Nước Ngụy chưa từng xảy ra chuyện trọng thần liên tiếp qua đời trước ngày xuất binh, cuộc nam chinh lần thứ tư vừa mới bắt đầu đã bị bao trùm trong không khí ảm đạm. Ngay cả Tào Phi đang phấn khởi cũng thấy hơi bất an, có dự cảm đây là một trận chiến gian nan bộn bề.
Dự cảm ấy của Tào Phi nhanh chóng được chứng thực, rời Nghiệp Thành được nửa tháng, Ngũ quan tướng Trưởng sử Bính Nguyên chết trong quân. Có lẽ do ông uất ức trong lòng kể từ bữa tiệc ở Kiến Chương đài, lại thêm tuổi già sức yếu, không hợp thủy thổ, mới sáng sớm hôm đó còn nói trong người khó chịu, Tào Phi căn dặn thân binh chú ý hầu hạ, thế mà chưa qua giờ Ngọ đã lìa đời. Với thân phận của Bính Nguyên, đáng lẽ phụ tử Tào thị phải tổ chức một tang lễ long trọng cho ông ta, nhưng vì đang trên đường hành quân không thể lo liệu tang sự, nên chỉ khâm liệm qua loa, rồi sai người đưa di quan về Nghiệp Thành. Chưa được mấy ngày, tướng quân Trương Hi cũng ngã bệnh, sốt cao không dứt, người nóng hầm hập, y lại thăm bệnh nói ông bị cảm thương hàn! Ông ta là võ nhân thân thể cường tráng, vậy mà cũng chỉ chịu được ba ngày rồi về chầu trời. Tiếp đến, một lượng lớn binh lính trong quân cũng bị nhiễm bệnh, chỉ trong vài ngày ngắn ngủi, số bệnh binh đã lên đến hàng ngàn.
Việc này khiến phụ tử Tào Tháo hoảng sợ, hai người đã lường trước là có thể xảy ra dịch bệnh, nhưng không ngờ nó lại đến nhanh và quái ác như thế. Trận Xích Bích năm xưa cũng vì ôn dịch mà hao tổn mấy vạn quân, chẳng lẽ lần này lại giẫm lên vết xe đổ? Đại quân đã gần đến Dương Châu, liệu còn tiếp tục trận chiến này được không? Đúng lúc ấy, tiền phương báo tin quân tiên phong bị tập kích - Tôn Quyền hay tin quân Tào kéo xuống phía nam thì vô cùng kinh hãi, sợ mình khó chống đỡ nổi, đã lệnh cho các thuộc cấp là Tôn Hiệu, Lã Mông, Chu Thái đi trước, vượt qua Giang Bắc, đóng đồn dựng trại, bố trí cung nỏ, đào hào đắp lũy, tạo thành thế ỷ giốc với thủy quân trước khi đại quân của Tào Tháo áp sát cửa sông Nhu Tu. Tôn Hiệu là nhi tử của Tôn Tĩnh, tòng đệ của Tôn Quyền, ngựa non háu đá, biết đội quân tiên phong của Tào Tháo đã đến nơi, hắn cùng với Lã Mông liền xua quân tập kích. Một phần cũng do quân Tào cậy đông, chủ quan khinh địch mới bị bọn họ đánh bại, phải lùi lại phía sau dựng trại, đợi cánh quân chủ lực.
Trận đấu đã làm nhụt quân uy, Tào Tháo há không phẫn nộ? Ông kịch liệt chỉ trích quân tiên phong ngạo mạn dẫn đến thất bại, lại trách đồn quân Hợp Phì không dốc sức phối hợp. Nào hay, một ngày sau nhận được hồi âm, trong lúc hai quân giao chiến đã xảy ra biến cố, Phá Lỗ Tướng quân Lý Điển đồn trú Hợp Phì mắc bạo bệnh qua đời.
Lý Điển là viên tướng dày dạn kinh lịch trong Tào quân, nhưng tòng quân từ khi còn ít tuổi, nên lúc chết mới ba mươi sáu tuổi. Mơ vàng chưa rụng mơ xanh đã rụng, người đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh, Tào Tháo đau buồn khôn xiết, ông nhớ chuyện Duyện Châu năm xưa, Lý Càn, Lý Tiến, Lý Chỉnh, có ai không dãi gió dầm sương, tận hiến sức lực? Trong trận Quan Độ, Lý gia dâng kho thóc của cả tộc cho quân Tào, khi xây dựng Nghiệp Thành, Lý Điển dẫn từ người già, người trẻ trong tộc cho đến bộ khúc, tá điền hơn ba ngàn người dời đến Nghiệp Thành, nông dân làm thuê cho hào tộc chuyển thành con dân Tào Ngụy, nộp bao nhiêu thuế, trồng bao nhiêu lúa, góp bao nhiêu quân? Cha truyền con nối, tướng tá khác đánh thành đoạt đất có thể kể công, chứ những công lao đó của Lý Điển vĩnh viễn không thể kể hết. Dù cho không bàn đến những điều ấy, chỉ nói riêng việc Lý Điển thân là võ tướng nho nhã hiếu học, lại có tài tham chính, trẻ tuổi hơn nhiều so với bọn Vu Cấm, Trương Liêu, Từ Hoảng, mới ngoài ba mươi đang ở độ tuổi sung sức nhất của đời người, nếu như còn sống sau này chắc chắn trở thành đại tướng đứng đầu đám hậu bối. Tào Tháo há có thể không xót xa, không đau đớn?
Tuy vậy, Tào Tháo cũng xác định chủ ý, một khi đã khai chiến không thể bỏ dở giữa chừng, nếu cứ thế này mà rút lui, người biết thì nghĩ là do ôn dịch, còn người không biết lại tưởng ông sợ Tôn Quyền, dù thế nào cũng phải đánh tiếp. Có điều, cái chết của Lý Điển cho thấy Dương Châu cũng có dịch bệnh, với thời tiết này không nên để hơn mười vạn quân tụ lại một chỗ.
Vì vậy, Tào Tháo tạm thời thay đổi kế hoạch, lệnh cho Hạ Hầu Đôn tách quân qua Cư Sào trước, hợp binh với các bộ Hợp Phì và bại quân tiên phong, hạ trại chống nhau với địch. Còn bản thân Tào Tháo dẫn đại đội binh mã và gia quyến qua huyện Tiều, một là về quê bái tế tổ tiên, hai là đợi binh mã của các châu quận khác tới tập hợp, ba là để đại quân vất vả đường dài được nghỉ ngơi, chờ qua mùa đông tình hình dịch bệnh thuyên giảm sẽ lại tham chinh. Khi quân Tào tới được huyện Tiều cũng là lúc bước sang tháng Mười một, năm Kiến An thứ hai mươi mốt.
Hạng Vũ có câu: “Phú quý bất quy cố hương, như y cẩm dạ hành”,[1] chuyện Ngụy Vương trở về cố hương một lần nữa kinh động đến quan viên toàn quận, chúng nhân lũ lượt chạy đến huyện Tiều tham giá. Không chỉ phụ tử Tào Tháo, các duyện thuộc đi theo đại quân cũng được chiêu đãi trọng thể, ngày nào cũng có tiệc lớn tiệc bé đón rước. Nhà cũ của Tào thị đã được dựng lại làm hành dinh, nay lại nâng lên làm hành cung của Ngụy Vương, mọi việc tiếp đón đều do Vệ Tướng quân Tào Du chủ trì.
Vệ Tướng quân[2] há lại làm qua loa? Tào Du là người nội tộc Tào thị, tuổi chưa đến bảy mươi nhưng luận về vai vế là tộc thúc của Tào Tháo, nhánh Tào Tung đến nay chỉ còn lại một mình ông ta, nên được phong quan cao. Kỳ thực, Tào Du không có văn thao, tài sơ võ lược, nửa đời chỉ biết cày cấy, mãi sau này mới lĩnh binh nhưng cũng toàn là hương dũng trong dòng tộc. Ông ta được thăng làm Vệ Tướng quân đều là nhờ thơm lây vị điệt tử của mình, vốn không có quyền mở phủ nghị chính, nhưng vẫn đóng quân ở đất Bái.
