Chuyển biến ở Hán Trung

Tào Tháo - Thánh Nhân Đê Tiện

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 491 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi Thứ 156
Lòng Vua Khó Lường, Dương Tu Chết Oan

❊ ❊ ❊

Tháng Giêng năm Kiến An thứ hai mươi tư (năm 219 sau Công nguyên), cuối cùng phản loạn ở Nam Dương cũng được dẹp yên. Tào Tháo đang vui mừng vì vụ việc chưa biến thành đại họa, không ngờ cục diện trận chiến ở Hán Trung lại chuyển biến theo hướng hoàn toàn xấu: Chinh Tây Tướng quân Hạ Hầu Uyên chết trận!

Cuộc chiến công - thủ Hán Trung giữa hai nhà Tào, Lưu đã đánh ngắt quãng hai năm trời. Tuy quân Tào nhiều lần giành được những thắng lợi nhỏ, nhưng không thoát khỏi thế bị động. Quân Thục liên tục tấn công, sau khi các tướng như Mã Siêu, Ngô Lan gặp thất bại trong trận Vũ Đô, Lưu Bị đích thân dẫn đại quân tới Dương Bình đốc chiến. Quân Tào cũng bố trí Hạ Hầu Uyên và Từ Hoảng đồn trú ải Dương Bình chống nhau với Lưu Bị, còn đội quân của Trương Cáp đồn trú Quảng Thạch, tạo thành thế gọng kìm. Ban đầu, Lưu Bị lập mưu cắt đứt mối liên hệ giữa hai bộ quân Tào, dựa vào ưu thế về binh lực để chia ra mà đánh, phái hơn mười bộ quân của bọn Trần Thức chặn sạn đạo Mã Minh, nhưng lại bị Từ Hoảng đánh bại, gây thương vong lớn. Sau trận ấy, Lưu Bị nén nỗi đau, một mặt tính toán sách lược, mặt khác gửi thư tới Thành Đô giục điều binh. Quân Thục giao chiến nhiều lần mà không thắng, ngay cả Gia Cát Lượng lưu giữ Thành Đô cũng hơi do dự, tòng sự Dương Hồng kiến nghị:

— Hán Trung là yết hầu của Ích Châu, liên quan đến sự tồn vong của Thục quốc, một khi để mất Hán Trung, đất Thục cũng sẽ không còn nữa, đó là tai họa trước cửa nhà. Việc cần làm hiện nay là xuống lệnh đàn ông phải tham gia chiến trận, còn đàn bà phải vận chuyển quân xa, phát binh sao lại chần chừ? - Gia Cát Lượng nghe có lý, bèn dâng tấu xin bổ nhiệm Dương Hồng làm Thái thú Thục Quận thay cho Pháp Chính đang ở ngoài tiền tuyến, điều động toàn bộ binh mã Xuyên Thục cùng với tân binh mới chiêu mộ được trong dân hội họp tại Hán Trung.

Lần này Lưu Bị thay đổi chiến lược, tính chắc từng bước, đại quân di chuyển từ phía nam ải Dương Bình qua sông Miện Thủy, tiến vào Hán Trung theo đường núi, sau đó đồn trú ở trọng trấn núi Định Quân - cửa ngõ ra vào mặt đông Nam Trịnh. Bọn Hạ Hầu Uyên, Trương Cáp cũng dời quân đến đây. Pháp Chính hiến kế cho Lưu Bị, nửa đêm đánh trống tấn công Tào doanh, cùng lúc đó phái quân vòng qua mé nam đốt công sự phòng ngự của họ, công kích quân Tào ở cả hai mặt. Hạ Hầu Uyên lập tức bố trí Trương Cáp phụ trách việc ngăn chặn quân địch ở mé đông, còn mình dẫn quân cứu viện mé nam. Không ngờ ở đó chỉ có hàng rào chông chà bị cháy, chứ không thấy bóng dáng quân Thục đâu; trong khi mé đông đang bị đội quân chủ lực của Lưu Bị tấn công dữ dội. Hạ Hầu Uyên không dám chậm trễ, tức tốc chia một nửa quân đi cứu Trương Cáp, còn mình chỉ huy số binh mã còn lại dựng lại công sự, ngờ đâu hành động này lại trúng kế của quân địch!

Pháp Chính hiến kế dương đông kích tây, phía đông tập trung nhiều binh mã, nhưng thực chất là nghi binh, ông ta đã sớm bố trí một đội quân tinh nhuệ do Đại tướng quân Hoàng Trung thống lĩnh mai phục trên ngọn núi phía nam Tào doanh. Hoàng Trung từ trên cao nhìn xuống thấy Hạ Hầu Uyên trúng kế chia binh, lập tức phát quân tập kích. Hạ Hầu Uyên đang mải dựng lại hàng rào chông chà, bỗng nhiên nghe tiếng chiêng trống rung trời, tiếng chém giết động núi, Hoàng Trung đằng đằng sát khí xông đến trước mặt - Tiếc thay một danh tướng Tào doanh gặp cảnh đột kích, chết giữa đám loạn quân.

Hạ Hầu Uyên là chủ tướng trấn giữ Hán Trung, cái chết của ông ta đẩy quân Tào rơi vào cục diện xấu, Hoàng Trung mở ra một kẽ hở, theo đó đánh vào liên trại quân Tào. Thứ sử Ích Châu là Triệu Ngang liều mạng kháng cự, nhưng không ngăn được quân địch, chết dưới đao của quân Thục; nhi tử của Hạ Hầu Uyên là Hạ Hầu Vinh mới lên mười ba cũng chết trận. Trương Cáp nhìn binh bại như núi đổ, cũng chỉ biết dẫn đám tàn quân xông ra khỏi vòng vây, rút về ải Dương Bình - Trận này quân Tào tổn thất to lớn, không những mất đi chủ tướng, còn mất hơn một vạn quân, và mất luôn cả ưu thế phòng ngự Hán Trung.

Tin tức truyền đến Trường An, mới đầu Tào Tháo tỏ vẻ kinh ngạc, sau đến hoảng sợ, cuối cùng hóa thành bi thương. Kinh ngạc là vì mới đó không lâu ông còn nhận được tin báo thắng trận của Từ Hoảng, sao tình thế lại chuyển biến nhanh như vậy? Hoảng sợ là vì Hạ Hầu Uyên tử trận, quân tâm ngoài tiền tuyến hoang mang, cục chiến Hán Trung càng trở nên bất lợi. Còn bi thương là vì Hạ Hầu Uyên đã theo ông vào sinh ra tử hơn ba mươi năm, lại là cố hữu thân tộc, thuở trẻ Tào Tháo gây chuyện hại chết người ta, cũng chính Hạ Hầu Uyên đã đứng ra nhận tội thay ông, giờ ông ta phải bỏ mạng trên sa trường, ngay cả tiểu nhi tử cũng chết theo, và đều không tìm được xác…

Tào Tháo nhớ lại chuyện năm xưa ông từng khuyên răn Hạ Hầu Uyên: “Làm tướng cũng phải có lúc hèn yếu, không thể chỉ cậy vào dũng mãnh được. Tướng nên lấy dũng làm gốc, nhưng cũng phải dùng mưu trí và kế sách; nếu chỉ biết mỗi dũng cảm thì chỉ địch nổi một kẻ thất phu!” Rõ ràng Hạ Hầu Uyên đã bỏ ngoài tai những lời ấy, nên mới dẫn đến thất bại ngày hôm nay. Cục thế có sự chuyển biến lớn, dù thế nào Tào Tháo cũng phải ổn định lòng quân trước, vì vậy ông nén đau buồn, ban bố Quân sắc lệnh:

Tháng này, quân giặc đốt hàng rào chông chà của tướng quân Hạ Hầu Uyên, hàng rào đó cách bản doanh mười lăm dặm. Tướng Uyên dẫn bốn trăm binh sĩ tới, sai người sửa lại. Quân giặc ở trên cao trông thấy, bất ngờ xông ra từ khe núi, tướng Uyên dẫn quân giao đấu với chúng, quân giặc vòng ra phía sau, khi thu binh thì không thấy tướng Uyên trở về, thực đáng thương. Tướng quân Hạ Hầu Uyên vốn không có tài dụng binh, trong quân thường gọi là “Tướng quân bị thịt”, cho dù muốn đốc thúc binh sĩ, chủ soái cũng không nên thân chinh, huống chi chỉ là sửa lại hàng rào?

Bình tâm mà xét, cái chết của Hạ Hầu Uyên không chỉ do ông ta đích thân tham chiến, mà nguyên nhân lớn hơn là tính sai sách lược. Nhưng Tào Tháo muốn vỗ yên lòng quân, nên cố ý quy vào việc ngoài ý muốn, để tránh binh sĩ xuất hiện tâm lý sợ quân Thục. Sau khi biết được trận đột kích đó do Pháp Chính hiến kế, Tào Tháo càng cao giọng nói: “Quả nhân biết ngay Huyền Đức không thể nghĩ ra mưu lược này, mà chắc chắn có người bày cho hắn!” nhằm hạ thấp Lưu Bị trước mặt tướng sĩ. Tuy nhiên, lời nói chịu ảnh hưởng từ nội tâm, Tào Tháo vô tình đổi cách gọi Lưu Bị từ “giặc tai to” sang “Huyền Đức”, e rằng trong thâm tâm ông cũng đã bắt đầu nể sợ tên phản đồ năm ấy. Đáng suy xét hơn, Tào Tháo xuất binh từ tháng Bảy năm ngoái, mà đến tháng Giêng năm nay vẫn dừng chân ở Trường An, cố nhiên nửa năm qua có chuyện Nam Dương xảy ra loạn, nhưng việc ông chần chừ không quyết, đồng thời mang tâm thái may rủi mới ảnh hưởng nhiều hơn đến tiến trình hành quân - có thể nói, chính vì ông điều quân cứu viện đến muộn, nên mới khiến tình hình trận chiến chuyển biến xấu đi, bản thân Tào Tháo là người phải chịu trách nhiệm lớn nhất trong chuyện Hạ Hầu Uyên tử trận.

Tào Tháo nhận thức rõ sai lầm của bản thân, lại bị Lưu Bị chọc giận, nên quyết định không trì hoãn nữa. Ông sắp xếp cho phu nhân và nữ quyến ở lại Trường An, còn mình dẫn đại quân lập tức tây tiến, qua đường Bao Tà theo hướng tây nam. Tháng Ba năm Kiến An thứ hai mươi tư, cuối cùng đại quân cũng đến được ải Dương Bình. Nhưng lúc này mất bò mới lo làm chuồng thì đã muộn, theo đề xuất của Tư mã Quách Hoài, chúng tướng tiến cử Trương Cáp tạm thời làm thống soái, nhưng binh tàn tướng bại không còn khả năng ngăn chặn sự tiến công của Lưu Bị, phía nam Dương Bình và Nam Trịnh đều bị quân Thục khống chế.

Đất Thục có địa thế hiếm gặp trong thiên hạ, núi non nhấp nhô trùng điệp, đường nhỏ uốn lượn quanh co, đất đá mang hình thù kỳ lạ, cây cối lâu năm tỏa cành lá rậm rạp, vách núi dựng đứng tựa như ma quỷ dị thú bủa vây khắp nơi. Riêng ải Dương Bình một người canh giữ vạn kẻ khó vượt, nhưng kẻ địch hiện đang ở phía nam, đường qua đất Thục khó khăn, hiểm trở với cả hai bên. Tào Tháo được chúng tướng dìu lên Nam Sơn quan sát: dưới màn trời trong vắt vào sáng sớm, núi Định Quân, núi Mễ Thương, núi Thiên Thang, núi Kê Công nối nhau chạy dài như một dải bình phong không có ranh giới, trên mỗi đỉnh núi đều cắm cờ hiệu của quân Thục bay phần phật; lưng chừng núi bố trí hàng rào chông chà ngăn ngựa, gỗ lăn thả phòng bị nghiêm ngặt; còn những con đường huyết mạch trong thung lũng nếu không bị cây lớn chắn ngang thì cũng có quân Thục canh chừng. Các thành như Nam Trịnh, Miện Dương vẫn nằm trong tay quân Tào, song quân địch có thể áp sát bất cứ lúc nào.

Tào Tháo đang đau đầu sẵn, nhìn cảnh này lại càng hoa mắt chóng mặt, không ngừng rên rỉ, trong lòng hối hận sâu sắc bởi lúc đầu “có được Lũng Hữu còn không chiếm luôn Tây Thục”, cuối cùng lại nuôi hổ rước họa.

