Ngoại thành phía đông Nghiệp Thành tinh kỳ san sát, ngựa xe đông đúc, bách tính cũng ùn ùn kéo đến. Thái tử Tào Phi kính cẩn đứng trước trăm quan, vẻ mặt nghiêm trang nhưng trong lòng lại đang rối bời. Y vâng mệnh phụ vương đi đón đệ đệ Tào Chương - Trước khi xuất chinh, Tào Phi có dự cảm Tào Chương sẽ thắng trận, chỉ không ngờ rằng thắng lợi lại đến nhanh thế này, công lao lại lớn lao thế này, không những dẹp được quân phản loạn Ô Hoàn mà còn khiến Kha Tị Năng sợ phải xưng thần, một trận hàng hai rợ Hồ, thắng lợi lần này chẳng kém gì chiến dịch Liễu Thành năm xưa. Tin thắng trận truyền đến, Tào Tháo tươi tỉnh mặt mày, bách tính cũng vui mừng hớn hở, ai nấy thi nhau ca ngợi Yên Lăng hầu dũng mãnh uy phong, và còn xưng tụng y là anh hùng bảo vệ cương thổ Hoa Hạ. Thế là có ý gì với người ở ngôi thái tử là Tào Phi đây?
Từ đằng xa cát bụi mù mịt, khôi giáp lấp lóa, đại đội binh mã chầm chậm tiến về trong tiếng reo hò của dân chúng. Tào Chương đã đổi một bộ kim giáp mới tinh, đầu đội mũ đâu mâu, mình cưỡi bạch mã, khoác áo hồng bào, dưới ánh mặt trời chiếu rọi trông thật rực rỡ, chói lọi. Y lưng hổ eo gấu, người cao ngựa lớn, lại thêm bộ râu vàng khè càng tỏ rõ vẻ oai vệ, hùng dũng tựa như thiên binh thần tướng, nếu đem so sánh thái tử còn có phần thua kém.
— Đại ca! - Tào Chương trông thấy Tào Phi lập tức xuống ngựa, xưng hô tùy tiện như trước, - Phiền huynh phải vất vả đi đón đệ rồi!
Tào Phi mỉm cười bước lên trước, nắm tay đệ đệ:
— Đệ làm rạng danh nhà ta, người làm huynh trưởng như ta không giúp được gì, chẳng lẽ đến nghênh đón chúc mừng đại tướng quân cũng không làm được? - Y tuyệt nhiên không đả động chuyện mình phụng mệnh phụ vương mà đến, để giữ ý tốt. Quần thần cũng tới thi lễ chúc mừng, hai huynh đệ khoác tay nhau vào thành, người đứng bên đường thấy thái tử và Yên Lăng hầu sóng vai bước đi, ai cũng hoan hô.
Tào Chương sốt sắng hỏi:
— Bệnh tình của phụ vương sao rồi đại ca?
Tào Phi đáp:
— Tốt hơn nhiều rồi, phụ vương ở hậu cung, không tới Đồng Tước đài, cũng không cho triệu kiến đám phương sĩ nữa.
— Đệ nói rồi mà, đó là một bọn lừa đảo, ít tiếp xúc với chúng lại tốt.
— Đệ thắng trận trở về, bệnh tình của phụ vương làm sao không đỡ được?
Tào Chương đắc ý:
— Thế thì đệ thay phụ vương bình Ngô diệt Thục há chẳng càng tốt hơn sao?
Tào Phi nghe khẩu khí của đệ đệ lớn như vậy, chẳng coi mình ra gì, nhưng nghĩ Tào Chương từ nhỏ đã có tính cao ngạo, ngông cuồng nên cũng không quá để bụng, chỉ bảo:
— Đệ nói câu ấy với ta thì được, chứ chớ phô trương trước mặt phụ vương. Phụ vương vốn không thích người tự phụ vì lập được công, đệ dương dương tự đắc lại bị phụ vương ghét, há chẳng phải uổng phí công lao này? Đệ không thấy chuyện của Hứa Du, Lâu Khuê sao?
— Phụ tử một nhà còn so đo chuyện này ư?
Tào Phi nhếch miệng cười:
— Theo ý ngu huynh, chi bằng đệ cực lực tiến cử công lao của các tướng, phụ vương thấy đệ khiêm tốn lễ độ, ngược lại càng hợp ý người hơn. - Thực ra, đây là một mưu kế, từ khi nhận được mật thư của Hạ Hầu Thượng, y bắt đầu nghĩ cách áp chế đệ đệ. Tào Chương tiến cử công lao của các tướng thì cũng vô hình cũng làm giảm công lao của chính mình.
— Đại ca nói có lý, có lý. - Tào Chương gật đầu, - Chưa kể công lao của chúng tướng, nếu không có đại ca ủng hộ, e là lần này không đến lượt đệ. - Tào Phi nghe y nói vậy cũng tạm an lòng.
Hai huynh đệ vừa đi vừa nói, chẳng mấy chốc đã vào đến vương cung, Tào Chương tháo mũ bỏ kiếm, vào Thính Chính điện yết kiến phụ vương. Bệnh tình của Tào Tháo mới đỡ, chân mày còn lộ vẻ mệt mỏi, nhưng thần thái ôn hòa, dường như đang rất vui. Các huynh đệ khác như Tào Thực, Tào Bưu, Tào Quân, Tào Lâm cũng theo vào, còn có bọn Tuân Vĩ, Vương Tượng, Dương Tu, Trọng Trường Thống cầm văn thư đứng hầu một bên.
Tào Chương chưa kịp thi lễ, Tào Tháo đã đứng dậy trước:
— Phiêu Kỵ Tướng quân của chúng ta thắng trận trở về đấy à?
— Nhi thần khấu kiến phụ vương! - Tào Chương thi lễ.
Tào Tháo vòng qua thư án:
— Con đứng lên đi, ta đi đứng không tiện, chớ để ta phải đỡ dậy.
Tào Chương vội vàng đứng lên, Tào Tháo lại gần hơn, nắm chòm râu của y, cười nói:
— Chòm râu vàng khè của con đã dài đến thế này rồi cơ à? - Năm xưa Tào Tháo không thích Tào Chương, vì thế đã cho y liên hôn với Tôn thị, còn bỏ qua y mà phong hầu cho Tào Thực trước, y được phong hầu sau cả Tào Cán. Giờ Tào Chương lập được đại công nên Tào Tháo nhìn bằng con mắt khác, cho rằng người con này cái gì cũng tốt, đúng là bảo bối hiếm có, tới bộ râu vàng khè tựa hồ cũng biến thành thỏi vàng.
Tào Chương đáp:
— Nhi thần tư chất ngu độn, không có tài lập công, tất cả đều nhờ Điền Trưởng sử đoán trước được hành động của quân địch, với lại bọn Diêm Nhu dũng cảm chiến đấu mới may mắn thắng lợi. - Tào Phi thấy y nói theo ý mình, trong lòng thầm vui, nhưng lại không thấy nhắc đến Hạ Hầu Thượng thành thử cũng chưa hoàn toàn hài lòng.
Tào Tháo nói:
— Con biết nghĩ như vậy mới thực có tiến bộ. Tuy vậy có câu: “Tướng nãi quân chỉ đảm, quân nãi tướng chi uy,”[1] phụ vương nghe nói, nếu như không có con đương đầu với cung tiễn, xông lên phía trước, thắng thua thế nào chưa thể nói được. Các tướng có công của các tướng, nhưng công đầu chắc chắn thuộc về con ta! - Tào Tháo là vua một nước tất nhiên phải ghi công đầu cho người nhà mình, huống chi Tào Chương lại có bản lĩnh thực sự.