Tào Tháo nghỉ ngơi mấy ngày, xử lý chính sự, rồi dẫn gia quyến bái tế tổ tiên. Tào thị là một hộ lớn, nhưng năm xưa có tiếng tăm không tốt, không thể đem so với các dòng họ quý hiển trong quận như Hoàn thị, Đinh thị. Phần mộ vốn rất sơ sài, lăng viên ngày nay được xây thêm từ khi nước Ngụy được dựng, một loạt lăng mộ được tôn cao, khắc lại bia bằng đá xanh, quyền quý nghiêm trang. Xung quanh phần mộ dựng tường bao quanh, ngoài ra còn có mấy gian nhà đá, để con cháu tông tộc ở lại túc trực bên mộ phần. Lần này Tào Tháo trở về quê cách lần trước đã bảy năm, không ngờ mồ mả tổ tiên đã được sửa sang như vậy, nếu như không có Tào Du đi trước dẫn đường, có lẽ ông cũng chẳng biết mộ phụ mẫu mình nằm ở đâu.
Lễ thái lao[3] đã chuẩn bị xong, đầu tiên tế tằng tổ Tào Manh, tổ phụ Tào Đằng, tiếp đến bái Tào Tung - phụ thân Tào Tháo, rồi đến Trâu thị - mẫu thân ông.
Tào Tháo dẫn đầu đám tử đệ tông tộc như Tào Chân, Tào Hưu, Tào Khải, Tào Quýnh dâng hương bái lạy, Tào Phi dâng lễ tế, Tào Duệ đọc văn tế, tổ tôn ba người nghiễm nhiên là tộc trưởng ba đời nhà họ Tào. Nam tử lui xuống cho nữ quyến tiến lên, Biện thị làm chủ tế, nhi nữ của Tào Phi đứng dìu bên cạnh, một hàng đích thê, chủ phụ nhà họ Tào dâng hoa quả, cơm canh lên cúng, lễ tế coi như kết thúc. Tào Tháo nhớ ân đức của các vị thúc phụ năm xưa, cũng đến bái tế trước mộ Tào Xí, Tào Đỉnh, Tào Dận, còn dừng lại rất lâu trước mộ đệ đệ Tào Đức, sau đó bảo Tào Duệ khấu đầu trước ngôi mộ chôn y phục, di vật của Tào Ngang. Tào Tháo thăm viếng hết lượt họ hàng đã khuất, mới lưu luyến rời đi.
Lúc ra khỏi lăng viên đã gần giờ Ngọ, Hạ Hầu Liêm, Hạ Hầu Thượng, Hạ Hầu Hiến, Hạ Hầu Phụng đứng hầu bên ngoài từ lâu - Quan hệ giữa hai nhà họ Hạ Hầu và họ Tào có những chuyện khó có thể nói cho rõ rành. Suy cho cùng, Tào Tung đã được nhận làm con thừa tự, họ Tào nhà người ta bái tổ, người nhà họ Hạ Hầu không tiện tham dự, chỉ đứng đợi ngoài lăng viên. Hạ Hầu Liêm là đệ đệ của Hạ Hầu Đôn, không có tài làm quan, an phận giữ gìn gia nghiệp ở quê, tiến lên thi lễ với Tào Tháo:
— Thảo dân đã chuẩn bị tiệc rượu tại trang viên, nếu đại vương không chê tệ xá thô lậu, xin mời ngài di giá tới tệ xá.
Tào Tháo nói:
— Đều là tình cố hữu hương lý, sao phải phân địa vị sang hèn? Ngươi dẫn bọn Tử Hoàn đi trước, ta muốn đi loanh quanh một chút, lát nữa sẽ đến. - Nói rồi dẫn thân binh tiếp tục đi lên phía trước.
Tào Du khẽ nói phía sau:
— Thưa, dân chúng ở quê dốt nát, nông cạn, đại vương không nên ở bên ngoài.
— Nực cười! - Tào Tháo không thèm ngoái đầu lại, - Chẳng lẽ ngay đến quê hương của mình, quả nhân cũng không thể tùy ý đi dạo? - Tào Du cứng họng, chỉ biết đuổi theo phía sau - Ông ta lớn tuổi hơn Tào Tháo, nhưng thân thể rắn rỏi, không cưỡi ngựa mà chỉ chạy vài bước đã đuổi kịp Tào Tháo.
Một hai dặm đầu đều là đất tông tộc cư trú, nhà cửa ngay ngắn, trâu ngựa đông đúc, còn nghe thấy cả tiếng đọc sách vọng ra từ trường làng, vệ binh ba bước một đồn, năm bước một trạm, bảo vệ xa giá nghiêm ngặt. Đi được một lúc đến rìa làng, Tào Tháo nhớ mang máng con đường cổ ngày xưa, nhằm theo hướng tây mà đi. Tào Du lại can ngăn:
— Đại vương đã đi xa rồi, Ngũ quan tướng và phu nhân vẫn đang đợi, xin đại vương di giá đến trang viên nhà họ Hạ Hầu.
Nhưng càng can ngăn Tào Tháo lại càng muốn đi xa, không thèm đếm xỉa tới Tào Du, cứ dọc theo con đường nhỏ giữa làng đi về phía trước. Trong đầu ông đang nghĩ, ra khỏi thôn chính là cánh đồng vút tầm mắt, vào mùa xuân và mùa thu nông dân ra đồng cày cấy rất rộn ràng, lúc này đang là mùa đông, nhưng xem phong cảnh làng quê cũng thú vị. Nào ngờ đi thêm một lúc, lại chẳng trông thấy một hộ nhà nông nào, thay vào đó lại là những tòa trang viên rộng mênh mông, có hàng rào hoặc dựng tường viện, một mảnh đất rộng rãi, màu mỡ bị nuốt chửng vào trong, còn không ít trang viên dựng lầu gác, có tráng đinh cầm gậy gộc đứng canh.
Tào Tháo quay đầu lại, trừng mắt nhìn Tào Du:
— Thảo nào ông tìm mọi cách ngăn cản, những tòa trang viên chiếm hết ruộng đất của dân kia do ai dựng lên?
Tào Du run rẩy, quỳ mọp xuống đất:
— Xin đại vương tha tội…
— Ai hỏi tội nhà ông? Quả nhân hỏi những trang viên đó do ai dựng lên, tại sao quan lại địa phương dung túng không hỏi?
— Chúng tướng bộ khúc… bọn họ… - Tào Du ấp a ấp úng, định nói lại thôi.
Không cần ông ta nói, Tào Tháo cũng đoán ra, những thân hữu năm xưa theo ông cử binh đến nay đều có địa vị cao, hẳn là do tử đệ của họ làm. Từ thời Tần Hán, chuyện hào tộc địa phương chiếm đoạt điền sản, xây dựng trang viên đã không còn hiếm, tình trạng này diễn ra nghiêm trọng hơn ở nơi tập trung nhiều quan cao, nhất là vùng Nam Dương, Nhữ Nam, Dĩnh Xuyên, đất Bái vẫn được coi là chốn cực lạc. Thuở nhỏ, Tào Tháo sống ở đây, sau khi nhập sĩ, ông từng tận mắt chứng kiến nỗi khổ của lưu dân và họa Khăn Vàng, hiểu rõ mối nguy hại của việc thôn tính ruộng đất, cho nên ông ra sức phản đối chuyện cường hào khoanh đất dựng trang viên. Dù cho bây giờ Tào thị đã là gia tộc được người người trong thiên hạ ngưỡng vọng, ông vẫn rất hạn chế chuyện này, không ngờ ngay tại quê hương của mình, những hào tộc mới nổi lại không kiêng nể điều gì, hơn nữa bọn họ còn là những người do chính ông cất nhắc. Mỗi triều vua một triều bề tôi, mỗi triều vua một triều hào tộc, thực sự không thể trừ tận gốc.
Tào Tháo lặng nhìn những bức tường rào lạnh ngắt ấy, lại thấy đau đầu - Chuyện thôn tính ruộng đất của dân diễn ra nghiêm trọng như vậy, nhưng ông cũng không thể trừng trị hương đảng, bởi họ đều là thân nhân, là tâm phúc của ông, và cũng là nền móng của Ngụy quốc! Con người ta vin vảy rồng núp cánh phượng đều vì phú quý, thiên hạ ồn ào đều vì lợi mà lại, thiên hạ rối rít đều vì lợi mà đi. Biết làm sao được? Đành chịu thôi…
Tào Tháo không làm khó Tào Du nữa, chỉ nói:
— Ông đi trước dẫn đường, ta muốn xem nhà cửa của bách tính trăm họ.
