Sự việc tiến triển đúng như dự liệu, sau khi Tào Tháo triệu tập quần thần để huấn thị, cục diện triều đình nhanh chóng đi theo chiều hướng mới. Tào Tháo tuyên bố thân thể nhiễm bệnh, muốn lui về nội cung nghỉ ngơi, ngoài việc quân cơ và những sự vụ hệ trọng ra, chuyện quản lý triều chính hằng ngày đều được giao lại cho các vị Thượng thư, Tướng quốc Chung Do và Ngũ quan trung lang tướng Tào Phi cùng xử lý - Phụ thân làm chủ quân chính, nhi tử quản lý dân chính, đường lối cai trị mới của Tào Ngụy như nước đổ thành sông.
Lần này Tào Tháo không đưa ra quyết định nóng vội, việc ông lựa chọn Tào Phi làm người kế vị tuyệt nhiên không phải chỉ dựa vào một câu trả lời hời hợt của Giả Hủ, mà đó là kết quả sau nhiều lần đắn đo suy nghĩ. Thứ nhất, Tào Tháo đã sáu mươi hai tuổi, sức khỏe lại không tốt, chọn một người thừa kế tương đối có kinh nghiệm xử lý chính sự sẽ đỡ phải hao tổn tâm sức, Tào Phi lớn tuổi hơn cả và cũng có kinh nghiệm đảm nhiệm chức Ngũ quan trung lang tướng. Thứ hai, Tào Phi là trưởng tử, hợp với nguyên tắc tông pháp truyền thống, chọn Tào Phi sẽ bớt được không ít tranh cãi, và cũng là để mở ra một nền cai trị ổn định, lâu dài cho tử tôn đời sau. Quan trọng hơn, nước Ngụy muốn trường tồn thì buộc phải đi theo con đường chính thống của Nho gia, mà trước mắt việc liên kết với thế gia đại tộc chính là biện pháp chủ yếu. Tào thị là “nòi giống xấu xa của hoạn quan” đương nhiên muốn nâng vị thế của mình lên thành gia tộc lớn mạnh nhất, bởi vậy họ Tào và họ Hạ Hầu phải kết thành một khối vững chắc, nhằm kiểm soát chặt chẽ quyền lực quân sự cũng như chính trị. Xét trong đám tử đệ tông tộc, chỉ có thể giao phó trọng trách sau này cho bọn Tào Chân, Tào Hưu, Hạ Hầu Thượng, Hạ Hầu Mậu, mà Tào Phi rõ ràng có khả năng gắn kết bọn họ hơn Tào Thực. Con đường của gia tộc gắn liền với đạo vi chính là lý do cơ bản để Tào Phi được chọn. Còn lời của Giả Hủ tuy có sức nặng, nhưng cùng lắm chỉ là cọng rơm làm nghiêng cán cân mà thôi.
Từ hôm cử hành triều hội vào đầu tháng Tám đến nay đã một tháng, quần thần không trông thấy bóng dáng Ngụy Vương đâu, chỉ biết ông ở Đồng Tước đài dưỡng bệnh và tránh nóng. Người thay ông giải quyết chính sự là Ngũ quan tướng và Chung Do, nhưng Chung Do là Tướng quốc, luôn đặt mình ở vị trí phò tá nên thế lực của Tào Phi ngày một lớn, trong khi đó Lâm Tri hầu có bổn phận đóng cửa suy nghĩ về lỗi lầm của mình. May là thế cục thái bình, Tôn Quyền đại bại ở Hợp Phì, lại bị ôn dịch hoành hành, tổn hại không ít thanh thế. Đất Thục chưa bình định được, nhưng đã có Chinh Tây Tướng quân Hạ Hầu Uyên và Thứ sử Ích Châu Triệu Ngang trấn giữ Hán Trung, các bộ binh mã chuyển từ thế tấn công sang phòng thủ, mới đây còn dẹp được bộ tộc Khương, Đê ở đất Vũ Đô, Hạ Biện, thu hơn chục vạn hộc lương thực và ngũ cốc. Thị trung Đỗ Tập lưu giữ Trường An làm trung gian liên lạc, thuận tiện truyền gửi quân tình. Suốt một tháng không xảy ra chuyện gì, mãi đến đầu tháng Chín, một mật tấu của Trấn Đông Tướng quân Tang Bá gửi tới mới gây nên sóng gió.
