủ. Lúc đầu, chàng chỉ là tử đệ một gia đình quan lại, không biết trời cao đất dày, thiếp chỉ là một ca nương hèn mọn, còn nay thì sao? Mọi thứ thay đổi quá nhiều, quá nhanh, khiến cho con người ta không kịp thở. Thiếp chưa từng nghĩ bản thân mình có thể làm vương hậu, có mơ cũng không dám mơ tới, thậm chí ngay cả vị trí thê tử chính thất của chàng, thiếp cũng không dám hy vọng. Vốn nghĩ rằng với xuất thân của một nữ nhân như thiếp chỉ có thể làm món đồ tiêu khiển mà thôi, dù cho được gả đi cũng chỉ có thể thiệt thòi làm tiểu thiếp, nào dám nghĩ đến chuyện làm mẫu nghi thiên hạ? Chàng thực sự đã cho thiếp một kết cục ngoài sức tưởng tượng… Những điều này, ban đầu thiếp đâu có ngờ tới, nhưng ngẫm lại, năm đó chàng có khi nào nghĩ đến một ngày mình sẽ xưng vương?
Những người theo chàng mở mang thiên hạ nói chàng đã thay đổi, nhưng thiếp biết, chàng không hề thay đổi, chàng vẫn là Tào Mạnh Đức khi xưa, hoặc giả địa vị đã thay đổi nên cách nhìn nhận một vài sự việc cũng thay đổi, tâm thái thay đổi, nhưng những thứ thuộc về sâu trong tâm hồn mãi mãi không thể thay đổi được.
Tham vọng. Đó chính là thứ mà chàng theo đuổi suốt cuộc đời này.
Thực ra, chàng không phải người thích trêu hoa ghẹo nguyệt, chàng cũng không anh tuấn, phong lưu phóng túng càng không đúng với chàng. Nhưng chàng đầu óc linh lại, lại có tài hoa, đủ khiến cho người ta thấy ngạc nhiên, thích thú, sống với chàng mà không buồn chán, đó là điều chàng hơn người khác. Có điều, tham vọng của chàng không bao giờ có điểm dừng, sống cả đời, thiếp chưa từng thấy chàng thỏa mãn với thứ gì; chàng luôn muốn tranh giành, muốn ganh đua, cũng không từ thủ đoạn đi cướp. Cho dù chàng có bao nhiêu học vấn, chàng viện bao nhiêu cái cớ, bao nhiêu lý do cũng không thể nào phủ nhận được tham vọng đang điều khiển mình, chàng tham danh, tham lợi, tham sắc, tham ân… Không có thứ gì chàng không tham.
Từ chuyện làm hiếu liêm không thành, đến chuyện làm Huyện lệnh, Quận thú, Tư không, Thừa tướng, thêm cả chuyện xưng công xưng vương, quốc gia đại sự thiếp đều không hiểu, nhưng đối với nữ nhân chàng chưa bao giờ ngừng tham vọng. Thử hỏi năm đó nếu như chàng an phận với phu nhân nguyên phối Đinh thị, thì thiếp còn cơ hội bước vào Tào gia không? Lưu thị, Hoàn thị, Tần thị, Doãn thị, chàng vẫn chưa thỏa mãn, luôn muốn có được nhiều hơn nữa. Thiếp không phải là không để ý, thực sự thiếp rất đố kỵ! Nhưng có cách nào khác đâu? Thứ thiếp có được, người phụ nữ khác cũng có được…
Chàng đối với Vương thị như một kẻ lừa đảo, dùng lời ngon tiếng ngọt dỗ dành bà thím của người ta về với mình, kết quả không những dẫn đến binh biến, còn hại chết cả nhi tử và điệt nhi. Chàng luôn thích giảng giải đạo lý, nhưng lại là người làm việc không màng đạo lý. Đối với Đỗ thị chàng như một cường đạo, cường đoạt bắt ép, bất kể ả đã từng theo Tần Nghi Lộc hay Lã Bố, thậm chí còn vứt cả lời hứa với Quan Vũ sang một bên. Chàng luôn ba hoa tín nghĩa, nhưng người không giữ tín nghĩa nhất lại chính là chàng. Đối với thê thiếp chàng giống như mãnh thú, muốn ăn tươi nuốt sống sắc đẹp của họ, nhưng đến khi phát hiện ra người ta là một trở ngại, chàng lại không hề nương tay mà siết cổ người ta. Chàng luôn chỉ trích người khác vô tình, nhưng người vô tình nhất cũng chính là chàng. Thậm chí đến cả con gái cũng bị chàng coi là công cụ để tranh đoạt thiên hạ…
Thiếp luôn nghĩ, rốt cuộc chàng có tình cảm như thế nào với phu nhân Đinh thị? Ngay cả bản thân chàng cũng không phủ nhận, chàng chưa hề yêu bà ấy, nhưng vì sao lại có nhiều ràng buộc với bà ấy như vậy? Chàng còn lưu tình thực ra là vì thuở hàn vi Đinh thị đã chăm sóc và ủng hộ chàng; nếu như không phải bà ấy nuôi lớn Tào Ngang, liệu chàng có cái nhìn khác đối với bà ấy không? Thiếp đã từng nghĩ, nếu như Tào Ngang chết vì bệnh, chàng đã sớm bỏ bà ấy một cách dứt khoát rồi chăng? Chính bởi nhi tử vì chàng mà chết, chàng mới áy náy với Đinh thị, chàng mới dây dưa không đoạn tuyệt được… Nói trắng ra đó là vì thể diện. Chàng đuổi Đinh thị ra khỏi cửa mấy chục năm, nhưng không cho thiếp lên làm chính thất, thực ra cũng vì thể diện.
Giống như chàng từng nói: “Tam thiên vốn đã thưa tiếng mẹ, quá đình thêm vắng vẻ lời cha”[7], chàng từ nhỏ đã không có mẹ, kỳ thực điều này đã quyết định số phận của chàng. Chớ xem nhẹ chuyện không có mẹ, thiếp là mẫu thân của bốn đứa con trai, nên thiếp hiểu điều này có ý nghĩa như thế nào. Chàng chưa từng cảm nhận được tình cảm yêu thương vô điều kiện của người mẹ, chàng hồi nhỏ chưa từng có cảm giác được người khác thật lòng quan tâm, thấu hiểu, vì thế chàng cũng không biết làm thế nào có thể hiểu được người khác… Phụ thân chàng thực ra cũng là một dã thú về mặt quyền lực, chỉ là hai người chọn con đường đi khác nhau mà thôi. Ông ấy thân là con nuôi của hoạn quan, chịu nhiều khổ cực hơn so với chàng, ông ấy càng ích kỷ, càng thiếu thốn tình cảm hơn so với chàng, nên có thể đã ảnh hưởng ít nhiều đến chàng chăng? Nói đến đệ đệ của chàng, dường như sự tồn tại của đệ ấy chính là để tôn thêm sự cao minh của chàng. Không thể phủ nhận tình thâm giữa hai huynh đệ chàng, nhưng chàng mãi mãi coi thường đệ ấy, cũng giống như đệ ấy chỉ coi chàng là người giúp mình tìm được sự tự tin. Đó là chuyện của Tào gia nhà chàng, một gia đình rắc rối, phụ tử cực đoan.
Tất cả những quan niệm mà chàng tin tưởng sâu sắc đều không phải do người khác dạy, mà do tự bản thân chàng tìm tòi tích lũy được, vì vậy chàng mới tự tin, mới chắc chắn như vậy, và cảm thấy trên đời này chỉ có bản thân mình là đúng. Cố nhiên chàng cũng đọc nhiều thi thư, cũng kết giao rộng rãi, nhưng không phải là để học hỏi, mà là để từng bước khẳng định bản thân.
Không ai phủ nhận chàng có trái tim nhiệt thành, nhưng chàng chưa từng đứng trên lập trường của người khác để suy nghĩ bất cứ việc gì. Cho dù chàng muốn tốt cho người ta, cũng chỉ là đứng trên góc độ của chàng mà làm, chứ chưa từng đặt mình vào hoàn cảnh của người ta, chưa từng nghĩ xem liệu người ta có chấp nhận cách làm của chàng hay không. Cho nên với chàng mà nói, ai không chấp nhận ý kiến của chàng chính là kẻ không biết suy xét, phản đối chàng tức là sai lầm. Thậm chí đối với bằng hữu, một khi phát hiện giữa mình và họ có sự bất đồng, chàng sẽ coi bọn họ là kẻ thù. Về sau chàng mới biết hối hận, mới biết tự trách, nhưng giang sơn dễ đổi bản tính khó dời, những ân hận ấy có chăng chỉ là sự bất an trong lòng, bài học chàng rút ra được có lẽ chỉ là khắc chế bản thân một cách thích hợp, chứ không phải đi thương xót kẻ khác, điều này đã định sẵn rằng trên một vài phương diện nào đó chàng đã sai sẽ lại càng sai… Chàng như người thợ mộc, vung búa múa rìu, đem mọi thứ đẽo gọt thành hình dạng mà chàng cho là lý tưởng. Cuối cùng, chàng xưng vương, lập quốc, các thần tử cũng dần dần hiểu được tính cách của chàng, không ai dám nói ra những lời làm mất hòa khí, còn cánh nữ nhân chúng thiếp lại càng câm như hến. Nhưng chàng làm chủ được người ta khi ở trước mặt, liệu có làm chủ được người ta khi ở sau lưng chàng không? Con cái của chàng có được như chàng mong đợi không?
Nghĩ đến đây, Biện thái hậu khẽ ngẩng đầu lên nhìn ba người con đang quỳ ở một mé khác trước linh đường. Giày vò bao nhiêu ngày như vậy, ba huynh đệ Tào thị đều đã gầy xọp cả đi, nhưng thần thái lại khác nhau rõ rệt. Tào Phi mình mặc áo đại tang, vẻ mặt nghiêm túc nhưng ánh mắt sáng ngời, phụ thân qua đời, thời đại của y đã đến, trong lòng vui mừng nhiều hơn đau buồn chăng? Tào Chương mặt mày vô cảm, quỳ ở bên trong, đầu cũng không cúi thấp xuống, trân trân nhìn linh cữu, nếu nói là thương cảm chi bằng nói là y đang ấm ức. Tiều tụy nhất là Tào Thực, chau mày nhăn mi, tâm tư ngổn ngang, hai mắt trũng sâu hồn tựa như cái giếng khô, đây không chỉ là nỗi đau tang sự, dường như tất cả mọi thứ trên đời đều làm y thất vọng.
Điều khiến Biện thái hậu khó chịu là ba huynh đệ họ quỳ lạy cùng nhau, nhưng lại không có một sự trao đổi qua lại nào, cứ như là những người hoàn toàn xa lạ ở cạnh nhau. Bà thấy vậy mà lòng đau như cắt, không có dũng khí đối mặt với cảnh tượng này, cuối cùng lại hướng ánh mắt xuống linh cữu của phu quân.
Lão oan gia, các con gây chuyện đến mức này tất cả đều tại chàng! Chàng thực lòng muốn Phi nhi lên kế vị thì phải nghĩ cho nó; còn nếu chàng cảm thấy Thực nhi hay Chương nhi thích hợp hơn, đáng ra nên quyết đoán kịp thời. Bàn tay còn có ngón dài ngón ngắn, muốn tất cả mọi thứ phải theo ý chàng, chàng thấy có khả năng không?
Phi nhi trở thành thái tử, đương nhiên quyền uy của chàng phải chia sẻ cho nó, dù sao cũng có thoát khỏi cái vòng của họ Tào nhà chàng đâu, nó là người kế thừa của chàng cơ mà. Thân là phụ thân lẽ nào lại không muốn nhi tử của mình được người đời tôn kính? Chàng cất nhắc Chương nhi, yêu thương Thực nhi, nhưng phải có giới hạn, có những lúc thiếp không hiểu được, chàng coi trọng hai đứa nó vì thực sự cảm thấy tiếc cho chúng, hay chỉ muốn dùng chúng để gây áp lực với Phi nhi.
Khi chàng ép con dâu chết đã từng do dự chưa? Sau đó lại bù đắp, thì cớ gì phải làm chuyện khiến nhi tử của mình đau khổ?
Thiếp hiểu, sau này chàng hy vọng huynh đệ chúng hòa hợp, chàng cảm thấy Chương nhi, Thực nhi có thể là cánh tay đắc lực của Phi nhi, để chúng nắm quyền bính ở một mức độ thỏa đáng là chuyện tốt, nhưng cách làm của chàng lại không đúng, thiếp vẫn phải nói câu này với chàng: Chàng mãi mãi chỉ đứng trên góc độ của mình để nhìn nhận sự việc.