Tào Du dường như muốn ngăn lại, nhưng vừa bị trách mắng, ông ta nào dám trái lệnh, chỉ biết nuốt lời vào trong. Lúc này đã qua chính Ngọ nhưng Tào Tháo không thấy đói, cứ theo con đường nhỏ đi mãi ba bốn dặm, Tào Du dần dần đi chậm lại. Đồi núi nơi đây gồ ghề, sau núi có thôn làng, đều là nhà tranh, nhà củi, còn lưng chừng núi rải rác những thửa ruộng bạc màu, xiên xéo. Không thấy có người đi lại, khói rơm cũng thưa thớt, trông toát lên vẻ tĩnh mịch, yên ắng.
Tào Tháo nhìn xóm núi tiêu điều, trong lòng bỗng dâng lên cảm giác hụt hẫng: Năm xưa, chỉ những người cực khổ như bọn Tần Thiệu mới ở nơi như thế này, nay quá nửa người dân canh tác cũng sống ở đây. Sau hai chục năm chinh chiến dựng cờ chính nghĩa, giết chết bao nhiêu mạng người, ban bố bao nhiêu pháp lệnh, vậy mà xu hướng cường hào thôn tính ruộng đất không những không giảm bớt, lại còn diễn ra mạnh hơn. Ngay cả cố hương cũng có tình trạng này, những châu quận khác còn cần phải hỏi sao, những vùng đất xa xôi khó trị còn dám tưởng tượng đến sao?
Bình tâm mà xét, Tào Tháo bạo ngược gian xảo, nhưng cũng coi việc vỗ về thiên hạ là trách nhiệm của mình, từ khi ra làm quan, ông đã lập chí cứu dân đen thoát khỏi bể khổ, dù làm quyền thần hay làm hoàng đế, ông cũng giữ hoài bão đó suốt bốn mươi năm không hề thay đổi. Nhưng đến hôm nay, ông thật sự hoài nghi, rốt cuộc đời này mình cứu được ai? Bản thân ông ngày càng tôn quý, được cắt đất phân phong, có hơn một nửa thiên hạ, còn có quần thần phò tá, nắm giữ ấn tín triều đình, mà vẫn muốn thôn tính điền sản, tranh lợi với dân. Còn bách tính thường dân thì sao? Không bị ép làm tá điền thì cũng phải làm thuê trong đồn điền, cuộc sống ngày càng khốn khó, nhà cửa còn chẳng bằng mồ mả nhà ông! Bách tính ngày nay khác gì bách tính thời Hoàn Đế, Linh Đế? Tất cả đều không thay đổi, chẳng qua chỉ là đổi một vị hoàng đế chưa mặc long bào mà thôi. Tào Tháo rốt cuộc cứu được ai? Ngoài bản thân ông và quan lại bên cạnh ra, ông chưa cứu được ai cả, hoài bão của ông chưa từng được thực hiện.
Tào Tháo đặt cho hoài bão của mình một cái tên mĩ miều là nhất thống thiên hạ, an định lê dân, kết quả lại làm hao tổn sức dân, tạo ra một đám quan lại hào cường mới. Nhưng nếu không dựa vào những văn thần võ tướng đó, sao có thể chăm lo cho bách tính toàn Hoa Hạ? Đánh trận để cứu dân, sau cùng vẫn hại dân, mà không hại dân thì không thể cứu dân, điều này chẳng phải vốn tự mâu thuẫn với nhau ư? Thế đạo tang thương dường như rơi vào một vòng luẩn quẩn, không thoát ra được…
— Đại vương cẩn thận! - Điển Mãn đứng hầu bên cạnh đột nhiên thét lên một tiếng, rút kiếm chắn trước người ông, những thị vệ khác cũng lập tức hành động, vây thành hình tròn. Tào Tháo giật mình, lúc này mới phát hiện ra có người nằm trên bãi đất hoang vệ đường.
Thực ra, người này nằm ở đấy đã lâu, nhưng ban nãy không ai để ý. Điển Mãn bất thình lình nhìn thấy, phản ứng đầu tiên là cho rằng có thích khách, mấy tên thị vệ khỏe mạnh nhanh nhẹn cầm vũ khí cùng xông lên, nhảy vào bãi đất hoang bao vây người này. Nhưng người này không hề động đậy, có tên thị vệ dũng cảm cúi xuống, túm chặt bả vai đẩy ra đằng trước mà vẫn không hề kháng cự - Thì ra là một xác chết!
Tào Tháo hiếu kỳ tiến lên xem. Người này là một bà lão, mình mặc áo vải thô rách bươm, khuỷu tay đeo một chiếc giỏ tre, cạnh chân vương vãi những mẩu củi khô, trên người không có vết thương. Có lẽ bà lão đi kiếm củi nên chết bên đường cách đây không lâu, thi thể chưa cương cứng. Nói người này là một bà lão cũng không chính xác lắm, bởi bà ta không có nhiều sợi tóc bạc, chẳng qua da dẻ vàng vọt, nhăn nheo, khắc khổ tạo cho người ta cảm giác già nua. Tào Tháo trông người chết gầy như que củi, con ngươi trợn ngược, miệng sùi bọt mép, có cảm giác buồn nôn, vội bịt mũi che miệng.
Điển Mãn nói:
— Người này e là có bệnh ác, đại vương không thể đến gần.
Tào Tháo bưng miệng nói:
— Phơi thây ngoài đường kể cũng đáng thương, mang bà ta vào trong thôn hỏi xem người nhà ai, mau ra nhận xác.
Tào Du thở dài, tâu thực:
— Mùa hè và mùa thu thời tiết thất thường, không những lương thực mất mùa mà gần đây còn xảy ra bệnh thương hàn, người trong sơn thôn này đã chết quá nửa.
Tào Tháo sửng sốt:
— Ở quê cũng có ôn dịch?
Tào Du cười khổ:
— Hiện giờ có nơi nào không có bệnh ác đâu? Huyện Tiều còn đỡ, thần được biết huyện Phù Ly còn có thôn người chết không còn một ai.
Tào Tháo nhăn mày, lẩm bẩm một mình: Sớm biết tình hình bệnh dịch nghiêm trọng thế này, ta đã không vội vàng dụng binh. Nhưng nếu không hàng phục Tôn Quyền, làm sao có thể an tâm tây chinh? Trời không giúp ta! Trời không giúp ta!… Tào Tháo nói câu “trời không giúp ta” không đơn thuần vì chiến sự, mà muốn ám chỉ chuyện cướp ngôi cửu ngũ nhiều hơn. Việc tấn thăng tước vương chỉ là một bước đệm, ông muốn mau chóng hoàn thành nghiệp đế, nhưng thiên tai vừa dứt, khí độc lại xuất hiện, không biết sẽ có bao nhiêu người chết vì bệnh ác. Lên ngôi hoàng đế vào năm đại hung, không những không thuận lợi mà há chẳng ứng với lời đồn làm chuyện trái nghịch, trời cao giáng họa hay sao? Xem chừng, trong vòng một năm tới không có hy vọng gì.
Điển Mãn trông thấy vẻ mặt buồn bã của Tào Tháo, khải bẩm:
— Thôn trang này đã có bệnh dịch, đại vương không nên vào thì tốt hơn.
— Quay về thôi… Ây dà! - Tào Tháo không biết làm sao, thở dài, - Sai mấy người khiêng cái xác đi, tặng cho dân chúng trong thôn ít tiền để họ tìm thầy thuốc chữa bệnh và chôn cất người chết.
— Dạ. - Điển Mãn vâng lệnh, trong lòng thầm nghĩ: Quý nhân đi qua vùng đất nghèo đói, thấy được những gì? Nhìn thấy ở đây gặp nạn thì ra tay cứu tế, giống như một vị đại quan thanh liêm, nhưng thử hỏi thiên hạ rộng lớn, còn bao nhiêu địa phương chưa đến được thì ai quản đây?