“Lang Gia Vương Lưu Hi bí mật nương theo Giang Đông?” Tào Phi không dám tin vào mắt mình - Chuyện Tào thị định cướp ngôi nhà Hán đã manh nha từ lâu, các chư hầu họ Lưu đều muốn tránh họa. Nhưng vua chư hầu nào đầu hàng quân địch cũng có thể hiểu được, chỉ riêng Lang Gia Vương Lưu Hi là không thể ngờ tới. Lang Gia Vương tiền nhiệm là Lưu Dung chết vì họa Khăn Vàng, tông quốc[1] chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa. Do đệ đệ của Lưu Dung là Thị trung Lưu Mạc từng có ơn với Tào Tháo, nên Tào Tháo mới tìm Lưu Hi là thứ tử của Lưu Dung lưu lạc trong dân gian về kế thừa phong quốc. Tào thị nhiều lần phế bỏ tông quốc của họ Lưu, chỉ ưu ái với mỗi nước Lang Gia. Song huyết thống chính là nguồn gốc hậu họa, Lưu Hi không chịu an phận, muốn qua bờ nam sông Trường Giang quy thuận Tôn Quyền, không ngờ lại để lộ tin tức, để Tang Bá biết được, giam vào trong phủ, sau đó gửi thư cho Ngụy Vương xin cách xử trí.
Lưu Hi không có binh quyền, nhưng dù sao cũng là vua chư hầu nhà Hán, việc này còn liên quan đến Tôn Quyền, Tào Phi và Chung Do không dám tự ý định đoạt, mang mật tấu khẩn cầu yết kiến Ngụy Vương. Vì là khẩn cầu, nội thị không dám cản xa giá của Tào Phi, hai người vào cung, vòng qua đường Tây Giáp đến Tây uyển - Vào thời gian này năm ngoái, tiết trời đã sang thu, bầu trời cao trong, không khí thoáng đãng, mé nam hồ sen còn có cây quế tỏa hương thơm ngát bốn phía, rất đáng thưởng lãm. Năm nay thời tiết khác thường, lúc đáng lạnh thì không lạnh, lúc đáng nóng thì không nóng, trời đất ảm đạm, không quang đãng mà cũng chẳng âm u, hoa quế chưa nở, ba tòa Đồng Tước đài nằm giữa những lùm cây không vàng úa cũng chẳng xanh tươi, làm giảm đi vẻ thanh tao.
Tào Phi và Chung Do không có tâm trạng ngắm cảnh, đi thẳng đến dưới đài. Hôm nay, người trực ban cai quản thị vệ là Hứa Chử và Điển Mãn, một già một trẻ ngồi trên ghế, tiểu hiệu đứng hầu bên cạnh, đang rôm rả chuyện trò trời nam đất bắc, trông thấy hai người tiến lại, vội đứng dậy thi lễ. Tào Phi mỉm cười:
— Hai người nói chuyện gì mà vui vậy? - Theo Tào thị vào sinh ra tử đều là những người rất thân cận, Tào Phi không giữ khoảng cách.
Điển Mãn miệng ngọt xớt:
— Hứa tướng quân kể chuyện năm xưa ngài ấy cùng phụ thân mạt tướng bảo vệ đại vương. Kẻ hậu sinh như mạt tướng nghe những chiến công của lão ngài cũng nhận được nhiều sự khích lệ, để sau này dốc sức báo đáp đại vương và tướng quân. - Hắn tuy là con của mãnh tướng Điển Vi, nhưng chỉ thừa hưởng được mỗi dáng người to lớn của phụ thân, còn tính cách thì khác hẳn.
Chung Do không muốn trêu đùa, hỏi nghiêm túc:
— Bọn ta có việc cần cầu kiến, đại vương có tiện gặp không?
Hứa Chử đáp:
— Người khác thì thôi, chứ hai ngài xin mời đi thẳng lên. Lúc này chắc đại vương đang nói chuyện với ba tên lừa đảo giang hồ… phương sĩ giang hồ. - Sau Khích Kiệm, Tào Tháo lại cho triệu hai phương sĩ Cam Thủy và Tả Từ, giảng thuật dưỡng sinh kéo dài tuổi thọ. Hứa Chử hoàn toàn không tin những lời đó, ngầm chửi sau lưng bọn chúng là kẻ lừa đảo, giờ cũng buột miệng nói ra.
Tào Phi chỉ cười xòa, cùng Chung Do lên đài, đi qua lầu gác nhưng không nghe thấy tiếng động gì, tới chỗ Tào Tháo tránh nóng, ghé vào bên trong cách một tấm rèm, Tào Phi không nhịn được cười: Lão nhân gia và ba tên phương sĩ nhắm nghiền hai mắt, ngồi xếp bằng, không biết luyện môn công phu gì.
Nghiêm Tuấn đứng gác ngoài cửa, trông thấy hai người vội vàng vén rèm lên, hô to vào bên trong:
— Thưa, Ngũ quan tướng và Tướng quốc cầu kiến. - Tào Phi càng thấy buồn cười. Tên thái giám này có đến tám phần không tin hai người họ cố tình quấy rầy Ngụy Vương trong lúc luyện công.
Tào Tháo choàng mở mắt, thở dài:
— Vừa nghỉ ngơi được ít bữa đã lại bị quấy rầy. Quả nhân bận trăm công ngàn việc, e là khó có thể tu hành như đã định.