— Đại vương, mau nhìn kìa! - Hứa Chử đứng bên cạnh hộ giá, chỉ tay nói.

Tào Tháo đưa mắt nhìn mé tây nam theo hướng tay của ông ta, giữa núi hình như có một đội kỵ binh nhỏ. Trông ngọn núi ở ngay trước mặt, nhưng cũng phải chạy mòn vó ngựa. Mãi lúc lâu sau, đội quân đó mới vòng qua được rặng núi ngoằn ngoèo, ước chừng có ba bốn trăm kỵ sĩ cầm đại thương, trường mâu. Tướng đứng đầu vóc người to lớn, khoảng ngoài ba mươi tuổi, mặt như sắt lạnh, cằm lưa thưa vài sợi râu ngắn, đầu đội mũ hổ đầu, mình mặc giáp liên hoàn, khoác áo bào đen, cưỡi trên con ngựa ô truy, thân binh giơ cao đại kỳ, bên trên đề chữ “Phó quân trung lang tướng Lưu”.

— Tiểu tướng đó là ai? - Tào Tháo hỏi chúng nhân bên cạnh.

Đỗ Tập hai lần nhận chức Đốc quân, biết không ít bộ tướng của Lưu Bị:

— Đó là Lưu Phong, nghĩa tử của Lưu Bị.

— Thì ra là y. - Tào Tháo tỏ vẻ khinh thường - Lưu Phong vốn mang họ Đậu, là hậu duệ của La hầu Đậu Khôi, ngoại thích dưới triều Hiếu Hòa Đế. Anh ta sinh ra vào buổi loạn lạc, thuở nhỏ không nơi nương tựa, đi theo người cậu họ Lưu ở quận Trường Sa. Khi đó, Lưu Bị ở dưới trướng Lưu Biểu, quanh năm bôn ba, nhiều lần lạc mất thê nhi, lại chưa sinh được Lưu Thiện, trong khi đã ngoài bốn mươi, sợ mình không có con nối dõi, nhìn thấy Lưu Phong tướng mạo anh tuấn, còn có mấy phần võ lược, nên đã nhận làm nghĩa tử. Sau này, Lưu Phong theo quân nghe lệnh, lập khá nhiều công trong việc chiếm đất Thục, được bổ nhiệm làm Phó quân trung lang tướng.

Dương Tu nói:

— Lưu Bị cố thủ doanh trại đã nhiều ngày, giờ người này chỉ dẫn ít quân lên phía trước, tất có gian kế. Quân ta không nên khinh suất.

— Còn cần khanh nhắc nhở sao? - Tào Tháo cười nhạt, - Giặc tai to phải dùng đến hạ sách này chứng tỏ bản lĩnh của hắn cũng chẳng có gì.

Tào Tháo im lặng quan sát, Lưu Phong dẫn kỵ binh xông lên một mỏm núi chìa ra ngoài như hình mũi tên, ghì cương ngựa lại, rướn cổ quát:

— Lão tặc Tào Tháo đâu? Thiếu tướng quân ta đến đây rồi còn không mau xuống quy hàng?

Hai quân giao chiến vẫn phải giữ một chút lễ tiết, huống hồ còn có sự khác biệt về thân phận và vai vế. Lưu Phong chỉ mang theo bốn trăm quân mà dám bảo Tào Tháo đầu hàng, ăn nói xấc xược không coi trưởng bối ra gì. Các tướng như Hứa Chử, Điển Mãn nghiến răng nghiến lợi, nhưng Tào Tháo chỉ xoa trán cười nhăn nhó:

— Quả nhân đường đường là vua một nước, không chấp một tên nhãi ranh ngông cuồng. - Mặc cho Lưu Phong muốn nói gì thì nói, ông cũng không cho thân binh đáp trả.

Lưu Phong nhận tin báo của xích hầu, biết chắc Tào Tháo đang ở trên núi, nghe được những lời mình nói mà không đáp lại, càng tỏ vẻ lộng ngôn:

— Lão tặc Tào Tháo nghe cho kỹ đây, lão là nòi giống xấu xa của hoạn quan, trên dưới toàn gia môn đều là nịnh thần! Tổ phụ lão là Tào Đằng, thông đồng với Lương Ký làm loạn triều đình, hạ độc Chất Đế, tội ác tày trời; phụ thân lão là Tào Tung xu nịnh Trương Nhượng, hãm hại trung lương, dùng tiền mua chức, mặt dày vô sỉ. Còn lão từ khi xuất sĩ đã dựa thế Vương Phủ, nịnh nọt Hà Tiến, nương theo Trương Mạo, núp dưới trướng Viên Thiệu, nay Tần mai Sở, ba dao hai mặt! Uy hiếp thiên tử, sát hại sĩ nhân, thu thuế nặng của dân, thi hành chính trị bạo ngược ở châu quận, tự xưng là Ngụy Vương, lòng lang dạ thú, ngày càng lộ rõ chân tướng! Lão hãy xem… - Lưu Phong khua đại kích chỉ về những rặng núi phía sau, - Phụ tử Lưu thị ta hôm nay bố trí trăm vạn giáp sĩ khắp các dãy núi, quyết phải bắt được cẩu tặc nhà lão!

Quân Thục nhiều nhất cũng chỉ có bốn năm vạn, Lưu Phong nói lên tận một trăm vạn, đúng là khoác lác vô cùng. Hơn nữa, Lưu Bị thuở trẻ cũng từng đổi không ít chủ nhân, Lưu Phong lại đảo ngược, chụp thói tráo trở cho Tào Tháo trước. Chúng tướng Tào doanh tức giận xoa nắm đấm, lũ lượt xin ra nghênh chiến, Tào Tháo cũng sắp không nén được giận, nhưng vẫn quát chúng tướng bình tĩnh nhẫn nhịn.

Lưu Phong thấy trên núi không có động tĩnh gì, lại quay sang cười lớn:

— Ha ha ha!… Tào tặc sợ vỡ mật rồi à? Chắc là thế rồi, nhớ năm đó lão mất quân ở sông Biện Thủy, bại trận ở Phàn Dương, dẹp Uyển Thành thua dưới tay Trương Tú, đánh Quan Độ suýt bị Viên Thiệu tiêu diệt, năm lần tiễu trừ Xương Bá không thành, bốn lần vượt qua Sào Hồ không được, còn bị phụ thân ta đánh cho phải vứt khôi bỏ giáp, sợ tè ra quần tại Xích Bích. Ngụy Vương gì chứ? Chẳng qua chỉ là hư danh! Uổng công lão sống hoài hơn sáu chục năm, tới một tiểu tướng như ta đây mà cũng chẳng đấu nổi. Tới đây, tới đây nào! Lão xuống núi làm một lễ với ta, bản tướng quân có đức hiếu sinh sẽ niệm tình tuổi tác của lão mà tha cho cái chết, giữ lại cái đầu cút về Nghiệp Thành! - Câu này vừa nói xong, bốn trăm kỵ sĩ cười phá lên, tiếng cười giễu cợt vọng vào khe núi, âm vang không dứt.

Những lời ấy đâm thấu tim gan Tào Tháo, nắm tay của ông kêu răng rắc, đầu đau dữ dội. Đỗ Tập và Dương Tu muốn dìu ông xuống núi trở về doanh trại, nhưng bị đẩy ra:

— Quả nhân không sao! Ta muốn xem thử y còn chiêu trò gì nữa?

— Lão tặc đâu giỏi chinh chiến, các ngươi có biết lão giỏi nhất việc gì không? - Lưu Phong đổi cách chế giễu, rướn cổ hỏi những kỵ sĩ đi theo mình.

Đám kỵ sĩ ồn ào đáp:

— Chúng tôi không biết, xin tướng quân chỉ giáo!

— Ta nói cho các ngươi biết, lão Tào giỏi nhất việc cướp người ta về làm vợ! - Giọng Lưu Phong sang sảng, nói đến đây lại càng nâng giọng lên, - Ta từng nghe phụ thân nói, lão vốn có một người vợ kết tóc, nhưng chê dung mạo người ta xấu xí, nên trêu hoa ghẹo nguyệt bên ngoài. Con dâu Hà Tiến bị đoạt làm thiếp, còn nuôi cả một đứa trẻ nhà họ Hà. Các ngươi nghĩ vì sao lão đến Hạ Phì thảo phạt Lã Bố? Đó là vì Đỗ thị, vợ Tần Nghi Lộc xinh đẹp đấy. Hồi đánh Uyển Thành, lão cũng chiếm đoạt góa phụ của Trương Tể, bị Trương Tú bắt gian trên giường, đâm cho một thương vào mông! Thượng bất chính, hạ tắc loạn, thái tử Tào Phi cẩu tặc của nhà lão cũng cướp con dâu Viên Thiệu. Mẫu thân Tào Phi là Biện thị xuất thân ca kỹ, là tiện phụ bản tính dâm loạn. Nòi giống của hoạn quan đi với đào hát kỹ hộ mới thật xứng đôi, đẹp càng thêm đẹp!

— Ha ha ha!… Xứng đôi, xứng đôi!… - Chúng sĩ cười ầm lên.

— Thế này còn nhịn được không?![1] - Tào Tháo không nghe lọt nữa, ông không để ý thân phận của mình, quát xuống bên dưới, - Thằng nhãi hỗn xược! Ta nhất định sẽ vằm ngươi làm vạn mảnh! - Bọn Hứa Chử cũng lên tiếng chửi mắng. Đỗ Tập, Dương Tu sợ bọn họ kích động, nhưng việc đã đến nước này làm sao kìm nén được nữa? Lưu Phong càng phô trương, múa may đại kích, diễu võ dương oai trước mỏm núi, dong ngựa chạy từ bên trái sang bên phải rồi chạy ngược lại, coi quân Tào như không. Bốn trăm kỵ sĩ đồng thanh quát:

— Lão tặc vượt ngàn dặm xa xôi đến tiếp viện, thế mà đánh cũng không đánh, lui cũng không lui, là có ý gì? - Đây không phải cố ý khiêu khích, chọc tức quân Tào ư?

— Hỗn xược! - Tào Tháo chẳng còn quan tâm Lưu Phong có âm mưu gì không, quay đầu gầm lên, - Ai thay quả nhân giết tên giặc đó?

Ở lưng chừng núi có tiếng đáp:

— Mạt tướng xin đi! - Đó là Bình Nam Tướng quân Ân Thự.

— Mạt tướng cũng xin đi! - Tiểu tướng Chu Cái thuộc trung quân cũng muốn đi đánh Lưu Phong.

— Đi nhanh về nhanh. - Dương Tu, Đỗ Tập muốn can gián, nhưng Tào Tháo giơ tay ngăn lại, - Có thể đoạt được chủ soái của ba quân, nhưng không thể lấy đi ý chí của kẻ thất phu. Nếu bỏ qua những lời chửi mắng của y, quân ta còn đâu sĩ khí? Nhất định phải lấy được thủ cấp của tên ngông cuồng đó!

Ân Thự và Chu Cái mỗi người điểm một ngàn tiểu hiệu, lát sau ầm ầm xuống núi, tới thẳng chỗ Lưu Phong. Không ngờ Lưu Phong chửi mắng rất hung dữ, nhưng vừa trông thấy quân Tào cưỡi ngựa xông ra, bốn trăm kỵ binh đã vội bỏ chạy theo tướng quân của mình, không kịp nhìn quân Tào lấy một cái. Hai tướng Ân, Chu vì tức giận mà đến, há lại để cho Lưu Phong chạy thoát, luôn miệng chửi mắng, đuổi sát phía sau, vòng qua rặng núi tiếp tục truy kích. Tào Tháo nhất thời phẫn nộ mất đi lý trí, giờ nhìn thấy Lưu Phong dụ hai tướng của mình vào núi, liệu rằng không ổn, lập tức truyền lệnh đánh trống thu quân. Nhưng do khoảng cách xa dần, hai tướng lại nóng lòng muốn lập công, nên không nghe được quân lệnh.

Chu Cái tế ngựa lên trước, vòng qua ba rặng núi, sắp đuổi kịp Lưu Phong. Nhưng y giương cung lắp tên, ngắm mặt ông ta định bắn, Chu Cái đoán ra, vội cúi xuống lưng ngựa, đợi một lúc không thấy mũi tên bay tới, mới ngẩng đầu lên nhìn - Lưu Phong không bắn tên, mà đã sớm cất cung, dẫn chúng sĩ chạy xa.

