Tào Tháo - Thánh Nhân Đê Tiện

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 433 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hậu Kỳ
Kết Cục Của Tào Ngụy Trong Lịch Sử

❊ ❊ ❊

Năm Kiến An thứ hai mươi lăm (năm 220 sau Công nguyên), Tào Phi kế vị làm Thừa tướng, Ngụy Vương, đổi niên hiệu là Diên Khang năm đầu, ba tháng sau chính thức ban “phép cửu phẩm cho người làm quan”[1] do Trần Quần soạn ra. Chế độ mới xóa sạch tàn tích cuối cùng của việc tuyển chọn quan lại “chỉ cử người tài”, biến tướng chấp nhận đặc quyền của thế gia đại tộc trên đường sĩ hoạn, đồng thời thể hiện sự hậu đãi với quan lại các bậc từ công khanh trở xuống trên phương diện kinh tế, như ban gia súc và người làm. Nhờ vậy, Tào Phi nhận được sự ủng hộ rộng rãi của thế gia đại tộc, mở đầu cho xã hội sĩ tộc môn phiệt thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều. Bảy tháng sau, tức tháng Mười một năm Diên Khang thứ nhất (năm 220 sau Công nguyên), dưới sức ép của Tào thị, hoàng đế Lưu Hiệp nhà Hán buộc phải nhường ngôi cho Ngụy Vương, Tào Phi cuối cùng cũng lên ngôi hoàng đế, lập ra nước Ngụy (đời sau thường gọi là Tào Ngụy, hoặc Tiền Ngụy), truy tôn phụ thân là Tào Tháo làm Ngụy Vũ Đế, lại đổi niên hiệu là Hoàng Sơ năm đầu, dựng lại thành Lạc Dương làm kinh đô. Lịch sử Trung Quốc chính thức bước vào thời Tam Quốc.

Một năm sau, Hán Trung Vương Lưu Bị chiếm cứ Ích Châu lấy lý do tiếp nối đại thống của nhà Hán để xưng đế, vẫn đặt quốc hiệu là Hán (đời sau thường gọi là Thục Hán, hoặc Quý Hán), đổi niên hiệu là Chương Vũ năm đầu. Tôn Quyền cũng có chí lên ngôi cửu ngũ, nhưng trót xưng thần với phụ tử Tào Tháo, lại ở thế đối đầu căng thẳng với Lưu Bị, nên tạm thời giữ tước vương, mãi tám năm sau (tức năm 229 sau Công nguyên) mới chính thức xưng đế, đặt quốc hiệu là Ngô (đời sau thường gọi là Tôn Ngô, hoặc Đông Ngô), niên hiệu là Hoàng Vũ năm đầu.

Con đường nối ngôi của Tào Phi rất trắc trở, song ông ta cũng chỉ tại vị được bảy năm. Trong thời gian vi chính, có một điểm ông ta bị chỉ trích nhiều nhất là lập trường chiến tranh với hai nhà Tôn, Lưu. Sau trận Tương, Phàn, Lưu Bị mất Kinh Châu, lại thêm mâu thuẫn nội bộ dẫn đến việc Mạnh Đạt quay sang quy hàng Tào Ngụy, đất Thượng Dung theo đó mà sáp nhập vào Tào Ngụy. Lưu Bị phẫn nộ, xử tử nghĩa tử Lưu Phong, giúp nhi tử của mình loại bỏ một đối thủ tiềm ẩn trong chuyện tranh ngôi, tuy nhiên thế lực của Thục Hán lúc này cũng rơi vào cảnh nguy khốn. Ông ta mới xưng đế được ba tháng đã cất binh đông chinh nhằm đoạt lại Kinh Châu, nhưng bị đại tướng Giang Đông là Lục Tốn dĩ dật đới lao[2], dùng trận pháp hỏa công tiêu diệt gần như hoàn toàn quân Thục, lịch sử gọi là “trận Di Lăng”.