Tào Phi thi lễ bước vào mới nhìn rõ bên cạnh phụ vương còn có hai người hầu hạ, một người là Khổng Quế, còn người kia tướng mạo anh tuấn, chưa đến hai mươi tuổi là Tần Lãng, con của phu nhân Đỗ thị với người chồng trước là Tần Nghi Lộc, nhũ danh A Tô. Thân phận tiểu tử này rất phức tạp, nhưng vì có mẫu thân xinh đẹp, lại rất biết chiều lòng kế phụ nên Tào Tháo cũng không coi là người ngoài. Trông thấy Tào Phi đi vào, Tần Lãng vội đến thỉnh an:
— Tiểu đệ xin vấn an tướng quân, hôm qua mẫu thân vừa nhắc tiểu đệ đi thăm tướng quân. Tiểu đệ nói, tướng quân hiện xử lý chính vụ bận bao nhiêu việc, đệ đi thăm há chẳng phải là quấy rầy ư? Tướng quân xưa nay luôn hiếu thuận, tiểu đệ hầu hạ phụ vương thật tốt để người được vui, đó là phúc của người trong thiên hạ, và cũng là để san sẻ một phần nỗi lo với tướng quân.
Tào Tháo bật cười:
— Dẻo miệng lắm, đến ngươi cũng mang ta ra tán tụng.
Tào Phi và Chung Do cũng bật cười. Khổng Quế muốn nói nịnh mấy câu, nhưng Tào Phi không thèm đếm xỉa đến hắn, quay sang bắt chuyện với ba tên phương sĩ - Khích Kiệm hơn bốn mươi tuổi, dáng người gầy khô, khuôn mặt võ vàng, ông ta thông hiểu dược lý lại giỏi thuật tịch cốc, nghe đồn ông ta có thể nhịn ăn một hai năm liền. Tào Tháo ban đầu không tin, sai người theo dõi, thấy đúng là một tháng ông ta chưa động đến ngũ cốc, lúc bấy giờ mới triệu vào Nghiệp Thành. Cam Thủy là tiểu lão tóc bạc đầy đầu, dân gian truyền rằng ông ta đã ngoài một trăm tuổi, không biết thật hay giả. Có điều da dẻ ông ta hồng hào như trẻ nhỏ, hai mắt sáng như bó đuốc, ông ta biết một chút thuật hít thở dẫn khí, riêng thuật trẻ lâu thì không phải giả. Tả Từ cao lớn vạm vỡ, tự xưng là đạo sĩ luyện khí, có khả năng nạp khí, giỏi thuật phòng the, biết lấy âm bổ dương.
Chung Do đại khái không tin những điều này, khẩn trương bẩm tấu:
— Thần có việc cơ yếu xin bẩm tấu. - Tất nhiên ba phương sĩ kia không thể nán lại nữa, đứng dậy cáo lui.
— Khoan dừng bước. - Tào Tháo gọi lại, - Vừa nãy các ngươi nói phải chọn thời điểm thích hợp để hít thở dưỡng khí, ý là làm sao?
Tả Từ đáp:
— Mùa xuân khí đục, mùa hè khí nóng, mùa thu khí đọng, mùa đông khí lạnh, hít thở lâu ngày đều có hại, nên phải chọn thời điểm thích hợp. Khí tối là già, khí sớm là thọ, người khéo điều khí có thể khiến cho khí tối tiêu tán trong đêm, bởi vậy thời gian tốt nhất để hít thở nạp khí là vào sáng sớm.
— Ngoài việc sáng sớm nạp khí và tĩnh tâm ngồi xếp bằng, còn có phép dưỡng sinh nào khác không?
Cam Thủy cười khà khà:
— Đạo dưỡng sinh một động một tĩnh, tĩnh tất nhiên là tốt, còn động giúp Lưu thông huyết mạch càng có lợi cho thân tâm. Nước chảy liên tục sẽ không bị thối, trục cửa quay thường xuyên sẽ không bị mọt, đó chính là động. Hình khí cũng vậy, hình thể không cử động thì tinh thần không thông suốt, mà tinh thần không thông suốt thì khí tụ lại. Đại vương chớ nóng vội, để hôm khác lão hủ biểu diễn thuật dẫn khí cho người xem.
— Ờ, sớm mai các ngươi nhớ đến. - Lúc này Tào Tháo mới thả bọn họ đi, quay sang nói với Khổng Quế và Tần Lãng, - Ta có việc cơ yếu, các ngươi cũng lui xuống đi.
— Dạ. - Hai người vâng lệnh, thi lễ lần nữa với Tào Phi. Khổng Quế muốn nhân lúc này nịnh Tào Phi đôi câu, nhưng y nghiêng mặt nhìn ra ngoài cửa sổ, không để cho hắn có cơ hội mở miệng, Khổng Quế đành tiu nghỉu đi ra.
Chung Do trình mật tấu của Tang Bá, nhân tiện nói:
— Lời của mấy tên tả đạo đó nói có đáng tin chăng? Đại vương chớ luyện theo kẻo hại đến thân thể.