— Phụ vương quá khen. Kẻ cầm đầu quân phản loạn là Năng Thần Đê đã trốn ra ngoài biên ải, nhi thần chưa toàn thắng mà trở về luôn cảm thấy bất an. Nào dám nói đến công lao?
Tào Phi liếc nhìn đệ đệ với ánh mắt ngạc nhiên: Ta đâu dạy nhị đệ những lời này, sao đệ ấy còn khiêm tốn hơn nữa, chẳng lẽ đệ ấy biết lùi để tiến?
— Thật không? - Tào Tháo quay người cầm thư báo tình hình quân vụ, huơ huơ tay, - Con chưa biết gì sao? Năng Thần Đê sau khi trốn ra ngoài biên ải đã đầu hàng huynh trưởng của Bộ Độ Cân là Phù La Hàn. Nửa tháng trước, Phù La Hàn muốn tập hợp liên minh các bộ lạc, Kha Tị Năng giả vờ đi dự hội thề rồi thừa dịp đột kích giết chết Phù La Hàn với Năng Thần Đê, thâu tóm bộ hạ của chúng. Nếu không phải con ân uy gồm đủ, kết tình giao hảo với Kha Tị Năng, sao có thể giúp ta diệt trừ hậu hoạn?
— Đúng vậy. - Tào Thực cũng cười ha hả phụ họa, - Kha Tị Năng giết Phù La Hàn tức là đã kết thù lớn với Bộ Độ Cân. Nhưng Kha Tị Năng vốn có thế lực lớn, lại xưng thần với chúng ta, Bộ Độ Căn muốn báo thù giết huynh trưởng tất phải kết giao với chúng ta, nên thể nào cũng sẽ xưng thần. Sau này bọn chúng vì thù hận đối địch mà đều sai sứ tiến cống nước ta, đất U Yên có thể được thái bình. Đây hoàn toàn là công lao của nhị ca đấy! - Tào Bưu cũng luôn miệng vun vào.
Tào Chương bỗng quỳ sụp xuống:
— Nhi thần cẩn thận tuân theo lệnh phụ vương, sao lại bàn đến công lao? Thần uy của phụ vương chiếu rọi nơi nơi, lũ đom đóm như Năng Thần Đê, Phù La Hàn làm sao có thể tranh sáng với mặt trăng, mặt trời? Nhi thần cùng với tướng sĩ ba quân đều nhờ cả vào uy của phụ vương. Những ngày nhi thần ở trên chiến trường mới thấm thía nỗi nhọc nhằn, gian nan của việc cầm quân đánh trận, rồi lại nghĩ tới phụ vương ba mươi năm đánh đông dẹp tây, lập được vô số chiến công. Người mới chính là cột trụ của Hoa Hạ ta, xứng đáng là anh hùng cái thế. - Tào Phi giật mình kinh ngạc: Ai dạy nhị đệ câu này? Chẳng lẽ đây thật sự là những lời nói xuất phát từ tận đáy lòng? Tiểu tử này đột nhiên tỏ thái độ khác thường, quay sang nịnh phụ thân để được sủng ái, không thể lường được chí hướng của nó! Tào Phi chợt ý thức được rằng, nhị đệ là một đối thủ còn lợi hại hơn cả tam đệ, giả làm lợn dụ hổ đến ăn, ẩn thân bất lộ. Y đã đánh giá quá thấp tâm kế của Tào Chương!
Niềm kiêu hãnh lớn nhất trong đời Tào Tháo đều ở trên chiến trường, nghe nhi tử nói vậy, ông vô cùng xúc động, nói giọng cảm khái:
— Thuở nhỏ con lập chí làm tướng quân, nay coi như đã đạt được tâm nguyện. Ta thấy con dũng cảm thiện chiến, quả thực rất đáng vun vén, nay chính thức nhận mệnh làm Phiêu Kỵ Tướng quân, đội quân đã theo con xuất chinh từ nay đều thuộc sự sai khiến của con. - Mặt Tào Phi tái mét, y hốt hoảng lo sợ, phụ vương cho Tào Chương nắm quyền binh mã là chuyện chưa từng có với các huynh đệ khác, phải làm sao đây?
Tào Thực vẫn một mực ca ngợi Tào Chương, cười nói:
— Nhị ca chinh chiến ở Bắc Quận, tiểu đệ võ lược kém cỏi, không thể tương trợ, nhưng múa bút vẩy mực tấu hợp thì có thể làm được. Tiểu đệ xin làm một bài thơ dâng tặng nhị ca để bày tỏ tấm lòng. - Nói xong y bắt đầu ngâm rằng:
Bạch mã đeo cương vàng,
Lên tây bắc ruổi rong.
Hỏi con nhà ai thế,
Tráng sĩ đất U, Tịnh?
Xa quê từ thuở nhỏ,
Vùng biên ải lẫy danh.
Sớm chiều đeo cung tốt,
Cùng tên hộ xếp bằng.
Vỡ đích trái tên bắn,
Nát tiêu phải cung dương.
Ngửa người cũng bắn trúng,
Cúi thân chẳng chệch đường.
Nhanh nhẹn hơn khỉ vượn,
Khoẻ như báo thuồng luồng.
Thành xa tin cấp báo,
Giặc Hồ đã vào trong.
Hịch từ phương bắc xuống,
Dẫn ngựa lên đê trông.
Giặc Hung Nô phải đuổi,
Tiên Ti cũng đạp bằng.
Hy sinh đầu mũi giáo,
Tính mệnh ai xót thương?
Cha mẹ không chăm sóc,
Thê tử chẳng ngó ngàng.
Tên biên vào danh sách,
Chuyện riêng có ai màng.
Bỏ thân vì nạn nước,
Chết về lại cố hương![2]
“Bỏ thân vì nạn nước, Chết về lại cố hương!” Tào Tháo liên tục vuốt râu, - Ta vốn tưởng con chỉ biết mô phỏng sông núi, ca ngợi nữ nhi, không ngờ cũng ngâm được những câu từ về việc việc hành quân dễ thế. Lần sau xuất chinh, con hãy đi theo Tử Văn để tăng thêm uy phong của quân ta!
Chúng huynh đệ đều nói:
— Tử Văn cưỡi ngựa bắn cung xuất chúng, Tử Kiến văn chương tài hoa cũng vào bậc nhất. - Duy có Tào Phi càng buồn bực không yên.
Tào Tháo sớm đã nhận ra thần sắc bất thường của Tào Phi, nhưng vẫn vờ như không thấy. Ông trọng dụng Tào Chương vì thứ nhất, ông muốn bồi dưỡng một tướng tài thuộc lớp hậu bối ngoài Tào Chân, Tào Hưu ra; thứ hai, ông cố tình chèn ép Tào Phi, và coi đây như một thử thách đối với y. Hiểu con không ai bằng cha, Tào Phi bề ngoài khoan dung, độ lượng nhưng bên trong lại đố kỵ, lòng dạ khắc bạc, Tào Tháo hiểu rõ hơn ai. Cho nên bây giờ ông phải năng đả kích để y dần dần tiếp nhận các huynh đệ khác, có vậy sau này bọn họ mới có thể đoàn kết bảo vệ gia nghiệp, ngôi vị này dù sao cũng sẽ rơi vào Tào Phi.