Suốt thời gian hai nhà Tôn, Lưu giao tranh, Tào Phi chỉ ngồi yên quan sát, nhiều học giả đời sau phê bình ông ta không nhân lúc Lưu Bị phạt Ngô mà đánh thẳng vào chính giữa Giang Đông, đằng này lại chỉ biết thỏa mãn với thắng lợi bề ngoài là được Tôn Quyền xưng thần, để rồi bỏ lỡ cơ hội thống nhất thiên hạ. Nhưng xét cho cùng, quan hệ giữa ba nước là nước này hao tổn nước kia lớn mạnh, mà lớn mạnh thì chia tách, còn suy yếu thì giao hảo. Nếu Tào Phi nhân gió bẻ măng, rất có thể sẽ thúc đẩy sự thỏa hiệp giữa hai nhà Tôn, Lưu, ngược lại, tọa sơn quan hổ đấu ít ra còn có thể đảm bảo một trong hai nhà bọn họ tất bị suy yếu. Bởi vậy, có thể nói đây là một kế sách ổn thỏa, và việc kết luận Tào Phi thiếu tầm nhìn xa có phần khắt khe. Trong thời gian trị vì, Tào Phi chú trọng đến dân sinh, ngăn cấm việc tổ chức mai táng long trọng, cúng bái bừa bãi, đề phòng ngoại thích và hoạn quan can dự vào chính sự, quan tâm xây đắp thủy lợi. Năm Hoàng Sơ thứ năm (năm 224 sau Công nguyên) và năm Hoàng Sơ thứ bảy (năm 226 sau Công nguyên), ông ta lần lượt phát động chiến dịch Quảng Lăng, ngoài mặt là dụng võ với Tôn thị, nhưng thực tế lại nhân cơ hội giải trừ binh quyền của thủ lĩnh hào tộc hai châu Thanh, Từ là Tang Bá, tiếp đến dẹp yên cuộc “binh biến Lịch Thành” do tàn quân của Tang Bá là bọn Đường Tư, Sái Phương thực hiện, đưa vùng duyên hải Thanh, Từ về dưới sự cai quản trực tiếp của triều đình. Nhìn nhận một cách khách quan, tài thao lược của Tào Phi không bằng phụ thân, nhưng ông ta vẫn là một minh chủ và cũng đạt được nhiều thành tựu về mặt văn học, thơ phú.

Huống chi ông ta chỉ trị vì được bảy năm, mà lại phải hao tổn không ít tâm sức vào việc xưng đế, sân khấu lịch sử đâu cho ông bao nhiêu thời gian để phô diễn.

Tuy nhiên, bản tính hẹp hòi, có thù tất báo của Tào Phi cũng được bộc lộ rõ kể từ khi ông ta lên nắm quyền: hai huynh đệ Đinh Nghi, Đinh Dực từng trở thành mối đe dọa đối với việc Tào Phi kế vị đều bị xử chém cả nhà. Khổng Quế đã được nhận mệnh làm Phò mã đô úy, nhưng không lâu sau Tào Phi nắm được tội danh nhận hối lộ của ông ta, cũng đã xử tử. Dương Tuấn cũng bị Tào Phi oán ghét vì công nhiên ủng hộ Tào Thực, nhưng ngặt nỗi ông ta có tiếng tăm tốt, nên tạm thời chưa xử trí, điều làm Thái thú Nam Dương. Ba năm sau, Tào Phi đi tuần phía nam, vin cớ Dương Tuấn trị lý Nam Dương không tốt, ép ông ta phải tự vẫn. Bào Huân xử tử đệ đệ của Quách thị, vốn bị Tào Phi ghi hận trong lòng, lại còn nhiều lần can gián thẳng thắn, tội càng thêm nặng, cuối cùng bị Tào Phi khép vào tội chết… Tào Phi cũng đối đãi khá khắc bạc với huynh đệ thủ túc, không muốn sắc phong tước vương, song vẫn đẩy họ ra ngoài phong quốc, không cho phép tự ý rời khỏi đất phong, và không được nắm quyền quân chính mà phải nghe theo sự sắp xếp của Tướng quốc do triều đình sai phái, chẳng khác nào giam lỏng. Việc này khiến thế lực tông thất của Tào Ngụy suy yếu, tạo mầm mống tai họa cho sau này.

Tào Chương được phong làm Nhậm Thành Vương, ấp phong một vạn hộ, năm Hoàng Sơ thứ tư, trong thời gian vào kinh triều kiến ông ta đột ngột qua đời tại phủ đệ, lúc đó mới ba mươi lăm tuổi. Dã sử chép rằng ông ta bị Tào Phi hạ độc, không biết có đúng không. Còn Tào Thực không bị ép phải làm một bài thơ trong bảy bước chân như dân gian truyền miệng, nhưng cũng chịu không ít sự đày đọa. Ban đầu, ông ta được phong là An Hương hầu, sau lại đổi làm Quyên Thành hầu, Quyên Thành Vương, dưới hai triều Văn Đế và Minh Đế, ông ta nhiều lần bị đổi đất phong từ Ung Khâu, Đông A cho đến Trần Quận, bôn ba cô độc, tới năm Thái Hòa thứ sáu (năm 232 sau Công nguyên), ông ta trầm uất mà chết, thọ bốn mươi mốt tuổi.