— Quả nhân vốn không tin, nhưng ngẫm kỹ thấy cũng có chỗ đúng. Nói ngay như thuật nạp khí, năm xưa Trương Trọng Cảnh cũng từng có lý lẽ tương tự, còn thuật dẫn khí lại có vẻ giống với bài tập Ngũ cầm hí[2] của Hoa Đà. - Nói đến đây, Tào Tháo lại thở dài, - Năm đó hai danh y đều ở bên quả nhân, vậy mà ta lại vứt bỏ họ, giờ mới thấy thật hối hận!
Chung Do thấy Tào Tháo tin tưởng sâu sắc, lập luận cũng có lý, không cố khuyên giải nữa.
Tào Tháo xem lướt qua bản mật tấu, rồi ném sang một bên:
— Con người là loài vô tình vô nghĩa nhất thế gian, tội chứng rõ rành ra đó còn nói được gì nữa? Soạn tấu chương bẩm báo lên triều đình, xử Lưu Hi cùng toàn bộ tử tôn của hắn tội chết, phế nước Lang Gia làm quận! - Chuyện phế bỏ nước Lang Gia hiện nay không giống với chuyện phế bỏ tám nước chư hầu trước kia, theo Tào Tháo thì càng làm to chuyện càng tốt, vừa hay có thể giết gà dọa khỉ, trấn áp được các phong quốc khác.
Thời cuộc đổi thay, Chung Do cũng không giống với Tuân Úc, không bất đồng với Tào Tháo trong cách xử lý những việc kiểu này, chỉ nói:
— Tội của Lưu Hi không thể tha, nhưng chưa biết chắc hắn có thông mưu với Tôn Quyền không, nên đợi điều tra rõ âm mưu trong đó…
— Hừ! - Tào Tháo xua tay gạt phắt, - Còn điều tra gì nữa, chắc chắn là Lưu Hi tự nguyện sang sông. Tôn thị từ lâu đã muốn chiếm riêng vùng Giang Đông, còn cần đến một tôn thất nhà Hán làm gì? Vả lại, Tôn Trọng Mưu cũng được coi là một trang tuấn kiệt, có mắt nhìn người, có thuật dùng người, tuyệt nhiên sẽ không để mắt đến thứ rác rưởi như Lưu Hi. - Nói xong, ông liếc mắt nhìn Tào Phi, trong lòng thầm nghĩ: So với Tôn Quyền, nhi tử của ta thua kém bao nhiêu? Ta tất nhiên hận Phi nhi có tư chất không cao, nhưng cũng hận bản thân mình hơn vì chưa cho nó cơ hội thể hiện. Nếu ta sớm xác định người kế vị, buông tay để cho nó trui rèn thì đâu phải hao tâm thế này. Nghĩ đến đây, Tào Tháo cười nhạt, - Tuy chuyện này không phải chủ mưu của Tôn Quyền nhưng quả nhân muốn đổ vấy cho hắn. Hãy công bố chuyện của Lưu Hi với trăm quan và tướng tá các bộ, nói rằng Tôn Quyền chiêu hàng phản tặc, lại muốn sinh sự, quả nhân mượn cớ đó điều động binh mã thảo phạt Giang Đông!
— Dạ? - Chuyện xảy ra quá đột ngột, cả Tào Phi và Chung Do cùng không ngờ tới.
Tào Tháo mở lòng bàn tay trái rồi lại nắm vào, động tác khoan thai:
— Các ngươi nghĩ rằng hằng ngày quả nhân ở trong cung chỉ biết giao du với bọn phương sĩ ư? Kẻ thù lớn của chúng ta hiện nay là Lưu Bị, việc củng cố Hán Trung là quan trọng nhất, nhưng nếu ta tiến đánh mặt tây, Tôn Quyền tất làm loạn phía sau. Trận Hợp Phì lần trước đã làm giảm uy thế của quân Giang Đông, phải nhân cơ hội này tiến đánh lần nữa khiến chúng không dám dòm ngó phương bắc, rồi sau mới không còn lo lắng gì mà dẹp đất Thục. Vả lại, nước Ngụy ta mới dựng nghiệp vương, phô trương binh lực cũng giúp nâng cao thanh thế, một mũi tên trúng hai đích, cớ sao không làm?
Chung Do lo lắng:
— Đại vương nói rất đúng, nhưng thời tiết năm nay nóng lạnh thất thường, e là sẽ dễ dẫn đến dịch bệnh.
— Chuẩn bị nhiều dược liệu, không còn gì đáng lo. - Tào Tháo há lại không nghĩ đến việc có thể xảy ra bệnh dịch? Nhưng tình hình hiện nay không cho phép ông tính toán quá nhiều. Ông nghĩ ra chiến lược, trước tiên phải uy hiếp được Tôn Quyền, tiếp đến mới tiến vào đất Thục tiêu diệt Lưu Bị, đến lúc đó có thể mượn thế sông Trường Giang dẫn thủy quân và bộ quân cùng bình định Giang Đông. Với thực lực hiện giờ của Tào Ngụy thì không khó đạt được mục tiêu này, nhưng ai biết được biến số thế nào? Huống chi con đường này phải đi từng bước, mà cái thân già đã ngoài sáu mươi, lại mang đầy bệnh tật như ông, liệu có thể chờ đến ngày ấy không? Thêm nữa, Tào Tháo còn muốn kéo dài sinh lực nhằm cướp ngôi cửu ngũ, làm sao không vội cho được? Chưa nói đến ôn dịch, chẳng phải bản thân ông cũng đang bị bệnh tật giày vò đó ư, nhưng vì xã tắc, đành phải cắn răng kiên trì.