Trông sắc mặt Tào Phi thoắt đỏ thoắt trắng, Tào Tháo có chút đắc ý: Xét về đạo đế vương, duy những chỗ tâm đắc là cha không thể truyền cho con, anh không thể dạy cho em. Quả nhân hành sự thâm hiểm, khó lường, người nào trong thiên hạ đoán được? Giờ quả nhân ít tham dự chính sự, nhưng tâm cơ của mỗi một quần liêu, tử đệ có ai mà ta không biết, còn tâm sự của ta có kẻ nào nhìn rõ, có kẻ nào thoát khỏi bàn tay của ta… Tào Tháo đang nghĩ đến đây, chợt thấy bọn Tào Quần, Tào Lâm cầm hộp bánh sữa Hung Nô dâng tặng mà ông đã đề chữ lên trên đó, mỗi người một miếng, không nén được giận:
— To gan! Đồ trong điện của quả nhân mà các ngươi cũng dám tùy tiện động vào?
Tào Lâm suýt nữa bị nghẹn, vội bỏ hộp bánh xuống:
— Nhi thần thất lễ, tại Dương Chủ bạ nói có thể ăn ạ.
— Sao? - Tào Tháo lừ mắt nhìn Dương Tu, - Ngươi bảo chúng ăn?
Dương Tu chắp tay mỉm cười:
— Thần phụng mệnh đại vương mời các vị vương tử nếm thử.
— Quả nhân ban lệnh hồi nào?
Dương Tu chậm rãi cầm hộp bánh lên:
— Đại vương ngự bút “nhất hợp tô”, chữ “hợp” không phải được tạo thành từ chữ “nhân, nhất, khẩu” ạ? Đại vương viết “nhất nhân nhất khẩu tô”[3], chính là cho phép mọi người nếm thử, chia sẻ món này với chúng thần.
— Khà khà khà… Khanh cũng nhanh trí đấy.
Tào Tháo đúng là có ý này nhưng trò đùa ông cẩn thận sắp đặt đã bị người ta vạch trần, nên cũng hơi bực bội.
Hôm nay Tào Phi đã chịu đủ uất ức, không muốn để đám đệ đệ này làm loạn thêm nữa, nháy mắt ra hiệu với Tuân Vĩ. Tuân Vĩ biết ý, bê tập quyển tông tiến lên phía trước:
— Khải bẩm điện hạ, chúng thần phụng mệnh thái tử chỉnh lý văn cảo Tân thư, chia lại chương quyển. Đây là quyển đầu, gia truyện của đại vương, kính mời đại vương xem qua.
— Ồ, mau đưa lên đây - Tào Tháo rất quan tâm đến việc này.
— Nhi thần xin cáo lui. - Quả nhiên bọn Tào Thực đều đứng dậy xin cáo từ.
Tào Tháo nhận cuốn thẻ tre:
— Tử Văn viễn chinh trở về, các con hãy cùng nó đi bái kiến phu nhân. - Rồi nhìn sang Tào Phi nói, - Thái tử cũng nên đi cùng. - Tào Phi muốn nói nhưng lại thôi: Ta dốc sức biên soạn bộ sách này cho phụ thân, thế mà đến một câu khen ngợi cũng không có. Ta còn định tự mình giải thích những chỗ tâm đắc trong lúc soạn sách, nhưng xem chừng lão nhân gia không muốn nghe. Tào Phi không biết làm sao, đành theo các huynh đệ lui xuống.
Tào Tháo gần như xem kỹ từng từ từng chữ trong thiên Tào thị gia truyện, mới đọc được hai hàng chữ, ông đã chỉ vào nói:
— Chỗ này chưa được, sửa lại cho quả nhân! - Bọn Tuân Vĩ tiến lại xem, đó là câu “hậu duệ của tướng quân nhà Hán là Tào Tham”, nói về nguồn gốc tổ tiên. Sửa lại thế nào? Sửa câu này chẳng hóa đổi tổ tông nhà họ Tào?
Tào Tháo gõ thư án nói:
— Sửa thành “hậu duệ của Tào thúc Chấn Đạc”.
Tào thúc Chấn Đạc tức là Cơ Chấn Đạt, con Chu Vân Vương, em Chu Vũ Vương, được phong làm quốc quân đầu tiên của nước Tào vào đầu thời Tây Chu. Nhưng đất phong của nước Tào nằm ở quận Sơn Dương, Duyện Châu, còn quê Tào Tháo lại ở nước Bái, Dự Châu, nói Tào gia là hậu duệ của danh tướng Tào Tham còn chấp nhận được, chứ nói là hậu duệ của quý tộc nước Tào thì quá khiên cưỡng. Bởi từ đời cụ cố của Tào Tháo là Tào Manh trở về trước đã là bạch đinh, sống nhờ vào đồng ruộng, không quan không tước, cho dù đúng là hậu duệ nước Tào đi nữa, cũng không có gì khảo cứu.
Tuân Vĩ, Vương Tượng không hiểu ý này, nhưng trong lòng Trọng Trường Thống lại rất rõ. Tào gia muốn đoạt thiên hạ của nhà Hán, Tào Tham tuy là danh tướng hiển hách, nhưng suy cho cùng vẫn là bề tôi nhà Hán, được Hán Cao Tổ ví như “công cẩu”[4], khác với việc tự xưng là dòng dõi quý tộc nước Tào. Nếu như nước Tào xuất phát từ họ Cơ, là hậu duệ của Chu Văn Vương, khi đem so sánh, Lưu Bang chẳng qua chỉ là một đình trưởng vùng sông Tứ, huyết thống của Tào gia không phải cao hơn Lưu gia sao? Hơn nữa, họ nhà Tào Tháo dựng nghiệp từ chức quan thái giám, dù có trôi qua bao nhiêu năm cũng vẫn khó mà che giấu được tỳ vết, khó mà vừa mắt thế gia vọng tộc. Tào Tháo lôi chuyện hậu duệ nhà Chu ra nói, không nghi ngờ gì là muốn tuyên bố với bọn họ: Các ngươi không phải tự hào là dòng chính, đề xướng nho học ư? Tào gia ta là dòng chính nhà Chu, với thân phận ấy còn không xứng dẫn dắt các ngươi sao? Bất luận là thật hay giả, việc Tào Tháo muốn dùng cách này nâng vị thế của gia tộc mình lên cũng tốn mất nhiều tâm sức. Năm xưa, Đổng Trác tự xưng là tộc điệt của Đổng thái hậu, nay Tào Tháo lại tự xưng là hậu duệ của Chu Văn Vương, âu cũng là sự bất lực của những người xuất thân hạ tiện.
Đại vương bảo sửa thì sửa, Trọng Trường Thống tự mình làm lấy, ông dùng bút ngoặc bỏ đoạn đó đi, viết lại sang bên cạnh. Tào Tbáo xem tiếp đoạn sau không thấy có chỗ nào không vừa ý nữa, cuối cùng gật đầu:
— Chỉ vậy thôi. Sau này mọi việc tế tự tông miếu đều phải xưng tổ tiên của quả nhân là Tào thúc Chấn Đạc. - Một câu nói bột phát của Tào Tháo nghiễm nhiên trở thành định chế, nực cười là Tào Manh, Tào Đằng, Tào Tung được thờ cúng trong tông miếu, đã chết bao nhiêu năm rồi còn phải đổi tổ tông.
Tuân Vĩ lại tâu:
— Gia thất của đại vương vâng theo phúc lành từ danh… - Ông ta định nói “danh thần”, nhưng chợt nhớ ra Tào Tháo vừa đổi tổ tông thành “quân”, vội chữa lời, - Vâng theo phúc lành từ minh quân để lại, trị lý thiên hạ hơn hai mươi năm, danh là khuông phù, thực là khai sáng, làm gương sáng một đời. Xin đại vương đề một bài thơ, thuật lại chí hướng thuở bình sinh, đạo vi chính, nối sau phần gia truyện để khuyên dạy tử tôn đời sau không được quên ân đức của tổ tiên. - Tào Phi là người đưa ra chủ ý này, y muốn tự mình nói ra để làm vui lòng Tào Tháo, nhưng giờ chỉ biết nhờ Tuân Vĩ nói thay.