— Đáng ghét! Cẩu tặc chạy mất rồi! - Chu Cái không chịu từ bỏ, nhìn Lưu Phong phóng ngựa chạy lên một ngọn núi nhỏ, ông ta cũng dẫn quân đuổi theo. Không ngờ lên trên đó lại không thấy bóng dáng Lưu Phong đâu, ngay cả bốn trăm quân địch kia cũng mất hút, trước mặt chỉ là một khu rừng cây cối xanh um, cỏ mọc rậm rạp, những rặng núi ở hai bên cao chót vót tạo thành thế bao bọc.

— Không ổn rồi! - Chu Cái liệu sự chẳng lành, quay đầu lại nhìn, không biết mấy ngàn quân Thục đã ùa ra từ các ngọn núi xung quanh tự lúc nào, đường về bị chặn, Ân Thự cũng đã theo ông đuổi đến nơi.

Chu Cái chợt thấy lo sợ, muốn cùng Ân Thự xông ra, nhưng còn chưa kịp xuống núi đã nghe tiếng trống trận nổi lên ầm ầm. Chu Cái ngẩng đầu nhìn: trên ngọn núi bên trái dựng cây cờ của Ngụy Diên - lão tướng của Lưu Bị, còn ngọn núi bên phải cũng dựng cây cờ của Phí Quan - cựu tướng của Thục Quận. Trên các ngọn núi mé đông nam, tây nam, đông bắc, tây bắc đều có tinh kỳ, tuy không nhiều quân nhưng bọn họ cùng bao vây bốn mặt nên trông rất đáng sợ. Cũng không biết là kẻ nào đánh trống, tiếng trống dội vào khe núi, âm thanh vọng to gấp bội, tưởng như trời nổi sấm sét.

Quân Tào rối loạn, còn chưa biết nên làm thế nào, mưa tên đã bắn đến. Quân Thục chiếm được lợi thế về địa hình, tám hướng bốn mặt cùng bắn tên ra, bọn Chu Cái trở thành những tấm bia sống! Sau hai ba loạt tên, quân Tào tan rã, lũ lượt bỏ chạy xuống núi, đúng lúc này lại nghe có tiếng chém giết, bộ quân của Lưu Phong nấp trong bụi rậm xông ra mà đánh. Phút chốc, một ngàn binh sĩ dưới trướng Chu Cái chết mất quá nửa. Ân Thự biết bên trong bị ám toán, muốn rút ra khỏi cửa rừng, nhưng quân địch càng lúc càng đông sớm đã phong tỏa con đường, chỉ có thể dẫn quân xông lên chân núi phía đông, rồi từ lưng chừng núi vòng ra cửa rừng. Nào ngờ Ân Thự chưa đi được bao xa, bỗng nghe những tiếng rầm rầm rất lớn: Đá lăn từ trên sườn núi xuống!

Ân Thự kinh hãi, mặt mũi biến sắc, vội tìm thân cây cổ thụ để nấp vào, còn binh sĩ của ông, kẻ nào có kinh nghiệm cũng biết tìm chỗ ẩn trú, hoặc nấp sau cây lớn, hoặc nấp sau tảng đá; nhưng hầu hết vẫn hốt hoảng quay người bỏ chạy. Mà người đâu có chạy nhanh hơn đá? Đất đá lăn xuống, máu văng tung tóe, thảm thiết một hồi! Một ngàn quân của Ân Thự cũng bị chết quá nửa, những tên còn lại giương mắt nhìn chiến hữu của mình bị nghiền nát, hai chân mềm nhũn. Quân Thục ở cửa rừng lại bắn tên ra. Trên có mai phục, dưới bị chặn đường, Ân Thự sợ lại có đá lăn xuống tiếp, đành dẫn tàn quân xông vào liều mạng với địch. Chu Cái lúc này cũng lảo đảo chạy lại - Trên người ông ta trúng hơn chục mũi tên, may là có áo giáp dày bảo vệ nên không nguy hiểm đến tính mạng, bên cạnh chỉ còn lại ba trăm quân.

Hai tướng Ân, Chu dũng mãnh nhưng quân ít không địch được đông, tính mạng đã như chỉ mành treo chuông. Vào giờ khắc nguy ngập, trận thế của quân Thục loạn dần, lại thấp thoáng xuất hiện hai ngọn cờ Tào doanh: Thì ra Tào Chân và Tào Hưu thấy hai tướng bị địch dụ, sợ có sơ sảy, mỗi người liền dẫn một ngàn quân tiếp ứng. Quân Thục tuy đông, nhưng từ các sơn trại tụ lại một chỗ không thống lĩnh được nhau, hai đầu lại đều có quân Tào nên trận thế hơi loạn. Hai tướng Ân, Chu nhân lúc này dốc sức chém giết, cuối cùng cũng mở được một đường máu hội họp với quân cứu viện.

Tào Chân, Tào Hưu biết địa thế nơi này hiểm yếu không thể ở lại lâu, cứu được người rồi vội vã quay ngược trở lại. Song vẫn chậm trễ, tiếng chém giết lại vang lên từng hồi, các bộ tướng Kinh Châu dưới trướng Lưu Bị như Phó Dung, Trương Nam, Phùng Tập, Đặng Phương, cùng với các bộ tướng Ích Châu như Trần Thức, Diêm Chi, Chiêm Yến, Trần Phượng dẫn binh mã từ các ngả xung quanh dồn dập kéo đến, người nhiều thì trên ngàn quân, còn người ít cũng phải mấy trăm quân. Trên các rặng núi cũng bố trí đầy khắp cung thủ, những chỗ quân Tào đi qua mưa tên tới tấp. Bốn tướng mặc cho có bao nhiêu mũi tên bay tới, bao nhiêu quân Thục chặn đường, vẫn cúi đầu thúc ngựa đột phá vòng vây, thân binh ra sức gạt tên bảo vệ, cánh quân xông qua cửa ải này đến cửa ải khác, cuối cùng cũng nhếch nhác thoát khỏi trùng sơn - Tất cả bốn ngàn binh sĩ xuất trận, nhưng chỉ có chưa đến nửa giữ được mạng mà trở về.

Tào Tháo ở trên đỉnh núi cao quan sát, lần đầu được tận mắt lĩnh giáo uy phong của Lưu Bị, tên tướng thường xuyên bại trận ấy lại có nhiều binh mã như thế, nhiều chiến tướng như thế! Ông xoa xoa cái đầu vẫn đang âm ỉ đau, lại quan sát kỹ binh thế của quân Thục mới nhận ra trận pháp: Chiêu này của Lưu Bị gọi là đổi khách làm chủ, tính chắc từng bước, binh lính canh giữ tại các ngả đường, ngọn núi không có nhiều, nhưng lại hợp thành một khối phòng ngự. Nếu quân Tào tiến sâu vào trong, quân Thục ở khắp các ngọn núi sẽ tập hợp lại, bao vây từ bốn phương tám hướng theo thế gọng kìm. Chỉ cần quân Tào tấn công một núi đơn lẻ, các doanh trại khác có thể cùng xông tới cứu viện, dù cho quân Tào chiếm được ngọn núi, cái được cũng không bù nổi cái mất, huống chi thế núi cao chót vót há dễ đánh chiếm? Càng chớ nghĩ tới việc bao vây ngọn núi, dẹp quân cứu viện, bởi những con đường nhỏ hẹp trong núi không có nhiều binh lính, hơn nữa đều đã bị quân Thục khống chế, xuất quỷ nhập thần, đánh đến bước này đúng là bế tắc!

Tào Tháo đang tư lự, lại nghe dưới chân núi có tiếng gào hét - Lưu Phong lại tới, vẫn dẫn theo bốn trăm kỵ binh lúc nãy, buông lời thóa mạ, khích tướng ở khoảng cách không gần cũng không xa.

Tào Tháo giận đến nghiến răng nghiến lợi, giậm chân bình bịch, đầu óc quay cuồng nhưng không làm được gì tiểu tử ấy, chửi vống lên:

— Đồ dệt chiếu đan giày Lưu Bị kia, ngươi lại sai thằng con nuôi này đến sỉ nhục ta lần nữa! Nếu thằng con râu vàng của ta mà ở đây, chắc chắn sẽ bắt sống tên tiểu tặc! - Giữa lúc tức giận, ông chợt nghĩ đến Tào Chương, quay đầu dặn Bí thư lang Tôn Tư, - Mau gửi thư đến Nghiệp Thành, điều Tử Văn tới trợ chiến.

Tôn Tư giật mình: Đây là đánh trận, chứ đâu phải lúc so tài con cái, thái tử lưu giữ Nghiệp Thành mà lại điều vương tử nắm binh quyền ra ngoài kinh sư, liệu có ổn không?

— Ngươi không nghe thấy hả? Viết quân lệnh ngay! - Tào Tháo nôn nóng.

— Dạ, dạ, dạ. - Tôn Tư không dám làm trái, lĩnh mệnh mà đi.

Lưu Phong ở dưới núi vẫn không ngừng cười phá lên, những lời chửi mắng ngày càng cay độc, khó nghe, nhưng quân Tào trải qua trận vừa rồi, sợ lại có mai phục nên không dám hành động khinh suất nữa. Tào Tháo không biết làm sao, ở lại quan sát chỉ thêm đau đầu, đành thở dài xuống núi về doanh, nghiêm cấm các bộ binh mã không được xuất chiến, dù Lưu Phong có chửi cả mười tám đời tổ tông nhà họ Tào lên cũng mặc.

Giết người trong mê

Mặt trời đỏ rực tỏa ánh nắng chói chang ngay trên đỉnh đầu, tuy đã có bóng cây che chắn nhưng vẫn không ngăn được khí nóng, khiến Tào Tháo cảm thấy oi bức, trong lòng ông càng giống như lửa đốt. Chớp mắt, ông đã đến Hán Trung gần hai tháng, chớ nói là đánh lui Lưu Bị, mà ngay cả kế sách phá địch cũng không có, đại quân bị trói chân ở đây, sĩ khí ngày một giảm. Đáng sợ hơn là mùa hè nóng nực ở đất Thục đã đến, mới vào đầu mùa mà đã khó chịu thế này, ngày tháng tiếp theo làm sao chịu nổi?

Lưu Phong không ở trước mỏm núi chửi mắng nữa, giờ đến lượt quân Tào khiêu khích. Có điều, Lưu Bị vừa dùng cách khích tướng xong, há lại mắc bẫy quân Tào? Mặc cho quân Tào gào hét rách cổ, Lưu Bị vẫn không chịu ra. Trận chiến rơi vào thế giằng co nhàm chán, Tào Tháo cậy vào sự kiên cố của thành trì cửa ải, còn Lưu Bị cậy vào địa hình hiểm yếu của núi non, quân Thục tấn công quân Tào không ra đánh, quân Tào khiêu khích quân Thục không ứng chiến, không bên nào đắc thế mà đều bị hao tổn, nhưng so ra quân Tào đã rơi vào thế bất lợi. Sào huyệt của Lưu Bị ở ngay cạnh Thành Đô, dù phải duy trì cục diện này một thời gian dài cũng không hề gì, nhưng quân Tào từ xa đến mà đất đai nơi đây lại cằn cỗi, căn bản không thể giải quyết được vấn đề lương thảo, tất thảy đều nhờ Quan Trung cung ứng, nên không thể kéo dài.

Tào Tháo không nghĩ ra được cách gì, lại bị cái nóng và bệnh tật giày vò khổ sở, thậm chí ông còn hơi hối hận vì lần xuất chinh này - Lúc này cách thời điểm chọn lăng ở Nghiệp Thành đã một năm, một năm qua ông làm được những gì? Trên đường hành quân thì chần chừ do dự, cứu viện Hán Trung thì đủng đỉnh đến muộn, đến nơi lại không có kế sách gì. Chiến trường thực sự là nơi an nghỉ cuối cùng của Tào Tháo chăng? Ông già rồi, hình thế thiên hạ cũng thay đổi rồi, ông biết mình không thể tả đột hữu xung như xưa.