Tào Phi tất nhiên cũng bày tỏ thái độ:
— Nếu phụ vương vẫn quyết ý nam chinh, nhi thần và Tướng quốc không dám can ngăn, nhưng phụ vương nhất định phải giữ gìn quý thể. Tào Tháo nhếch miệng cười:
— Con đi theo ta, lúc nào cũng có thể chăm sóc cho ta, không được sao?
— Nhi thần đi theo ạ? - Tào Phi không ngờ phụ thân lại sắp đặt như vậy.
— Không chỉ có con, lần này cả mẫu thân con cũng đi cùng, bọn Tử Kiến và Tử Văn không cần đi theo. Con không cần lo cho tôn nam, tôn nữ của ta, mang cả chúng theo nữa. Cả nhà ba đời chúng ta cùng ra trận, tiện đường về quê bái tổ, con thấy sao?
Mắt Tào Phi sáng lên: Con cháu ba đời cùng về bái tế tổ tiên, không phải thể hiện vị trí của ta trước mặt chúng tướng và phụ lão ở cố hương hay sao? Chuyện tốt thế này đương nhiên phải đi rồi.
Tào Tháo suy nghĩ chu toàn hơn:
— Nếu con chịu đi, có thể dẫn bộ hạ trong phủ theo nữa, để bọn chúng tiếp xúc nhiều với các tướng tá, sau này tham mưu việc quân cũng dễ hơn. - Thực ra, Tào Tháo không quá tin tưởng vào tài năng của Tào Phi, nhưng đã quyết định lập y làm người kế vị, nên phải củng cố địa vị cho y và quét mọi trở ngại để Tào Phi thuận lợi tiếp nhận ngôi vị này.
Tào Phi càng vui mừng, có điều ngoài sự phấn khởi ra, y cũng có nỗi lo - Y và bộ hạ tâm phúc đều ra trận, vậy còn Nghiệp Thành thì làm thế nào? Dĩ nhiên Tào Thực bị thất sủng, không thể đảm nhiệm trọng trách lưu giữ kinh sư, nhưng con rết trăm chân, chết rồi còn động, những đại thần thuộc phe Tào Thực có nhiều uy thế, nói ngay như Đinh Nghi vẫn ngồi ở tây tào duyện, nếu hắn nhân lúc y vắng mặt mà tuyển chọn những kẻ thân cận, ai trông chừng được? Tuy có Chung Do, nhưng Tướng quốc bận xử lý chính vụ, khó có thể chu toàn mọi việc, tất sẽ tạo kẽ hở cho Đinh Nghi.
Tào Tháo như thể nhìn thấu tâm tư của nhi tử, ông nói với Chung Do bằng một giọng đều đều:
— Trách nhiệm lưu thủ nặng nề, e sẽ khiến Tướng quốc vất vả. Khanh hãy thay quả nhân truyền chỉ, điều đông tào duyện thuộc Từ Tuyên nhận chức Thái thú Ngụy Quận, nguyên Thái thú Từ Dịch đổi làm Thượng thư lệnh, giúp việc lưu thủ kiêm tuyển chọn quan lại. - Nói xong ông quay đầu liếc nhìn Tào Phi, - Viên định tâm hoàn này thế nào?
— Phụ vương anh minh. - Tào Phi bối rối đỏ mặt, nhưng quả thực rất vững tâm.
Chúng thần thuần phục
Từ Dịch bị Đinh Nghi dìm xuống, nay được chuyển nhậm làm Thượng thư lệnh, kiêm việc tuyển chọn quan lại, hơn nữa lần nam chinh này chỉ có Tào Phi cùng với gia quyến, thuộc quan đi theo. Vì vậy, người tinh tường nhìn vào là biết ý nghĩa đằng sau những việc làm này, địa vị của Tào Phi đã ngày một chắc chắn.
Giữa lúc điều binh khiển tướng lại có tin vui, thị thiếp của Tào Phi là Lý thị sinh hạ con trai, Tào Tháo có thêm một đứa cháu trai tất nhiên hoan hỷ, đặt tên cho cậu bé là Tào Hiệp, trùng tên với đương kim hoàng thượng. Ông hiếm có dịp vui thế này, bèn lệnh cho Tào Phi đứng ra tổ chức gia yến, nhận sự chúc mừng của trăm quan, địa điểm tổ chức bữa tiệc là Kiến Chương đài trong Ngụy cung.