Tào Tháo quả nhiên mỉm cười:
— Các khanh nghĩ ra chủ ý thật độc đáo. - Ông cầm bút trầm ngâm suy nghĩ, làm thế nào dùng thơ thuật lại đạo vi chính. Đây không phải một bài thơ bình thường, nó sẽ được truyền lại cho tử tôn, mà tử tôn của ông không phải đế vương đời sau hay sao? Bài thơ khác nào lời giáo huấn của tổ tiên dành cho con cháu nhà đế vương. Ông tập trung suy nghĩ: Ta vất vả cả đời vì muốn dựng nên thế đạo như thế nào?
Ông chau mày hồi lâu, chợt đặt bút viết: Trong trời đất, người quý nhất…
Chỉ được sáu chữ này, rồi lại dừng bút.
Tuân Vĩ, Vương Tượng không nén được đưa mắt nhìn nhau: Mạnh Tử nói “Dân là quý, thứ đến xã tắc, vua là nhẹ nhất trong ba thứ ấy”, đại vương hẳn là trong lúc vội vàng đã nhớ lầm. Nhưng người làm bề tôi đâu dám chỉ ra cái sai của nhà vua, hai người giả như không biết.
Lạ là cả buổi Trọng Trường Thống chẳng nói câu nào, vừa nhìn thấy sáu chữ này lại phấn chấn hẳn lên, ngẩng đầu nhìn với vẻ vô cùng sùng kính:
— Đại vương viết hay quá! Còn phần sau ạ?
Tào Tháo giật mình nhìn ông ta, không hiểu vì sao khuôn mặt lại lộ vẻ cau có, cổ tay run run, mãi lúc lâu sau mới thở một hơi dài, giữ cổ tay viết tiếp: Lập vua chăn dân, đặt ra phép tắc…
Trọng Trường Thống nhìn tám chữ ấy, ánh mắt say sưa ban nãy tối sầm lại, rồi cũng bật ra một tiếng thở dài se sẽ.
Tào Tháo không lưỡng lự nữa, múa bút thành thơ:
Trong trời đất,
Người quý nhất.
Lập vua chăn dân,
Đặt ra phép tắc.
Dấu ngựa xe qua,
Dọc ngang bốn cực.
Thưởng phạt phân minh,
Ấm no sung túc.
Thánh hiền đời xưa,
Trị khắp châu vực.
Năm tước lập ra,
Tỉnh điền, hình ngục.
Sổ tội đốt đi,
Miễn tha không được.
Phủ hầu Cao Đào,
có đâu mất chức!
Than ôi đời sau,
Thay phép đổi luật.
Dân nhọc vì vua,
Thuế má lao lực.
Thuấn sơn đồ ăn,
Khó phục mười nước.
Không như Đường Nghiêu,
Chẳng cần đẽo cột.
Đời than Bá Di,
Mong thành thói tốt.
Xa xỉ ác thay,
Tiết kiệm là đức.
Hứa Do nhịn nhường,
có ai ca tụng?
Kiêm ái, thượng đồng,
Sơ thành thân thuộc.[5]
Viết xong, Tào Tháo gác bút sang bên cạnh, Vương Tượng liền khen:
— Hay! Cổ nhân nói: “Cử võng dĩ cương, thiên mục giai trương; chấn cầu trì lĩnh, vạn mao tự chỉnh đạt.”[6] Đại vương lấy thánh hiền làm giềng mối, nhân nghĩa làm cương lĩnh, đề xướng đức yêu dân, cần chính, chuộng tiết kiệm, đúng là cơ nghiệp bất hủ! - Ông ta coi việc Tào Tháo mô phỏng lại những điều đã được đế vương đời trước tuyên dương là bất hủ, rõ là hơi quá lời.
Tuân Vĩ nâng kiến giải lên một bậc nữa:
— Mặc Tử nói: “Kiêm giả, thánh vương chi đạo dã, vương công đại nhân chi sở dĩ an dã, vạn dân y thực chi sở dĩ túc dã,”[7] lại nói “thánh nhân chi sở dĩ tể sự thành công, thùy danh vu hậu thế dã, duy năng dĩ thượng đồng vi chính giả dã đạt.”[8] Nho gia và Mặc gia đều là những học thuyết nổi tiếng thời xưa, nhưng lại giống như sông Kinh với sông Vị, sao Sâm với sao Thương[9]. Đại vương dùng Nho học cải hóa Mặc học, dung hòa những chỗ tinh túy của hai nhà, thực là hiếm thấy.
Tào Tháo bóp bóp trán như thể vừa làm xong một việc tốn sức, mệt mỏi xua tay:
— Quả nhân muốn được yên tĩnh, các khanh lui ra đi… - Hai người Tuân, Vương biết gần đây Tào Tháo hay vui giận thất thường, vội thu dọn cuốn thẻ tre, thi lễ cáo lui.
— Công Lý, khanh ở lại một lát.
— Dạ. - Trọng Trường Thống dường như đã sớm đoán được Tào Tháo muốn giữ mình lại, nên vẫn đứng nguyên tại chỗ.
Uổng phí một đời
Trọng Trường Thống luôn đợi ngày này. Ông ta biết Tào Tháo thể nào cũng sẽ tìm mình nói chuyện, bởi ông ta được điều đến Nghiệp Thành chính vì ngày này. Bản thân ông ta cũng mong đợi lần nói chuyện này - Trọng Trường Thống cũng giống Tào Tháo, có lẽ trên đời này chỉ đối phương mới là một nửa tri kỷ của mình.
Tào Tháo phủ nhận thiên mệnh, ông ta cũng phủ nhận thiên mệnh, nên có thể gọi là tri kỷ. Tuy nhiên, Tào Tháo phủ nhận thiên mệnh vì muốn phá vỡ thiên mệnh của kẻ khác, xây dựng quyền uy của bản thân, còn Trọng Trường Thống lại phủ nhận thiên mệnh vì cảm thán về vòng luân chuyển hưng vong tự ngàn đời nay, và muốn suy cứu sự thịnh suy của đời sau. Một người là ông vua có ý bá chiếm thiên hạ, còn người kia là văn nhân say sưa giáo hóa nhân gian, tựa như hai con ngựa đi trên những cung đường khác nhau. Xét ở khía cạnh nào đó, Tào Tháo chỉ đang lợi dụng Trọng Trường Thống và Xương ngôn của ông ta, lợi dụng thuyết đả phá thiên mệnh, lòng trung quân, nhưng dù là lợi dụng, Trọng Trường Thống cũng cảm thấy được an ủi. Bởi với một người xuất thân bần hàn, lại theo dị luận như ông ta, thói đời rất cô độc, không ai hiểu cho ông ta, càng không hy vọng ông ta sẽ được người ta ca ngợi. Những gì Trọng Trường Thống nhận được trong suốt hai mươi năm qua chỉ là cái nhìn ghẻ lạnh và hằn học, chỉ có một ông vua như Tào Tháo đây mới coi trọng ông ta, lợi dụng ông ta, cho nên với ông ta điều này đã vượt quá mong đợi.
Tào Tháo không nhìn thẳng vào mặt Trọng Trường Thống, ông chậm rãi cúi đầu, dường như đang rất mệt mỏi:
— Còn nhớ mười ba năm trước, khi ấy quả nhân vừa bình định được Ký Châu, khanh đã bàn về những cái sai trong đạo vi chính của Viên thị, vậy đạo vi chính của quả nhân hiện giờ so với Viên Thiệu năm xưa như thế nào?