Khi đi hào hứng, khi về chán nản, Tào Tháo mặt mày ủ rũ, không nói không rằng, trăm ngàn lần mơ được về thăm cố hương, tới khi thực sự trở về, lại chỉ thấy thất vọng và bất lực. Sự bất lực trong lòng ông những năm nay ngày càng nhiều, và đều là những sự bất lực mà ông chưa từng nếm trải thời trẻ. Tào Tháo nhớ lại chuyện trước đây, giá mà có sức khỏe, được sống lại sáu mươi năm một lần nữa, để không phải tiếc nuối nhiều như thế này. Nhưng thời gian đâu thể quay ngược trở lại, nếu con người có thể sống lại từ bảy tám mươi tuổi thì ai chẳng là thánh nhân?
Tào Tháo không nói gì, Tào Du cũng không dám nhiều chuyện, cả đoàn người bước đi trong buồn bã, được nửa dặm thì thấy phía trước có một đám quan viên tiến lại, Tào Phi và Tào Duệ thúc ngựa đi đầu - Mọi người đợi lâu không thấy vương giá quay lại, nên hơi sốt ruột. Tào Phi vội vàng xuống ngựa, nhường cho phụ thân cưỡi, Tào Duệ khôn khéo chạy sang dắt ngựa cho tổ phụ, quan viên tháp tùng vương giá, rối rít dâng lời hay, nói là cha hiền con hiếu.
Chủ bạ Dương Tu bước ra khỏi hàng bẩm tấu:
— Thần mới nhận được quân báo, Lưu Bị tập hợp binh mã ở Thành Đô, dường như có ý xâm phạm Hán Trung.
Tào Tháo không thấy bất ngờ, hiện ông đang dồn sức đánh Giang Đông, Lưu Bị nhân cơ hội hành động, ba nhà đâm sau lưng nhau là chuyện thường tình. Ông ngẫm nghĩ một lúc rồi đưa ra chủ ý:
— Gửi thư cho Hạ Hầu Uyên, Triệu Ngang bảo bọn họ dựa vào địa thế hiểm yếu mà đóng quân, không được khinh địch, đợi quả nhân lo liệu xong việc Giang Đông sẽ đem quân tiếp viện. Nhưng Lưu Bị tăng quân cũng không thể không phòng bị… - Trong lúc ra lệnh, ông quét ánh mắt về phía tử đệ, nhìn một lúc lâu, bỗng nhiên gọi:
— Tử Đan!
Tào Chân không ngờ ông gọi tên mình, hốt hoảng quỳ xuống:
— Có mạt tướng!
— Ta phong khanh làm Thiên Tướng quân, lĩnh năm ngàn quân qua Hán Trung tăng cường phòng ngự.
— Tuân lệnh. - Tào Chân kích động đến mức tim sắp nhảy ra khỏi lồng ngực, đây là lần đầu tiên y được thống lĩnh binh mã ra ngoài tác chiến, và cũng là người đầu tiên trong đám tử điệt Tào gia cùng thời.
Tào Chân đã rèn luyện nhiều năm trong hổ báo doanh, Tào Tháo rất yên tâm về tài trí của y, nhưng Tào Tháo cũng biết y là phe cánh của Tào Phi, trao binh quyền cho y nghĩa là gián tiếp trao binh mã cho Tào Phi, vì vậy không chịu buông tay. Nay Tào Tháo đã quyết ý, cuối cùng cũng có thể vun vén cho Tào Chân. Từ đất Bái qua Hán Trung có hai con đường, một đường đi theo hướng bắc tới Đồng Quan, vòng qua Quan Trung, còn đường khác từ Nam Dương đi theo hướng tây, qua đất Phòng Lăng, Thượng Dung. Đường sau gần hơn nhưng là đường núi hiểm trở, đại quân khó đi qua. Tào Tháo cấp cho Tào Chân năm ngàn binh mã không nhiều cũng không ít, có thể theo đường gần mà đến Hán Trung. Nếu làm nên việc, sau này số lượng binh mã mà y được lĩnh sẽ không chỉ dừng lại ở con số năm ngàn.
Tào Phi tỏ ra nghiêm cẩn, nhưng vẫn để lộ nét cười nơi khóe miệng. Tào Tháo vờ như không thấy, tiếp tục giáo huấn Tào Chân:
— Con là người đầu tiên thống lĩnh binh mã trong số tử điệt Tào thị ta, nhớ kỹ mọi việc đều phải mưu tính trước rồi mới được hành động, chớ để mất mặt phụ vương! - Tào Chân vốn mang họ Tần, được nhận làm nghĩa tử của Tào Tháo.
— Nhi thần hiểu ạ.
Câu này vừa dứt, lại có một giọng nới non nớt vang lên:
— Tại hạ khẩn cầu đại vương cho đi theo Tử Đan.
Chúng nhân liếc mắt nhìn về phía phát ra tiếng nói, thấy một thanh niên tuấn tú trong hàng tông tộc, là Hạ Hầu Vinh, thứ tử của Hạ Hầu Uyên. Trong họ Hạ Hầu chỉ có nhà Hạ Hầu Uyên đông con nhất, sinh được những bảy nhi tử, Hạ Hầu Vinh là người con thứ tư, năm nay mới mười hai tuổi, nhưng thông minh lanh lợi, nổi tiếng là thần đồng.
Tào Tháo mỉm cười:
— Đánh trận không phải trò đùa, thiếu niên nhỏ tuổi như ngươi cũng muốn đi sao?
Hạ Hầu Vinh dẩu miệng nói:
— Phụ thân tại hạ chống địch bên ngoài, thân làm con há cam chịu ở lại phía sau? Đại vương chẳng phải cũng dẫn theo Ngũ quan tướng xuất chinh đó ư, vì sao không cho tại hạ đi? - Lời này cũng có lý.
Tào Tháo mến Hạ Hầu Vinh tuổi nhỏ thông minh, nhìn cậu ta mà lòng không khỏi nghĩ đến Tào Xung, hơn nữa càng bồi dưỡng được nhiều nhân tài cho hậu bối càng tốt, bởi vậy gật đầu đồng ý:
— Được! Ngươi muốn đi thì trên đường nhất định phải nghe lời Tử Đan, đến Hán Trung phải về bên phụ thân ngươi, không được làm càn. - Quan viên thấy Tào Tháo cho phép một đứa con nít tòng quân đều chặc lưỡi, nhưng đây là chuyện họ hàng nhà người ta, ai lại dám xen vào.
— Tạ ơn đại vương. - Hạ Hầu Vinh vui sướng chạy lại chỗ Tào Chân.
Tào Tháo bỗng im lặng, đưa mắt nhìn hết lượt chúng thần cố hương:
— Vũ Đế khởi binh ở Nam Dương, sau khi đăng cơ đám cường hào Nam Dương nổi lên mạnh nhất, ngạo mạn vô phép, tới cả triều đình cũng không dám hỏi tội. Nay Tào Ngụy ta dựng nước, không thể không xét đến sai lầm của cổ nhân. Những chuyện trước đây không tính, kể từ nay trở đi, phàm là tử đệ Tào thị, Hạ Hầu thị, người nào ra làm quan đều phải dời đến Ngụy quận, người nào được phong hầu đều phải mang gia quyến đến đất phong, không được dựng điền trang tại huyện Tiều, kẻ nào trái lệnh sẽ bị bãi chức, gạch tên khỏi tông phả. Năm xưa, quả nhân cho Viên ái khanh làm tướng đất Bái, cả quận nghiêm an, từ khi ông ấy thăng chức, người kế nhiệm không có được khí cốt của ông ấy. Nay Viên Hoán đã chết, thực là đáng tiếc, nhưng bề tôi chính trực đời nào cũng có, quả nhân muốn điều Đại lý chính Tư Mã Chi nhận chức tướng đất Bái, chấn chỉnh lại tác phong, kỷ cương. Các ngươi hãy suy nghĩ đi. - Tào Tháo không nỡ bắt tử đệ nhả ra số ruộng đất mà họ đã chiếm đoạt, ông không thể khai đao với thân hữu, kết oán với tay chân của mình, chỉ biết ngăn chặn chuyện sau này để bọn họ không gây thêm họa cho bách tính quê nhà.