Chàng không chịu làm hoàng đế, mọi người điều ra tiếng vào, nhưng trong mắt thiếp, chàng cũng không xứng với ngôi vị hoàng đế, chỉ cần nhìn vào cách hành xử của chàng đối với các nhi tử cũng thấy chàng không xứng rồi. Thứ chàng theo đuổi là quyền lực và lý tưởng của chính mình, nhưng lại chưa nhìn rõ lợi ích lâu dài của cả gia tộc, chàng rất thông thái khi ở trên chiến trường, ở triều đường củng nửa hiểu nửa không, riêng chuyện kế vị chàng hoàn toàn hồ đồ. Sau khi Phi nhi trở thành thái tử, đáng lẽ chàng phải cho nó quyền lực, để Phi nhi cai quản các đệ, chàng hoàn toàn có thể phó thác việc cất nhắc Chương nhi, Thực Nhi cho Phi nhi, nói riêng với nó, để nó tự làm. Sau này chàng không còn nữa, Phi nhi sẽ tự biết cất nhắc huynh đệ, chăm sóc huynh đệ, Thực nhi, Chương nhi lẽ nào không biết ơn? Tình huynh đệ của chúng lẽ nào không sâu đậm hơn? Nhưng chàng lại cứ muốn vạch rõ ranh giới của quân vương, muốn thể hiện quyền uy của phụ thân, tất cả những chuyện được lòng người đều phải do chàng tự làm, Phi nhi có cảm nghĩ như thế nào? Làm sao không khiến Chương nhi kiêu ngạo, nảy sinh ham muốn quyền lực được? Phi nhi không đi theo con đường chàng mở ra, chàng tức giận, chàng thất vọng, nhưng thiếp thực sự muốn hỏi chàng: Ngày trước chàng có đi theo con đường mà phụ thân chàng trải sẵn cho chàng không?
Chàng khăng khăng làm theo ý mình, giày vò ba đứa con thành ra thế này, giờ chàng nhắm mắt xuôi tay, thiếp biết làm thế nào? Cả ba đứa nó đều do thiếp sinh ra, chàng có biết thiếp nhìn chúng trong thế nước lửa mà đau đớn nhường nào không? Lúc chàng còn sống thiếp đã không quản nổi chúng, chàng đi rồi thiếp phải làm thế nào với chúng đây? Chàng đúng là một kẻ ích kỷ… Không còn cách nào khác, quản không được thì thiếp đành phải mặc kệ thôi. Vị giá tòng phụ, kỷ giá tòng phu, phu tử tòng tử[8], đây là số mệnh của nữ nhân chúng thiếp.
Thôi, việc đã như vậy, oán trách cũng có tác dụng gì?
Suy cho cùng, chàng cho thiếp gia đình, cho thiếp phú quý, mọi thứ thiếp có đều do chàng đem đến, oán trách chàng lại mất đi sự hiền hậu. Thiếp cũng giống như những người phụ nữ khác của chàng, cảm động vì niềm hạnh phúc mà chàng ban cho, và cũng chấp nhận nỗi đau khổ mà chàng mang lại. Có lẽ đối với chàng, chỉ cần khi còn sống từng được vui vẻ là đủ, chứ căn bản chưa từng lo lắng đến những cảm nhận này của chúng thiếp đúng không? Kiếp này thiếp đã trải qua quá nhiều chuyện ngoài ý muốn, kinh hồn bạt vía, tuy thời trẻ thiếp từng rung động, nhưng sống lâu trong những ngày tháng kiểu này vẫn khiến thiếp cảm thấy rất mệt mỏi. Nếu như có kiếp sau, thiếp chỉ mong được sống yên ổn qua ngày đoạn tháng, tuyệt đối không gả cho chàng, dù cho được làm vương hậu thiếp cũng không lấy chàng…
Nhưng… nếu thực sự có kiếp sau, ai dám nói chắc? Biết đâu lúc đó thiếp lại suy nghĩ nông nổi, lại bị những lời nói ngon ngọt của chàng mê hoặc, để rồi lại hồ đồ theo chàng cả đời?
— Ha ha ha!… - Nghĩ đến đây, bà bất giác phá lên cười.
Tất cả cơ thiếp, vương tử, đại thần ở trong linh đường đều sững sờ, nhìn thái hậu với ánh mắt kinh ngạc. Cười phá lên như vậy trước linh đường là thất lễ, nhưng ai dám nói thái hậu không đúng? Qua tấm mành thưa, chỉ biết bà nhẹ nhàng vuốt linh cữu của tiên vương, vẻ mặt nửa như cười nửa như không, nửa như khóc nửa như không. Mọi người đưa mắt nhìn nhau, không ai hiểu bà lão này đang nghĩ gì - Dù sao họ đều là người đến sau, cơ thiếp, nhi tử, thần tử đều là những kẻ đến giữa chừng, ngoài Biện thị ra còn ai tận mắt chứng kiến cuộc đời của Tào Tháo từ thuở hàn vi đến lúc phú quý nữa đây?
Thiên tử nhà Hán
Màn đêm buông xuống, mặt trăng nhô lên từ phía đông, chậm rãi tỏa ánh sáng vằng vặc chiếu rọi khắp hoàng cung, tựa như khoác lên tòa cung điện trống vắng này một chiếc áo mỏng bằng bạc.
Nơi đây vốn vô cùng tịch mịch, có thể nói là lạnh lẽo. Từ sau cuộc phản loạn của bọn Cảnh Kỷ, hầu hết nội thị, cung nhân đều bị Tào thị đuổi đi, cửa cung luôn ở trong tình trạng đóng kín. Nhưng từ ngày Tào Tháo mất, ngoài cung bỗng lại xuất hiện lớp lớp vệ binh, dường như không muốn để một giọt nước nào lọt ra khỏi hoàng cung to lớn này. Cho dù đêm nay rất yên tĩnh, nhưng binh sĩ vẫn không dám lơi lỏng canh phòng, đi tuần ngoài tường cung, tay cầm sẵn binh đao như sắp sửa lâm trận. Giờ đang là thời gian vô cùng nhạy cảm trong lúc chuyển giao quyền lực, nhất cử nhất động của thiên tử bù nhìn đều có sức ảnh hưởng, giả như có bọn liều lĩnh cướp thiên tử rồi hạ lệnh hô hào, hoặc phòng lúc lơ là mà tuồn những thứ như chiếu đai ngọc từ trong cung ra ngoài thì làm thế nào, Tào Phi như ngồi trên đống lửa.
Tường cung cao chót vót ngăn cách hai thế giới, bên ngoài vui vẻ náo nhiệt, còn phía trong vẫn tĩnh mịch, thái giám ít người, đến cả đèn dầu cũng chỉ được thắp vài ngọn. Lúc này thiên tử Lưu Hiệp không có trù hoạch gì, cũng không lo cho thời cuộc, ung dung uống rượu với Tào Tiết trong tẩm cung của hoàng hậu. Lưu Hiệp năm nay vừa tròn bốn mươi tuổi, ông ta không còn oán hận vì nửa đời bất hạnh, cũng không còn âu lo vì xã tắc nhà Hán, mà đã quen với cuộc sống nhàn rỗi này, thậm chí còn cảm thấy vui bởi có một hoàng hậu thấu hiểu và quan tâm ông. Tào Tiết chính là con gái của Tào Tháo, e rằng ngay cả bản thân Tào Tháo cũng không ngờ con gái mình đồng lòng với Lưu Hiệp. Thực ra, họ đều là người không thể chống lại số mệnh.
Lưu Hiệp tự tay mở cửa sổ, nhìn vầng trăng sáng ngoài xa, khóe miệng nở một nụ cười. Trong khi đó, Tào Tiết lòng đầy tâm sự, nghĩ đến việc Phục hoàng hậu và hai vị hoàng tử bị bức tử, nghĩ đến việc phụ thân vừa mới qua đời, huynh trưởng đã đoạt quyền về tay… Ngày tháng sau này biết phải làm thế nào? Lưu Hiệp vẻ mặt càng nhẹ nhõm, Tào Tiết càng cảm thấy khó chịu thay cho ông ta, nàng không thể phản kháng, nhưng thân là con gái Tào thị nên cũng không tránh khỏi hổ thẹn.
Lưu Hiệp lại gần, cầm cánh tay ngọc ngà của nàng, chậm rãi nói:
— Chớ đau buồn vì trẫm. Nàng xem, trăng đêm nay thật tròn.
Tào Tiết nào có tâm tình thưởng trăng:
— Bệ hạ, thiếp đã nghĩ rất lâu, huynh trưởng Tào Phi không kiêu ngạo bằng phụ thân, nhưng tâm cơ thâm trầm, càng khó qua lại. Giờ huynh ấy đã bắt đầu kế hoạch bức cung, sợ rằng tránh cũng tránh không được. Chuyện xã tắc tạm gác lại một bên, nhưng vấn đề an nguy không thể không xem xét, bệ hạ có mấy công chúa đã đến tuổi thành thân, thứ cho thần thiếp bạo gan, thỉnh bệ hạ ban công chúa cho huynh trưởng của thiếp, nối duyên Tần Tấn, có lẽ sẽ đổi thêm được mấy năm thái bình…
Lưu Hiệp cười xòa:
— Đêm nay không bàn mấy chuyện ấy, ta chỉ muốn thưởng trăng thôi… Năm xưa, trẫm nhiệt thành với xã tắc, không biết đã bỏ lỡ bao nhiêu đêm trăng sáng. Trẫm chưa từng cùng Phục hậu thưởng trăng, nay trẫm có nàng cùng thưởng thức, đừng bỏ lỡ cuộc vui này.
Ông ta nói những lời này vô cùng nhẹ nhõm, trong trẻo tựa như dòng nước chảy từ trong giếng ra. Nhưng Tào Tiết nghe xong lại rơi nước mắt:
— Nếu thiếp không tiến cung thì Phục hoàng hậu cũng không đến nỗi phải chết thảm như vậy… Thiếp có lỗi với bệ hạ…
— Chớ khóc, là trẫm nói sai rồi. - Lưu Hiệp an ủi nàng, - Người trẫm ôm bây giờ là nàng, người trẫm yêu cũng là nàng, tất cả đều do ý trời, nàng chớ vì những chuyện trước đây mà đau lòng… Trời không còn sớm, tối nay trẫm không đi dạo thưởng trăng nữa, chúng ta đi nghỉ thôi.
Bỏ lại bàn rượu, Lưu Hiệp ôm lấy Tào Tiết, lau nước mắt cho nàng, phu thê cùng bước vào sau rèm, nằm xuống cạnh nhau. Lưu Hiệp luôn mang bộ dạng của kẻ nhàn rỗi, lẽ nào không có chút tâm sự gì? Ông nằm trên long sàng, nhìn ánh đèn leo lét, bất giác mơ màng.
Kinh dịch nói rằng: “Nhà tích điều thiện, tất thừa phúc khí, nhà tích điều ác, tất thừa tai họa.” Nhà Hán từ thời Hiếu Hòa Đế đến nay, trên có ngoại thích, hoạn quan lủng đoạn triều chính, dưới có cường hào, khốc lại hoành hành, thiện duyên mà Thế tổ hoàng đế tích lũy từ thời trung hưng đã sớm cạn kiệt, hai triều Hán Hoàn Đế và triều phụ hoàng ta đều là hôn quân vô đạo, gieo nhân ác tất gặt quả ác, mà tai họa này lại ứng lên người trẫm. Có lẽ, trẫm đã được định sẵn số mệnh làm bù nhìn, rõ ràng hoàng vị thuộc về hoàng huynh, vậy mà lại mọc ra một tên Đổng Trác, còn đem nỗi khổ gọi trời trời không thấu, gọi đất đất không hay này đổ lên đầu trẫm. Đáng buồn thay! Đáng cười thay! Cũng có lẽ trẫm thực sự đã có được thiên mệnh!
Đổng Trác, Lý Thôi hay Tào Tháo cũng được, đi đến bước này rồi, trẫm không oán hận ai cả. Trời không thể không cứng, không cứng thì tam quang không sáng; vua không thể không mạnh, không mạnh thì sẽ khiến quan lại bên dưới tự làm theo ý mình. Thiên mệnh của trẫm không vững chắc, sao có thể oán trách bọn họ biến trẫm thành bù nhìn đây? Mùa đông năm ấy, nếu như không có Tào Tháo, trẫm cũng không thể dọn dẹp được mớ hỗn độn, kỳ thực thiên hạ nhà Hán kể từ lúc đó đã mất hết. Mấy người Viên Thiệu, Lưu Biểu kêu gọi tận trung với nhà Hán, nhưng nào có ai cam tâm tình nguyện vứt bỏ binh quyền của mình? Không có Tào Tháo cũng sẽ có kẻ khác lên làm quyền thần, thậm chí trẫm còn có thể chết trong sự đấu đá tranh giành của các thế lực cát cứ đó. Tào Tháo công lao quá lớn, nếu như không phải ông ta dựng trẫm lên thì tình hình loạn lạc sẽ càng nghiêm trọng, người chết sẽ càng nhiều. Năm đó, trẫm còn trẻ nên không hiểu biết, muốn dùng Đổng Thừa, Vương tử Phục áp chế Tào Tháo, giờ nghĩ lại mới thấy mình quá ngây thơ, diệt trừ được Tào Tháo rồi sẽ thế nào? Không làm bù nhìn của ông ta, cũng vẫn phải làm bù nhìn cho kẻ khác. Không có sức để phản kháng, cũng không thể phản kháng. Khổng Văn Cử, Tuân Văn Nhược, trẫm mãi biết ơn các khanh, bất kể các khanh xuất phát từ lòng trung thành với nhà Hán hay chỉ vì lương tâm không yên, thì sự bảo vệ của các khanh trẫm cũng không bao giờ quên! Có điều, sự việc đã đi đến nước này, trẫm không còn hận Tào Tháo nữa, dù ông ta từng chèn ép trẫm, uy hiếp trẫm, nhưng người chết rồi ân oán cũng hết. Thôi, tất cả cứ coi như trẫm chịu tội thay cho sự vô đạo của phụ hoàng đi.