— Thần không dám nói.
— Khanh cứ nói ra chớ ngại, nói tốt hay xấu quả nhân đều không trách tội. - Nói là vậy, nhưng Tào Tháo chưa giao thiệp bằng ánh mắt với ông ta, thậm chí còn hơi sợ phải đối diện với ông ta - Khắp cõi trời này, không ai hiểu được bộ mặt thật cùng với quyền lực của một bậc quân vương hơn Trọng Trường Thống, vì vậy đứng trước ông ta, Tào Tháo như không còn bí mật nào.
— Dạ. - Trọng Trường Thống vái một vái dài, chậm rãi nói, - Theo thần thấy, đạo vi chính của đại vương hiện nay so với Viên thị năm xưa… giống như lươn ngắn lại chê trạch dài. - Lời này to gan phạm thượng, nhưng lại nói đúng: Con đường chính trị của Tào Ngụy giờ đã rẽ sang hướng lấy thế gia đại tộc làm nền tảng, dùng kinh học Nho gia làm tôn chỉ, khác gì Viên Thiệu năm đó? Chẳng qua cường hào đại tộc chưa bạo ngược và cũng chưa thể thao túng nền chính trị nước Ngụy mà thôi.
— Ồ. - Tào Tháo cười nhăn nhó, ông không hề ngạc nhiên với câu trả lời này, - Đối thủ mà quả nhân muốn đánh bại nhất trong đời là Viên Bản Sơ, vốn tưởng rằng một trận Quan Độ đã phân rõ được phải trái, không ngờ đến nay vẫn không thoát được cái bóng của hắn.
— Có điều… thần thiết nghĩ, đại vương và Viên Bản Sơ không đi chung một đường. Viên Thiệu là tử đệ cường hào, bốn đời làm chức tam công, coi lê dân như cỏ rác, còn đại vương có lòng oán trời thương người.
— Oán trời thương người? - Tào Tháo không hiểu lắm, - Khanh là người thông minh, hà tất phải nói nịnh quả nhân như đám quan lại tầm thường kia?
— Không phải vi thần xu nịnh. Dám hỏi đại vương, vì sao khi nãy người lại mở đầu bài Độ quan san bằng câu “Trong trời đất, người quý nhất”?
Tào Tháo lại tránh ánh mắt của Trọng Trường Thống, không muốn nói rằng: “Mạnh Tử nói ‘Dân vi quý, xã tắc tự chi, quân vi khinh’, dân với người có gì khác nhau đâu?”
— Vì dân với người không khác nhau chăng? - Trọng Trường Thống hỏi ngược lại, - Người là hồn của muôn vật, là tâm của trời đất. Còn dân… nói thẳng ra là nằm dưới sự thống trị của thánh quân, thánh vương, nói “yêu dân như con, che chở như trời, bao dung như đất” chẳng qua cũng chỉ coi người khác như con dân, còn nhà vua tự xưng là cha, là trời, là đất. Con người có thể dùng cách riêng để tạo nên cơ nghiệp chưa từng có xưa nay, tạo nên việc vô tiền khoáng hậu, khơi dòng cho trăm nhà. Người có thể làm chủ vận mệnh của mình, dân chịu sự ước thúc của nhà vua liệu có làm được như vậy không? Nói cách khác, nhà vua có cho phép họ nắm giữ càn khôn, dựng nên quyền lực của mình không?
Tào Tháo im lặng không nói gì - Trọng Trường Thống lại nói đúng lần nữa. Tào Tháo từng đem lại sự yên ổn cho bách tính trong thiên hạ, lập chí cao hơn cả vua Nghiêu, vua Thuấn, thậm chí ông còn muốn “trải rộng ân đức đến khắp cỏ cây, côn trùng”, để tất cả sinh linh đều được bình đẳng, mở ra một thế giới đại đồng chưa từng có xưa nay. Thế nhưng, lý tưởng hoàn mỹ đó đã sụp đổ… Hiện giờ người đang ngồi ở đây không còn là một tráng sĩ tràn đầy nhiệt huyết cứu dân, mà sớm đã lột xác thành một ông vua, tự xưng là quả nhân và độc chiếm thiên hạ. Có lẽ, ước mơ ấy vẫn chôn sâu dưới đáy lòng ông, nhưng điều ông quan tâm hiện nay là làm thế nào củng cố quyền uy của mình, làm thế nào để tử tôn đời sau mãi mãi ngồi trên ngôi vị này.
Nhưng, vào khoảnh khắc Tào Tháo cất bút làm thơ, ước mơ đã được ru ngủ chợt bị đánh thức, khiến ông bất giác viết ra sáu chữ “Trong trời đất, người quý nhất”. Người là chủ của trời đất, trên đến đế vương, dưới xuống nô bộc đều là người, và đều là chủ của đất trời, giữa họ có gì khác biệt? Nhà vua dựa vào đâu mà ngồi hưởng phú quý, cai trị lê dân? Tào Tháo không biết làm sao… Ông há có thể bố cáo với người trong thiên hạ: Thực ra, các ngươi cũng có quyền lực giống như nhà vua, có thể tùy tâm sở dục, theo đuổi tự do? Thế chẳng phải là ông tự phủ nhận quyền lực độc tôn của nhà họ Tào ư?
Vì vậy, ông vội chuyển hướng, viết tiếp “Lập vua chăn dân, đặt ra phép tắc”: muốn cai quản dân chúng lâu dài, thì không được chấp nhận sự tự do cá nhân, nhà vua mãi mãi là trời không thể vượt qua được, quyền lực của bất cứ ai cũng đều phải là sự bố thí của nhà vua, bất cứ tư tưởng và kiến tạo nào cũng đều phải nằm trong phạm vi cho phép của nhà vua, bách tính phải quỳ dưới nền đất cảm tạ vì được ban ơn. Đoạn sau Tào Tháo ca ngợi Cao Dao, Đường Nghiêu, Ngu Thuấn, Hứa Do, thậm chí cả tư tưởng “kiêm ái” và “thượng đồng” của Mặc Tử, nhưng tất cả đều phải nằm trong phép tắc chăn dân của ông… Dân đen không thể thoát khỏi sự thống trị của nhà vua, bản thân Tào Tháo cũng không thể thoát khỏi khuôn mẫu từ ngàn năm nay, dù ông đi xa hơn nữa đến cuối cùng vẫn phải trở lại con đường cũ. Dù là giữa ước mơ bên trong và lợi ích thực tế, cái nào quan trọng hơn, dù là ông có muốn chấp nhận hay không, cũng không có lựa chọn nào khác.
Trọng Trường Thống lật vết sẹo của Tào Tháo lên, vừa cảm thấy thương xót, vừa cảm thấy sợ hãi trước uy thế của vua, lòng thấp tha thấp thỏm, ông ta cúi gằm đầu, không dám nhìn vào Tào Tháo. Nhưng Tào Tháo lại mỉm cười:
— Chả trách khanh có thể viết được một bộ sách như Xương ngôn. Dương Hùng bác bỏ sự phân biệt thiện ác, Hoàn Đàm bác bỏ những lời sấm vĩ, Vương Sung bác bỏ chuyện quỷ thần, còn khanh tới cả thiên mệnh, quân quyền cũng bác bỏ, dám chọc thủng trời, thực là to gan ngông cuồng! Có điều, câu nào cũng chạm vào tâm khảm của quả nhân.
Trọng Trường Thống lén quệt mồ hôi, khiêm tốn nói:
— Vi thần chỉ được cái ăn nói hồ đồ.