Mọi người hiểu ẩn ý của Tào Tháo, ai nấy tỏ vẻ hổ thẹn, Tào Du càng thấy bất an, quỳ xuống thỉnh lệnh:
— Dưới trướng mạt tướng có nhiều hậu bối tông tộc, cũng xin theo về trung quân, sau này nghe đại vương trực tiếp sai phái.
— Cũng được. - Tào Tháo không nói nhiều về chuyện này để giữ thể diện cho bọn họ, ông chuyển sang hỏi Dương Tu:
— Khi nào các bộ Thanh Châu, Kinh Châu mới đến?
— Tang Bá, Tôn Quan dẫn hai quân thủy bộ đã vào đến sông Phì Thủy, trong vài ngày tới sẽ đến Hợp Phì. Còn Chinh Nam Tướng quân lo Quan Vũ nhân lúc quân ta phân tán lực lượng mà cất quân tấn công, nên vẫn bố trí phòng ngự, phải đợi thêm mấy ngày nữa.
— Lập tức gửi thư giục ông ta khởi binh. - Tào Tháo đổi mạch suy nghĩ, - Vùng Trung Nguyên, Giang Hoài đều có ôn dịch, muốn tránh cũng không tránh được, đại quân phải áp sát, liều trận này với Tôn Quyền. Nghỉ ngơi thêm bảy ngày nữa, sau đó tới Cư Sào, Lưu Bị khởi binh không đợi ta, quả nhân thà chịu đau ngắn chứ không thể đau dài!
— Dạ. - Chúng quần thần cùng lĩnh mệnh.
Tào Tháo buồn bã ngoái đầu lại, như muốn nhìn phong cảnh quê hương thêm một lần nữa, nhưng đập vào mắt vẫn là những tòa trang viên được bảo vệ nghiêm ngặt, ông đành mang nỗi hổ thẹn với bách tính quê nhà ra chiến trường, tạm gác lại mọi việc để lần sau bù đắp. Có điều ở sâu thẳm đáy lòng, ông mơ hồ có một dự cảm không lành, có lẽ sẽ không còn lần sau, rất có thể đây chính là lần cuối cùng ông trở về cố hương khi còn sống…
Công phá địch doanh
Tào Tháo không thể thoát khỏi sự quấy nhiễu của ôn dịch, nên quyết định dốc toàn lực đấu một trận sống mái với Tôn Quyền, giục các bộ binh mã mau chóng hội họp. Chinh Nam Tướng quân Tào Nhân trấn thủ Kinh Châu nhận được quân lệnh không dám chậm trễ, lệnh cho Bình Địch Tướng quân Lã Thường đồn trú Phàn Thành, bộ tướng Hầu Âm, Vệ Khai đóng tại Uyển Thành, Mãn Sủng trấn giữ Tương Dương đề phòng Quan Vũ, còn ông dẫn một vạn quân tham chiến. Cùng lúc đó, Thứ sử Dương Châu Ôn Khôi, Thứ sử Duyện Châu Tư Mã Lãng, Thứ sử Dự Châu Lã Cống, Thứ sử Kinh Châu Lý Lập, Bái Quốc tướng Phong Nhân, Thái thú Nam Dương Đông Lý Cổn, Thái thú Giang Hạ Văn Sính cũng lũ lượt kéo đến nghe lệnh, Hoa Hâm nhận mệnh làm quân sư cũng chạy tới Dương Châu. Tháng Giêng, năm Kiến An thứ hai mươi hai (năm 217), quân Tào tụ họp tại Cư Sào, binh mã các lộ gồm hai mươi sáu bộ tất cả, tổng binh lực ước khoảng mười bốn vạn, ngùn ngụt khí thế, đe dọa đại doanh Giang Bắc của Tôn Quyền.
Quân Giang Đông đã có sự chuẩn bị từ trước, nhưng đứng trước lực lượng quân Tào đông như vậy vẫn không tránh khỏi kinh hãi. Lần trước Tôn, Tào giao chiến, quân Giang Đông nhận được một bài học, doanh trại thất thủ, toàn quân của Công Tôn Dương đều bị giết sạch, cho nên lần này bọn họ hạ trại gần bờ sông, trải rộng chiến hào và cung cứng, lại cho một lượng lớn chiến thuyền đậu ở ven sông chờ tiếp ứng. Tôn Hiệu lệnh cho tướng sĩ cố thủ doanh trại, không được xuất chiến, thế ấy không gì phá được.
Quân Tào dàn trận, tấn công dồn dập cả ngày lẫn đêm, vẫn không thể làm lung lay quân Ngô. Tôn Hiệu tuy bị vây đánh nhưng mở được cửa hậu doanh, nhận tiếp tế của Giang Đông, cung tiễn lương thảo dùng không hết, binh sĩ thương vong cũng được thay thế luân đổi. Hai bên giao đấu mấy ngày liền, quân Tào thương vong rất nhiều, trong khi đó Tôn Hiệu vẫn nhàn nhã, không hề tốn sức.
Tào Tháo bắt đầu lo lắng - Ông vốn định mượn dư uy từ trận Hợp Phì để khiến Tôn Quyền phải thuần phục, không ngờ đến một tên Tôn Hiệu cũng chẳng làm gì được. Trong quân có ôn dịch, không hạ được doanh trại quân địch, cứ kéo dài thế này tất làm giảm sĩ khí, nếu Tôn Quyền ồ ạt phản công, thậm chí quân Tào sẽ còn rơi vào thế cục nguy hiểm giống như trận Xích Bích năm xưa. Vì vậy, Tào Tháo lệnh cho bộ quân của Tào Nhân ở phía trước, bộ quân Thanh Châu ở bên trái, chư quân Hợp Phì ở bên phải, còn mình dẫn trung quân giữ phía sau, cùng hợp lực đánh Tôn Hiệu, binh mã các bộ khác đồng loạt áp sát bờ sông, ngăn chặn thủy quân của địch vào tiếp viện, nhất định phải cổ vũ sĩ khí, phá tan địch doanh.
Tiếng trống trận vang động bầu không khí, tiếng chém giết rung chuyển mặt đất, bờ sông Trường Giang mưa máu gió tanh, quân Tào vượt qua con hào, mỗi lần áp sát doanh trại quân địch là mỗi lần bị cung nỏ bắn trả dữ dội. Chiến thuyền của Đông Ngô lúc thì bị quân Tào đánh rung mái chèo phải lùi lại phía sau, lúc lại điều chỉnh cánh buồm hướng lên mạn bắc. Hai bên rơi vào thế giằng co, đánh từ canh năm khi trời vừa sáng cho đến chính Ngọ, quân Tào vẫn không hạ được doanh trại của Tôn Hiệu, ngược lại quân Giang Đông cũng không thể đổ bộ tiếp ứng, hai bên khó phân thắng bại, đều đã mệt sức…
Các tướng Thanh Châu đối mặt với quân địch, đã bảy lần phát động tấn công, nhưng phía địch tường trại quá cao, cung tiễn quá nhiều, có khi bên này thuận lợi, cánh quân bên trái của Trương Liêu, Nhạc Tiến lại không theo kịp, có khi bên kia đánh tới chân tường, cánh quân bên phải lại gặp trở ngại. Tào Nhân gặp ngay mũi nhọn của địch, mấy bận bị cung tiễn bắn tới tấp, chỉ có công chống đỡ, chứ không có sức đánh trả. Tào Tháo muốn cho mấy vạn binh sĩ phối hợp khớp nhau, há có dễ vậy?
Binh mã dưới trướng thương vong gần một nửa, trong lòng các tướng như Đường Tư vô cùng lo lắng - Bấy giờ Thái thú Thành Dương Tôn Khang, Thái thú Đông Hoản Doãn Lễ đã qua đời, Thái thú Lợi Thành Ngô Đôn tuổi già mang bệnh, phái bộ tướng là Đường Tư, Sái Phương thay họ thống lĩnh binh mã.
— Không thể đánh thế này được! Cứ liều tiếp, huynh đệ chúng ta cũng sẽ chết hết! - Đường Tư rướn cổ hét lên với Tang Bá, Tôn Quan ở bên cạnh.