Kỳ thực, phụ hoàng cũng không phải bậc quân vương tầm thường, thuở nhỏ vào cung làm con nuôi của ngoại thích Đậu thị, trải qua cung biến, không chịu ít khổ sở hơn trẫm. Sau khi chấp chính mới bắt đầu thi triển tài trí, mượn tay bọn hoạn quan loại bỏ ngoại thích Tống thị, lập Hà Thị xuất thân từ nhà bán thịt làm hoàng hậu; sau lại mượn tay các đại thần lật đổ hai đại hoạn quan là Tào Tiết và Vương Phủ, trọng dụng tâm phúc Trương Nhượng, Kiển Thạc; mở rộng đảng cố, áp chế quý tộc, đả kích thái học sinh, dựng trường Hồng Đô môn bồi dưỡng quan lại tâm phúc. Hoạn quan, ngoại thích, đảng phái ba thế lực lớn đều bị phụ hoàng san bằng, nghĩ kỹ lại, từ sau đời Hiếu Hòa Đế, có ai ngồi yên được trên hoàng vị như người đâu?
Đáng tiếc, đáng tiếc thay, luận về tâm kế phụ hoàng có đủ, nhưng muốn cai trị thiên hạ không phải chỉ dựa vào âm mưu quỷ kế, cũng không phải chỉ dựa vào phép quyền biến, mà phải có một tấm lòng đức độ, nhân ái. Người ngồi vững trên ngai vàng, song không phải để tạo phúc cho muôn dân, mà là để thỏa mãn ham muốn hưởng thụ vô độ. Xây dựng cung điện, mua quan bán tước, xa hoa lãng phí, ham mê tửu sắc… Thập thường thị có tội gì? Vì tôn quý mà kiêng tên vậy! Tới cuối cùng, lê dân bách tính mà phụ hoàng luôn coi thường đã đứng lên tạo loạn Khăn Vàng; các sĩ đại phu nho nhã thà phò tá Hà Tiến là một kẻ bất tài cũng không muốn ủng hộ người; cuối cùng Thập thường thị thay vua chịu tội cũng phản bội người. Đó đều là do phụ hoàng đã làm trái với lẽ thường mà ra.
Người cai trị thiên hạ nếu chỉ biết nghĩ đến lợi ích của mình, coi chúng sinh như cỏ rác, mặc sức bóc lột bách tính, sau cùng sẽ có kết cục như vậy thôi. Báo ứng có thể đến muộn, nhưng vẫn không thể nào tránh được, hơn nữa báo ứng càng đến muộn càng tàn khốc! Tử tôn ngày sau cũng sẽ bị người ta chèn ép, uy hiếp giống như trẫm. Bài học ấy ngàn năm không đổi!
Còn về phần trẫm… trẫm tự vấn lương tâm, thấy rằng mình không thẹn với muôn dân.
Khi người của Tào doanh đòi chiếu thư sắc phong cho Tào Phi, trẫm không có khả năng ngăn cản, nhưng có thể không đích thân hạ chiếu, để hắn mang tiếng giả truyền thánh chỉ, song rồi trẫm cũng cho. Sau này nếu Tào Phi muốn trẫm nhường ngôi, trẫm cũng có thể ỷ thế không nhường, để Tào Phi mất hết thể diện, nhưng nếu thực sự có ngày ấy, trẫm vẫn sẽ nhường. Không phải trẫm tham sống sợ chết, mà là trẫm vì thiên hạ, vì lê dân bách tính.
Danh bất chính thì ngôn bất thuận, ngôn bất thuận thì sự khó thành. Danh vọng của Tào Phi không bao giờ có thể sánh với Tào Tháo, nếu như trẫm đối đầu với hắn, khiến hắn mất hết thể diện, uy danh sụt giảm, trong tình thế ấy những kẻ làm phản sẽ nổi dậy khắp nơi, người có dã tâm sẽ ra mặt tranh giành, làm cho huynh đệ bọn họ chống nhau từ trong tường vách, Trung Nguyên lại một lần nữa rơi vào loạn lạc. Mà xã tắc nhà họ Tào hỗn loạn là chuyện nhỏ, lê dân trong thiên hạ cực khổ mới là chuyện lớn. Kẻ làm vua trên thế gian luôn hô hào rằng mình cai trị thiên hạ vì chúng sinh, nhưng trẫm muốn vì chúng sinh mà nhường thiên hạ.
Rõ ràng nhân tâm đã không còn, thiên mệnh cũng không phù trợ, lại cứ ở lì trên đài cao không chịu xuống, cậy vào chút công đức còn rơi rớt lại của tổ tông mà cố níu kéo, đó là vô lại. Trẫm là người có tu dưỡng, độ lượng nên rất coi thường điều này! Dù thế nào trẫm cũng là thiên tử, hãy cho trẫm dùng cách nhường lại xã tắc để góp chút công sức cuối cùng cho lê dân thiên hạ. Tất nhiên chuyện sinh tử, họa phúc chẳng thể nói trước được, nhưng cả đời trẫm có mấy lần thực sự được nắm giữ vận mệnh của mình? Có lẽ không phải chỉ mình trẫm, trên thế giới này có mấy ai nắm giữ được vận mệnh của chính mình đây? Lo nghĩ mấy chuyện đó có ý nghĩa gì đâu? Còn ngòi bút lịch sử miêu tả thế nào thì tùy vậy, tự vấn bản thân không thẹn với lòng là được…
Nghĩ tới đây, Lưu Hiệp đã thấy hài lòng, cơn buồn ngủ kéo đến, ông ta ngáp một hơi dài rồi nhắm hai mắt lại; bỗng nghe bên tai có tiếng khóc rấm rứt - Tào Tiết trùm chăn kín đầu, âm thầm rơi lệ.
Lưu Hiệp ôm lấy Tào Tiết, khẽ hỏi:
— Nàng khóc gì thế? Vẫn đang đau lòng vì trẫm ư? - Rồi ngậm ngùi thở dài, - Người đời đều thích quyền quý, nào có ai biết nỗi khổ của quyền quý đâu? Trước mặt thì đạo mạo trang nghiêm, sau lưng lại âm mưu quỷ kế, đến nửa đêm nằm trên giường vẫn không ngừng suy tính, vừa phải nghĩ làm thế nào tính kế với người khác, lại vừa phải phòng bị kẻ khác tính kế với mình, ngay cả một giấc ngủ an lành cũng không có. Trẫm đâu có nặng gánh đến mức đó, nàng nếu muốn buồn rầu, vậy hãy buồn thay cho huynh trưởng của nàng ấy, cũng tới lúc đến lượt hắn chịu khổ rồi, còn trẫm bây giờ được ăn no ngủ kĩ… - Ông ta lầm rầm trong khi hai mắt đã mơ màng, không lâu sau thì nhẹ nhàng chìm vào giấc ngủ.
Tào Tiết nghe bên tai có tiếng ngáy se sẽ, cũng không bận lòng thêm nữa, nép vào lòng ông, không lâu sau cũng thiếp đi.
Đúng vậy, người đời bất kể giàu nghèo sang hèn, nếu như mỗi đêm có thể ngủ một giấc an lành, không thấy thẹn với lòng mình, phúc phận ấy lớn biết chừng nào…
Trọng Trường Thống
Tào Tháo chết rồi, vương triều nhà Hán không lâu nữa cũng đi vào hồi kết. Trong một quán trọ ở Hứa Đô, có một người cũng đang hấp hối nhưng chẳng ai ngó ngàng đến, không người chăm sóc, thậm chí không một ai quan tâm đến sự sống chết của ông ta - Đó chính là văn sĩ một đời Trọng Trường Thống.
Từ khi bị Tào Tháo đuổi về Hứa Đô, Trọng Trường Thống buồn bã, u uất, cuối cùng ủ thành bệnh, nằm liệt ở quan xá. Ông ta xuất thân hàn môn, vợ con thân quyến đều ở quận Sơn Dương quê nhà, một mình ở lại Đô không người trông nom. Ông ta vốn không có bằng hữu, sau khi bị Tào Tháo ghét bỏ, tới cả bọn thư đồng, nô bộc cũng không còn thật tâm hầu hạ ông ta nữa, lâu dần bị bỏ quên trên giường không người chăm sóc, cuối cùng trở nên nguy kịch.
Trọng Trường Thống không sợ chết, nhưng lại thấy chết lúc này thật nực cười. Tào Tháo băng hà, Tào Phi kế vị, giang sơn nhà Hán sắp không còn giữ được nữa. Ông ta ra đi vào lúc này không biết là tuẫn táng theo Tào Tháo hay tuẫn táng theo Hán thất đây? Nghĩ đi nghĩ lại chỉ biết cười nhăn nhó, tuy đến tận lúc chết ông ta vẫn được coi là quan viên nhà Hán, nhưng chưa một lần thích nghi với triều đình. Còn Tào Tháo tuy từng xem trọng ông ta, nhưng lại chỉ dùng lý luận của ông ta để đả kích thiên mệnh của nhà Hán. Có ai thực sự hiểu ông ta?
Một khi bọn họ đã không để tâm đến ông ta, ông ta cũng không cần phải quan tâm đến họ. Nhưng Trọng Thường Thống còn không quan tâm đến cả việc liệu vợ con có kịp đến nhìn mặt mình lần cuối hay không, mà chỉ nghĩ về bộ Xương ngôn mà mình đã hao tâm tổn trí viết nên. Ba mươi tư thiên sách ấy đang nằm lăn lóc trên giường, Trọng Trường Thống không ngừng ngắm nghía chúng, vuốt ve chúng, chỉ sợ sau khi mình chết đi rồi sẽ không còn ai biết đến bộ sách này, càng không còn ai hiểu được mình từng có kiến giải như thế nào về thế đạo này nữa.
Vào thời Bàn Cổ khai thiên lập địa, con người trên thế gian này đều giống nhau, ăn hang ở lỗ, tập trung thành bầy chỉ để tồn tại. Về sau, Thần Nông nếm thử trăm loại thảo dược, Phục Hy diễn dịch bát quái, Thương Hiệt tạo ra chữ viết, khi những người mang “dị năng” ấy trở thành anh hùng, người đời mới biết phân biệt sang hèn. Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Khốc, Đường Nghiêu, Ngu Thuấn được gọi là Ngũ Đế, và là chính thống; ngoài ra còn có Đông Di, Tây Nhung, Nam Việt, Bắc Địch, vì vậy mới phân ra Hoa Hạ - Man Di, hình thành địch - ta. Vua Nghiêu truyền ngôi cho vua Thuấn, vua Thuấn truyền ngôi cho vua Vũ, vua Vũ truyền ngôi cho con trai là Hạ Khải, từ đó mới có “gia thiên hạ”[9], thiên hạ cũng trở thành thứ có chủ. Thái Khang mất nước, Thiếu Khang phục quốc, truyền đến vị vua cuối cùng của nhà Hạ là vua Kiệt bạo ngược vô đạo bị Thương Thang thảo phạt mà lên thay, người đời biết được hóa ra ngôi làm chủ thiên hạ cũng có thể tranh đoạt. Bàn Canh dời đô, Vũ Đinh trung hưng, cho mãi đến khi Thương Trụ mất nước. Chu Văn Vương đã có được hai phần ba thiên hạ mà vẫn phụng sự nhà Ân, nhưng nhi tử của ông là Vũ Vương lại không cam tâm làm bề tôi, quyết chiến ở Mục Dã, thiên hạ đổi chủ.
Nhà Chu định ra năm bậc tước là công, hầu, bá, tử, nam, chia thiên hạ cho thủ lĩnh các bộ lạc, vì thế mới có đất phong. Tả truyện có viết: “Vũ Vương diệt nhà Thương, có cả thiên hạ, huynh đệ được chia đất có mười lăm người, người mang họ Cơ được chia đất có bốn mươi người, gọi là chư hầu.” Dưới thiên tử có chư hầu, dưới chư hầu có các quan đại phu, dưới quan đại phu có sĩ nhân, dưới sĩ nhân mới là bách tính. Đích tử được nối ngôi, thứ tử được phong đất, chế độ tông pháp đã có. “Một dặm vuông bằng một tỉnh, một tỉnh có chín trăm mẫu, ở giữa là công điền. Tám nhà đều có trăm mẫu tư điền, cùng chăm sóc công điền.” Chế độ tỉnh điền cũng có. Tiếp đến, nhà Chu còn định ra lễ, thi, nhạc, thì ra văn hóa giáo dục cũng có thể củng cố quyền lực, có thể khiến bách tính hiểu được bậc tôn giả muốn họ biết điều gì, và giấu giếm không muốn họ biết điều gì… Mọi thủ đoạn cai trị đều theo đó mà ra đời.