— Ai cũng tô vẽ lời nói, nên chỉ cần một người dám nói thật, tự nhiên sẽ trở thành người ăn nói lung tung trong mắt chúng nhân. - Tào Tháo lấy lại thần thái, - Hôm nay quả nhân muốn nghe những lời chân thật của khanh. Phép cai trị của quả nhân rốt cuộc thế nào? Thiên hạ sau này sẽ thay đổi ra sao? Tào Ngụy ta có thể an trị lâu dài không? Khanh hãy mạnh dạn nói ra!
— Dạ. - Trọng Trường Thống hít một hơi sâu như thể hạ quyết tâm lớn lắm, - Danh thần thời Hiếu Cảnh Đế là Triều Thác từng làm một phép tính. Một hộ nhà nông năm người, có không dưới hai người đi lính, chỉ được một trăm mẫu ruộng, thu về không quá một trăm thạch hoa lợi. Mùa xuân họ gieo trồng, mùa hè rẫy cỏ, mùa thu thu hoạch, mùa đông cất trữ, còn phải đi đốn cây, xây phủ, phục dịch.
Mùa xuân không được tránh gió bụi, mùa hè không được tránh nắng nóng, mùa thu không được tránh mưa bão, mùa đông không được tránh giá rét. Suốt bốn mùa chẳng có ngày nào được nghỉ ngơi, những việc như qua lại giao tế, phúng viếng người chết, thăm hỏi người bệnh, chăm sóc người già, nuôi dưỡng trẻ nhỏ, thảy đều trông vào một trăm thạch thu được từ nghề nông. Nông dân vất vả, cực khổ là thế, còn phải hứng chịu thiên tai, hạn hán, lũ lụt, trong khi đó quan phủ lại chỉ muốn thu sưu cao thuế nặng. Triều trước còn như vậy… - Nói đến đây Trọng Trường Thống vái một vái dài, - Xin đại vương thứ cho vi thần bạo gan dám hỏi. Nếu hiện giờ tính một hộ nhà nông có năm người, trong đó hai người đi lính, ruộng cày là một trăm mẫu, người trong nhà có được sống bình an, khỏe mạnh hơn triều trước không, những tai họa như lũ lụt, hạn hán, nạn châu chấu, dịch bệnh có giảm bớt không?
Câu trả lời đương nhiên là không, trong lòng Tào Tháo hiểu rõ, quanh năm chinh chiến, người phải liều mạng trên sa trường từ lâu đã vượt quá quy chế cũ là năm tráng đinh thì lấy hai, những nhà cả cha và con đều phải đi lính không còn hiếm nữa, ông thậm chí còn bắt cả góa phụ làm ca kỹ trong quân doanh. Tuy ông đã nghĩ mọi cách ngăn chặn, nhưng vẫn không thể hạn chế xu thế chiến tranh tàn phá đồng ruộng, nhà giàu thôn tính đất đai. Dân lưu tán bị dồn đến chỗ phải làm dân đồn trú để có kế sinh nhai, cõng trên lưng năm sáu loại thuế nặng, giờ chiến loạn tạm lắng, không ít người thà trốn về quê hương làm tá điền cho địa chủ chứ không muốn làm tá điền cho triều đình, thiên hạ còn lại bao nhiêu nông dân tự cày cấy đây? Nhưng Tào Tháo không tự trách bản thân quá nhiều vì điều này, bởi dù sao thiên hạ chưa được bình định, để ủng hộ quân ngũ và có những khoản tiền khổng lồ phục vụ chiến tranh thì không có cách nào khác. Còn chuyện thiên tai, bệnh dịch xảy ra vào thời thái bình mới được xử lý ổn thỏa, chứ như bây giờ đánh trận còn chưa xong, hơi đâu mà lo đến nữa?
Trọng Trường Thống dường nhìn thấu tâm lý may rủi của Tào Tháo, lại nói:
— Vi thần còn muốn làm một phép tính nữa cho đại vương, thử xem thế gia hào môn kiếm sống ra sao. Triều đình thay đổi phép tỉnh điền, cường hào tham gia bán buôn, quán xá mọc ở khắp các châu quận, ruộng đất trải rộng bốn phương phong quốc, bọn họ đóng cửa làm trang viên, khoanh đất dựng sân vườn, mọi việc ăn ở đi lại đều tự túc. Hằng năm, vừa bước vào tháng Giêng, nữ nhân đã dệt vải, ủ rượu; tháng Hai bán kê, cắt vải may áo; tháng Ba thu kén tằm; tháng Tư gieo mạ, trồng dưa, bán lúa mạch; tháng Năm và tháng Sáu trồng đậu, trồng vừng; tháng Bảy, tháng Tám rau củ đều tươi tốt thì có thể trồng thêm lúa mạch; tháng Chín mua kê, tháng Mười săn bắt trong rừng núi; tháng Mười một lại tích trữ lương thực dư thừa như kê, đậu; cuối năm sửa chữa nông cụ, thu thuế dân điền, nuôi trâu chuẩn bị cho vụ mùa năm mới… Đại vương thử tính xem, một năm họ thu về bao nhiêu hoa lợi? Mà đấy chưa phải tất cả, người làm quan còn có bổng lộc, người có tước vị còn có thuế từ ấp phong, người có chức vị hiển đạt còn có của hối lộ hậu hĩnh, người cầm quân còn có chiến lợi phẩm. Bọn họ cho vay lấy lãi, bòn rút máu và mồ hôi của dân, in tiền đúc vũ khí, tranh lợi với nước. Vi thần không nói quá chứ ạ?
Tào Tháo không nói gì: Dưới thời tiên đế, họ Tào cũng từng sống kiểu ấy, tuy không thể so với danh gia đại tộc được bách tính trong quận ngưỡng vọng, nhưng đại để thu chi cũng chẳng kém gì. Nếu như đem danh môn cường hào so với lê dân bách tính thì một đằng ở tận trên trời, còn đằng kia ngập dưới vũng bùn.
— Đại vương anh minh sáng suốt, có thể chuyên dùng cường hào làm tầng lớp cai trị giúp thiên hạ được thái bình hay không, hẳn là trong lòng người hiểu rõ.
Tào Tháo không hiểu câu này, nói chính xác hơn là ông không muốn hiểu, bèn biện giải rằng:
— Thế gia đại tộc lấy kinh nghĩa làm gốc, trung quân thuận đức, ra ơn với bách tính, có gì không được? - Thực ra, bản thân ông cũng không đủ tự tin khi nói ra lời này, năm đó chẳng phải chính ông là người coi việc đánh đuổi hào môn là nhiệm vụ của mình ư?
Trọng Trường Thống thấy Tào Tháo lên tiếng phủ nhận, lại càng bạo gan nói thẳng:
— Lời đại vương nói cố nhiên xuất phát từ ý tốt, nhưng thần sợ rằng chuyện ngày sau sẽ không được như những gì đại vương suy đoán lúc này. Đại vương ra làm quan vào triều trước hẳn là còn nhớ tình trạng của bọn ngoại thích, hoạn quan với Viên thị, Dương thị năm xưa như thế nào? Ở quận là thân sĩ, trong triều là bề tôi, tử tôn mặc áo gấm ăn ngọc thực, người có tài du lãm cửa quan, còn kẻ bất tài lộng hành ở làng. Đại vương hiểu rõ hơn vi thần, bọn họ có yêu thương hương dân bách tính hay không. Vi thần nhớ danh sĩ Thôi Nhân từng viết Bác đồ luận có chế giễu một lão nông như thế này: “Ngươi cày rẫy phải tiếp xúc với nắng nóng, lưng đổ mồ hôi mặn, chân như cột nhà cháy, da như da thuộc, dùi đâm không thủng, bước đi khó nhọc, móng chân khoằm lại, bắp chân mỏi mệt. Nói ngươi là cỏ cây nhưng chân tay lại biết co duỗi; nói ngươi là cầm thú nhưng bộ dạng lại giống như người. Vì sao phải chịu số phận bạc bẽo? Đó là do bản tính không thuần vậy.” E là trong mắt những đại tộc quyền thế ấy, bách tính chẳng khác nào chim thú, cỏ cây, chỉ vì bản tính không thuần mà phải sống nghèo túng, khổ cực hay sao? Cho tất cả những người này làm quan, vi thần thấy lo sợ thay đại vương.