— Ngươi nói gì? - Tuy gần trong gang tấc, nhưng vì trên sa trường quá ồn ào, Tôn Quan phải trợn trừng mắt, gào đứt hơi, mấy sợi râu đốm bạc dưới cằm cũng rung lên.
Sái Phương trẻ tuổi tai thính, giúp Đường Tư chuyển lời:
— Chúng ta thương vong quá nhiều, mau xin ý kiến đại vương, đổi bộ khác lên đánh!
— Không được! - Tôn Quan dứt khoát từ chối, - Dù chỉ còn một hơi thở, chúng ta cũng phải liều đến cùng!
Hai tướng Đường, Sái ít sự từng trải, không lay chuyển được tiền bối, thấy Tôn Quan không đồng ý, chỉ còn biết gửi gắm hy vọng vào Tang Bá, nhưng chỉ thấy Tang Bá hai đầu lông mày nhíu lại, chăm chú quan sát tình hình trận chiến, không biết có nghe được lời bọn họ nói hay không. Đường Tư định nói tiếp, bỗng thấy phía sau có người tế ngựa tới, người cưỡi trên lưng ngựa ôm chặt cờ lệnh, là quan truyền lệnh của trung quân.
Người này múa cờ, gào lên một hồi, các tướng xung quanh nghe loáng thoáng, đại để Tào Tháo đã điều đội quân đóng giữ doanh trại tới hỗ trợ, ba bộ đồng tâm hiệp lực tấn công lại một lần nữa, nhất định phải hạ được địch doanh. Đường Tư nén cơn giận trong bụng đã lâu, nghe xong chửi vống lên:
— Đáng ghét! Tổn thất nặng nề, há có thể đánh lại? Lão Tào không xông lên trước, lại bảo binh sĩ Thanh Châu bọn ta xung phong chịu chết! Thế này gọi là đạo lý gì?
Những lời này quá bất kính, may là đang ở giữa trận hỗn loạn, quan truyền lệnh không nghe thấy gì, múa cờ lệnh chạy sang cánh quân bên trái. Tôn Quan đưa tay ra cho Đường Tư một cái bạt tai:
— Nhãi ranh! Các lão huynh vẫn còn đây, đâu đến lượt ngươi ăn nói bừa bãi? Không hạ được doanh trại của địch, ta xẻ thịt ngươi đầu tiên! - Nói đoạn Tôn Quan nhấc đại đao lên, gọi thân binh chuẩn bị làm tiên phong.
Tang Bá thấy vậy truyền lệnh đánh trống, thúc giục binh sĩ xông lên lần nữa. Hai tướng Đường, Sái không biết làm sao, cũng đành liều xông lên. Cung tiễn của quân địch từ trên tường trại ào ào bắn xuống, đan vào nhau tựa như một tấm lưới dày. Quân Tào không còn nhuệ khí như lúc sáng sớm, giơ khiên dè dặt di chuyển lên phía trước, chốc chốc lại có người kêu thảm ngã xuống, hai con hào gần nhất lấp đầy xác chết, quân phía sau giẫm lên thi thể mà đi. Nhưng doanh trại của Tôn Hiệu quá đỗi kiên cố, còn có quân Ngô cầm mâu dài kích lớn nấp sau hàng rào, hễ thấy quân Tào tiến lại là đâm thủng người.
Binh sĩ đang mệt vì ứng phó, bỗng nghe phía sau nổi lên tiếng trống, Tôn Quan dẫn một đội thân binh lao tới. Đánh doanh cướp trại đâu thể dùng kỵ binh? Tuy nhiên ông ta không những cưỡi ngựa lâm trận mà còn xung phong dẫn đầu, đúng là muốn liều mạng. Một trận mưa tên bắn ra, Tôn Quan múa đao gạt sang hai bên, miệng hô lớn:
— Binh sĩ nghe đây! Hôm nay chúng ta liều mạng với lũ man di! Hạ được địch doanh tất cả đều có thưởng, nhược bằng kẻ nào dám lùi lại phía sau nửa bước, hãy xem Tôn Anh Tử ta chém đầu! - Vừa nói dứt lời, thì thấy một tên tiểu tốt cầm khiên lùi lại.
— Cho ngươi chết! - Tôn Quan vung đao phạt bay thủ cấp, máu tươi phun lên, cái thân không đầu còn run rẩy cào cấu dưới đất một lúc mới thôi.
Binh lính hốt hoảng, không dám chần chừ nữa, vội giơ cao tấm khiên xông lên. Quân Giang Đông càng không trễ nải, mưa tên dường che kín trời đất.
Bộ hạ của các tướng Thanh Châu vốn đều là sơn tặc, thảo khấu, sống nhờ vào lưỡi đao, nay vì sự nóng mắt của đương gia mà lại mang sức mạnh hiếp đáp người khác năm xưa ra đánh đổi, bất kể trước mặt bắn ra bao nhiêu mũi tên, bằng giá nào cũng phải xông lên! Dẫu là kẻ nhát gan cũng bị người phía sau xô lên. Tôn Quan càng tỏ ra điên cuồng, dẫn thân binh vượt lên trước.
Bộ binh xông đến chân tường trại, hoàn toàn trơ trụi trước quân địch, muốn quay đầu lại cũng không được. Có tên lính ném tấm khiên đi, tung người múa đao, chém thẳng vào tường trại. Một hồi “răng rắc” vang lên, hàng rào bị phá, vụn gỗ bay tứ tung, nhưng ngay sau đó lại phải đối mặt với mũi mâu thọc ra, đâm chết lính Tào. Đội quân phía sau vội đẩy xác chết ra, bồi thêm một đao, không chỉ chặt đứt trường mâu, còn phạt gãy ngón tay quân Ngô, nhưng chỉ trong chớp mắt lại có người mới được thế vào, chìa mâu ra đâm - Đây rõ ràng là lối đánh cùng chết!
Cánh quân bên phải xông tới tường trại, tất cả cung tiễn của quân Giang Đông đều nhắm về phía này, đúng lúc đó lại có một hồi trống nữa vang lên, quân Tào thuộc cánh quân bên trái cũng hò hét xông lên. Trương Liêu đích thân dẫn đầu đốc suất binh sĩ, nhưng không thấy bóng dáng Nhạc Tiến đâu - Nhạc Tiến chiến đấu hăng hái suốt nửa ngày đã mệt lử, gục trên lưng ngựa thở phì phò, không đành lòng nhìn Trương Liêu xông lên, nhưng ông ta không liều nổi nữa. Năm xưa, Nhạc Tiến là viên tướng dũng cảm nhất trong Tào doanh, trận nào cũng xông pha lên trước và cũng tham tranh công nhất, nay muốn tranh cũng không tranh được nữa, tráng sĩ luống tuổi thực đáng thương.
Hai cánh tả hữu thuận lợi tiến quân, Tào Nhân dẫn những bộ tướng như Ngưu Kim, Thường Điêu, Vương Song cùng xông lên, thoáng chốc quân Tào đều đã đến được chân tường trại. Quân Giang Đông sống chết bảo vệ doanh trại, cũng nhào tới chân tường, chống nhau với quân Tào cách một lớp hàng rào. Tiếng la hét, tiếng mắng chửi và tiếng kêu gào hòa lẫn với nhau, không lâu sau hai bên tường rào đã chất đầy xác chết. Tào Nhân sai hai trăm dũng sĩ cảm tử, mình mặc giáp cứng, vứt bỏ tấm khiên, hợp lực ốm bốn thân cây lớn, dốc sức đâm vào cửa trại theo khẩu lệnh. Sau hai ba lần đâm, dũng sĩ bị những mũi loạn tiễn cắm vào người mà chết, nhưng cũng đâm thủng được hai lỗ to.
Tuy nhiên cũng chính lúc này, bỗng nhiên vang lên một hồi rầm rầm, cửa trại sắp đổ bị quân Ngô đạp xuống, mặt trời đỏ rực soi rõ, trong trại sớm đã bố trí năm trăm quân hiệu, mũi thương sáng lóa, đằng đằng sát khí. Viên tướng đứng đầu mình hổ eo gấu, tướng mạo dữ tợn, cầm hai thanh Mạch Đao là Chu Thái, dũng tướng Giang Đông.