Nhưng, con người ta vẫn luôn cố vùng vẫy ngay cả ở vào những thời khắc cuối cùng, Tào Tháo không cam tâm từ bỏ, dù chỉ còn một tia hy vọng mong manh ông cũng muốn víu lấy. Ông đích thân đưa quân lên Nam Sơn khiêu chiến, quan sát địch doanh vào sau giờ Ngọ, mong tìm ra sơ hở giữa lúc quân Thục đang mệt mỏi. Nhưng rốt cuộc chỉ uổng công, Lưu Bị không cho ông cơ hội, lần nào cũng chính quân Tào mệt mỏi mà lui.

Hôm nay cũng vậy, quân Tào đội nắng chửi mắng cả nửa canh giờ nhưng quân Thục không manh động, mấy ngọn núi ngăn ngựa khóa đường, cung mạnh bày bố, không có một kẽ hở nào, Tào Tháo đành phải bó tay quay về. Không ngờ lúc ông ra khỏi khu rừng rậm rạp, đột nhiên có mấy mũi tên bay sượt qua người - Lưu Bị mật sai cung thủ vòng qua con đường nhỏ xuống núi, ám sát Tào Tháo.

— Bảo vệ đại vương! - Hứa Chử thét lên một tiếng, chúng tướng người đẫm mồ hôi hoảng hết cả lên, vừa hộ giá vừa cự địch, binh sĩ hổ báo kỵ giương cung cài tên bắn xối xả vào rừng cây, nhưng không trông thấy bóng dáng quân địch đâu - Những rặng núi trùng điệp cùng với cánh rừng sâu u tịch chẳng khó để che giấu một vài tên lính.

Tào Tháo càng nghĩ càng thấy sợ, bỏ lại chúng tướng và binh sĩ, “chuồn” về doanh trại trước, nhưng do tinh thần hốt hoảng, trên đường băng qua những tảng đá gồ ghề, mấy lần ông suýt nữa ngã lăn xuống sườn núi, may có Hứa Chử giữ lại. Về đến doanh, lưng ông ướt đẫm mồ hôi. Hứa Chử cũng mệt lử, chống thanh kiếm dài xuống đất thở hổn hển. Thời trẻ ông ta cầm một cây thiết mâu uy danh chấn động sa trường, được chúng nhân gọi là Hổ hầu, giờ gần sáu mươi tuổi, cầm thiết mâu mất quá nhiều sức, nên đổi sang trường kiếm. Tào Tháo nhìn những giọt mồ hôi trên mặt Hứa Chử đua nhau lăn xuống theo những sợi râu đốm bạc, trong lòng buồn bã - Già rồi! Ngay cả một hổ tướng dũng mãnh cũng không còn được như năm đó nữa, huống hồ một người võ nghệ tầm thường là ông? Ở cái tuổi ngựa còn không cưỡi nổi, không thể liều lĩnh chinh chiến được nữa.

Tào Tháo lấy lại được chút tinh thần, bọn Đỗ Tập, Tư Mã Ý chạy tới an ủi, nhưng ông không muốn tiếp chuyện, đuổi hết bọn họ lui xuống, cả Khổng Quế cũng phải ra ngoài. Nghiêm Tuấn mang một chậu nước sạch vào giúp ông cởi xiêm y, cẩn thận dùng khăn ẩm lau mồ hôi, không để lại một giọt nước nào, rồi hầu ông mặc y phục mới. Đúng lúc này, Nghiêm Tuấn dè dặt nói:

— Đại vương, bên chân trái của người có mấy nốt mẩn đỏ, nô tài hầu hạ người không chu đáo. Xin đại vương trị tội. - Chặng đường từ Trường An đến Hán Trung nhiều gian nan, lại liên tục phải hành quân qua những con đường nhỏ hẹp, nữ quyến không tiện đi theo đều ở lại Trường An. Lúc phân ly, phu nhân Biện thị đã căn dặn Nghiêm Tuấn phải hầu hạ đại vương thật cẩn thận, nếu để xảy ra sơ suất gì, nhất định sẽ không dễ dàng bỏ qua, Nghiêm Tuấn nào dám khinh suất? Tuy đây chỉ là nốt mẩn đỏ bé xíu, nhưng xem ra có liên quan chặt chẽ tới tính mạng của hắn.

Tào Tháo vẻ mặt trầm tư tựa như hồ nước, ông không hề cảm thấy ngứa ngáy, khó chịu ở chỗ mẩn đỏ, nửa người bên trái ngày càng mất cảm giác, cứ tiếp tục thế này, e là không lâu nữa sẽ thành bán thân bất toại!

Nghiêm Tuấn không hiểu ông đang nghĩ gì, cuống quýt nhận tội, nhưng Tào Tháo chỉ nói:

— Không sao, ngươi đi gọi Lý Đương Chi tới đây… - Ngẩng đầu lên trông thấy Hứa Chử tháo khôi giáp đứng ngoài cửa trướng, vẫn còn thở phì phò, lại bảo, - Khoan đã! Ngươi mang nước sạch tới giúp Hứa tướng quân rửa ráy, ban nãy hầu hạ quả nhân thế nào, thì giờ hầu hạ tướng quân thế ấy.

Hứa Chử vội từ chối:

— Thần sao dám phiền đến thái giám của đại vương?

— Khanh bảo vệ quả nhân hơn hai mươi năm, một lòng trung thành quả cảm, trong trận Quan Độ năm xưa, Từ Đà học theo lối của Kinh Kha, nếu không có khanh ở đó trừ gian, làm sao quả nhân sống được đến ngày hôm nay? Giờ chúng ta đều đã già, không còn sức khỏe như trước, trời nóng quá khanh hãy tắm rửa nghỉ ngơi chút đi. Đợi đánh xong trận này, ta sẽ ban thưởng nhiều hơn để khanh an hưởng tuổi già, chớ ở trong quân chịu khổ nữa. - Lời Tào Tháo đầy vẻ thê lương.

Hứa Chử càng tỏ ra bi thương:

— Mạt tướng sẽ hầu hạ đại vương đến chết, chỉ cần đại vương còn ở trong quân ngày nào, mạt tướng sẽ ở cùng người ngày ấy… - Tuy ông ta cắn răng cố nén cảm xúc, nhưng vẫn không ngăn được những giọt nước mắt trào ra. Nghiêm Tuấn không dám trái lệnh, kéo ghế ra cho ông ta ngồi, rồi hầu hạ ông ta giống như Tào Tháo.

Tào Tháo ngồi lặng trong trướng, vắt óc nghĩ cách phá địch nhưng không tìm ra được kế nào khả thi, tiện tay lật cuốn binh pháp mấy chục năm trước ông đã tự chú giải, tất cả đều không có ích gì trong lúc này. Giờ Lưu Bị có cả thiên thời, địa lợi và nhân hòa, ông làm gì được hắn? Tào Tháo lại mở những cuốn khác trong hộp sách, vô tình vớ phải một quyển Lã lãm, không kìm được mà nhớ tới vị quân sư năm xưa là Hí Chí Tài. Nếu Hí Chí Tài còn sống, đứng trước cục diện trận chiến như hiện nay, ông ấy sẽ trù tính như thế nào? Tháng Năm là giữa mùa hè, Lã lãm có câu, giữa mùa hè “nơi trai giới tất phải kín đáo, thân thể cần yên tĩnh không ồn ào, cấm gần gũi nữ sắc, không cho phép dâng tiến, ăn những đồ thanh đạm, không cần gia giảm mùi vị, tiết chế ham muốn, giữ cho tâm khí bình ổn, vạn vật tĩnh lặng, làm việc gì cũng phải thận trọng để định kết quả tương tranh giữa âm dương”. Tháng này thực sự phải bình tĩnh, ôn hòa, việc tranh giành vô ích này vốn là một nước cờ sai, so với những tổn thất vừa qua, chẳng bằng ta ở Đồng Tước đài hóng mát… Tào Tháo có ý muốn rút quân.

Điển Mãn ở ngoài bẩm báo:

— Khải bẩm đại vương, Hứa Đô Yết giả Quách Huyền Tín cầu kiến. - Quách Huyền Tín là người họ Quách ở Dĩnh Xuyên, họ hàng xa với Quách Gia, tuy ông ta làm chức Yết giả trong triều đình nhà Hán, nhưng cũng thuộc bè đảng Tào doanh. Tào Tháo không muốn tiếp ngoại thần, nhưng nghĩ lão thần này từ xa tới hẳn là có việc gấp, nên không ngăn cản.

Quách Huyền Tín đầy vẻ phong trần bước vào trong trướng:

— Bỉ chức quấy rầy điện hạ nghỉ ngơi, thực đáng tội, đáng tội. Lần này bỉ chức đến vì muốn hồi bẩm về việc chọn thị tòng cho thiên tử. - Sau cuộc phản loạn của bọn Cảnh Kỷ, Tào Tháo đã đuổi hết thị vệ trong hoàng cung, bên cạnh Lưu Hiệp hiện chỉ còn lại vài tiểu thái giám. Quách Huyền Tín phải chọn lại thị tòng cho thiên tử, mất mấy tháng mới tìm được hai người phù hợp, đưa đến Nghiệp Thành để Tào Phi định đoạt, nào ngờ y không dám quyết định việc này, khiến ông lại phải vượt ngàn dặm xa xôi tới Hán Trung.

Tào Tháo vừa nghe ra là chuyện của Lưu Hiệp đã có ba phần bực mình:

— Thiên tử ở tận trong cung, cũng không có việc gì bên ngoài, không cần tuyển quá nhiều thị tòng.

— Tất nhiên rồi. - Quách Huyền Tín lau mồ hôi, - Bỉ chức chỉ chọn hai người, một người là người quận Bột Hải, tên Hoán Thạch Bao, tướng mạo tuấn tú, nhưng là một tên đánh xe; còn một tiểu tử khác người Nam Dương, xuất thân mục đồng, tên Đặng Ngải, hiện đang là tiểu lại dưới trướng Đồn điền đô úy, có tật nói lắp. Hai tên này không quá hai mươi tuổi, thật thà chất phác, thân phận ti tiện, chắc chắn…

Ông ta còn muốn nói tiếp, nhưng Tào Tháo cắt ngang lời:

— Không được! Càng là người trẻ tuổi càng phải đề cao cảnh giác, càng xuất thân nghèo khổ càng không được xem thường. Đánh xe, mục đồng không có dã tâm hay sao? - Quách Huyền Tín mím chặt môi. Ông ta từ Hứa Đô chạy đến Nghiệp Thành, lại từ Nghiệp Thành chạy đến đây, chịu bao nhiêu vất vả khó nhọc, thế mà Tào Tháo vừa mở miệng đã nói không.

— Nhưng cũng không thể bổ nhiệm người lớn tuổi hơn làm thị tòng chứ ạ?

Tào Tháo vẻ mặt lạnh lùng:

— Có củi lại muốn nhóm lửa, ta thấy cứ bỏ chức thị tòng của thiên tử đi, đỡ rách chuyện!

— Dạ? Việc này, việc này hình như không được…

Tào Tháo lừ ông ta một cái:

— Có chỗ nào không được? Thiên tử không ra khỏi cung, lại có ba đứa con gái của quả nhân hầu hạ còn chưa đủ sao?

— Dạ, dạ, dạ. - Quách Huyền Tín không dám cãi lại, nhưng trong lòng không ưng: Cố nhiên thiên tử chỉ là bù nhìn, nhưng cũng không thể làm việc quá phận, không cho người đi theo hầu hạ người ta thực không hợp tình người, nếu truyền ra ngoài Tào gia cũng xấu mặt.

Quách Huyền Tín không nói gì nữa, nhưng Tào Tháo vẫn chưa chịu buông tha:

— Ông không thấy chuyện phản loạn hay sao mà còn tìm người Nam Dương? Sau này phải cẩn thận hơn với người Kinh Châu, không được cho bọn chúng nắm giữ những chức vụ quan trọng. - Quách Huyền Tín uổng công đi chuyến này, không biết làm sao, lại mang thân xác bụi bặm trở về.

Ông ta vừa đi khỏi, Lý Đương Chi bưng bát thuốc đi vào:

— Thần vừa sắc xong thuốc, xin mời đại vương dùng.

Tào Tháo nhìn bát thuốc đen sì, cười nhăn nhó:

— Uống cũng thế, không uống cũng thế, quả nhân không muốn trị bệnh nữa… - Miệng thì nói như vậy, nhưng ông vẫn nhận bát thuốc đưa lên ngang miệng rồi bỗng nhiên dừng lại, giương mắt nhìn chằm chằm vào Lý Đương Chi, - Khanh uống một ngụm trước đi.