Kiến Chương đài nằm ở giữa điện Văn Xương và Tây uyển, cũng là nơi tổ chức yến tiệc, nhưng từ khi có ba tòa Đồng Tước đài, Kiến Chương đài ít khi được dùng tới, lầu gác hai bên đài đều đổi làm nơi chứa sách, khá giống với Đông Quán ở Lạc Dương, chỉ có điều quy mô nhỏ hơn. Ngụy Vương mở tiệc ở Đồng Tước đài, Tào Phi mở tiệc dùng Kiến Chương đài, nghiễm nhiên thể hiện họ là hai chủ tử một lớn một nhỏ.
Bữa tiệc này được tổ chức để “mừng sinh con trai”, nhưng rất nhiều quan viên đến dự, ngoài thuộc quan và gia quyến trong phủ Ngũ quan tướng, còn không ít quan lại triều đình và mạc phủ. Trước đây, khi vẫn còn chuyện tranh giành ngôi vị, không ít người từng kết oán với phe Tào Phi, còn không nhân cơ hội này mà đổi cửa ư? Có lẽ đây chính là chủ ý của Tào Tháo, muốn mở cho mọi người một lối thoát, để từ nay bọn họ cùng gác lại những chuyện trong quá khứ, chung sống hòa hợp với nhau, đúng là biết nhìn xa trông rộng.
Vua không vào nhà bề tôi, cha không dự tiệc của con, Tào Tháo thân là quân vương một nước không thể lộ diện được, tất cả tân khách đều do một mình Tào Phi tiếp đãi, tất nhiên cũng không thể thiếu các huynh đệ của y, ngoại trừ Tào Thực đang đóng cửa suy nghĩ, thảy đều có mặt. Những thân tín như Trần Quần, Tào Chân, Tào Hưu, Hạ Hầu Thượng, Nhậm Phúc, Lã Chiêu, Chu Thước cũng tới, chỉ vắng Tư Mã Ý và Ngô Chất. Tư Mã Ý bị Tào Tháo khiển trách, nên thận trọng như đi trên băng mỏng, hằng ngày giải quyết xong công chuyện liền trở về nhà đóng cửa, không dám tham dự đám tang, đám hỷ nào. Còn Ngô Chất có quan hệ thân thiết nhất với Tào Phi, hiện đang nhận chức ở tận Triều Ca, chưa có lệnh điều động thì không được tùy tiện vào kinh, thực đáng tiếc. Những kẻ thân cận với Tào Thực như Khổng Quế, Dương Tu, Trịnh Mậu, Nhậm Hỗ bị dồn vào tình thế này cũng không thể không đến, riêng Đinh Nghi vẫn cố chấp không chịu khuất phục. Tướng tá trong quân cũng kéo tới rất đông, nhưng còn những vị quan cao thuộc hàng công khanh thì không một ai đến, bởi họ già cả, lại là người có địa vị, há lại đi chúc mừng một đứa trẻ mới lọt lòng? Tào Phi cũng không dám kinh động đến mấy vị lão thần ấy.
Bữa tiệc kém phần phong phú, các món nhắm đều do phủ Ngũ quan tướng tự chuẩn bị, do tổ chức ở Kiến Chương đài nên phải tuân thủ nghiêm ngặt lễ pháp, không được đi quá giới hạn. Chúng thần đến tham dự đều hiểu rất rõ, Tào Phi chính là chủ tử tương lai, làm sao dám suồng sã. Người nào người nấy đều kính cẩn giữ lễ, không dám có mảy may qua quýt. Tào Phi ngồi bàn chính giữa, thấy rất hãnh diện, nhưng sợ không khí không được náo nhiệt, bèn đi xuống mời rượu quan viên.
Quần thần cũng rời chỗ đáp lễ, có người thường ngày bị Tào Phi ghét ra mặt, cũng nhân cơ hội nói nịnh mấy câu. Do quá đông, Tào Phi không tiện đối ẩm với từng người, chỉ gật đầu nhận lễ rồi chuyển sang mời rượu bàn khác. Khi Tào Phi mời rượu đến Ứng Sướng, Thứ tử[3] của Lâm Tri hầu, Ứng Sướng cầm chén rượu, đứng dậy nói:
— Hiếm có dịp được tướng quân trọng đãi như hôm nay, trong lòng tại hạ vô cùng cảm kích, xin làm một bài thơ để tạ ơn tướng quân.
— Đức Liễn muốn làm thơ sao? Hay lắm, hay lắm, bọn ta rửa tai lắng nghe. - Tào Phi rất cao hứng. Trong đám văn sĩ, Lưu Trinh và Vương Xán làm rất nhiều thơ, Ứng Sướng cũng nổi danh ngang với bọn họ, nhưng lại có sở trường về trường thiên đại phú, rất ít làm thơ, ngay cả Tào Phi cũng chưa nghe được mấy bài, đây quả là cơ hội hiếm có.