Có một điểm rất thú vị, thiên tử nhà Hán đã bị phế ngôi là Lưu Hiệp lại có kết cục tốt đẹp hơn đa số huynh đệ của Tào Phi. Sau khi thoái vị, Lưu Hiệp được phong làm Sơn Dương Công, dời đến đất Sơn Dương. Do Tào Tiết - thê tử của ông ta là công chúa Tào thị, nên vị hoàng đế bị phế ngôi này được hưởng đãi ngộ khá tốt trên nhiều mặt, như được mở trường học cho tử đệ tông tộc, về sau Lưu Hiệp thích y thuật, nghe đâu còn mở cả y quán. Lưu Hiệp mất vào năm Thanh Long thứ hai (năm 234 sau Công nguyên), khi ấy ông năm mươi tư tuổi, sống thọ hơn ba huynh đệ Tào Phi, được ban thụy hiệu là Hán Hiếu Hiến hoàng đế. Do đích tử của ông mất sớm, nên người cháu là Lưu Khang thế tập tước công.

Tào Phi ở ngôi bảy năm, đến năm Hoàng Sơ thứ bảy (năm 226 sau Công nguyên) ông ta qua đời vì bệnh, thọ bốn mươi tuổi, hiếu hiệu là Thế Tổ, thụy hiệu là Văn hoàng đế, nhi tử của ông ta là Tào Duệ kế thừa đại thống, tức Ngụy Minh Đế. Tào Duệ tự Nguyên Trọng, là trưởng tử của Tào Phi, sinh vào năm Kiến An thứ mười. Mẫu thân của ông ta là Chân Mật, nguyên là thê tử của Viên Hi - con thứ hai của Viên Thiệu, được nạp cho Tào Phi năm Kiến An thứ chín. Chân thị được lập làm hoàng hậu sau khi Tào Phi xưng đế, nhưng một năm sau đó do chuyện tranh giành phức tạp trong chốn hậu cung mà bị thất sủng, bị ép tự vẫn, ngôi hoàng hậu thuộc về Quách thị. Tào Duệ vì thế chưa được phong làm thái tử, có điều ông ta cũng biết lấy “nhân hiếu” cảm hóa phụ thân, tương tự như thủ đoạn năm xưa phụ thân ông ta từng dùng để lấy lòng tổ phụ, nên cuối cùng cũng làm chủ được Đông cung, và kế vị khi mới hai mươi mốt tuổi.

Trong tám năm đầu chấp chính, vị hoàng đế trẻ tuổi này tỏ ra rất xuất sắc, chăm lo chính sự, hiểu rõ thời cuộc, tôn trọng các bậc nguyên lão đại thần, lắng nghe những lời can gián thẳng thắn, giỏi hơn phụ vương ở nhiều mặt. Tuy nhiên, cùng với sự lớn mạnh của Tào Ngụy, lợi thế để thống nhất thiên hạ dần hiện ra, Tào Duệ cũng ngày càng lười biếng. Năm Thanh Long thứ hai (năm 234) có thể coi là một bước ngoặt đối với triều Minh Đế, Thừa tướng Gia Cát Lượng của nhà Thục Hán nhiều lần chinh phạt phương bắc đã chết, Tôn Quyền cũng ngày một già yếu, cục diện chính sự trong nước rối ren. Tào Duệ cho rằng chuyện thiên hạ không còn gì đáng lo, nên bắt đầu buông thả hoang dâm, theo đuổi phù hoa, xây dựng đài điện, ham mê nữ sắc, không những làm hao tổn sức dân, còn khiến quần thần bất mãn và cũng hại đến thân mình. Năm năm sau, ông ta mắc bệnh qua đời khi mới chỉ ba mươi tư tuổi.

Tào Duệ ở ngôi mười hai năm nhưng không có con, đáng lý ông ta nên chọn một người hiền năng trong đám tử tôn tòng phụ, tòng tổ làm người kế vị, đằng này lại đi nhận bừa hai đứa trẻ là Tào Phương và Tào Tuân trong dân gian làm nghĩa tử. Năm Cảnh Sơ thứ ba (năm 239 sau Công nguyên), trong lúc lâm chung ông ta đã chỉ định Tề Vương Tào Phương làm thái tử, về sau kế thừa đế vị khi mới tám tuổi. Bấy giờ, trong bốn trọng thần mà Tào Phi để lại, thì Tào Chân, Tào Hưu và Trần Quần đều đã qua đời, chỉ còn lại một mình Tư Mã Ý đang giữ chức Thái úy, có danh vọng không ai sánh bằng. Tào Duệ từng nghĩ đến việc để Yến Vương Tào Vũ - tộc thúc thân thiết xưa nay, Tào Sảng - con Tào Chân, Tào Triệu - con Tào Hưu, Hạ Hầu Hiến - người họ Hạ Hầu phò tá thiếu chủ cùng với Tư Mã Ý. Song lúc hấp hối đầu óc không còn tỉnh táo, ông ta chỉ nhận mệnh cho hai đại thần là Tào Sảng và Tư Mã Ý, khiến chính quyền Tào Ngụy rơi vào mối nguy hiểm lớn.