Lý Đương Chi giật mình, sau đó liền hiểu ra đại vương sợ mình hạ độc, ông ta cảm thấy rất ngạc nhiên: Trước đây, đại vương chưa từng nghi ngờ mình, sao hôm nay lại có suy nghĩ này? Lý Đương Chi không dám trái lệnh, nhận lại bát thuốc để uống, ông non gan, sợ Tào Tháo không tin mình, uống một hơi hết non nửa bát thuốc. Bấy giờ Tào Tháo mới gật gật đầu uống nốt chỗ thuốc còn lại, lau miệng nói:

— Bệnh đau đầu của ta lại tái phát, khanh mau châm cứu cho quả nhân đi.

Lý Đương Chi đáp:

— Mùa hè nặng về khí dương, lại dễ đổ mồ hôi, nên không thích hợp châm cứu. Đại vương nghỉ ngơi một lát, đợi đến chiều tối bớt nóng, thần sẽ châm cứu cho người. - Nói đoạn tự mình sửa lại giường cho ông nằm, rồi mới thi lễ cáo lui.

Tào Tháo nằm xuống nhịn đau, định sai thị vệ buông mành trướng xuống, nhưng đưa mắt nhìn quanh không thấy Hứa Chử đâu mới sực nhớ ra là đã cho ông ta đi nghỉ rồi. Sau giờ Ngọ, trời oi bức, thị vệ uể oải, hai mắt lim dim, bốn bề yên ắng, trong lòng Tào Tháo bỗng dâng lên cảm giác sợ hãi - Ban nãy ông không yên tâm về thị tòng của thiên tử, giờ lại nghi ngờ thị tòng của mình. Thị vệ hiện nay đều là những người rất thân cận, nhưng không phải người cùng vào sinh ra tử với ông thuở đầu, mà là một lớp người mới lên thay người cũ, những thị vệ năm xưa nếu không phải được thăng quan thì cũng đã già. Bọn Điển Mãn, Văn Khâm đều là tướng tá đời thứ hai kế nghiệp cha mình, Tào Tháo tới cả nhi tử của mình còn nghi kỵ nữa là còn người ngoài? Do tuổi đã cao, ông ngày càng sợ chết, thậm chí còn cảm thấy sinh mạng của con người quá mong manh, như nửa canh giờ trước ở trước rừng cây, nếu ám tiễn của quân Thục bắn trúng thì cái mạng già của ông không giữ được nữa rồi. Hoặc giả Lý Đương Chi mà hạ độc, sinh mạng của ông cũng đã chấm dứt… Tào Tháo càng nghĩ càng sợ, lại thấy bên cạnh mình đầy rẫy nguy hiểm, đầy rẫy ẩn họa, dường như không có người nào đáng tin cậy, ông ngồi thẳng dậy, nói với đám thị vệ:

— Mấy người các ngươi nghe đây.

Điển Mãn giật nảy mình, vội vàng dẫn chúng nhân vào khom lưng thi lễ:

— Đại vương có việc gì căn dặn?

— Quả nhân muốn đi nghỉ…

Đám thị vệ mặt ngắn tũn - Ngài muốn đi nghỉ thì cứ nghỉ đi, tự dưng báo với chúng tôi làm gì?

Ánh mắt u ám của Tào Tháo quét qua từng khuôn mặt, cuối cùng nói:

— Trước đây quả nhân đã nói, quả nhân nửa đời chinh chiến tung hoành, khi ngủ thường mê thấy giáo vàng ngựa sắt, đâm chém trên sa trường, nên hay giết người trong lúc ngủ mê. Bởi vậy, khi ta ngủ say các ngươi chớ có đứng gần, lỡ như các ngươi đứng gần đúng lúc ta thức giấc, không phân biệt được thực hay mơ mà đâm một nhát kiếm, hại đến tính mạng của các ngươi thì đừng trách quả nhân vô tình!

— Dạ. - Đám thị vệ bán tín bán nghi, không dám hỏi nhiều.

— Buông mành trướng xuống, quả nhân muốn đi nghỉ. - Lúc này Tào Tháo mới nằm xuống.

Thị vệ thả mành trướng xuống, rỉ tai nhau:

— Đại vương không cho phép đứng gần kẻo làm kinh động đại giá, vạn nhất có việc quân cấp bách thì làm thế nào? Đứng ngoài bẩm tấu chăng? - có tên thị vệ nhát gan, vội nói:

— Không được, ngộ nhỡ đại vương chưa tỉnh hẳn, bắn tên vào chúng ta thì sao? Không cần biết đứng cách xa bao nhiêu, một khi đại vương muốn giết người làm sao tránh được…

— Khụ khụ! - Tào Tháo ho hai tiếng, chúng nhân im bặt, lại nghe bên trong nói vọng ra, - Cứ vén một bên mành trướng lên.

— Rõ. - Điển Mãn không hiểu Tào Tháo có ý gì, nhưng vẫn vén nửa tấm mành bên trái lên - Thực ra là do tâm tính người già không thích sự ồn ào, nhưng cũng lại sợ cô độc. Vén nửa tấm mành, bên trong nhìn ra được bên ngoài, thị vệ không dám thì thầm to nhỏ nữa, đứng gác nghiêm chỉnh, một lúc sau bên trong có tiếng ngáy khe khẽ, mọi người mới an tâm, dần dần cảm thấy buồn ngủ, đến cả Điển Mãn cũng gà gật.

— Ây dà! Bảo các ngài đứng đây bảo vệ đại giá, chứ đâu phải trốn việc! Hứa tướng quân được tôi đưa về nghỉ ngơi rồi, chẳng còn ai quản các ngài… - Tiểu thái giám Nghiêm Tuấn quay lại, bình thường hắn hay trêu đùa với đám thị vệ, lúc này trông thấy bọn họ ngủ gật, từ đằng xa đã cất giọng trêu chọc.

— Suỵt… - Điển Mãn choàng mở mắt, tỏ ý bảo Nghiêm Tuấn nhỏ tiếng, - Đại vương mới ngủ, chớ làm kinh động đại giá.

— Ờ, ờ. - Nghiêm Tuấn vội ngậm miệng, rón rén lại gần, vén mành nhìn vào trong - Tào Tháo đúng là đã ngủ thật, nhưng trên người chỉ mặc mỗi lớp áo trong, mà chiếc chăn mỏng lại rơi xuống mép giường từ lúc nào.

— Các ngài có mắt không đấy? - Nghiêm Tuấn trách đám thị vệ, - Không thấy chăn của đại vương bị rơi ra à?

— Trời nóng thế này, không sao đâu.

— Thế cũng phải che bụng lại chứ, lỡ để đại vương sinh bệnh thì ai gánh nổi tội? Các ngài không sao, nhưng về tới Trường An liệu phu nhân có tha cho ta không?

— Vâng, vâng. Lão ngài phải gánh trách nhiệm, đều tại chúng tôi không hiểu chuyện. - Thị vệ nhìn Nghiêm Tuấn tí tuổi đầu giận đến mặt đỏ tía tai, liền lôi hắn ra đùa.

Nghiêm Tuấn định rảo bước vào trong, Điển Mãn vội ngăn lại:

— Không được, không vào được. Đại vương nói mình hay giết người trong lúc ngủ mê, ngươi hãy cẩn thận cái mạng của mình.

— Hừ, ta còn phải sợ ư? - Nghiêm Tuấn nói đùa, làm mặt quỷ với anh ta rồi sẽ sàng đi vào trong đắp lại chăn cho Tào Tháo.

Điển Mãn không để tâm, bởi Nghiêm Tuấn là thái giám hầu cận, đại vương mộng mị thế nào cũng sẽ không đến nỗi nhận nhầm hắn là thích khách chứ? Nghiêm Tuấn tếu táo đôi câu với chúng nhân, dụi mắt tiếp tục đứng gác, chợt nghe bên trong có tiếng quát lớn:

— Kẻ nào hành thích ta? - Mọi người giật mình, quay đầu lại nhìn: Tào Tháo đang nhắm mắt đứng dậy!

Nghiêm Tuấn sợ hãi quỳ sụp xuống:

— Là nô tài, đắp lại chăn cho…

Tào Tháo đâu có nghe cậu ta giải thích, quay người lấy Thanh Cang kiếm treo bên giường, “xoẹt” một tiếng rút kiếm khỏi vỏ.

Nghiêm Tuấn lanh lợi nhưng còn trẻ, sao hiểu được tâm thuật của Tào Tháo? Nếu lúc này cậu ta co giò bỏ chạy ra chỗ nhiều người, Tào Tháo đang “mộng du” sẽ không tiện đuổi theo, đằng này cậu ta kính trọng đại vương như trời, nghĩ rằng “đắc tội với trời, chẳng thể sống thọ”, nên không dám chạy, mà bò dưới đất liên tục dập đầu cầu xin:

— Nô tài làm kinh động đại giá! Xin đại vương tha mạng… Xin đại vương tha mạng…

Tào Tháo không chịu nghe, đâm một đường kiếm hung ác, thị vệ không biết là thật hay giả, không dám can gián, càng không dám ngăn cản, đứng bên ngoài nhìn. Điển Mãn vội quát:

— Còn không chạy mau! - Lúc này Nghiêm Tuấn mới sực nhớ ra là cần phải chạy đi, nhưng đã muộn, cậu ta xoay người lại liền bị Tào Tháo giơ cánh tay trái bóp cổ, tay phải cầm Thanh Cang kiếm xiên một đường từ sau lưng ra đằng trước - Nghiêm Tuấn chỉ kịp kêu lên một tiếng thảm thiết!

Tào Tháo rút bảo kiếm ra, Nghiêm Tuấn gục dưới nền đất, máu phun lên bắn cả vào người ông. Thị vệ trân mắt nhìn con ma tóc trắng ấy, bọn họ đều là võ nhân mà cũng sợ hãi liên tục thụt lại phía sau. Tào Tháo không thèm nhìn bọn họ lấy một cái, ném Thanh Cang kiếm đi, đổ ra giường ngủ tiếp, một lúc sau lại vang lên tiếng ngáy. Điển Mãn lúng túng không biết làm sao - Trong đại trướng có xác chết, đương nhiên phải mang ra ngoài, nhưng đại vương đang ngủ, vào kéo thi thể ra, ngộ nhỡ đại vương lại giết luôn cả họ thì làm thế nào? Anh ta muốn đánh thức đại vương, lại sợ kinh động đến đại giá, Tào Tháo mơ mơ màng màng không biết mình đã giết người, chẳng may đổ vạ lên đầu bọn họ thì sao giải thích được?

Điển Mãn đi đi lại lại như kiến bò chảo rang, định thần nói:

— Mau đi gọi Hứa tướng quân, Trần Trưởng sử tới đây, đi mau!

Đâu cần phải đi gọi họ? Những tiếng quát tháo, van nài ban nãy đã làm kinh động đến chúng nhân, bọn Hứa Chử, Trần Kiều, Dương Tu người trước người sau kéo cả lại, nhìn Nghiêm Tuấn nằm vật dưới đất, máu vẫn chảy lênh láng quân trướng, chợt cảm thấy rùng mình. Điển Mãn túa mồ hôi giải thích với bọn họ. Người kéo đến xem mỗi lúc một đông, nhưng không ai dám kinh động đại giá, cả đám bàn nhau, đánh bạo cùng gọi:

— Xin đại vương hồi giấc… Đại vương hồi giấc…

— Ây dà… - Tào Tháo ngáp một hơi dài từ từ mở mắt, quay đầu nhìn thấy thi thể nằm dưới đất, liền đứng bật dậy, - Chuyện gì thế này? Kẻ nào dám giết thái giám của ta?

Quần thần nín lặng - Ai dám nói thẳng ra đây?

Tào Tháo tỏ vẻ kinh ngạc, hỏi lại lần nữa:

— Kẻ nào giết thái giám của ta? Có thích khách hả? - Nói rồi cúi đầu nhìn lại, thấy người mình dính đầy vết máu, mới sực hiểu ra, - Chẳng lẽ là… Ây dà! - Ông cúi xuống trước thi thể của Nghiêm Tuấn, thở dài, - Quả nhân đã dặn đi dặn lại, quả nhân nằm mê mình đang ở trên sa trường e là sẽ có chuyện giết người, sao tên tiểu tử này còn dám lại gần? Vô cớ hại chết một mạng người, là lỗi của quả nhân… - Ông giậm chân đấm ngực, vô cùng ân hận.