— Các huynh đệ, giết! - Chu Thái rống lên một tiếng, năm trăm tiểu hiệu cầm trường thương cùng liều mình xông ra. Việc này xảy ra quá đột ngột, quân Tào không kịp trở tay, bị quân Ngô đâm như đâm nhái. Chu Thái biết mình sắp không giữ được doanh trại, bèn lấy công làm thủ, ra ngoài quyết một phen sống mái. Phía sau còn một đội cung tiễn do Tôn Hiệu đích thân chỉ huy, bắn tên yểm trợ.
Tôn Quan thấy thế trận sắp loạn liền thúc ngựa lên cứu, nhưng không ngờ bị một mũi tên lạc cắm trúng vào chân trái, làm ông ta ngã khỏi lưng ngựa.
— Tôn tướng quân ngã ngựa rồi!… - Thân binh đang định tới cứu, nào ngờ Tôn Quan bật dậy như cá chép vọt khỏi mặt nước. Ông ta năm nay gần năm mươi tuổi, dáng người to béo nhưng động tác nhanh nhẹn, bất chấp chân bị thương, vẫn múa đại đao xông tới cửa trại. Tướng ôm lòng quyết tử, lính đâu thể tham sống, quân Tào thấy vậy lại đồng loạt xông lên, chặn đứng năm trăm quân Ngô vẫn đang liều mạng. Nhưng, năm trăm tiểu hiệu này là những dũng sĩ được Tôn Hiệu tuyển chọn kỹ càng, một địch nổi mười, còn Chu Thái như mãnh hổ xuống núi, hai thanh Mạch Đao bay tới bay lui, đánh giết giữa trận như chém dưa chặt chuối, mấy ngàn quân Tào không làm gì được.
Vừa hay lúc này có một đội quân xông lên từ phía sau quân Tào, xuyên qua bộ quân của Tào Nhân, vọt lên trước nhất. Đội này toàn cầm mâu dài kích lớn, tướng dẫn đầu cưỡi con đại bạch mã, đầu beo mắt tròn, râu quai nón, mình mặc giáp sắt, tay cầm đại giáo đen bóng, chính là Bàng Đức, Bàng Lệnh Minh, mãnh tướng dưới trướng Mã Siêu năm xưa. Bàng Đức từng theo Mã Siêu đại náo Quan Trung, sau khi thất bại đã trốn sang Hán Trung, nương nhờ Trương Lỗ. Nhưng vì hai nhà có quá nhiều hiềm khích, Mã Siêu lại bỏ Trương Lỗ mà hàng Lưu Bị, trong lúc nóng vội không kịp dẫn Bàng Đức cùng theo. Về sau, Tào Tháo phá tan ải Dương Bình, Trương Lỗ không thể không quy hàng, Bàng Đức lại được nhận vào Tào doanh, bái làm Lập Nghĩa Tướng quân, được phong là Quan Môn đình hầu. Bàng Đức biết mình không phải thân tín của Tào thị, luôn muốn lập công báo ân, nay việc cấp bách, hắn từ đội phía sau chen lên trước.
— Ta đến đây! - Bàng Đức tế ngựa xông lên trước, quơ đao dẹp đường, - Các ngươi mau tránh ra cho ta! - Binh sĩ Tây Kinh giỏi dùng trường mâu và đại kích, thuộc hạ dưới trướng của hắn không phải bộ hạ cũ nhưng cũng đã được huấn luyện hai năm, chủ yếu sử dụng binh khí bằng sắt, vừa cứng vừa nặng.
Hai quân người chống người, thương chống giáo, đều dồn sức đánh nhau, tiếng keng keng vang lên khắp nơi. Quân Giang Đông dũng cảm, song cán thương làm bằng tre, bằng gỗ, chống được chục hiệp đã bị gãy quá nửa. Bàng Đức tả đột hữu xông, hai cánh quân Tào xông lên theo, năm trăm quân hiệu liên tục phải lùi lại phía sau, Chu Thái bị thương ba chỗ, vẫn cầm đao đứng sừng sững trước viên môn. Lúc này toàn bộ binh sĩ trung quân của Tào Tháo đã áp sát, doanh trại dù kiên cố đến đâu cũng làm sao chống lại được mấy vạn người? Quân Tào xông ra từ các ngóc ngách, nối nhau tiến vào, quân Ngô ở trên các chòi canh trong trại vẫn cố bắn tên xuống, nhưng không còn sức ngăn cản thế tiến công của quân Tào, lay vài cái là đổ ụp, người trên chòi không chết vì ngã thì cũng bị loạn đao của quân Tào phanh thây.
Tôn Hiệu bất lực, đành truyền lệnh bỏ trại lên thuyền, thân binh bảo vệ Chu Thái đang bị thương vừa đánh vừa rút. Ba tướng Tôn Quan, Trương Liêu, Bàng Đức ở mặt trước, bộ quân của Tang Bá, Đường Tư, Sái Phương, Ngưu Kim, Vương Song theo sát phía sau, cả một mảng tường trại đổ xuống, quân Tào hò hét ùn ùn kéo vào, bên trong lại vang lên những tiếng binh đao dữ dội…
Gần đến giờ Mùi, Tào Tháo đoạt được doanh trại quân địch, nhưng binh sĩ thương vong nặng nề, khắp bờ sông đều là xác chết của hai quân. Quân Tào không dám trễ nải, vừa di chuyển về doanh trại bên mình, vừa thu liệm đốt xác người chết. Tào Tháo đích thân đi tuần, thăm hỏi tướng sĩ, ghé vào liên doanh Thanh Châu trước tiên. Tôn Quan bị trúng tên bên chân trái, cố nhịn đau liều đánh được một lúc thì không chịu được nữa, ngã vật ra đất, được thân binh khiêng về.
Tào Tháo lại gần Tôn Quan, nhìn đầu ông ta đầm đìa mồ hôi, chân trái run rẩy, trong lòng cảm động:
— Tôn tướng quân, bị thương thế nào rồi?
Tôn Quan trông thấy Tào Tháo, nghiến răng đứng dậy, xoay người quỳ xuống trước mặt Ngụy Vương. Bọn Tang Bá, Đường Tư muốn đỡ, nhưng ông ta gạt ra:
— Tiểu nhân da thô thịt dày, vết thương nhỏ này có đáng gì! - Ông ta nói vậy nhưng người vẫn run lập cập, rõ là đau đớn vô cùng.
Tào Tháo thương xót:
— Tướng quân bị thương nặng mà còn chiến đấu dũng mãnh, không nên vì nước nhà mà yêu lấy thân hay sao?
Tôn Quan là người thô lỗ, cố lấy tinh thần trả lời:
— Đại vương đối tốt với chúng tiểu nhân, phong quan ban tước, chớ nói là một hai mũi tên, dù phải lên núi đao xuống chảo dầu cũng có là gì?
— Đúng là tráng sĩ. - Tào Tháo vui vẻ nói, - Quả nhân tấn phong ngươi làm Chấn Uy Tướng quân, nhi tử ngươi là Tôn Dục vời làm Lang quan, sau này chắc chắn được trọng dụng!
— Tạ ơn đại vương! - Tôn Quan cười lớn dập đầu, - Phụ tử tiểu nhân đều được hưởng phúc của đại vương!
Tào Tháo an ủi thêm vài câu, bảo ông ta dưỡng thương cho tốt, rồi quay đi khen thưởng Bàng Đức. Nhìn Tào Tháo đã đi xa, Tôn Quan không nhịn nổi nữa, nằm vật ra, không ngừng rên rỉ. Tang Bá biết ông ta là kẻ kiên gan, nếu chỉ đau bình thường tuyệt đối sẽ không hé răng kêu, vội cúi xuống bên cạnh:
— Anh Tử, đệ sao rồi? - Đưa tay sờ thử, thấy trán ông ta nóng ran.
Bên chân bị thương của Tôn Quan liên tục co giật, ngực không ngừng phập phồng, miệng thều thào:
— Ta… ta không ổn nữa rồi…
Ông ta vừa nãy làm ra vẻ phong độ, thực ra là cố gắng gượng, đã vắt kiệt sức lực đến hơi thở cuối cùng.