Thái dương Tào Tháo rỉ ra một giọt mồ hôi, ngón tay không ngừng run rẩy, có những chuyện không phải ông không biết, mà buộc phải làm vậy. Gần đây ông sao lãng chính sự không chỉ vì lý do sức khỏe không tốt, muốn tìm đến phương thuật, mà còn vì ông bất mãn với con đường vi chính, nhưng không có cách nào thay đổi được. Lúc này, những nỗi lo lắng ấy đều bị Trọng Trường Thống khơi ra, Tào Tháo buồn rầu song vẫn cố chối:
— Việc tuyển chọn quan lại nằm trong tay quả nhân, chỉ cần đưa ra quyết định sáng suốt thì vẫn có thể cứu vãn nhân tâm…
Trọng Trường Thống lại nói:
— Người nắm giữ chính sự, phần lớn đều sử dụng phép quyền biến, vì vậy không thể suy xét sự khác nhau giữa người hiền và kẻ ngu, để mở ra vận mệnh thịnh hay suy. Tử đệ thế tộc cường hào đều tập trung hết trong triều, việc tuyển chọn quan lại há có thể công bằng? Danh môn vọng tộc trong quận dựng nghiệp từ kinh nghĩa, nhưng bọn môn sinh cố lại ở chín châu vừa có được quyền thế và địa vị đã hám lợi đen lòng, sao còn giữ được nhân nghĩa đạo đức? Phu tử không có gì để truyền dạy, đệ tử cũng sẽ không học theo, tặng của hối lộ để kết thành bè đảng, gửi gắm ý nguyện hòng mưu tính sĩ đồ. Lấy ngu dốt ứng với tú tài, lấy ngỗ ngược ứng với chí hiếu, lấy tham lam ứng với thanh liêm, lấy ngu dốt ứng với hiểu biết, lấy hèn nhát ứng với dũng mãnh. Danh và thực không hợp với nhau, cầu và cống không xứng với nhau. Dùng hối lộ thực hiện chính sự, dùng tình riêng tiến vào quan trường, tuyển cử không theo thực lực, gian nịnh có ở khắp nơi! Lại trị làm sao trong sạch được? Nhân tâm làm sao cứu vãn được?
Tào Tháo đã túa mồ hôi ướt đẫm lưng, nhưng vẫn cao giọng nói:
— Còn có hình pháp hà khắc cơ mà! Hiếu Vũ Đế giết Ngụy Kỳ hầu, Quang Vũ Đế giết Âu Dương Hấp, chẳng nhẽ quả nhân lại trơ mắt nhìn bọn chúng làm loạn?
— Thần không dám coi thường quân uy, đại vương tung hoành trong thiên hạ ba mươi năm, không ai không phục, nhưng còn quân vương đời sau thì sao? Liệu họ có được uy quyền và đức hạnh như đại vương không? - Trọng Trường Thống thở dài, - Huống chi quân tử dùng pháp chế thực hiện giáo hóa, còn tiểu nhân dùng pháp chế sẽ dẫn tới hỗn loạn. Cùng là một loại pháp chế, nhưng nếu cho phép bọn lang sói cai quản dân chúng, bọn trộm cướp làm chủ thuế khóa, bọn tham lam bỉ ổi trông coi hình ngục, bọn xiểm nịnh hèn hạ tuyên truyền giáo hóa, quốc gia hỗn loạn, quan lại buông thả, làm sao pháp chế có thể thuần phục bách tính? Mà bách tính không thuần phục thì sắp đặt mưu gian, câu kết tạo phản, không việc gì bọn họ không dám làm. Người giàu ngạo mạn mà gian ác, người nghèo cùng quẫn mà đi vào tà đạo, bọn xiểm ác ngồi ở trên, bọn gian xảo đứng ở dưới, người giàu khinh miệt kẻ khác, người nghèo thù hận người giàu, thế gian hỗn loạn thiện ác bất minh, dẫu vua Nghiêu vua Thuấn sống lại há có thể trị được? Đó là kết cục của đất nước do thế gia nắm quyền cai trị…
— Im miệng! Ngươi dám mang những chuyện đáng sợ ra hù dọa quả nhân? - Tào Tháo đi đến giới hạn chịu đựng cuối cùng, ông đã quên mất rằng chính mình cho phép người ta nói thẳng, đột nhiên cầm một cuốn thẻ tre trên bàn ném về phía Trọng Trường Thống.
Trọng Trường Thống vừa giật mình vừa sợ hãi, lại không kịp tránh, cuốn thẻ tre va trúng đầu làm rơi cả mũ quan, nhưng ông ta không nhặt lên mà vội quỳ xuống:
— Vi thần thất lễ, xin đại vương bớt giận…
Tào Tháo dường như không nghe được câu này, ông giận run người, đi đi lại lại sau soái án:
— Đáng ghét… Đáng ghét… - Thực ra, Tào Tháo cũng đã nhìn thấy trước được những phán đoán của Trọng Trường Thống về xã tắc sau này, nếu thế gia đại tộc vi chính, thì dựa vào sức của một mình ông có thể chống đỡ được một thời gian, nhưng không thể áp chế một đời, sau khi ông chết tử tôn có khả năng này không? E là chưa đến mấy chục năm, những nhân sĩ xuất thân hàn môn sẽ không còn chỗ đứng trong triều, thế gia đại tộc lũng đoạn triều cương, trên thì vượt quân quyền, dưới thì bức bách tính, việc này đối với Tào thị không khác gì con dao hai lưỡi. Tào Tháo hiểu rõ, nhưng ông còn lựa chọn nào? Nếu không thu nhận thế gia đại tộc, bọn họ có thể tạo phản, hoặc cũng có thể chạy theo kẻ khác. Bên ngoài có Tôn, Lưu chưa diệt được, bên trong còn bao nhiêu việc cần làm, nếu rơi vào tình trạng nội chiến liên miên, thiên hạ còn có ngày được yên không? Tào gia còn có thể ngồi yên trên giang sơn của mình không? Cục thế dồn ép, Tôn Quyền sớm đã đoàn kết với những đại tộc Giang Đông như Cố thị, Lục thị, Chu thị, Trương thị, Lưu Bị cũng tìm mọi cách ràng buộc nhân sĩ Kinh Châu vào chiến xa, Tào Ngụy không làm thế thì sao ổn định được nội bộ, sao gom góp được thực lực để quyết chiến với bọn họ? Chế độ sĩ tộc cố nhiên nguy hại vô cùng, nhưng nghĩ cho cùng những khó khăn trước mắt còn chưa giải quyết được, nói gì đến sau này? Dù cho đó là chén rượu độc, cũng chỉ còn cách cố mà nuốt thôi.