Đám thị vệ châu đầu ghé tai nói nhỏ với nhau:

— Chuyện đại vương giết người trong lúc ngủ mê đúng là thật rồi, sau này phải hết sức cẩn thận, không được lảng vảng ở gần.

Quần thần thấy Tào Tháo cứ tự trách mình mãi, cũng không nói gì nữa. Đỗ Tập bước ra khỏi hàng nói:

— Đây là lỗi do vô ý, âu cũng là số mạng của tiểu tử này đáng phải như vậy. Vua một nước không cần tự trách vì một tên thái giám.

— Đúng vậy. - Khổng Quế vội phụ họa, - Không cần thương tiếc một tên thái giám nhỏ bé, nếu đại vương cảm thấy thương xót thì thưởng cho gia quyến hắn ít lụa là là được ạ. - Hắn ta thậm chí còn coi cái chết của Nghiêm Tuấn là chuyện tốt, bởi sau này hắn có thể thường xuyên hầu hạ bên cạnh Tào Tháo, trước mắt là không bị thất sủng, sau còn có đường xoay xở. Những người khinh ghét Khổng Quế không tiện bác lại, cũng gật đầu đồng thuận.

— Ây dà! Tiểu tử này nhỏ tuổi nhưng rất hiểu chuyện, phu nhân cũng rất thích hắn. Nếu không phải con nhà nghèo thì đâu đến nỗi bị đưa vào cung làm thái giám? Đúng là số khổ… - Tào Tháo vỗ vỗ thi thể, lẩm bẩm một lúc lâu rồi mới đứng lên nói, - Liệm xác hắn chu đáo, sai người lập tức tìm người nhà, quả nhân nhất định phải bù đắp thật nhiều cho họ.

Hai quân đang giao tranh, lấy đâu ra quan tài tốt, dùng sáu tấm ván ghép lại đã là tốt lắm rồi, Tào Tháo bỏ vào bên trong không ít vàng bạc rồi mới cho hạ táng. Quần thần thấy đại vương thương xót Nghiêm Tuấn như vậy cũng lũ lượt đi đưa tang - Nghiêm Tuấn chẳng qua chỉ là một tên thái giám, sau khi chết còn được hưởng vinh dự đặc biệt, kể ra cũng hiếm. Chiến trường vô thường, mọi người không dám đi xa, chọn bãi đất yên tĩnh trong rừng mà đào hố chôn.

Đám thị vệ đều rất thân với Nghiêm Tuấn, thỏ chết cáo thương xót, khó tránh khỏi đau buồn, có người còn nhỏ vài giọt nước mắt. Tư Mã Ý thấy chuyện này rất đáng nghi, nhưng không dám nhiều lời, nhìn bọn Trần Kiều, Trần Quần đều im lặng, dường đã hiểu ra tâm tư Tào Tháo, song không ai dám khơi ra. Còn những người khác có khi hiểu rõ, có khi mơ hồ, chỉ mình Dương Tu phục xuống miệng hố, không ngừng than khóc: Tiểu tử ngốc, ngươi chết thật oan uổng. Đại vương quá đa nghi, ngay cả người hầu cận cũng không nằm ngoài vòng nghi ngờ ấy, chuyện giết người trong mê là để hù dọa đám tiểu tử các ngươi, vì đại vương không muốn có người lại gần trong lúc ông đang ngủ. Ngươi không hiểu tâm thuật của bậc đế vương chẳng phải tự chui đầu vào lưới, dựng gương cho người ta ư?

Dương Tu giữ chức Chủ bạ cũng là một cận thần, thường xuyên tiếp xúc với Nghiêm Tuấn, biết hắn chết oan uổng nên có phần thương xót, cào đất ném xuống hố. Trong lúc xúc động, ông ta còn buột miệng than:

— Ngốc quá, không phải đại vương ngủ mê đâu, chính ngươi mới ngủ mê ấy!

Kể ra cũng thật lạ, Tào Tháo tuổi đã cao nhưng ngày càng nghe thính những chuyện người khác nói sau lưng mình. Câu vừa nãy Dương Tu nói cũng nhỏ, thế mà vẫn lọt vào tai Tào Tháo, ông quay ngoắt lại nhìn Dương Tu với ánh mắt sắc lạnh, còn chưa hiểu chuyện gì trong lòng đã nảy sinh sát ý…

Cái chết của Dương Tu

Xế chiều, trời dịu dần, mưa nhỏ đã tạnh, trong núi có vẻ hơi lạnh. Châm cứu xong, Tào Tháo thấy người dễ chịu hơn, sự phiền muộn trong lòng cũng vơi đi nhiều, bọn Hứa Chử, Khổng Quế đưa ông lên Nam Sơn thưởng ngoạn. Lần này ông không xem trận thế quân địch, mà chỉ chăm chú ngắm nhìn phong cảnh núi non nhân lúc mát mẻ.

Tào Tháo bỗng nhớ lại lần bình định Hán Trung ba năm trước, ông cũng từng leo lên ngọn núi này cùng với Trương Lỗ. Khi đó, ông mang dáng vẻ của người thắng trận, bàn định giang sơn, xem thường quần hùng, còn tán thưởng nơi đây một người canh giữ vạn kẻ khó qua, mai phục đột kích thoắt ẩn thoắt hiện, nếu không phải anh hùng thực sự không thể chỉ huy được. Xem ra bây giờ những lời ấy đã ứng nghiệm, chỉ có điều người anh hùng chỉ huy trận địa không phải là ông, mà đổi lại là Lưu Bị - tên phản đồ năm xưa.

Hoàng hôn buông xuống khiến cảnh vật trở nên mờ ảo, vách núi dựng đứng dường như được mài đi những cạnh nhọn, rừng sâu rậm rạp dường như được bao phủ bởi một lớp màn mỏng, con đường mòn trên núi, khe núi sâu hun hút và những tảng đá kỳ dị cũng đều biến mất trong bóng chiều. Thi thoảng có vài con chim ô thước hối hả bay đi tìm nơi trú ngụ, côn trùng ẩn nấp trong lùm cỏ cũng bắt đầu kêu ra rả, cùng với sắc trời tối dần, đàn đom đóm lượn lờ giữa khu rừng phát ra những đốm sáng nhỏ li ti. Trong chốc lát, Tào Tháo quên mất mình đang ở giữa chiến trường, mà chợt có cảm giác bình yên, thư thái…

Ông không thể chối bỏ sự thật rằng mình đã sai, lúc mới rời khỏi Nghiệp Thành ông còn hạ quyết tâm đấu một trận cuối cùng, nhưng vào thời khắc này ông thực sự chán ghét chiến tranh. Ông đã già, hơn nữa còn mang bệnh tật đầy mình, chiến trường từ lâu không còn thích hợp với ông, ở cái tuổi của ông nên bình tâm hưởng thụ những tháng ngày thảnh thơi. Nhưng dù là số mệnh hay chấp niệm trong lòng, ông cũng không thể cho phép mình làm vậy, bởi nói thế nào ông cũng là quân vương một nước, và là hoàng đế vô danh hữu thực, nên buộc phải liều mạng để bảo vệ quyền uy của mình. Giờ ông mệt mỏi rồi, không còn muốn suy tính mãi nữa, chỉ mong có được những phút giây thảnh thơi, bình lặng như thế này thôi.

Tuy nhiên, Tào Tháo không được hưởng sự yên tĩnh này quá lâu. Trời mỗi lúc một tối, doanh trại quân địch phía đối diện lục tục đốt lửa trại, ánh lửa sáng rực xuất hiện trên khắp các đỉnh núi như treo lơ lửng giữa không trung, chúng nằm san sát nhau khiến người ta chói mắt, chút cảm giác thảnh thơi cuối cùng cũng bị phá tan. Tào Tháo không biết làm sao, lặng lẽ lắc đầu, Khổng Quế khuyên ông trở về:

— Đi đường vào buổi tối không tốt, dù cho quân địch không tập kích thì gặp thú dữ cũng không hay, xin đại vương hồi doanh.

Tào Tháo đi rất chậm xuống núi, không chỉ vì đi đứng không tiện, mà quan trọng hơn, không biết từ khi nào ông bắt đầu có cảm giác ghét quân doanh, ghét bị nhiều người quấy rầy và ghét số quân báo xem mãi không hết. Vả lại, trận vừa rồi bị thua, binh sĩ lén lút bàn tán, chỉ cần bước vào viên môn ông sẽ lại bất giác nhăn mày. Hứa Chử và Điển Mãn mỗi người dìu một bên, còn Khổng Quế đi trước rẽ đường, để Tào Tháo đặt tay lên vai mình, một hàng người chậm rãi bước đi, những rặng núi khuất dần sau lưng họ.

Lúc Tào Tháo về đến đại trướng, Lý Đương Chi đã đợi sẵn ở bên trong, vừa trông thấy ông đi vào, ông ta vội quỳ xuống can gián:

— Đại vương chưa dùng bữa sao đã leo núi? Xin đại vương lấy thân thể làm trọng, lấy xã tắc làm trọng! - Từ khi Nghiêm Tuấn chết, Lý Đương Chi kiêm việc hầu hạ cơm nước cho Tào Tháo, viên y lại này cẩn thận dọn cả đồ đạc qua ở cùng với thị vệ, để tiện theo dõi sinh hoạt hằng ngày của Tào Tháo, nhưng lại gặp đúng lúc ông ra ngoài ngắm cảnh, nên Lý Đương Chi đứng ngồi không yên.

Tào Tháo vốn ghét ông ta phiền phức, song lại chẳng thoát được, đành gật đầu cho là phải. Người nhà bếp đã chuẩn bị xong đồ ăn, đang hâm nóng trên bếp lò, nghe Lý Đương Chi hô một tiếng, bọn họ lần lượt mang vào. Tào Tháo giờ đã khác trước, ông là vua một nước, dù là cơm chiến cũng không thể qua loa sơ sài được, có bảy tám món chay và món mặn bày chật soái án. Tào Tháo không muốn ăn gì, nhìn những món ăn bốc hơi nghi ngút, ngao ngán nói:

— Có món gì nguội không?

Lý Đương Chi thưa rõ:

— Đồ nguội trôi cơm, nhưng ảnh hưởng tới việc tỳ vị tiêu hóa thức ăn. Bệnh của đại vương hiện nay là âm hư hỏa vượng, cơ thể suy nhược, nên dùng đồ nóng.

Tào Tháo nhìn thấy có miếng thịt thỏ, đoán là do binh sĩ săn được trên núi, nhấc đũa định gắp. Lý Đương Chi lại nói:

— Đại vương thích ăn thịt là tốt, nhưng cá sinh nhiệt, thịt sinh đờm, nên ăn vừa phải, không nên ăn nhiều, ăn nhiều không tốt cho bệnh của đại vương. Để lát nữa thần đi nói với nhà bếp, sau này dâng thịt, chim cho đại vương phải đổi sang đĩa nhỏ.

Nghe ông ta nói vậy, Tào Tháo cau mày, không thèm động vào đĩa thịt nữa, quay sang gắp một đũa rau xanh bỏ vào miệng nhai trệu trạo, chẳng thấy có vị gì:

— Nhạt thếch.

— Thần dặn đầu bếp bỏ ít muối. Thanh nhiệt bổ âm, ăn uống thanh đạm tốt cho bệnh của đại vương…

— Không ăn nữa! - Tào Tháo đập đũa xuống bàn, tức giận bảo, - Quả nhân là vua một nước, chuyện trong thiên hạ há chẳng phải do ta định đoạt? Lẽ nào đến ăn cái gì cũng không làm chủ được? Ngươi quá phận rồi đấy!

Lý Đương Chi quỳ xuống nói:

— Nô tài chỉ là một y lại, không dám làm trái ý đại vương. Nhưng thân thể ngàn vàng của người liên quan đến vận mệnh đất nước, cần phải điều dưỡng thật tốt thì mới dẹp yên được bốn biển. Nô tài to gan làm vậy cũng là vì xuất phát từ lòng trung, có trời chứng giám. Xin đại vương lấy xã tắc làm trọng, lấy xã tắc làm trọng…

Chỉ có mỗi việc không được ăn mặn mà Lý Đương Chi cũng lôi cả xã tắc vào, thật khiến cho Tào Tháo dở khóc dở cười, ông cũng biết Lý Đương Chi muốn tốt cho mình, chỉ xua tay nói:

— Bỏ đi, bỏ đi, ngươi đứng dậy đi. - Trong lòng Tào Tháo hơi hối hận, sớm biết thế này, ông đã chẳng giết Nghiêm Tuấn, giờ đến bữa cơm vừa miệng cũng chẳng được ăn, đúng là báo ứng mà.