Ứng Sướng bước chầm chậm ra giữa sân, vái một vòng những người ngồi xung quanh, gần đây sức khỏe của ông ta không được tốt lắm, trông người gầy xọp hẳn đi, nhưng không thể không đến tham dự bữa tiệc này.
Sau lưng còn bao nhiêu đồng liêu, ông ta phải lấy thân phận là Thứ tử của Lâm Tri hầu thay họ thể hiện lòng trung thành với Tào Phi. Con người Ứng Sướng vốn không hài hước, phóng khoáng như Lưu Trinh và Vương Xán, câu từ rất chậm nhưng vô cùng chặt chẽ, tinh tế. Ông nhấp rượu, suy nghĩ hồi lâu mới từ từ ngâm rằng:
Nhạn kêu giữa tầng không,
Hỏi sao nghe thê thiết.
Về nơi nào đâu biết?
Thu cánh liệng vòng quanh.
Ta từ nơi giá lạnh,
Tạm đậu lại Hành Dương.
Xuân qua cồn đất Bắc,
Nay Nam Hoài qua đường.
Đường xa đẫm tuyết sương,
Lông rụng theo ngày tháng.
Sợ đau vào da thịt,
Thân náu nơi đầm lầy.
Ngọc lớn vùi trong cát,
Sao an ổn được đây?
Nhân mưa gió hội hợp,
Giũ cánh vụt lên mây.
Dịp tốt đâu dễ có,
Biết chừng nào nở mày?
Công tử yêu mến khách,
Chúc rượu đến ngất ngây.
Mặt hiền ngời rạng ý,
Đoái thương kẻ hèn này.
Dâng thơ được an ủi,
Lấy làm thẹn lắm thay.
Lòng xiết bao cảm kích,
Tiệc này quyết phải say.
Nguyện tận tâm tận lực,
Đền đáp ân tình này.[4]
Giọng ông nhỏ nhẹ, mọi người phải dừng chén mà nghe, ban đầu chỉ thấy thê lương vì tả một con nhạn lẻ loi, chịu bao khổ sở, có phần không hợp với không khí tiệc mừng. Nhưng đoạn sau đổi văn phong, nói “Dịp tốt đâu dễ có, Biết chừng nào nở mày”, tiếp đến ca ngợi Tào Phi hiếu khách, đối đãi nồng hậu với người hiền, tô thêm sự vui vẻ của tân khách, đúng là muốn nâng lên thì phải hạ xuống trước. Ẩn ý của Ứng Sướng càng đáng suy ngẫm: Người như chúng tôi đi trên đường sĩ hoạn cũng giống như con nhạn lẻ loi giữa trời mưa gió, nếm đủ đắng cay, tiền đồ khó lường, chỉ có núp dưới đôi cánh của Ngũ quan tướng ngài đây mới có thể sống yên ổn, vô lo.
Tào Phi xúc động sâu sắc, cầm một chén rượu đầy đi đến trước mặt Ứng Sướng:
— Đức Liễn quá khen, tự đáy lòng ta ghi nhận hậu ý của ông. - Rồi uống một hơi cạn sạch, buộc Ứng Sướng cũng phải uống rượu đáp lễ. Nhưng do ông ta tâm tình xao động, lại thêm sức khỏe không tốt, rượu vừa vào đến miệng đã ho sặc sụa. Tào Phi vuốt lưng cho ông ta, còn đích thân dìu về chỗ.
Bọn Trịnh Mậu, Nhậm Hỗ thấy vậy trong lòng thầm vui, thái độ của Tào Phi đối với Ứng Sướng đã nói lên tất cả, xem ra những thuộc quan của Tào Thực như bọn họ không cần quá lo lắng về tiền đồ sau này.
Nhưng Dương Tu và Khổng Quế thì khác, hai người đã lún quá sâu vào chuyện tranh giành ngôi vị so với bọn Trịnh Mậu, dẫu Tào Phi khai ân cũng sẽ không bao gồm họ. Vừa khéo hôm nay hai người ngồi cùng bàn, đang mải nghĩ xem nên ứng phó thế nào, Tào Phi đã cầm chén rượu đến sát chỗ họ. Dương Tu thầm giữ chủ ý, định đứng dậy mở miệng, nhưng bị Khổng Quế tranh trước:
— Ngũ quan tướng, tiểu nhân xin chúc mừng ngài! Người thô lậu, vô tài vô đức như bọn tiểu nhân chỉ biết trông cậy hết vào sự vun vén của đại vương và tướng quan. Mong ngài rộng lượng hải hà, bỏ qua cho những chỗ không phải trước đây!
Tào Phi mỉm cười:
— Khổng đại nhân không cần đa lễ, ta với ngài là đồng liêu đâu cần phải nói cái gì mà rộng lượng hải hà hay không. Mấy năm nay đã phiền ngài vất vả hầu hạ phụ vương, ta còn phải cảm ơn ngài mới đúng. - Lời này rất khách khí, lại có vẻ trịch thượng.
Khổng Quế lén chép miệng: Không ổn, không ổn rồi, Tào Phi vẫn ghi hận, càng trịch thượng càng không ổn!