Tào Tháo đau khổ muôn phần, ông đã đánh bại được Viên Thiệu trên chiến trường, nhưng lại sắp phải khuất phục trước đối thủ từng bại dưới tay mình ngày nào, chấp nhận đạo vi chính của đối thủ chẳng khác nào tuyên bố với sĩ nhân trong toàn thiên hạ rằng nửa đời này ông đã lầm! Thân là vua một nước còn gì nhục nhã hơn? Những lời Tào Tháo tự dối mình lừa người đều bị Trọng Trường Thống vạch trần, ông giận sôi gan, liên tục rống lên:
— Ngươi thật to gan ngông cuồng! Được, được… Ngươi luôn miệng nói quả nhân không đúng, vậy ngươi muốn quả nhân làm thế nào? Quả nhân còn có thể làm gì được? Ngươi nói đi!
Lần này đến lần Trọng Trường Thống cứng họng - Đúng vậy, ông còn mong Tào Tháo làm thế nào nữa? Từ thời Tần, Hán đến nay, thế gia cường hào là căn bệnh nan y, sau hai trăm năm phục hưng nó đã phát triển tới mức không thể kiểm soát được. Tuy Tào Tháo bạo ngược không sợ thiên mệnh, nhưng muốn chống lại trào lưu đã có bề dày lịch sử hàng mấy trăm năm, liệu có thực tế không?
— Thần có tội… - Trọng Trường Thống cúi đầu, - Xin đại vương bớt giận, giữ gìn ngọc thể…
— Câm miệng! Bọn văn nhân các ngươi chỉ biết thốt ra những lời ngông cuồng! Có ai hiểu được nỗi khổ của quả nhân, sự phiền muộn của quả nhân? - Tào Tháo đi tới đi lui, càng nghĩ càng giận, nhưng không hiểu rốt cuộc là ông giận Trọng Trường Thống hay giận chính bản thân mình, sự bực tức trong lòng không có chỗ nào trút ra được, ông tung chân đạp đổ thư án.
Thái giám, vệ sĩ đứng hầu bên ngoài bị kinh động, vội xộc vào xem - Tào Tháo giống như ông già điên dại, bước chân tập tễnh lảo đảo, vớ được thứ gì là đập thứ ấy. Còn Trọng Trường Thống bủn rủn quỳ mọp dưới đất.
Nghiêm Tuấn suy nghĩ linh hoạt, chỉ vào Trọng Trường Thống nói với thị vệ:
— Người này khi quân phạm thượng, chọc giận đại vương, còn không mau bắt lấy?
Đám thị vệ hầm hầm tiến tới đè chặt Trọng Trường Thống. Trọng Trường Thống to gan lớn mật lúc này cũng nguội lòng, đoán trước được sẽ có tai họa lớn ập xuống, chỉ e lại giẫm vào vết xe đổ của Biên Nhượng, Khổng Dung.
Không ngờ Tào Tháo bỗng nhiên quát:
— Ai cho phép các ngươi bắt hắn? Bảo hắn, bảo hắn… bảo hắn cút đi cho ta! Cút về Hứa Đô, quả nhân vĩnh viễn không muốn gặp lại hắn nữa! - Tức giận thì tức giận, nhưng dù ngoài miệng chối cãi thế nào, Tào Tháo cũng không thể phủ nhận dự đoán của Trọng Trường Thống, vả lại người ta càng nói thẳng càng chứng tỏ sự chân thành. Tào Tháo đã giết không biết bao nhiêu người, trong đó có không ít kẻ chết vì tội cuồng ngôn, nhưng trước giờ ông muốn giết ai thì giết, chứ cho phép người ta nói thẳng, nói thật rồi lại dồn người ta vào đường cùng, thì anh hùng một đời như ông cũng sẽ không làm chuyện bỉ ổi đó.
— Tạ ơn đại vương không giết… - Trọng Trường Thống run rẩy lẩm bẩm, không ngăn được hai hàng nước mắt trào ra - Dù sao Tào Tháo cũng có ơn tri ngộ với ông, nếu không phải ông sinh vào thời buổi hỗn loạn này, nếu không phải ông có một vị chúa công dám thách thức thiên mệnh là Tào Tháo, làm sao triều đình có thể chứa chấp một kẻ có những lập luận đi ngược lại ý trời như ông?
— Cút đi! Mau cút đi! - Tào Tháo quay đầu đi chỗ khác, ra sức phẩy tay áo như muốn đuổi một vật không tốt lành, mà cũng sợ hãi không dám đối mặt.
Trọng Trường Thống bị thị vệ lôi ra khỏi đại điện, không kìm được ngoái đầu lại nhìn Tào Tháo lần cuối - Trong ánh mắt nhòa lệ, Tào Tháo hiện lên rất méo mó, dữ tợn và xấu xí, vừa gào thét, vừa đấm đá, vừa vùng vẫy, nhưng cũng lộ rõ vẻ bất lực, ông định sẵn là không thể chống lại vận mệnh. Ai là kẻ thù lớn nhất của ông? Chính là bản thân ông…
Tuổi trẻ đã mất, bằng hữu đã mất, tình phụ tử cũng đã mất, chí nguyện ban đầu là khuông phù nhà Hán đã vứt bỏ, còn ước muốn làm đế vương thì phải nén lại, chuyện thống nhất thiên hạ bị đẩy lùi vô thời hạn, giờ tới lý tưởng cả đời ông theo đuổi cũng bị chính ông bóp chết. Tất cả đều tan vỡ rồi… Ngoài ngôi vua đem lại sự cô độc ra, ông còn lại cái gì?
❀ ❀ ❀
[1] Tướng là dũng khí của quân, quân là uy thế của tướng.
[2] Bài Bạch mã thiên của Tào Thực, bản dịch thơ của Đào Trung Kiên. Nhân đây, chúng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới anh Đào Trung Kiên là điều hành viên trang thivien. net, đã cho phép chúng tôi trích dẫn một số bài dịch thơ của anh vào tập sách này, như bài Tào Thực Bạch mã thiên, Tào Tháo Quan độ san, Tào Thực Danh độ thiên, Tào Thực Thị thái tử tọa.
[3] Nghĩa là mỗi người một miếng.
[4] Điển cố bắt nguồn từ thiên Tiêu Tướng quốc thế gia trong sách Sử ký: Cao Đế nói: “Khi đi săn, đuổi theo thú rừng là chó săn, nhưng phát hiện ra dấu vết của con thú, chỉ ra nơi ẩn náu của con thú là thợ săn. Nay các ngươi phụng lệnh đi bắt thú rừng, nên công lao chẳng qua chỉ giống như chó săn. Còn như Tiêu Hà, phát hiện ra dấu vết con thú, chỉ rõ phải bắt con thú như thế nào, mới có công lao giống như người thợ săn.” Về sau, cụm từ “công cẩu” (chó có công) được dùng để chỉ người có công giết giặc.
[5] Độ quan san, Tào Tháo. Bản dịch thơ của Đào Trung Kiên, sách đã dẫn.
[6] Cầm giềng lưới mà quăng, ngàn con mắt mở ra; cầm cổ áo mà phẩy, muôn sợi lông thẳng hàng.
[7] Kiêm ái là đại đạo của bậc thánh vương, vương công đại thần nhờ đó mà được an ổn, muôn dân ăn mặc nhờ đó mà được no đủ.
[8] Sở dĩ thánh nhân đời trước làm nên việc, để lại tiếng thơm cho hậu thế là vì xử lý chính sự theo nguyên tắc thượng đồng vậy. (Thượng đồng hay còn gọi là thượng hiền là một tư tưởng của Mặc Tử, chủ trương việc tuyển chọn và sử dụng người hiền lương, nhân đức, người dưới phải phục tùng người trên).
[9] Nước sông Kinh đục, nước sông Vị trong, còn sao Sâm và sao Thương ở xa nhau, nên câu này được dùng để ví với những đối tượng có sự tương phản, khác hẳn nhau.