Tào Tháo lại nhấc đũa lên, trông Lý Đương Chi cứ nhìn chằm chằm xem mình định gắp món gì, ông thực sự có phần sợ ông ta, liền nói:

— Ngươi cũng không cần ăn cơm à, mau đi ăn đi. Ở đây không cần ngươi lo.

— Đại vương nên ăn lúc còn nóng, thần đi sắc thuốc cho người… Thần đặc biệt căn dặn nhà bếp hầm một bát canh gà cho đại vương có cho thêm một ít thuốc như phục linh, đương quy. Lát nữa đại vương ăn nhiều một chút. - Lý Đương Chi lại lải nhải một hồi rồi mới thi lễ trở ra.

Tào Tháo không thấy đói, đặt đũa xuống, đi đi lại lại trong trướng, lúc quay đầu ánh mắt lại dừng trên tấm bản đồ da dê treo phía sau soái án. Ông thân ở trong quân doanh, muốn không lo nghĩ đến chiến sự cũng không được, nhưng trước mắt có thể làm được gì đây? Trên bản đồ, các thành như Nam Trịnh chỉ là mấy dấu chấm nhỏ xíu, lọt thỏm giữa những dãy núi trùng điệp được vẽ bằng nét bút màu đen bao quanh bốn mặt đông, tây, nam, bắc - Chính địa thế hiểm trở này đã làm Tào Tháo do dự.

Đánh không thắng, chiếm không được, trận này không cần đấu tiếp, hơn nữa sức khỏe và tâm trí của ông cũng khó mà chống đỡ nổi, rút quân chỉ là chuyện sớm hay muộn. Điều khiến Tào Tháo phải suy nghĩ lúc này là liệu có cần tiếp tục đồn trú Hán Trung nữa không? Nơi này vốn là vùng rừng núi ít người, trước đây lại đã di dời một lượng lớn giáo dân Ngũ Đấu Mễ, gần như không còn bách tính nào, nói gì đến điền sản thuế khóa, chỉ vì Hán Trung là cửa ngõ ra vào Thục quốc nên mới điều quân đồn trú. Nhưng trong cục thế hiện nay, Lưu Bị kiểm soát các ngả đường phía nam, quân Tào chiếm giữ nơi này cũng không thể nam tiến được. Ngược lại, việc vận chuyển lương thảo từ Quan Trung cũng phải vòng qua Tần Lĩnh, đi hết sạn đạo dài hơn bốn trăm dặm mới đến được Hán Trung, mất bao nhiêu công sức chỉ để giữ mấy cái thành trống không, tính riêng quân phí đã được coi là một cuộc trao đổi lỗ vốn rồi. Quan trọng hơn, dù cho Tào Tháo muốn giữ cũng chưa chắc giữ được, bởi Lưu Bị ở gần trong gang tấc, bất cứ lúc nào cũng có thể phát binh tấn công, tục ngữ có câu “Không sợ bị cướp mà chỉ sợ có kẻ rình mò, bất cẩn một chút là mất.” Huống hồ còn có vết xe đổ của Hạ Hầu Uyên, ai dám một mình trấn giữ Hán Trung? Mà dù giữ được, đến khi nào việc này mới dừng lại đây?

Nhưng nếu từ bỏ cũng không ổn. Hán Trung là nơi hiểm yếu, năm xưa Tào Tháo đánh thắng Trương Lỗ là nhờ có ba phần may mắn, mà nay Lưu Bị còn khó đối phó hơn cả Trương Lỗ. Một khi từ bỏ vùng đất này, chẳng biết năm nào tháng nào mới đoạt lại được, và chinh phạt Thục quốc lần nữa? Chẳng lẽ cứ ngồi nhìn Lưu Bị tiếp tục cát cứ? Vả lại, phía tây ải Dương Bình chính là Vũ Đô, năm xưa Mã Siêu từng làm mưa làm gió ở đó, có quan hệ gần gũi với các bộ lạc Khương, Đê, vẽ đường cho hươu chạy, liệu Vũ Đô có được ngày yên ổn không? Thứ nữa, nếu từ bỏ đất Nam Trịnh, Dương Bình thì từ Tây Thành, Thượng Dung ở mé tây cho đến quận Phòng Lăng cũng khó mà bảo toàn được. Mặc dù những nơi đó đều do thổ hào cai quản, không nằm trong địa bàn Tào Tháo trực tiếp kiểm soát, nhưng nếu từ bỏ hết thì thật đáng tiếc, với lại cũng tổn hại đến uy danh của ông nữa…

Tiến thoái lưỡng nan, liệu có nên từ bỏ Hán Trung không?

Người nhà bếp mang canh gà mới hầm lên, Tào Tháo suy nghĩ nãy giờ đã mệt, ngồi xuống dùng canh, Gà được hầm nhừ, động đũa vào là tan ra, còn canh rất nóng, Tào Tháo muốn ăn miếng đùi, không ngờ chỉ xé được một cái gân gà dính tí thịt. Ông nhìn cái gân gà đó thấy rất nực cười, cục diện Hán Trung bây giờ cũng giống như cái gân gà, bèn than rằng:

— Kê cân, kê cân, ăn gân không có vị gì, mà bỏ thì tiếc.

Đúng lúc ấy, Tào Chân và Tào Hưu tới, đứng ngoài cửa trướng hỏi khẩu lệnh tối nay - Từ khi đại quân đến Hán Trung, Tào Tháo cho hai tử điệt này san sẻ các việc trong trung quân, cũng là có ý trui rèn bọn họ. Hiện quân Tào và quân Thục chỉ cách nhau một quả núi, để đề phòng gian tế của quân Thục trà trộn vào, tối nào trong quân cũng đổi khẩu lệnh. Binh lính đi lại trong doanh vào ban đêm gặp người đi tuần mà không trả lời được khẩu lệnh sẽ bị chém ngay tức khắc.

Tào Tháo nghe họ hỏi việc này, thuận miệng đáp:

— Kê cân!

— Sao ạ? - Hai người nghe không hiểu.

Tào Tháo giơ cái gân gà đang cầm trong tay về phía họ, lắc lắc:

— Kê cân.

Hai người thấy câu khẩu lệnh này thật kỳ quặc, có điều ám hiệu càng kỳ quặc càng tốt, nên không nói gì, lĩnh mệnh mà đi. Tào Tháo lại chìm trong suy nghĩ: Lẽ nào chỉ có thể từ bỏ? Ông bỏ cái gân gà vào miệng, nhai đi nhai lại, cố tìm một chút vị gì khác trong cái vô vị kia.

Không biết qua bao lâu, trời đã tối thui mà Tào Tháo vẫn ngậm cái gân gà ấy. Lý Đương Chi sắc xong thuốc mang vào, nhìn những đồ ăn trên bàn còn nguyên, bất giác nhíu mày:

— Đại vương không ăn cơm, làm sao uống được thuốc ạ? Những món ăn này đều do thần đứng trông nhà bếp làm cho đại vương, chúng nguội hết rồi, hay để thần đi hâm nóng lại lần nữa. Ôi, canh cũng nguội rồi, đại vương không nên như vậy, người phải lấy thân thể làm trọng, lấy xã tắc làm…

Tào Tháo thực sự ngăn ông ta, nhân lúc ông ta không để ý, nhẹ bước chuồn ra ngoài, nói nhỏ với Hứa Chử:

— Theo quả nhân đi tuần doanh. - ông thoát khỏi đại doanh trung quân, trốn tên đại phu lắm mồm.

Đã qua canh một, binh sĩ chuẩn bị đi nghỉ, chỉ có vài bó đuốc còn sáng, mọi người đều ra những chỗ thoáng gió hóng mát, có những tên lính chẳng cần dựng lán trại, nằm gối đầu lên binh khí hóng chuyện. Trong màn đêm đặc quánh, không ai biết đại vương đi qua chỗ mình, vào trong doanh trại, thậm chí còn có tên lính gác tra hỏi khẩu lệnh, sau nhờ ánh lửa yếu ớt mới nhận ra là ai. Tào Tháo không muốn quấy quả chúng nhân nghỉ ngơi, bảo bọn họ chớ lên tiếng để ông thoải mái đi dạo một vòng.

Hầu hết binh sĩ đều đang say giấc, miệng phát ra tiếng ngáy nặng nề, có vẻ những ngày qua họ cũng đã rất mệt mỏi, những người thể chất kém, không hợp thủy thổ nơi đây phải chịu không ít khổ sở. Tào Tháo nhìn những binh sĩ gối đầu lên giáo mác, nằm kín dưới đất, trong lòng không khỏi tư lự, có lẽ chúng nhân cũng không muốn đánh tiếp trong cục thế bị động này nữa chăng? Bọn họ đã có ý như vậy, ta cũng không thể đi ngược lại, ngày mai sẽ truyền lệnh thu binh, bỏ lại Hán Trung cho giặc tai to…

Ông vừa đi vừa nghĩ, đến tận hậu doanh. Chỗ đó gần ải Dương Bình, an toàn nhất nên chứa lương thảo, mấy vị tham mưu, duyện thuộc không cầm quân cũng ở cả đây. Tào Tháo vẫn không muốn kinh động lính gác, lặng lẽ đi vào tuần tra. Kể ra cũng lạ, các doanh khác đều im ắng, chỉ có doanh này đèn đuốc sáng trưng, từ đằng xa đã thấy thân binh hối hả ra vào các lán như thể đang thu dọn đồ đạc. Tào Tháo thong thả bước tới trước một đại trướng, bên trong thắp ba bốn ngọn đèn, bọn Trần Kiều, Đỗ Tập cuộn các cuốn thẻ tre lại, cất vào trong hòm, bận đến nỗi không ngẩng đầu lên được. Tào Tháo thấy hơi kỳ lạ, nhưng cũng không hỏi vội, tiếp tục đi lên phía trước, lại thấy trại nào trại nấy cũng tất bật thu dọn đồ đạc, có người còn gấp y phục, chuẩn bị hành trang. Ông đi thẳng tới chỗ tích trữ lương thảo, lại nghe tiếng quát tháo ồn ào, tướng quân coi giữ quân lương là Lưu Trụ sai binh sĩ đóng lương thảo vào bao, chất lên xe buộc chặt, dường như chuẩn bị sẵn sàng chở đi.

Tào Tháo cảm thấy khó hiểu, tiến lại chất vấn:

— Sao phải thu dọn lương thảo trong đêm?

Lưu Trụ đang bận, trời lại tối, chẳng nhìn rõ người hỏi là ai, đáp bừa:

— Sắp thu quân rồi, tranh thủ thu dọn sớm, để lúc đó đỡ rối!

— Hỗn xược! - Tào Tháo lập tức nổi giận, - Ai nói sẽ rút quân? Kẻ nào dám giả truyền mệnh lệnh của ta? - Sự thương xót mà ông vừa dành cho tướng sĩ phút chốc tan biến hết.

Lúc này Lưu Trụ mới biết người nói chuyện với mình là Ngụy Vương, vội quỳ sụp xuống, tự vả vào mặt mình:

— Mạt tướng vô lễ, mạt tướng vô lễ… - Chúng thân binh cũng đã nhận ra ông, tất cả quỳ mọp xuống.

Tào Tháo túm cổ Lưu Trụ, dữ dằn nói:

— Ngươi dám làm lung lạc lòng quân?

Lưu Trụ lắp bắp nói:

— Không phải chủ ý của mạt tướng, là, là Dương Chủ bạ…

— Dương Tu? - Nghe thấy cái tên Dương Tu, Tào Tháo càng tức giận, - Hắn nói thế nào các ngươi sẽ tin thế ấy? Ai là Ngụy Vương hả?

— Tối nay đại vương truyền khẩu lệnh là “kê cân”, Dương chủ bạ nói: “Kê cân nghĩa là gân gà, ăn thì không có vị gì. Nay quân ta đánh không lại được kẻ địch, mà vận chuyển lương thảo đường xa làm hao tổn sức quán, giống như cái gân gà. Đại vương lấy kê cân làm khẩu lệnh hẳn là có ý rút quân, e rằng không đến sáng mai sẽ truyền lệnh, nên chuẩn bị sớm.” - Lưu Trụ giải thích đầu đuôi.