Quốc gia được định yên, dân chúng đã thuận theo, nhưng giặc ngoài lại đánh vào. Man Di lần lượt xâm lược, đất vùng Trung Nguyên lâm nguy. Chu Bình Vương dời đô về Lạc Ấp ở phía đông, bị Trịnh Trang Công bắn trúng vai, làm mất uy nghiêm của thiên tử. Từ đó dẫn đến tình cảnh các nước chư hầu liên tiếp giao tranh, gọi là thời Xuân Thu. Tề Hoàn Công chủ trương tôn sùng thiên tử, trấn áp di địch nhưng cũng không vực dậy được vương thất; còn Tống Tương Công bụng ôm một bồ nhân nghĩa cuối cùng lại bị kẻ khác đánh cho tan tác - Thế đạo đã thay đổi, lòng người không còn thuần phác như xưa. Tần Mục Công không đánh được vào Trung Nguyên, liền làm bá chủ Tây Nhung. Phía bắc xuất hiện nước Tấn, miền nam nổi lên nước Sở, Nam Bắc tranh bá hơn trăm năm, kết quả cuối cùng thế nào? Ở nước Tấn, thế lực của các quan đại phu như họ Khích, Loan, Trí, Phạm, Trung Hàng, Hàn, Triệu, Ngụy lớn dần, cuối cùng dẫn đến cục diện vua yếu tôi mạnh; Ngô Việt vốn chỉ là một tiểu bang nhỏ bé ở phía nam nước Sở, thế mà lại có thể lật đổ bá chủ phương nam - Kỳ thực, hai bá chủ miền Nam, Bắc đều bại bởi chính tay mình! Hiển nhiên, một khi chư hầu có thể lật đổ thiên tử, quan đại phu dựa vào đâu mà không thể lật đổ chư hầu? Lễ tiết điển chế ngày càng mục nát nghiêm trọng.
Ba nhà phân chia nước Tấn[10], họ Điền thay thế Tề Khương, họ Đới cướp ngôi nước Tống, nước Lỗ có tam Hoàn? chủ trì chính sự còn chưa bàn tời, lại nhảy ra một Dương Hổ. Đại phu soán ngôi chư hầu chưa đủ, nay sĩ nhân cũng muốn nổi lên đoạt quyền của đại phu, dã tâm của người đời đã bắt đầu bộc lộ, cục thế này tiếp diễn dẫn đến thời Chiến Quốc. Thời Xuân Thu liên tiếp xảy ra những cuộc chiến vô nghĩa, đến thời Chiến Quốc càng khỏi phải nói. Bách gia tranh minh[11],các trường phái tư tưởng Nho, Mặc, Đạo, Pháp, Danh, Âm Dương, Tung Hoành… bề ngoài luôn miệng bàn về nhân nghĩa đạo đức, nhưng trong bụng chứa đầy âm mưu quỷ kế, tạo nên thói đời của cường quyền, thói đời của vũ lục, thói đời của máu tanh. Tần sở dĩ có thể thắng là vì có vũ khí sắc bén nhất, vũ lực mạnh mẽ nhất, trận Y Khuyết tiêu diệt được hai mươi tư vạn liên quân Hàn - Ngụy, trận Trường Bình đánh bại hơn bốn mươi vạn quân Triệu, mưa máu gió tanh thê thiết vô cùng; đốt bỏ kinh sách, làm sáng pháp lệnh, đây được coi là thời kỳ đỉnh cao của Pháp gia.
Doanh Chính thống nhất thiên hạ, bãi bỏ chế độ phân phong, thực hiện chế độ quận huyện, xưng hiệu là Thủy Hoàng Đế, muốn truyền cơ nghiệp lại muôn đời, kết quả chỉ được hai đời là kết thúc. Chứng tỏ cường quyền không thể khiến lòng người quy phục, huống chi điều ta có thể làm được, chẳng lẽ người khác lại không thể làm được? Vương hầu, tướng quân và Thừa tướng phải nhờ có tổ tông truyền lại mới làm nên hay sao? Hạng Tịch vốn là hậu duệ của quý tộc nước Sở, còn Hán Cao Tổ chỉ xuất thân là một đình trưởng, nhưng khi đối đầu trực tiếp Hạng Tịch lại thua ở sự cơ biến, còn đấu trí lại thua ở lý trí, lịch sử không thể nào quay ngược trở lại. Hán Cao Tổ tuy phản lại nhà Tần, nhưng lại muốn làm một hoàng đế nhất ngôn cửu đỉnh như Tần Thủy Hoàng, vì thế mà giết Hàn Tín, giết Bành Việt, giết Anh Bố, Trương Ngao là con rể ông cũng bị đày đọa đến chết dở sống dở. Ông giết ngựa trắng lập lời thề, không phải người họ Lưu không được làm vương. Nhưng, ngay cả người trong một nhà, liệu có thể sống yên ổn với nhau không? Hiếu Văn Đế bức tử Hoài Nam Lệ Vương Lưu Trường, Hiếu Cảnh Đế đề phòng Lương Hiếu Vương Lưu Vũ, loạn bảy nước gươm đao tán loạn, người trong một nhà cũng chẳng tin được nhau.
Hiếu Vũ Đế ban bố đạo luật Thôi ân lệnh[12], khiến các chư hầu đều bị cuốn vào vòng xoáy, nhà vua không tranh đấu nữa, nhà dân lại tự đấu đá với nhau. Đến đây, ông đã yên tâm về hoàng thân quốc thích, nhưng với các đại thần lại chưa yên tâm được, vì vậy lại đặt ra Thứ sử, Thượng thư, còn Thừa tướng cũng phải đứng sang một bên. Ông nói “Loại bỏ học thuyết của trăm nhà, đề cao vị trí của Lục kinh”, nhưng Nho ấy không phải Nho này, nó chẳng qua chỉ là lớp vỏ bên ngoài nhằm mục đích nói với người đời rằng thiên tử chính là con trời, phải tuân theo vô điều kiện, không được tạo phản. Chế độ thuế toán mân[13] cào bằng của cải, bóc lột của bách tính, những cuộc chiến với quân Hung Nô đẩy dân chúng vào cảnh lầm than, cất nhắc khốc lại, mở rộng nhà lao, rồi lại thêm họa vu cổ khiến ngay cả thái tử cũng bị bức tới chỗ buộc phải làm phản… Nhưng Hiếu Vũ Đế có sống mãi được không? Thiên tử chớ coi mình thực sự là con trời, sớm muộn cũng có ngày lìa đời cả thôi! Hiếu Tuyên Đế thông minh tuyệt đỉnh, chẳng phải chỉ là đối nội theo bá đạo, còn thi hành vương đạo với bên ngoài đấy ư? Hai phương diện ấy đều làm thỏa đáng trọn vẹn không phải rất tốt sao? Vua bất tài thì nước nguy mà dân loạn; vua hiền minh thì nước yên mà dân trị. Trọng dụng nho sĩ là tốt nhất, không phải do họ có tài trí cao mà là giỏi mưu tính. Nhưng nếu như việc nước đều do những kẻ ẻo lả không xương ấy đảm nhiệm, hẳn là bọn họ sẽ liên kết lại để lừa gạt hoàng đế. Hiếu Tuyên Đế hiểu rõ đạo lý này, nhờ đó nhà Hán tiếp tục thời kỳ thịnh trị, nhưng nhi tử của ông là Hiếu Nguyên Đế không hiểu được, có lòng tốt lại làm xã tắc đi xuống. Vua biết sai không sửa, còn lún sâu vào sai lầm, bách tính thực sự không còn tin nhà vua nữa. Hoàng hậu Vương Chính Quân vốn chỉ là một cung nữ, có ai ngờ sau này bà lại có uy thế nhường ấy? Tử tôn nhà họ Vương lần lượt làm chính trị, từ Vương Phượng, Vương Âm, Vương Thương, Vương Căn cho đến Vương Mãng.
Vương Mãng ban đầu không phải cũng được dân chúng ủng hộ, suy tôn đấy ư? Người ta nói ông ta đạo đức giả, nhưng bậc đế vương có ai không đạo đức giả? Nói ông ta gian xảo, nhưng bậc để vương có người nào không gian xảo? Một vở hài kịch “sùng Chu phục cổ”[14], thế đạo thay đổi đến mức không thể vãn hồi. Ông ta thực hiện chế độ “vương điền tư thuộc”[15], chia đều của cải trong thiên hạ dựa vào đâu? Còn không phải dựa vào quan viên ư! Kêu những người đó lấy dao tự xẻo thịt của mình, liệu có thiết thực không? Ngây thơ đến nực cười, cố chấp đến đáng hận! Lúc ông ta xưng đế muôn dân sùng kính, lúc ông ta chết muôn dân nguyền rủa! Hay! Hay lắm! Song, có lẽ mọi người đã quên mất một điều, ban đầu chẳng phải các người đã từng cúi đầu trước ông ta mà hô vạn tuế? Các người chưa từng giương cờ gióng trống, cổ vũ hoan hô ư? Ông ta đổ rồi, đại ác bị diệt, mọi người được giải thoát, chỉ nói một câu “tình thế đưa đẩy” là có thể an tâm, mà không cần tự ngồi suy xét lại? Không cần tự vấn lương tâm? Đến khi nào người trong thiên hạ biết phản tỉnh, thế đạo này sẽ tốt đẹp lên chăng?
Vương Mãng đã chết, nhưng tàn tích của ông ta vẫn còn. Đáng tiếc nhất là phần không đáng chết của ông ta lại chết rồi, còn phần đáng chết thì không hề chết. Ông ta từng ôm hoài bão xây dựng một thế giới đại đồng, dám làm cái việc mà tiên nhân không dám làm, dũng cảm lần mò một con đường mới, nhưng những ý tưởng mạnh dạn đó đều chết hết rồi. Những thứ vẫn sống là sấm vĩ mà ông ta tuyên dương, là quân quyền mà ông ta thần hóa được Quang Vũ Đế bảo lưu, tiếp tục sửa sang Minh đường, Tích ung, Linh đài, tuyên bố những câu sấm truyền. Không thể phủ nhận rằng Quang Vũ Đế là minh quân một đời, song thế đạo không thể nào khôi phục lại như xưa, từ đây chỉ còn lại quân quyền tối cao cùng với sự bảo thủ… Điều quyết định vận mệnh của xã tắc này mãi mãi chỉ là ý muốn cá nhân, những cải cách nổi bật từ trước đến nay nói trắng ra đều là phương tiện để người cầm quyền bảo vệ lợi ích cá nhân của mình thuở ban đầu. Cho nên, càng là những chuyện trọng đại thì càng không nhìn ra được bản chất thực sự.
Nghĩ đến chuyện của triều Hán, Trọng Trường Thống bất giác buông một tiếng thở dài, đưa cánh tay run rẩy nắm lấy những thiên sách do mình soạn ra. Những học giả cùng một nhóm tư tưởng với Trọng Trường Thống bắt đầu từ Dương Hùng được trọng dụng dưới thời Vương Mãng, đến Hoàn Đàm, Vương Sung, Vương Phù sau này, xuất thân là nhà Nho, nhưng lại phê phán Nho học quan phương từ thời Quang Vũ Đế, đồng thời muốn khôi phục chân Nho của Khổng Tử.
Dương Hùng viết Thái huyền phỏng theo Chu dịch, viết Pháp ngôn phỏng theo Luận ngữ; Hoàn Đàm viết Tân thư bàn về đạo nghĩa cổ kim, phê phán những lời sấm truyền; Vương Sung viết Luận hành phủ nhận những lời bàn về quỷ thần; Vương Phù viết Tiềm phu luận thuật lại thiện ác của thời thế. Trọng Trường Thống tin tưởng Xương ngôn của mình không thua kém các tác phẩm của tiền nhân, từ cổ chí kim, chưa ai có những khám phá về càn khôn giống như ông ta, nhưng ông ta thu được gì?
Dương Hùng sở dĩ nổi danh một thời là vì Vương Mãng đã biến ông ta thành quân cờ cho việc thay đổi thiên mệnh, cuối cùng suýt nữa bị rơi từ trên lầu cao xuống mà chết, trở thành trò cười cho thiên hạ. Hoàn Đàm vì phê phán sấm vĩ mà bị Quang Vũ Đế đuổi khỏi Lạc Dương, uất ức mà chết. Vương Sung tài trí tuy cao, nhưng sĩ đồ không quá chức Công tào; còn Vương Phù cả đời chưa từng được làm quan. Thậm chí Khổng phu tử mà bọn họ luôn ca ngợi, lúc sống không một tấc đất, thuở nhỏ mất cha, chu du khắp nơi để tìm minh chủ, rồi gặp nguy khốn ở ranh giới giữa nước Trần và nước Sái, không được trọng dụng, về sau mất ở Khuyết Lý. Bậc hiền triết thánh nhân còn như vậy, kết cục cô độc của Trọng Trường Thống ông lẽ nào là lạ?