Tang Bá và ông ta tình như thủ túc, nghe câu “không ổn nữa rồi” mà ruột gan như bị thiêu đốt:
— Đệ không thể có mệnh hệ gì được! Trong số lão huynh đệ chúng ta giờ chỉ còn lại ta với đệ, đệ sao có thể bỏ lại ngu huynh mà đi trước? Đại vương mới thăng quan cho đệ, đệ còn chưa thụ ấn đấy. Trước đây chẳng phải đệ cũng thường bị thương sao? Đệ chịu được mà!
— Nhiều tuổi rồi… Lần này không ổn rồi…
Đường Tư trong lòng đầy phẫn nộ:
— Tôn thúc lớn tuổi như thế mà vẫn phải xông vào trận địa. Đại vương hành sự cũng quá đáng, còn coi chúng ta là người mình không?
Sái Phương cũng nghiến răng nghiến lợi nói:
— Con người ai chả vậy, phong quan được ích lợi gì? Quay về Thanh Châu của chúng ta thôi, trận này không đánh nữa!
— Câm miệng! Khụ khụ khụ… - Tôn Quan cố nén cơn đau, tức giận nói, - Bọn nhãi ranh các ngươi, không biết trời cao đất dày… Tang đại ca, ta thực sự không xong rồi, có mấy câu muốn nói với huynh… chỉ nói với một mình huynh!
Tang Bá không dám chậm trễ, sai binh lính khiêng ông ta vào trướng của mình, cho thân binh lui xuống hết, ngay cả Đường Tư, Sái Phương cũng bị đuổi ra ngoài, rồi mới nắm chặt tay ông ta:
— Huynh đệ của ta, đệ nói đi.
Tôn Quan mặt mày trắng bệch, trán túa mồ hôi, hổn hển nói:
— Tang đại ca, chúng ta có thể chiếm cứ Thanh Châu bao lâu nữa? Thực sự không được thì… thì…
Tang Bá hiểu ý Tôn Quan muốn nói gì. Năm xưa bọn họ đều là thảo khấu vùng duyên hải, ban đầu đi theo Đào Khiêm, về sau lại nương dựa Lã Bố, vốn là kẻ thù của Tào thị. Do Tào Tháo tiêu diệt Lã Bố, nóng lòng chuẩn bị cho trận Quan Độ nên mới không ra tay với bọn họ, còn ban quan cao bậc nhất ở quận thú, cắt đất vùng duyên hải Thanh, Từ để bọn họ tự trị. Tuy nói hơn mười năm nay, họ luôn trung thành với Tào Tháo, nhưng dù sao địa bàn của họ cũng không thuộc sự cai quản của triều đình, đến nay vẫn hoàn toàn độc lập về thuế khóa, binh mã, nhi tử của Tang Bá là Tang Thuấn và nhi tử của Tôn Quan là Tôn Dục đều đang ở Nghiệp Thành làm con tin. Vấn đề chưa được giải quyết, Tào gia không thể đối đãi thật lòng với bọn họ.
— Ta hiểu, có điều… - Thực ra, Tang Bá cũng đã sớm nghĩ đến chuyện dâng đất quy thuận Tào thị, nhưng làm vậy cũng không hề dễ. Thứ nhất, họ đều xuất thân là người nghèo khổ, thu thuế của dân thấp hơn nhiều so với triều đình, bách tính không muốn họ rời đi. Thứ hai, sau một thời gian dài tự trị, họ đã tạo dựng được một lực lượng binh mã riêng, như bọn Đường Tư, Sái Phương đều là người gốc Lợi Thành, nắm giữ không ít bộ khúc. Tào thị tuyệt đối sẽ không cho họ Lưu trú tại cố hương, thậm chí có thể thay hết quân tử đệ, bọn họ há lại cam lòng? Cho nên Tang Bá đắn đo nhiều năm vẫn không thể hạ quyết tâm.
Tôn Quan đau đớn không nguôi, miệng vẫn nở nụ cười:
— Ta chưa từng đọc sách, ngay đến tên của mình cũng chẳng biết viết, nhưng thực ra trong lòng ta hiểu rõ hơn ai… Chúng ta vốn là phường trộm cướp, may nhờ có lão Tào rửa mặt cho chúng ta, nên mới được chuyển kiếp làm người tốt… Chúng ta nên nhân lúc còn có thể diện mà nghe lời người ta, đợi sau này người ta xé nát thể diện của chúng ta ra rồi thì không dễ làm nữa… Không nghĩ cho mình, cũng phải nghĩ cho vợ con chứ… Chúng ta xuất thân là trộm cướp, có được như ngày hôm nay không phải dễ, hy sinh cái mạng này để mang lại tiền đồ tốt đẹp cho tử tôn cũng đáng lắm… Ta muốn cho tử tôn được đọc sách thánh hiền, sống yên ổn cả đời… chứ không phải chịu nỗi khổ như chúng ta…
— Ừ! - Mắt Tang Bá ngấn lệ, siết chặt tay ông, - Đệ nghỉ ngơi chút đi, chớ nghĩ nhiều.
Tôn Quan cựa quậy lắc đầu:
— Đại ca đừng tránh né ta, ta biết các huynh cũng có bụng dạ hẹp hòi, bọn Đường Tư lại thường xuyên xúi giục huynh… Bọn tiểu tử đó còn quá trẻ, không biết nặng nhẹ, chớ nghe theo chúng… Bây giờ khác với hai mươi năm trước, hồi đó chỉ cần có gan là có thể làm vua thảo đầu, giờ có nước Ngụy rồi mà còn nghĩ đến chuyện chiếm giữ đỉnh núi thì chỉ có đi vào chỗ chết… Lã Kiền cũng đánh được, nhưng đại vương không những cho ông ta làm Tòng sự, về sau còn cho làm Thái thú Thái Sơn, đảm nhiệm mỗi cương vị hơn chục năm… Đâu phải vì ông ta có tài làm quận thú? Đó là vì sợ ta làm loạn, đề phòng ta đấy! Nơi khô cằn như chúng ta vùng vẫy sao nổi, Xương Hi chính là một bài học… Huynh phải coi chừng bọn tiểu tử đó, không sớm muộn gì chúng cũng gây họa! Ta chết rồi, đại ca hãy để những lời này trong lòng…
— Ừ! - Tang Bá nước mắt nước mũi giàn giụa.
— Ta từng là thổ phỉ, nhưng không hề hối hận… Những kẻ bị ta giết đều là tham quan ác bá, đều là những kẻ đáng chết… Nếu được sống lại một lần nữa ta vẫn sẽ xẻ thịt bọn chúng, đào hang ổ của bọn chúng, không hề nương tay… - Tôn Quan không ngừng lẩm bẩm, ánh mắt lờ đờ, thần trí mơ hồ, ban đầu còn nghe được những câu nói đứt đoạn, về sau chỉ còn những tiếng rên rỉ.
— Anh Tử! Anh Tử! - Tang Bá gục xuống người ông ta, không ngừng gào khóc…
Quân Tào ra sức chém giết, quân Ngô gần như bị tiêu diệt hoàn toàn, Tôn Hiệu và Chu Thái bỏ doanh trại mà chạy. Nhưng Tào Tháo cũng phải trả giá đắt, mấy ngàn tướng sĩ thương vong, đại tướng Thanh Châu là Tôn Quan bị thương nặng không qua khỏi, đêm hôm ấy thì mất. Cái chết của Tôn Quan chỉ là sự khởi đầu, vố số sinh linh ở hai bên bờ sông Trường Giang cũng sắp phải bỏ mạng, có điều thứ cướp đi sinh mạng của họ không phải là chiến tranh.
❀ ❀ ❀
[1] Giàu sang mà không hồi hương, khác nào áo gấm đi đêm.
[2] Tướng quân có cấp bậc cao nhất, địa vị trên cả chức tam công.
[3] Lễ thái lao là lễ tế tông miếu xã tắc của đế vương thời xưa, dùng ba vật tế là trâu, dê, lợn. Do khác nhau về người tế và đối tượng tế mà có sự khu biệt trong quy cách dùng vật tế: thiên tử tế xã tắc dùng thái lao, còn chư hầu dùng thiếu lao (chỉ có dê và lợn, không có trâu).