Tào Tháo nghe xong càng kinh hãi: Tâm thuật của đế vương thâm hiểm khó dò, nhưng sao chuyện gì của ta cũng không qua được mắt Dương Tu vậy? Ngay như hai từ “kê cân” đơn giản cũng bị ngươi đoán ra, thông minh lắm! Ngươi tự ý thảo trước sắc lệnh, ta chưa hỏi tội, hôm hạ táng Nghiêm Tuấn còn buông lời bất kính, đến tối nay lại chơi ta một vố. Chớ quên ngươi vốn là bè đảng của Tử Kiến, từng làm mười điều đối đáp cho nó, giở trò gian lận, khi đã lập Tử Hoàn làm thái tử, đáng ra ta phải thanh trừ ngươi, nhưng niệm tình ngươi cũng có tài trí nên mới tạm không xét. Quả nhân tha cho ngươi, ngươi lại ngông cuồng hơn, ở đâu ra cái lý đó? Chẳng qua hiện giờ quả nhân thay đổi kế sách dùng người, nên mới cho những kẻ xuất thân là danh môn như các ngươi chút thể diện, thế mà ngươi còn không biết tự lượng sức. Ta còn sống đã thế này! Ta chết đi rồi, triều đình Đại Ngụy liệu có áp chế nổi ngươi không? Dương thị ở Hoằng Nông bốn đời làm chức tam công thì sao nào? Đúng lúc ta có thể lấy ngươi ra làm gương!

Bao nhiêu hận cũ thù mới dồn cả lại, sát ý trong lòng Tào Tháo càng mạnh thêm, nhưng ông nhanh chóng lấy lại bình tĩnh, nói với Hứa Chử:

— Mau châm lửa toàn doanh, gióng trống thăng trướng. - Dứt lời phất tay áo bỏ đi.

Đèn đuốc các doanh sáng dần, tiếng trống ầm ầm cũng nổi lên, không chỉ đánh thức tướng sĩ ba quân mà cả những con chim tước trú đêm gần đó cũng bị giật mình, bay nháo nhác trên khoảng trời phía trên doanh trại. Tào Tháo về đến đại trại trung quân, sai người lấy một chiếc ghế nhỏ ra cửa trướng, oai vệ ngồi xuống; không lâu sau, chúng quan văn võ ở các doanh lũ lượt chạy tới. Dương Tu cũng đến, ông ta đã nghe binh sĩ nói lại chuyện ban nãy, biết mình mắc lỗi đang định bước lên chủ động thỉnh tội, nhưng Tào Tháo chỉ thẳng vào mặt ông ta, thét lên một tiếng:

— Người đâu! Trói hắn lại cho ta! - Binh lính nào dám hỏi nguyên do, nghe lệnh liền lấy dây thừng trói Dương Tu lại, ấn xuống đất.

Quần thần có người hiểu rõ nội tình, có người không, liền bước ra khỏi hàng, định xin cho Dương Tu. Tào Tháo xua tay nói:

— Dương Tu lung lạc lòng quân, thân mang tội lớn, kẻ nào can gián sẽ bị xử cùng tội với hắn! - Câu này khiến chúng nhân đều phải ngậm hết miệng lại.

Tào Tháo hùng hồn nói tiếp:

— Quả nhân khởi binh đánh Hán Trung, đã quyết diệt trừ quân giặc, há có thể chưa lập được công mà đã trở về? Dương Tu to gan, dám tự ý nói rút quân, rõ ràng là chứa mưu gian, cố tình lung lạc quân tâm, hòng làm hỏng chuyện lớn của ta! Loại người nham hiểm hại nước này không giết không thể nguôi được cơn giận của quả nhân, không giết không thể làm yên lòng tướng sĩ! - Tào Tháo đổ một tội danh lớn như vậy lên đầu Dương Tu, mọi người càng không có cách nào cầu xin cho ông ta. Nói đến đây, Tào Tháo đứng dậy hỏi thẳng Dương Tu:

— Ngươi thấy mình có đáng chết không?

Dương Tu há lại không biết Tào Tháo cố tình gán tội cho mình, nhưng ông ta không làm gì được, chỉ biết giãy giụa dưới đất, nhìn khuôn mặt Tào Tháo hiện lên dữ tợn: dưới ánh lửa, như thể hận mình thấu xương; lại nhìn bọn Trần Kiều, Hoàn Giai, Tư Mã Ý đứng hai bên tỏ vẻ không đành lòng, nhưng lại không có ý muốn mạo hiểm can dán, ông chợt hiểu ra: Dương Tu ơi là Dương Tu, ngươi quá tự phụ, cũng thật ngu dốt! Trong doanh toàn là kẻ thông minh, có ai không đoán ra chủ ý của đại vương đâu, nhưng tất cả đều im lặng, chỉ có ngươi hết lần này đến lần khác làm con ngựa biết hí trong đội nghi trượng. Khổng Tử nói “Trung dung chi vi đức dã, kỳ chi lỗi hô,”[2] để lộ sự thông minh là rước họa vào thân, ngươi cho rằng Nghiêm Tuấn ngu dốt, kỳ thực ngươi còn dốt hơn hắn! Cửa ải của Tào Phi đã vượt qua được, không ngờ một chút bất cẩn trong công chuyện lại khiến ngươi ngã trong con người! Ngươi muốn dựng công lập nghiệp, trở thành danh thần một đời, thế mà mới bốn mươi bốn tuổi đã bị chém đầu, làm nhục gia môn! Nực cười, thật nực cười… Dương Tu biết mình không còn đường sống, cười chua xót:

— Thần quá ngu xuẩn, thực đáng tội chết! Đáng chết!

— Biết vậy là tốt. Lôi ra ngoài viên môn chém đầu thị chúng! - Tào Tháo phất tay áo, không thèm nhìn Dương Tu thêm một cái, trở vào trong trướng, - Bí thư lang đâu?

— Thần, có thần… - Lưu Phóng sợ đến ngây người, lấy lại tinh thần chạy lên phía trước.

— Quả nhân muốn gửi cho phụ thân Dương Tu một phong thư, ngươi tới chấp bút.

Dương Tu dù sao cũng là hậu duệ nhà họ Dương ở quận Hoằng Nông, bốn đời giữ chức tam công, Dương Bưu đã cáo lão từ quan nhưng vẫn có danh vọng, môn sinh cố lại của Dương gia đầy khắp thiên hạ, trong đó không ít người hiện đang ở trong Tào doanh. Tào Tháo giết Dương Tu cũng phải cho Dương Bưu một lời giải đáp, thứ nhất là làm an lòng môn sinh cố lại của Dương gia, thứ hai là trấn áp Dương Bưu, tránh để cho ông ta nói năng lung tung. Lưu Phóng cầm bút lên, Tào Tháo chẳng cần nghĩ ngợi, đọc liền một mạch:

Ta với túc hạ đều là người đại nghĩa trong bốn biển, túc hạ không bỏ rơi ta, còn gửi hiền lang tới phò tá ta. Mới đây, đất Trung Nguyên đã được yên ổn, nhưng ngoài biên ải lại xảy ra phản loạn. Nay, ta khởi binh đánh dẹp là chuyện lớn, đã làm xáo trộn đến cuộc sống của bách tính. Ta đặt ra tiếng chuông, tiếng trống, đáng lẽ Chủ bạ nên tuân theo, vậy mà hiền tử của ngài lại cậy phụ thân mình quyền thế hiển hách, hết lần này đến lần khác chống đối ý ta. Ta vốn định trừng trị theo pháp lệnh, nhưng lại lơ là mình sẽ hối hận vô cùng, nên nhắm mắt bỏ qua, hy vọng hiền lang biết sửa đổi, nào ngờ hiền lang lại càng phóng túng, ngông cuồng. Nếu ta còn khoan thứ lần nữa, hẳn là hiền lang còn gây ra họa lớn cho cả gia môn của túc hạ. Bởi vậy, ta đã thực thi hình phạt với hiền lang, nghĩ đến tình thương mà phụ thân dành cho nhi tử, nên gửi thư chia sẻ nỗi buồn với túc hạ. Tuy nhiên, chuyện này cũng chưa hẳn là bất hạnh. Ta tặng túc hạ hai chiếc áo khoác bằng gấm, một cây trượng tám đoạn làm từ gỗ đào mạ bạc, ba chiếc nệm nỉ màu xanh, năm trăm xếp lụa quan, sáu mươi vạn tiền, một cỗ xe thất hương[3] bốn cửa rủ rèm, bánh xe sơn màu, hai con trâu đen, một con tuấn mã một ngày đi được tám trăm dặm, mười bộ yên ngựa mạ vàng và dây cương làm bằng da đỏ, một tấm thảm đính chuông xung quanh, cùng với hai tên đầy tớ. Ta cũng tặng phu nhân của túc hạ một chiếc áo choàng vải thưa mang nhiều màu sắc, một đôi hài thêu và hai nô tỳ có tâm để chúng hầu hạ phu nhân. Mặc dù lễ vật của ta ít ỏi, nhưng nó thể hiện tâm ý của ta. Mong túc hạ rộng lòng nhận cho, không cần sai người hồi đáp.

Lưu Phóng vừa viết vừa chặc lưỡi: Thư này dùng lời lẽ khiêm tốn, nhưng lại cố ý giễu cợt người ta. Nào là “nếu ta khoan thứ lần nữa, hẳn là hiền lang còn gây ra họa lớn cho cả gia môn của túc hạ”. Giết nhi tử của người ta còn nói đó “cũng chưa hẳn là bất hạnh”, ban thưởng qua quýt cho xong, nhà người ta bốn đời làm tam công, há thèm những thứ ấy? Chúng có thể bù đắp được nỗi đau mất con của nhà người ta ư? Đây không phải là giễu cợt Dương Bưu thì là gì chứ? Quá độc ác!

Lưu Phóng thầm nghĩ chuyện này không hay, nhưng Tào Tháo còn đang tức giận, ông xem qua bức thư một lượt thấy rất đắc ý, liền nói dứt khoát:

— Được rồi! Sáng mai sai người đưa đến Trường An! - Rồi lại đưa mắt nhìn khắp chúng quan văn võ trong ngoài trướng, - Treo thủ cấp của Dương Tu trước viên môn để cảnh cáo ba quân, kẻ nào còn dám làm loạn quân tâm sẽ có kết cục y như hắn! Không phá được Lưu Bị thề không rút quân!

— Dạ. - Không ai tỏ thái độ khác, có điều trong lòng mọi người đều hiểu, đại vương cố làm ầm lên nhưng chỉ là nhất thời mạnh miệng, trận này đã xác định không thể đánh tiếp được rồi. Tàn ác chẳng qua là một cách che đậy sự yếu mềm trong lòng ông mà thôi.

❀ ❀ ❀

[1] Nguyên văn là “Thị khả nhẫn, thục bất khả nhẫn?”, trích từ câu “Bát dật vũ ư đình, thị khả nhẫn dã, thục bất khả nhẫn dã?” (Múa tám hàng ở sân miếu, việc ấy còn làm thì có việc gì không làm được?) trong thiên Bát dật sách Luận ngữ. Theo Chu lễ, Quý thị thuộc hàng quan đại phu, khi cúng tế tổ tiên chỉ được dùng lễ múa bốn hàng, nhưng ở đây Quý thị lại múa tám hàng là lễ dành cho thiên tử. Cho nên, Khổng Tử nói Quý thị lỡ tiếm lễ như thế, thì không còn việc gì không dám làm. Ở đây, Tào Tháo cho rằng ngay mấy chuyện tế nhị Lưu Phong còn lôi ra để nói được thì không còn điều gì y không dám nói, ông không thể nhẫn nhịn được nữa, vì vậy chúng tôi đã dịch thoát ý.

[2] Trung dung là đức hạnh cao cả vậy thay.

[3] Chỉ chung những chiếc xe ngựa xa hoa được làm từ nhiều loại gỗ thơm hoặc được ngâm qua hương liệu.

g Hộc, đều là những nét bút mà những kẻ đọc sách tranh nhau sưu tầm, học theo, những người bình thường tốn công nhọc kế cũng không xin được, hôm nay Chung Do lại chủ động đề tặng. Nhưng Đinh Nghi không những không vui, trái lại mặt mày thất
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Vương Hiểu Lỗi

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.