Ông không mong cầu điều gì quá xa xỉ, chỉ hy vọng trước khi chết có thể đọc lại sách của mình, sợ rằng bản thân chính là độc giả cuối cùng - Bởi ông hiểu rằng, những vị vua sau này cũng muốn dùng thiên mệnh để tự khoe khoang, và cũng muốn dùng thế tộc hào cường để làm chính trị, nếu như ngay cả một vị quân chủ “xa kinh phản đạo”[16] là Tào Tháo đến cuối cùng cũng không thể chọn dùng tư tưởng của ông, thì những đế vương ngày sau càng không thể tiếp nhận được. Bộ sách này chắc chắn sẽ chìm nghỉm trong dòng sông lịch sử, ba mươi tư thiên quyển hùng hồn lý luận không biết ngàn năm sau còn giữ lại được mấy chương mấy dòng. Trọng Trường Thống nắm chặt sách của mình, cảm thấy hậu thế vô cùng mờ mịt.
Hai trăm năm phục hưng nhà Hán, chúng ta đã làm được những gì? Không gì ngoài hai việc, lấy kinh học Nho gia làm nền móng trị nước và lấy cường hào sĩ tộc làm bề tôi cai trị, còn lại là những cuộc đấu tranh không ngừng của ngoại thích, hoạn quan; những cuộc giao chiến không có hồi kết với người Khương, người Tiên Ti. Xưa, hai phái Nho - Mặc cùng được xưng là hiển học, hẳn là có lý của nó, Nho gia coi trọng lễ pháp thứ bậc, còn Mặc gia chuyên giảng kiêm ái thượng đồng. Hiếu Vũ Đế chỉ tôn sùng một phái vốn đã thiên vị, lại coi một kẻ ngụy học giả như Công Tôn Hoằng là tôn sư của giới nho sĩ, Nho gia trở thành bộ mặt sáng sủa của đế vương. Vương Mãng biến những câu sấm vĩ trở nên lợi hại hơn, còn Quang Vũ Đế càng đẩy mạnh quan niệm “nghe theo điều phải” hoàng đế là thánh nhân. Ngay đến vị vua ngu xuẩn nhất là Hiếu Linh Đế còn muốn san định sáu kinh, những cái khác đều không biết, thế mà cũng biết lấy học thuật quan phương để ràng buộc nhân tâm, bảo vệ ngôi vị của mình! Đó há phải bản ý của Nho gia!
Khổng phu tử nói: “Hạ lễ ngô năng ngôn chi, kỷ bất túc chinh dã; Ân lễ ngô năng ngôn chi, Tống bất túc chinh dã, văn hiến bất túc cố dã đạt.”[17] có lẽ Khổng phu tử tôn sùng lễ của nhà Chu chỉ vì lễ của nhà Chu gần với thời của ông hơn, nên có thể làm dẫn chứng, nếu lễ của nhà Hạ và nhà An vẫn còn lưu giữ được, có lý do gì lại không thể sửa chính thế đạo? Nho sĩ thời xưa cố chấp nhưng không mất đi sự biến báo, nhân ái nhưng cũng không thiếu sự cứng rắn. Việc trị lý đất nước theo phép tắc nào vốn không quan trọng, quan trọng là phép tắc ấy có thể an định thiên hạ, an định bách tính. Còn nếu ta cứ một mực lấy tư tưởng nào đó làm lá chắn để mình độc chiếm thiên hạ, mà lại đi rêu rao là vì bách tính, vì xã tắc, thì chỉ là kẻ độc tài chuyên chế! Muốn người ta yêu mình, mình phải yêu người ta trước; muốn người ta theo mình, mình phải theo người ta trước. Đối đãi vô đức với người ta, mà còn mong cầu ở người ta, đấy là có tội. Việc đời là gốc, đạo trời là ngọn.
Còn như việc thế gia hào môn lũng đoạn triều đường tuy là bất đắc dĩ, song nó cũng là lựa chọn của bậc đế vương nhằm bảo vệ ngôi vị của mình. Dù sao, những người lập thân từ kinh nghĩa cũng được coi là một phe, bọn họ cố nhiên sẽ xâm hại lợi ích của đế vương, lấn át điều thiện, gây ra sự oán hận cho triều đình, nhưng suy cho cùng bọn họ đang cùng nhau chèn ép chúng sinh. Tuy thời Tần Hán ban hành chế độ quận huyện đã lâu, nhưng từ xưa đến nay chính lệnh của triều đình chỉ đưa được đến cấp huyện, còn xuống đến thôn làng thì chẳng biết thiên hạ này là của ai.
Ca dao triều trước có câu “Thái thú Nhữ Nam là Phạm Mạnh Bác, Tông Tư người Nam Dương chỉ lo điền dấu. Thái thú Nam Dương là Sầm Công Hiếu, Thành Tấn người Hoằng Nông chỉ ngồi sai hảo”[18], nhưng ở đời liệu có được mấy hiền sĩ như Phạm Bàng, Sầm Chất đây? Nếu triều đình không áp chế những hào môn trong quận, chỉ e sau này thực quyền thi hành chính pháp ở địa phương đều rơi hết vào tay họ.
Dưới có hương thân thổ hào, trên có tử đệ danh môn, kết quả sĩ tộc hào môn bất kể hiền ngu đều được nắm giữ những chức vị hiển hách, đời đời truyền lại quan tước, môn sinh cố lại kết bè kết đảng khắp chốn triều đường và dân dã - Thời của thiên tử nhà Chu đã hết, thời của chư hầu, quý tộc cũng đã trở thành quá khứ nhường đường cho sĩ tộc làm lũng đoạn triều cương, bao che cho nhau để cùng nắm giữ thiên hạ. Có điều các vị chớ vui mừng quá sớm, quan lại bao che cho nhau, nhưng cũng có cả hãm hại lẫn nhau nữa đấy! Đại tộc quan cao cũng đều mang dị tâm, tranh quyền đoạt thế anh chết tôi sống. Người thắng ngồi tít trên cao, còn kẻ bại bị chụp mũ là tội nhân của xã tắc, chôn thân dưới đất, mà thực ra, dẫu là người đang đứng vững hay kẻ đã ngã xuống cũng cùng một giuộc với nhau cả thôi. Thúc Tôn Mục Tử có câu “Thế lộc[19] chẳng phải bất hủ” sớm muộn gì cũng có ngày đi đến đường cùng…
Quốc gia là gì? Theo ta, quốc gia giống như một nồi cháo, mà chủ nhân của nồi cháo ấy chính là hoàng đế, còn những người bước trên con đường làm quan là người giúp hoàng đế nấu cháo, trong lúc bọn họ ngồi trông lửa luôn có kẻ thèm thuồng muốn ăn vụng. Mới đầu, người bên cạnh bắt được quả tang liền trách cứ, lúc lâu sau lại có kẻ nữa ăn vụng, mọi người đều nhìn thấy cả nhưng lại lờ đi, bởi không ai muốn đắc tội với đồng liêu chỉ vì một miếng cháo. Về sau, anh ăn vụng được thì tôi cũng ăn vụng được, ai cũng chẳng nhịn được miệng, nhưng vì bọn họ quá hiểu nhau nên không người nào vạch trần, ngược lại kẻ không ăn vụng còn bị coi là tên ngốc. Cứ như vậy, họ đã ăn hết sạch nồi cháo, nhưng vẫn để lửa cháy, càng cháy càng nóng, cuối cùng làm cái nồi bị thủng - Tuy nhiên, thứ bị hỏng là cái nồi của hoàng đế, nên những kẻ ăn vụng đó chẳng hề thấy tiếc, họ quệt miệng, chỉ cần tìm một hoàng đế khác kế vị để lại ăn cháo tiếp là được.
Ta nhìn rõ tất cả, Tào Mạnh Đức cũng nhìn rõ tất cả, nhưng ông ta vì ngôi vị quân vương của mình mà đành phải buông xuôi bỏ mặc. Nói chế độ tuyển chọn quan lại “chỉ cử người tài” là một việc làm tiên phong hay là một trường hợp đặc biệt vào thời loạn cũng đều được, bởi xét cho cùng nó cũng là một chút cải cách trong suốt hai trăm năm qua, tiếc rằng nó chỉ tồn tại được một thời gian quá ngắn. Có lẽ đối với một vương triều mà nói, chế độ “chỉ cử người tài” vốn là cứng nhắc, vô tình, khát vọng và tự do của con người chỉ là giấc mộng hão huyền do thời loạn tạo ra. Nói nó là mộng, bởi nó chỉ thành toàn cho ít người, ngoài vầng sáng đẹp đẽ của danh thần lương tướng ra, trong các tòa trang viên của hào cường đại tộc là vô số cô hồn oan khuất, cái gọi là đại bất hủ thực chất lại được xây lên từ một đống xương khô! Tả truyện có câu: “Chỉ có bậc thánh nhân mới vừa không có nỗi lo bên ngoài, vừa không có nỗi lo bên trong, còn chưa phải bậc thánh nhân tất chỉ có thể thiên về một bên.” Nếu cho rằng việc thỏa hiệp với thế gia hào môn sẽ đem lại thái bình vô sự thì đó là quá cam chịu. Nói thẳng ra sự thực động trời, trong mắt những con người tự cao tự đại ấy, chớ nói Tào thị làm hoàng đế, dù có trở thành thần tiên đi nữa cũng vẫn là “nòi giống xấu xa của hoạn quan để lại”, vẫn là dòng đục hàn môn; quyền thế của nhà họ Tào được gây dựng từ vũ lực, e là trong lòng những danh môn đại tộc sẽ chẳng bao giờ xem trọng Tào thị, mà chẳng qua do thời cuộc đưa đẩy thôi - Đây cũng chính là nỗi lo thứ nhất của Tào thị.
Không riêng Tào Ngụy, Tôn Quyền cũng lôi kéo hào tộc Giang Đông từ rất sớm, còn Lưu Bị cũng muốn làm như vậy, chỉ có điều sau khi mất Kinh Châu rồi ông ta mới bắt đầu lôi kéo hào môn đại tộc đất Thục, nên có vẻ đã hơi muộn. Một khi Tào Phi soán ngôi nhà Hán, Tôn, Lưu tất sẽ xưng đế để tạo thành thế đối kháng, một thiên tử thoái vị nhường chỗ cho ba thiên tử lên thay, đúng là chuyện xưa nay hiếm. Ai cũng nói muốn nhất thống thiên hạ, song ngoài ba vị thiên tử và những kẻ muốn kiến công lập nghiệp ra, chưa chắc quan viên hào môn ở các địa phương đã thực sự hướng đến việc nhất thống thiên hạ. Nhất thống có ý nghĩa gì? Bị kẻ khác loại trừ nghĩa là mất đi lợi ích của bản thân, còn loại trừ kẻ khác lại đồng nghĩa với việc để cho sĩ nhân bên ngoài bước vào vòng thế lực của mình, việc tranh quyền đoạt thế càng trở nên gay gắt hơn. Bọn họ luôn miệng kêu gọi nhất thống thiên hạ, nhưng đó bất quá là một cái cớ để dễ bề ăn nói với tổ tông rằng mình không mang tội danh thiên cổ là người chia rẽ Hoa Hạ. Còn nếu thực sự muốn nhất thống thiên hạ, ít nhất cũng phải giảm bớt quyền thế của mình ở một phương diện nào đó xuống mức thấp nhất mới mong thực hiện được. Mà thực sự chẳng biết còn phải đợi bao lâu nữa - Đây là nỗi lo thứ hai của Tào thị.
Có lẽ không chỉ dừng lại ở đó, sĩ tộc lũng đoạn triều cương, bạo ngược với bách tính, ngọn lửa của dân chúng sẽ không bùng cháy chăng? Huynh đệ Tào thị chống nhau từ trong tường vách, e là Tào Phi sẽ chẳng thể chấp nhận chế độ tông phiên, mà một nhà thấp hèn ngồi trị vì thiên hạ lại không có thế lực tông thân lớn mạnh giúp sức phò tá, há chẳng phải rất đáng lo sao? Thiên hạ động loạn đã mấy chục năm, trăm họ không có một chủ nhân cố định, trong khi đó lớp lớp anh hùng xuất thế, còn sĩ nhân vẫn mang lòng gian trá hiếu loạn, ai biết được còn có bao nhiêu kẻ đang che giấu dã tâm dòm ngó ngôi cửu ngũ? Khương, Để gây chiến với nhà Hán hàng trăm năm, Tiên Ti lại dần dần nổi lên chống đối, bọn chúng há lại cam chịu xưng thần với nước Ngụy được mãi? Có những chuyện ta không dám nghĩ tới, triều trước từng phái ba lộ đại quân lên phía bắc đánh người Tiên Ti, nhưng rơi vào kết cục toàn quân bị tiêu diệt. May mà thủ lĩnh người Tiên Ti lúc bấy giờ là Đàn Thạch Hòe chết trước Hiếu Linh Đế, nên nội loạn của người Tiên Ti xuất hiện sớm hơn nội loạn ở Trung Nguyên, chứ nếu Hiếu Linh Đế chết trước Đàn Thạch Hòe, thiên hạ sẽ thành ra thế nào? Đất rộng mà không đủ yên ổn, người đông mà không đủ lớn mạnh!