Tào Phương mới tám tuổi đầu không có khả năng cai trị cả một giang sơn rộng lớn, Tào Sảng và Tư Mã Ý cùng lúc kiêm nhiệm nhiều chức vị như Thị trung, Giả tiết việt[3], Đô đốc trung ngoại chư quân[4], Lục thượng thư sự[5]. Hai người họ cùng làm chủ chính sự. Tào Sảng lấy thân phận là tông thân đặt mình lên trước lão thần uy vọng, cục thế kiểu này tất xảy ra mâu thuẫn. Tào Sảng ngoài mặt tỏ ra tôn kính Tư Mã Ý, dâng tấu xin cho ông ta làm Thái phó, song thực tế lại gạt ông ta ra khỏi những kế sách quan trọng. Tuy Tào Ngụy có ưu thế rất lớn về mặt quân sự, quốc lực so với Ngô, Thục, nhưng thế lực của hào tộc trong nước cũng dần lớn mạnh, thêm vào đó cuối đời Tào Duệ lạm dụng sức dân, vẫn còn nhiều vấn đề đang chờ giải quyết. Khách quan mà nói, Tào Sảng muốn ra sức ngăn cơn sóng dữ, nhưng người này tư chất tầm thường, tài trí không cao, mấy đệ đệ được ông ta cất nhắc còn có tư chất kém cỏi hơn, còn những kẻ thân tín đa phần đều là bọn hữu tài vô đức, ưa chuộng phù hoa. Những người này nắm quyền bính dẫn tới sự bất mãn trong lòng quần thần, một loạt nguyên lão đại thần như Cao Nhu, Vương Quan, Lô Dục, Tôn Lễ, Lưu Phóng, vốn trung thành với xã tắc Tào Ngụy bị đẩy đến chỗ quay lưng trở mặt. Từ khi làm người hữu danh vô thực, Tư Mã Ý đóng cửa cả ngày không ra ngoài, giả bệnh để cho Tào Sảng lơi lỏng cảnh giác. Cuối cùng vào năm Gia Bình thứ nhất (năm 249 sau Công nguyên), nhân lúc Tào Sảng rời kinh bái tế lăng tẩm Minh Đế, ông ta cùng với các vị lão thần bàn nhau phát động một cuộc chính biến, lịch sử gọi là “chính biến lăng Cao Bình”. Sau biến cố ấy, huynh đệ Tào Sảng cùng với vây cánh thân tín của mình đều bị chụp tội mưu phản, tru di cả tộc, từ đó quyền quân chính của Tào Ngụy rơi vào tay Tư Mã thị. Sau khi Tư Mã Ý qua đời, nhi tử của ông ta là Tư Mã Sư, Tư Mã Chiêu lần lượt nắm quyền, biến tử tôn nhà họ Tào thành bù nhìn giống như việc năm xưa Tào Tháo tiếm quyền nhà Hán vậy…

HẾT

❀ ❀ ❀

[1] Hay còn gọi là “cửu phẩm trung chính”.

[2] Lấy quân nhàn nhã chờ quân mệt mỏi.

[3] Chỉ việc thay hoàng đế xuất chinh. Sứ thần cầm phù tiết đại diện cho hoàng đế và đất nước, có quyền sai khiến tương ứng, được phép tùy ý chặt đầu những binh sĩ vi phạm quân lệnh.

[4] Chỉ Đô đốc trung quân và ngoại quân, là trưởng quan quân sự chỉ đứng sau Đại đô đốc.

[5] Một chức quan được đặt vào thời Hán Chiêu Đế, ban đầu gọi là lĩnh Thượng thư sự, ý chỉ đại thần kiêm quản chức Thượng thư. Thời Hán gọi người kiêm quản chức quan khác nhưng không giữ chức quan đó là “lĩnh”.

g Hộc, đều là những nét bút mà những kẻ đọc sách tranh nhau sưu tầm, học theo, những người bình thường tốn công nhọc kế cũng không xin được, hôm nay Chung Do lại chủ động đề tặng. Nhưng Đinh Nghi không những không vui, trái lại mặt mày thất
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Vương Hiểu Lỗi

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.