Không biết, ta không biết. Thế chân vạc không phải là một sự kết thúc, mà nó bắt đầu mở ra những nỗi lo lớn hơn, tất cả mâu thuẫn vẫn đang mọc mầm, thực không biết sau này sẽ ra sao!
Phải làm sao đây? Làm sao đây? Phải làm thế nào mới tháo gỡ được thế đạo rối loạn, nhiễu nhương này? Trung Nguyên rộng lớn, chúng sinh đông đúc của chúng ta làm sao mới có thể bước ra khỏi cái vòng luân chuyển loạn - trị, hưng - vong?
Trọng Trường Thống vừa đọc sách vừa tự đặt ra những câu hỏi này. Ông ta xem từng cuốn Tổn ích thiên, Pháp giới thiên, Lý loạn thiên, nghĩ tới nghĩ lui vẫn không thể tìm ra câu trả lời. Dù cho có nghĩ thông thì đã sao? Ông ta có thể can gián một cách thẳng thắn, nhưng liệu người cầm quyền có sẵn lòng tiếp nhận chủ trương của ông ta không? Những câu hỏi này đã khiến Trọng Trường Thống trăn trở cả đời, ông ta thực sự đã quá mệt mỏi rồi…
Đêm trở về khuya, ngọn đèn cũng sắp cháy đến giọt dầu cuối cùng. Tầm nhìn của ông ta mờ dần, chỉ cảm thấy toàn thân lạnh toát như thể vừa rơi vào một cái động băng không đáy. Trọng Trường Thống từ từ buông lỏng cuốn sách, đồng tử giãn dần ra… nhưng cho đến thời khắc cuối cùng, hai con mắt chưa nhắm nghiền của ông ta vẫn còn nhìn chằm chằm vào cuốn Lý loạn thiên mà thốt lên một câu sau cùng:
Than ôi! Không biết thánh nhân đời sau có cứu vãn nổi thế đạo này không, nếu có, họ dùng cách nào? Cũng không biết, nếu ông trời muốn chấm dứt vận số này thì sẽ đưa nó đi đến đâu?
Giả Hủ
Giờ đã là canh hai, Thính Chính điện vẫn sáng đèn. Linh cữu của Tào Tháo đang trên đường di chuyển, nhưng linh đường ở Ngụy cung đã được lập từ hôm Tào Phi bôn tang, có bày đồ cúng, đặt lư hương, giăng màn trắng và thắp đèn sáng, không thiếu thứ gì. Các vị đại thần như Công khanh, Thị trung, Thượng thư đều mặc tang phục trước linh đường, công vụ trong những ngày này hầu như đều được xử lý ngay tại đây.
Các bậc nguyên lão trọng thần đều là người tuổi, không thể cứ túc trực cả ngày lẫn đêm, nên chưa được mấy ngày Trung úy Từ Dịch, Thiếu phủ Tạ Hoán, đã ngã bệnh. Bọn Chung Do, Vương Lãng bàn nhau, nếu cứ tiếp tục thế này e là đợi được đến lúc hạ táng Tào Tháo, những thân già này cũng chôn xuống mồ theo rồi! Vì vậy, họ chia làm mấy ca, luân phiên nghỉ ngơi, miễn sao lúc nào cũng có người túc trực trước linh đường là được. Dù vậy, các lão thần cũng rất mệt mỏi.
Bóng hoa đu đưa theo ánh trăng chiếu rọi, trời càng về khuya càng yên tĩnh, Chung Do, Viên Bá, Giả Hủ túc trực bên linh đường, nhưng đều đang dở thức dở ngủ. Lúc này Lang trung lệnh Hòa Hiệp với đôi chân vòng kiềng tập tễnh bước lên điện nói:
— Các ngài vất vả, đến phiên mấy người chúng tôi rồi. - Tự nhân đi bên cạnh cầm đèn lồng soi rõ, theo sau ông còn có Hà Quỳ và Hình Ngung, bọn họ tới thay ca.
Chung Do phải mất rất nhiều sức mới run rẩy đứng dậy được, Hòa Hiệp vừa đỡ ông ta vừa nói:
— Tôi vừa nhận được tấu chương của Thứ sử Dương Châu là Ôn Khôi, bọn Vu Cấm, Chu Quang đã được đưa đến Hà Bắc rồi, nên xử trí như thế nào?
Chung Do đang váng đầu, còn tâm trí đâu mà nghĩ đến chuyện này? Chỉ đáp:
— Không vội, cứ sắp xếp cho bọn họ ở dịch quán trước, đợi đại giá trở về rồi tính tiếp. Đại vương truyền thư mấy lần mà một chữ cũng không nhắc đến chuyện của Vu Cấm, chỉ e là… - Nói đến đây, Chung Do chợt nhận thấy mình đã nhiều lời, vội ngậm miệng lại - Thực ra, qua ba năm làm việc cùng Tào Phi khi còn đương chức Tướng quốc, ông ta rất hiểu cách đối nhân xử thế của Tào Phi, y càng tỏ ra thờ ơ thì về sau càng xử trí tàn nhẫn, vì vậy rất có thể lần này Vu Cấm lành ít dữ nhiều. Ông vua mới ấy bề ngoài thì nho nhã, nhưng thực ra lại khó hầu hơn cả phụ thân của mình!
Viên Bá gom những công văn mới nhận ban ngày lại đưa cho bọn Hòa Hiệp, lại nói:
— Bên đó gửi tin đến, Hạ Hầu Đôn sắp không trụ nổi rồi, đại vương bảo chúng ta bàn bạc xem nên phong hiệu gì cho ông ấy. Theo ý của tôi cứ tấn phong là Đại tướng quân. - Theo thông lệ của nhà Hán xưa nay, một khi đại thần có công lao to lớn bệnh nặng sắp mất, triều đình sẽ phải ban chức quan hoặc phong hiệu tốt cho họ để tỏ ý hậu đãi, và cũng là làm hỷ sự.
— Giờ Tào Ngụy của chúng ta cũng có thể phong chức Đại tướng quân rồi đấy. - Hình Ngung có chút cảm khái, - Hôm qua tôi đi thăm Từ Dịch, ông ấy bệnh không nhẹ, e là cũng không cầm cự được mấy tháng nữa, giờ Hạ Hầu tướng quân bên đó cũng không ổn. Ây dà! Tiên vương đi kéo theo nhiều người thế này, đúng là kẻ mới thay người cũ… Cánh già chúng ta cũng phải chú ý bảo trọng thôi!
Ba người Chung Do xuống điện đi ra cửa Thính Chính, cửa Thăng Hiền, Chung Do định nhằm hướng tây qua cửa Sùng Dương tới trung đài nằm nghỉ, nhưng lại trông thấy Giả Hủ lững thững đi về hướng nam, ông ta cười nói:
— Giả công, muộn thế này rồi ngài còn muốn về phủ sao?
Giả Hủ quay đầu lại đáp:
— Khuyển tử có lẽ đang chờ tôi ở bên ngoài.
Viên Bá ngáp một cái nói:
— Tôi thực sự khâm phục lão huynh đấy, không bì được với tinh thần của ngài. Gác bên cạnh trung đài cũng được dọn dẹp rồi, chúng ta cùng ở lại trong cung không tốt hơn sao? Sáng mai đỡ phải mất công chạy vào.
— Các ngài có thể ở lại được, nhưng tôi thì không ở lại được. - Giả Hủ cười nói, - Các ngài đều là thần tể nước Ngụy, còn lão hủ chỉ là ngoại thần, tuy phục mệnh đại vương túc trực bên linh cữu, nhưng cũng không nên ở lại cung cấm, đó là phép xưa. - Nói rồi chắp tay từ biệt.
Viên Bá nhìn chiếc bóng liêu xiêu của ông ta, bất giác lắc đầu:
— Phép tắc là vậy, nhưng vẫn có tình và lý cơ mà, hà tất phải dại dột thế? Ông già này quá thận trọng rồi, đi đường mà cũng sợ giẫm phải con kiến.
Nhưng Chung Do nói:
— Đại xảo giả vụng, đại trí giả ngu. Đó không phải thận trọng, mà là cao minh…
Giả Hủ đã nhiều tuổi nhưng tai còn rất thính, ông ta loáng thoáng nghe được đoạn nói chuyện giữa hai người họ, nhưng không bận tâm, tiếp tục đi ra ngoài. Với ông ta, chưa chắc những đồng liêu này đã thực sự hiểu mình - Thực ra, Giả Hủ cũng là người được lợi từ cái chết của Tào Tháo, bởi sau này sẽ không còn người nào tìm ông ta để tính toán mối thù giết con. Hơn nữa, ông ta chỉ cần chịu đựng thêm một thời gian, đến khi Tào Phi soán ngôi nhà Hán thì cũng sẽ không còn ai rỉa róc cái tội đưa quân của Lý Thôi vào Trường An, gây họa cho nhà Hán nữa, cả hai gánh nặng mà ông ta đã đeo nửa đời người đều có thể trút bỏ. Tào Phi cũng đã bắt đầu báo đáp công lao của Giả Hủ trong chuyện lập thái tử bằng việc cho ông ta tham gia xử lý chính sự trong tang kỳ, điều hai nhi tử của ông ta là Giả Mục và Giả Kỳ đang làm quan bên ngoài về Nghiệp Thành, ngay cả người con út chưa nhập sĩ là Giả Phóng cũng được nhận mệnh làm Lang trung, gia tộc họ Giả lại đến hồi hưng thịnh rồi.
Có điều Giả Hủ cũng không cảm thấy vui vì những chuyện này. Cái chết của Tào Tháo giúp ông ta được giải thoát, nhưng không hiểu vì sao ông ta lại có cảm giác chông chênh như thể tim mình bị khoét rỗng, đối với một ông già bảy mươi tuổi mà nói, ngày tháng sau này còn làm được việc gì nữa đây? Thận trọng cũng được, mà cao minh cũng được, nhưng ẩn giấu đằng sau là sự bất lực, khát vọng cả đời đã bị mài mòn gần hết trong sự âm thầm nhẫn nhịn và hợp ngang chi dọc giữa thời thế hỗn loạn.
Ra khỏi cửa Tuyên Minh, ánh đèn tối hơn, Giả Hủ thấm mệt, định vịn vào thành cửa nghỉ một lát, bỗng nghe có tiếng người gọi - Giả Phóng đã đến đón, còn dẫn theo cậu bé tên Giả Diên là nhi tử của Giả Kỳ và cũng là tôn nhi của ông.
Giả Hủ nhăn mày, chực mắng nhi tử sao lại dẫn tôn nhi vào cung, nhưng vừa đi lên được hai ba bước cánh tay đã đặt lên vai cậu bé, lúc này ông ta mới hiểu tôn nhi đúng là cây gậy của mình rồi! Một đám lão thần đều chưa dùng gậy chống trước mặt chúng nhân, nên Giả Hủ cũng ngại dùng, nếu để nhi tử dìu đi thì khó tránh khỏi việc mọi người nói ông bày đặt phô trương, nhưng tôn nhi mới chỉ sáu bảy tuổi đầu, dựa vào vai cậu bé chẳng khác nào cây gậy, dù các đại thần khác có trông thấy cũng sẽ không đến mức điều ra tiếng vào, mà ngược lại còn cho thấy ông cháu ông rất gần gũi. Giả Hủ liếc nhìn Giả Phóng với ánh mắt tán thưởng - Nhi tử ngoan, không uổng công con hầu hạ ta bao nhiêu năm, cũng học được không ít đức tính thận trọng, coi như cũng đủ tài cán.
Ánh đèn le lói không giấu được nụ cười hiện trên khuôn mặt Giả Phóng, giờ anh ta đã là Lang trung, có quyền như một thị vệ trong cung, bản thân được thăng tiến hẳn là chuyện tốt, có điều sự vui mừng của anh ta tối nay không chỉ dừng lại ở đó:
— Phụ thân, con nghe nói đại vương định sau khi đăng cơ sẽ phong người làm Thái úy.
— Sao? - Giả Hủ có chút ngạc nhiên, - Làm sao đến lượt ta được? Thiên hạ hết người rồi ư? - Ông ta biết mình từng phò tá Đổng Trác, Lý Thôi, có danh tiếng không tốt.
Giả Phóng đáp:
— Phụ thân quá khiêm tốn đó thôi, hiện giờ ngoài Hoa Hâm, Vương Lãng và Chung Do ra còn ai có thể so với người? Hơn nữa, người đã ở tuổi này rồi, không cất nhắc người thì còn cất nhắc ai vào đây?
Giả Hủ suy nghĩ cặn kẽ:
— Hai người Hoa, Vương thì không cần nói nữa, mặc dù Chung Do bị cách chức sau vụ mưu phản của Ngụy Phúng, nhưng đó chỉ là tạm thời, vả lại Trường An còn có Dương Bưu, bốn đời làm chức tam công, là di thần nhà Hán, đến lúc thay đổi triều đại há lại không đặt Dương gia vào những chức tước quan trọng.
Nhưng Giả Phóng nói:
— Con nghe Chu Thước nói, đại vương nghĩ đến chuyện của Dương Tu, có ý muốn nhận mệnh cho Dương Bưu làm Thái úy, nên đã bí mật sai người viếng thăm, nhưng lão ngài trả lời: “Gặp thời loạn, không đem lại được lợi ích gì cho xã tắc. Giờ tuổi cao nhiều bệnh, sao có thể phò tá tân triều?” Dương Bưu kiên quyết từ chối, còn Chung Do tạm thời chưa thể nhận chức, ngôi Thái úy này không phải thuộc về phụ thân sao?
Giả Hủ dở khóc dở cười - Đúng là Tào Phi có tán thưởng ông ta, cảm kích ông ta, nhưng đâu coi ông ta là người đức độ để mà được ngồi vào chức tam công, giờ “chu sa không đủ, đất đỏ lên ngôi”, có lẽ là miễn cưỡng bổ nhiệm cho đủ. Âu cũng là số mệnh cả rồi!
— Dù thế nào, phụ thân cũng có phần trong chức tam công, đạt được tâm nguyện của người, mà cũng là phúc phần của nhà họ Giả chúng ta.
— Ây dà! Cứ biết vậy, từ lâu ta không còn quan tâm chuyện này. - Giả Hủ cúi đầu nhìn tôn nhi, - Ở trước mặt bọn trẻ chớ nhắc đến những chuyện này… Diên nhi, hôm nay cháu có đọc sách không?
Giả Diên nghếch đầu nhìn tổ phụ, cái miệng nhỏ cười chúm chím, đáp rằng:
— Diên nhi rất nghe lời. Hôm nay Diên nhi đã đọc thuộc Hiếu kinh, và bắt đầu đọc Luận ngữ, “Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hổ đạt.”[20] Khổng Tử là thánh nhân.
— Ha ha ha!… - Giả Hủ bật cười, xoa đầu cậu bé.
Không ngờ Giả Diên còn nói:
— Diên nhi nghe mọi người nói Vũ Vương vừa băng hà cũng là thánh nhân.
— Thánh nhân? - Giả Hủ giật mình, sau đó lại lắc đầu, - Không biết ai nói lời xiểm nịnh này. Tiên vương sao được coi là thánh nhân? Nếu miễn cưỡng nói là thánh nhân, cùng lắm cũng chỉ là một vị thánh nhân đê tiện!
— Thánh nhân đê tiện? - Giả Phóng không nhịn được nói xen vào, - Vì sao lại gọi là thánh nhân đê tiện?
Giả Hủ thu lại nụ cười:
— Thánh nhân đê tiện… thực ra là người thường.
Giả Diên vỗ tay reo lên:
— Vậy theo lời tổ phụ nói, tôn nhi cũng được coi là tiểu thánh nhân rồi đúng không ạ?
Giả Hủ mỉm cười gật đầu:
— Đúng rồi, phàm là con người ở đời đều có thể được coi là thánh nhân, nhưng cũng có chỗ đê tiện, Ngụy Vũ Vương cũng như vậy. Tuy có chí nguyện của thánh nhân nhưng không thoát khỏi thói tục của người đời, tuy có việc làm đê tiện nhưng không mất đi tấm lòng nhân ái. Trong mỗi việc hằng ngày, con người ta đều đứng trước lựa chọn làm thánh nhân hay làm tiểu nhân, hoặc là lúc này tỏ ra cao thượng, lúc khác lại tỏ ra đê tiện, hoặc là với việc này thì hèn hạ, nhưng với việc khác lại phóng khoáng, ai cũng là thánh nhân, và ai cũng là người đê tiện, trên đời này căn bản không có người thực sự vĩ đại! Đến ngay như việc người thời xưa có được gọi là “bậc thánh hiền” hay không cũng hoàn toàn dựa vào miệng lưỡi của người đời sau. Thái sử công[21] nói về Khổng Tử thế này:
“Người có đức hạnh cao thì để người ta ngưỡng mộ, người có hành vi ngay thẳng thì được người ta xem như khuôn mẫu mà noi theo; tuy không đạt được đến mức ấy, nhưng vẫn phải lưu tâm mà làm đạt.”[22] Khổng Tử chưa làm được như vậy, sao có thể thoát tục nhập thánh được? Ngụy Vũ Vương hay tự so mình với Chu Công, chẳng lẽ Chu Công không có chỗ nào để bới móc? Thượng thư - Lạc cáo chép lúc Chu Công bàn bạc việc nước với Thành Vương, Chu Công nói “Bé ngoan phấn chấn lên, bé ngoan phấn chấn lên, còn phải đi đến Lạc Ấp!” Ông ta ngang nhiên gọi thiên tử là “bé ngoan”, lại nói “Ta dạy ngài cách dẫn dắt bách tính, nếu ngài không cố gắng làm theo, chính lệnh tốt đẹp của ngài sẽ chẳng thể mở rộng đâu!” Đó là giọng điệu mà một bề tôi nên có ư? Đó là hành vi của bậc thánh nhân ư? Chỉ có ba phần hiền đức, còn bảy phần là lời ca tụng mà người đời sau thêm thắt vào. Thế đạo này rất tẻ nhạt, chớ nên chia con người thành thiện ác, dường như ngoài người tốt ra thì chính là kẻ xấu, mà hễ là kẻ xấu thì luôn bị hạ thấp, còn người tốt luôn được thổi phồng lên…
Giả Diên còn nhỏ, không hiểu tổ phụ của mình đang nói gì, chớp chớp đôi mắt bé như hạt đậu đen; còn Giả Phóng giật mình kinh hãi, không dám tin những lời này lại được thốt ra từ miệng phụ thân luôn dè dặt thận trọng của mình, nghĩ đến cái chết của Khổng Dung, anh ta bỗng thấy rùng mình, run run nói; - Phụ thân chớ nói vậy, nếu để nho sĩ Dĩnh Xuyên nghe được những lời này, e là bọn họ sẽ nói người phỉ báng thánh hiền…
— Nghe được thì thế nào? - Giả Hủ đột nhiên dừng lại, vỗ ngực nói, - Ta đã nhịn nửa đời người! Giờ đã bảy mươi tư tuổi rồi, chẳng lẽ lúc còn sống đến mấy câu thật tâm cũng không thể nói ra?
Giả Phóng chăm chú nhìn phụ thân, thấy ánh mắt già nua mờ đục của ông ta lấp lánh ánh lệ, liền im lặng không nói - Phụ thân không phải người cổ hủ, bảo thủ, năm xưa người hiến kế cho Lý Thôi uy hiếp thiên tử, phò tá Trương Tú ba lần chống lại Tào Tháo, phóng khoáng, liều lĩnh nhường nào? Nhưng từ ngày quy hàng Tào Tháo, người luôn thấp thỏm lo sợ như đi trên băng mỏng. Khổng Dung, Tuân Úc, Hứa Du, Mao Giới, Thôi Diễm, Lộ Túy, Lâu Khuê… đã có bao nhiêu người bị dồn vào đường cùng? Phụ tử Trương Tú dốc sức cho Tào gia như thế mà cuối cùng vẫn chẳng thể thoát được, Trương Tuyền bị giết trước cái chết của Tào Tháo không quá trăm ngày. Phụ thân gánh hai “tội lớn” mà có thể ngủ cùng hổ hai mươi năm cho đến tận giờ, cũng thực là kỳ tích! Giờ coi như được giải thoát, nhưng người đã ở cái tuổi ngoài bảy mươi, đất vàng vùi đến cổ, tính cách cũng gần như bị mài mòn hết rồi. Đời này phụ thân sống cũng chẳng dễ dàng gì.
— Tổ phụ… thúc phụ… sao hai người không nói nữa? - Trẻ nhỏ nào biết được thế sự gian nan?
Giả Hủ có phần ngưỡng mộ sự vô tư của tôn nhi, vuốt má cậu bé nói:
— Diên nhi, cháu có biết vì sao ta đặt tên cho cháu là “Diên” không?
Giả Diên khẽ lắc đầu:
— Cháu không biết ạ.
— Chữ “diên” có nghĩa là kéo dài. Tổ phụ không mong cháu kiến công lập nghiệp, vang danh bốn phương, chỉ cần cháu có thể nối dài huyết mạch của nhà họ Giả là ta đã mãn nguyện lắm rồi. Giếng ngọt dễ cạn, cây cao dễ đốn, có lẽ những người bình thường nhất trên thế gian mới chính là những người hạnh phúc nhất. - Giả Hủ thở dài nói tiếp, - Chớ giống tổ phụ bị mệt vì danh, bị ganh vì tài.
Nhưng Giả Diên không hài lòng, dẩu miệng nói:
— Diên nhi không muốn làm người tầm thường vô sự, Diên nhi muốn làm anh hùng!
— Anh hùng? - Giả Hủ thoáng ngây người rồi nói, - Phải rồi! - Giả Diên chưa biết kiêng kỵ, chỉ tay vào đài điện lầu gác nói, - Cháu muốn làm một đại anh hùng như Vũ Vương…
— Chớ nói lung tung. - Giả Phóng vội bịt miệng cậu bé.
Giả Hủ bất giác ngoái đầu lại nhìn Thính Chính điện dưới ánh đèn lờ mờ. Một cơn gió lạnh thổi qua khiến cây hòe trong cung khẽ đu đưa phát ra những tiếng “xào xạc”. Giả Hủ cảm thấy hoa mắt, cây hòe đen sì ấy dường như hóa thành những chiếc bóng thoắt ẩn thoắt hiện mà ông đã kịp nhận ra, đó là Đổng Trác, Viên Thiệu, Trương Mạc, Viên Thuật, Lưu Biểu, Lã Bố, Hàn Toại, Trương Lỗ… Tất cả bọn họ đều đến đón bằng hữu cũ Tào Tháo của mình chăng?
Giả Hủ dụi mắt, ảo giác lập tức biến mất, nhưng ông ta lại miên man suy nghĩ.
Rượu độc giải khát ấy là Trương Giác, trí nhỏ mưu lớn ấy là Hà Tiến, ôm rơm cứu lửa ấy là Đổng Trác, dục tốc bất đạt ấy là Vương Doãn, do dự không quyết ấy là Lã Bố, đức cao tài mỏng ấy là Lưu Ngu, chuộng dùng vũ lực ấy là Công Tôn Toản, tự cao ngạo mạn ấy là Viên Thuật, cố chấp tự phụ ấy là Viên Thiệu, một mực bảo thủ ấy là Lưu Biểu, hèn nhát cổ hủ ấy là Lưu Chương, tầm nhìn nông cạn ấy là Hàn Toại, trái đạo bỏ phép ấy là Trương Lỗ, còn người sinh không gặp thời là thiên tử bù nhìn hiện giờ… Dù họ có phạm sai lầm như thế nào, cũng không thể phủ nhận một điều họ đều khao khát ổn định thiên hạ, đều muốn thói đời trở nên tốt đẹp hơn, và đều từng có chí lớn. Chỉ có điều, họ hoặc là chọn nhầm đường, hoặc là tư chất chưa đủ, hoặc là vận mệnh không tốt. Nếu nói là anh hùng, có ai trong số họ không phải anh hùng đâu?
Ở đời làm gì có người hoàn hảo, việc hoàn hảo, ham muốn vô tận, đòi hỏi quá phận chỉ đẩy con người ta rơi vào hoang mang, mê loạn.
Không hoàn hảo, có khi lại hay…
Giả Hủ từ từ quay đầu lại, ngửa cổ nhìn ánh trăng.
Ta sống chẳng dễ dàng, nhưng những người khác có được sống dễ dàng không? Mạnh Tử nói: “Trời định giao phó trách nhiệm lớn lao cho người nào, tất trước tiên phải khiến người đó khốn khó tâm chí, mệt mỏi gân cốt, bụng dạ đói khát, thân chịu khổ sở, làm việc gì cũng không được thuận lợi.” Con người ta lập công, lấy sự chuyên cần làm gốc, nhưng liệu người chuyên cần có chắc chắn đạt được thành công không?
Biết đạo lý không bằng ưa thích đạo lý, ưa thích đạo lý không bằng tìm vui trong đó. Xưa, Trương Lương mấy lần đem Lục thao trình lên Bái công, Bái công khen ngợi, thường chọn dùng mưu lược của Trương Lương. Nhưng khi Trương Lương đem những điều ấy giảng cho người khác, họ đều không lĩnh ngộ được, cho nên Trương Lương nói: “Bái công đại để là người có thiên phú vậy”. Khổng phu tử cũng nói: “Gỗ mục không thể chạm khắc.” Nhưng dù có thiên phú, lại thêm tinh thông ở nghề liệu đã đủ để có được thành tựu chưa?
Trời đã cho mà không lấy, ngược lại sẽ bị tội; thời cơ đến mà không làm, ngược lại sẽ bị họa. Mạnh Tử còn nói: “Thuận cơ trời không bằng địa lợi, được địa lợi không bằng được lòng người.” Xét thời độ thế sao cũng khó vậy? Hơn nữa, còn không được tổn danh hại đức, không được bất hiếu, bất kính với phụ mẫu, không được làm trái cương thường vời huynh đệ, không được dứt bỏ tình nghĩa bằng hữu, cũng không được bội ơn với phu tử… Nhân nghĩa lễ trí tín, ôn lương cung kiệm nhượng. Cái này không được mất, cái kia cũng không được bỏ. Tóm lại cái gì cũng không được làm trái.
Chăm chỉ không mệt, tư chất thông minh, nắm bắt thời cơ, quý trọng danh tiết… ai cũng nói con đường dẫn đến thành công, không có gì khác ngoài những điều này, nhưng thử hỏi khắp cõi trời có mấy người làm được? Ban Cố soạn Hán thư, nói Thái sử công “học rộng biết nhiều, nhưng cũng chẳng thể dựa vào trí tuệ đó mà bảo toàn tính mạng của mình”, về sau Ban Cố bị liên lụy vì Đậu thị mà chết trong ngục, kết cục còn chẳng bằng Tư Mã Thiên đấy thôi! Nói là một chuyện, có làm được hay không lại là chuyện khác. Mà dù có làm được thì có thể thành công ư? Ai biết được tuổi thọ của mình như thế nào? Đã có bao nhiêu hào kiệt trẻ tuổi chết sớm? Dẫu không chết, trước mặt còn có bao nhiêu ngọn núi lớn chắn đường, chỉ khi người cưỡi trên đầu ta đều chết hết cả rồi mới đến lượt ta ngóc đầu lên được.
Mấy người may mắn đợi được đến ngày ấy? Hay giống như Đổng Trác, nhìn nhầm vài người là xong; hay giống như Bào Tín, mạo hiểm một bước là xong; hay như Hàn Phức, nhất thời hồ đồ là xong; hay như Tôn Sách, kết thù với người ta là xong; hay như Trần Đăng, chẳng làm gì, chỉ vì thích ăn cá sống, thế mà cũng xong đời! Thật đáng tiếc biết bao.
Anh hùng… anh hùng… chớ có coi thường anh hùng, muốn làm anh hùng tất phải có hoài bão lớn lao. Nhưng đến khi thực sự làm được anh hùng rồi thì sao? Lại giống như Tào Tháo, tình bằng hữu, tình phụ tử, nghĩa phu thê, nghĩa quân thần tất cả đều bị hủy hoại. Bởi vậy nên, anh hùng cái thế chẳng qua cũng chỉ là người cô độc nhất thế gian mà thôi…
— Phụ thân, - Giả Phóng khẽ gọi, - Người lại đang nghĩ gì vậy?
— Ha ha ha!… Ánh trăng vẫn sáng, vạn vật vẫn không ngừng sinh sôi. - Trên khuôn mặt già nua của Giả Hủ hé ra một nụ cười giễu cợt, - Hôm nay là ngày mấy rồi? Không biết trên đời còn có bao nhiêu kẻ ngu xuẩn ôm mộng làm anh hùng nữa đây?
❀ ❀ ❀
[1] Trích phần dịch thơ của dịch giả Tạ Quang Phát trong cuốn Kinh thi, Khổng Tử, Nhà xuất bản Đà Nẵng, năm 2003, trang 348.
[2] Quan coi dịch trạm được đặt ra ở các châu huyện, lo việc nghi trượng, xa mã và nghênh tiễn, không có phẩm tước.
[3] Kính cẩn mà khiêm tốn, nghe theo mà mau lẹ, không dám tự ý quyết định, không dám tự ý chọn lựa, coi việc thuận theo ý trên làm chí hướng của mình, đó là đạo thờ minh quân. Hài hòa mà không a dua, mềm mỏng mà không khuất phục, khoan thứ mà không dung túng, lấy đạo rất cao để giảng giải mà nhà vua không thể không thỏa hiệp, thì có thể cảm hóa bản tính của ngài ấy, lúc nào cũng đi vào lòng ngài ấy, đó là đạo thờ bạo quân.
[4] Nhận mệnh làm Tốt chính Đạo Giang (Thái thú Thục Quận). Cuối thời Tần, thiên hạ nhiễu loạn, quần hùng nổi lên, Công Tôn Thuật tự xưng là Phụ Hán Tướng quân kiêm lĩnh chức Ích Châu mục. Năm Kiến Vũ thứ nhất (năm 25), ông ta tự xưng làm hoàng đế ở đất Thục, đặt quốc hiệu là Thành Gia, và đổi niên hiệu là Long Hưng. Về sau, ông ta bị nhà Đông Hán cất quân tiêu diệt, chỉ ở ngôi được mười hai năm.
[5] Chỉ nội dung cuộc nói chuyện giữa Gia Cát Lượng và Lưu Bị trong lần gặp mặt đầu tiên ở Long Trung.
[6] Sáu mươi tuổi thì nghe theo thiên mệnh.
[7] Trích lời dịch thơ của dịch giả Châu Hải Đường trong bài Thiện tai hành của Tào Tháo, xin xem thêm Tào Tháo: Thánh nhân đê tiện, tập 3.
[8] Câu này trích trong sách Nghi lễ - Tang phục - Tử Hạ truyện có nghĩa là: Người phụ nữ khi chưa lấy chồng thì theo cha, đã xuất giá thì theo chồng, còn chồng chết thì theo con.
[9] Chỉ chế độ cha truyền con nối, đế vương coi đất nước là tài sản của gia đình mình để truyền nối từ đời này sang đời khác, nên mới có chuyện một nhà độc bá thiên hạ.
[10] Chỉ việc ba nhà Hàn, Triệu, Ngụy cuối thời Xuân Thu, thường được gọi chung là Tam Tấn, vốn là quan đại phu nhưng thế lực đã vượt qua vua Tấn. Trên thực tế, ba nhà đã nắm quyền tự quyết, không còn nghe theo mệnh lệnh hay cần tới danh nghĩa của vua Tấn. Năm 403 trước Công nguyên, Chu Uy Liệt Vương chính thức công nhận ba nhà Hàn, Triệu, Ngụy làm chư hầu.
[11] Năm 386 trước Công nguyên, họ Điền được thiên tử nhà Chu thừa nhận là chư hầu, gọi là Điền Tề để phân biệt với dòng Khương Tề. Tề Khang Công bị Điền Hòa đày ra gần bờ biển phía đông, mất toàn bộ đất đai nước Tề. Họ Điền chính thức thay họ Khương làm vua nước Tề, Khương Tề chính thức bị diệt. Theo Trúc thư kỷ niên, chuyện xảy ra vào khoảng năm 356 - 350 trước Công nguyên, Dịch Thành Quân là hậu duệ của Tống Đài công, bề tôi của Tống Hoàn Công, vốn được nhận mệnh làm Tư thành nước Tống, nhưng về sau do Tống Hoàn Công hoang dâm vô độ, nên ông đã cướp ngôi, tự xưng làm vua, tức Tống Dịch Thành Quân. Tam Hoàn chỉ họ Mạnh Tôn (con cháu Cơ Khánh Phủ ở đất Thành), Thúc Tôn (con cháu Cơ Thúc Nha ở đất Hậu) và Quý Tôn (con cháu Cơ Quý Hữu ở đất Phí), do ba họ đều là hậu duệ của Lỗ Hoàn Công, nên được gọi là “tam Hoàn”. Từ thời Lỗ Hy Công, chính trị nước Lỗ bị chia sẻ bởi ba thế lực này. Dương Hổ hay còn gọi là Dương Hóa, vốn mang họ Cơ, người nước Lỗ, là gia thần của Quý Tôn thị, cuối thời Xuân Thu. Dương Hổ lấn át Quý Tôn thị, dần dần nắm quyền chính nước Lỗ, mở đầu hiện tượng bồi thần chấp chính. Ông ta câu kết với gia thần của nhà Thúc Tôn thị, định làm một cuộc chính biến áp chế tam Hoàn, song bị thất bại, phải lưu lạc bên ngoài nước Lỗ.
[12] Thôi ân lệnh là một trong những pháp lệnh quan trọng nhằm giảm bớt đất phong của chư hầu, làm suy yếu phạm vi thế lực của chư hầu. Nội dung chủ yếu là nếu như trước đây vua chư hầu chỉ có thể đem đất phong và tước vị truyền lại cho con trưởng, thì nay cho phép vua chư hầu chia đất phong thành nhiều phần để truyền lại cho những người con khác, hình thành các nước chư hầu và vương quốc nhỏ trực thuộc chính quyền trung ương, từ đó đạt được hiệu quả làm phân hóa và suy yếu thế lực của các nước chư hầu.
[13] Toán mân là một loại thuế thu nhập mà Hán Vũ đế dùng để chưng thu của thương nhân, đem những tài vật mà các chủ thương nghiệp và những người cho vay nặng lãi vơ vét của nông dần thu về triều đình, đây được coi là hoạt động kiềm chế thương nhân có quy mô lớn trong lịch sử. Vừa tăng thu nhập cho quốc gia, vừa đả kích tàn dư của chế độ nô lệ, lại dễ dàng thôn tính đất đai, có lợi trong việc củng cố cơ sở của nền kinh tế phong kiến, nhưng đồng thời cũng trì hoãn sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa.
[14] Sùng Chu phục cổ: tôn sùng điển chế của nhà Chu, khôi phục văn minh cổ xưa.
[15] Vương điền tư thuộc chỉ những cải cách về ruộng đất và nô tỳ dưới thời Tân Mãng. Vào năm niên hiệu Thủy Kiến Quốc thứ nhất (năm 9 sau Công nguyên), Vương Mãng ban sắc lệnh tuyên bố ruộng đất trong thiên hạ thuộc quyền sở hữu của triều đình, gọi là vương điền, và coi nô tỳ là tư thuộc, đều không được phép mua bán.
[16] Xa rời lẽ thường, trái ngược đạo nghĩa, dùng để chỉ việc quay lưng lại với những tư tưởng hay học thuyết giữ địa vị chủ đạo.
[17] Lễ của nhà Hạ, ta có thể nói được, nhưng nước Kỷ không đủ để làm dẫn chứng; lễ của nhà Ân, ta có thể nói được, nhưng nước Tống không đủ để làm dẫn chứng, bởi văn kiện và hiển nhân của hai nước này đều không đủ.
[18] Vào thời Đông Hán, Thái thú Nhữ Nam là Tông Tư trọng dụng Công tào Phạm Bàng, Thái thú Nam Dương là Thành Tấn cũng giao hết đại quyền cho Sầm Chất, nên người dân hai quận này mới làm câu ca dao như vậy.
[19] Chỉ chế độ thế tập lộc điền thời xưa, quan lại đời đời được hưởng đất phong và thu lợi thuế khóa từ đất phong đó.
[20] Theo Chu Hy giải thích trong Tứ thư tập chú, câu này có nghĩa là: Học mà thường xuyên luyện tập theo sự học ấy, há chẳng vui sao?
[21] Thái sử công là một chức quan được đặt ra từ thời Quang Vũ Đế, có địa vị ở trên Thừa tướng, mọi công văn, sổ sách trong thiên hạ đều được trình lên Thái sử công trước. Thời Hiếu Tuyên Đế, giáng chức Thái sử công làm Thái sử lệnh, chỉ lo việc văn thư. Vị Thái sử công nổi tiếng nhất trong lịch sử Trung Quốc là Tư Mã Thiên, ở chương này từ “Thái sử công” được dùng để chỉ riêng ông ấy.
[22] Nguyên văn câu này là: “Cao sơn ngưỡng chỉ, cảnh hành hành chỉ.” Trịnh Huyền đời Hán chú: “Người có đức hạnh cao thì để người ta ngưỡng mộ, người có hành vi ngay thẳng thì được người ta xem như khuôn mẫu mà noi theo.” Còn Chu Hy đời Tống chú giải rằng: “Ngưỡng, nghĩa là ngưỡng trông; cảnh hành nghĩa là đường lớn. Núi cao thì để người ta ngưỡng trông, đường lớn thì để người ta bước đi.” Cả hai cách hiểu này đều có lý, và được sử dụng phổ biến, ở đây chúng tôi chọn dùng cách hiểu thứ nhất của Trịnh Huyền để hợp với văn cảnh, bởi Tư Mã Thiên còn dẫn hai câu sau.