Dương Tu cũng đứng dậy theo, chưa kịp mở lời, chợt nghe mấy bàn mé tây rộ lên một tràng cười. Thì ra không ít tướng tá các bộ cũng tới đây, trong đám võ biền ấy có người tới vì muốn tạo quan hệ với Tào Phi, có người tới vì giao tình với Tào Chân và Tào Hưu, cũng có người tới chỉ giản đơn vì thèm rượu, muốn góp vui. Bọn họ không giữ hình tượng trước mặt Tào Tháo, làm sao biết để ý đến Tào Phi? Mải chơi trò đố nhau phạt lệnh, có vẻ rất sảng khoái.
Tào Phi nhìn bọn họ chơi đùa vui vẻ, cũng thấy thích thú, chưa nghe Dương Tu nói gì đã xoay người chạy sang mé tây, gặp đúng lúc Đặng Triển cười nghiêng ngả, liền hỏi:
— Tướng quân làm gì mà vui vậy?
Đặng Triển chỉ vào mũi tướng quân Đoàn Chiêu:
— Tiểu tử này vật tay với mạt tướng, thua bét!
Đoàn Chiêu uống liền ba chén, quệt miệng nói:
— Bái phục, Đặng huynh không chỉ có kiếm pháp cao minh mà sức lực cũng khó ai bì!
Đặng Triển hiện giờ không còn là thị vệ, từ lâu đã được phong là Phần Uy Tướng quân, thống lĩnh ngàn quân, được biết gần đây vì muốn tăng thêm kiến văn, ông ta còn bắt đầu đọc Hán thư. Kiếm thuật cao siêu của Đặng Triển lừng lẫy Ngụy cung, công phu tay không đoạt đao sắc càng hiếm gặp trên đời. Tào Phi xưa nay luôn có ý ngưỡng mộ, nhưng hôm nay lại tỏ thái độ khác thường, cười nói:
— Sức lực của tướng quân không tồi, chỉ e lâu ngày không ra trận đánh địch, kiếm thuật có phần suy giảm.
— Hả? - Nụ cười của Đặng Triển vụt tắt, - Tướng quân coi thường Đặng mỗ quá! Tuy mạt tướng đã ngoài bốn mươi, nhưng công phu vẫn như ngày trước. Nếu tướng quân không tin, có thể cho chúng tướng tỉ thí với mạt tướng, xem có ai thắng được mạt tướng!
Tào Phi đáp:
— Không cần phiền đến chúng tướng, ta có thể thắng được ngài.
Tào Phi nhận chức Ngũ quan trung lang tướng cũng có chút bản lĩnh bày binh bố trận, nhưng đọ đao thương thì còn kém. Vì vậy, y đã bỏ nhiều năm chăm chỉ khổ luyện để thành thạo món nghề chém giết này, nếu không làm sao xứng với thân phận vương tử? Đặng Triển nghĩ Tào Phi chỉ nói đùa, không ngờ y nói xong liền cởi áo ngoài, vén vạt áo nhét vào bên hông, thít chặt đai ngọc.
— Tỉ thí thật? Mạt tướng sao có thể… - Đặng Triển giật mình kinh ngạc.
Chúng tướng không ngại lớn chuyện, còn hùa vào cổ vũ:
— Lên đi! Thử đấu với Ngũ quan tướng!
Tào Phi nhìn xung quanh, thấy trên bàn ăn có mấy thanh mía, chỉ vào nói:
— Chúng ta thử kiếm pháp, chạm vào người là dừng, lấy mía thay kiếm được chứ?
Đặng Triển sợ đả thương vương tử, không động đến binh đao thật khiến ông ta an tâm hơn nhiều, đứng dậy nói:
— Tỉ thí cũng được, nhưng nếu mạt tướng thắng, e là…
— Tỉ thí một chút có gì mà phải so đo? Tướng quân từng đấu với cường địch, có thắng ta cũng không trách, huống chi chưa chắc ngài đã thắng được.
— Sao? - Đặng Triển là một võ nhân, lại giỏi kiếm pháp, thấy Tào Phi năm lần bảy lượt coi thường mình, cũng tức khí nói, - Nếu vậy, mạt tướng không khách khí nữa!
Để màn tỉ thí thêm công bằng, Đoàn Chiêu chọn ra hai thanh mía bằng nhau, mỗi thanh dài khoảng ba thước, đặt vào tay hai người. Tào Phi xưa nay hành sự thận trọng, y dám thách đấu với Đặng Triển thực ra là đã có sự chuẩn bị.
Dạo gần đây, y chiêu mộ một kiếm khách trong dân gian tên là Sử A, không chỉ để bảo vệ phủ đệ mà còn học hỏi được không ít kiếm thuật từ hắn, cho nên trong lòng có chút tự tin. Tuy nhiên, Đặng Triển là tuyệt đỉnh cao thủ, chỉ dựa vào vài chiêu thức mới học được, Tào Phi tuyệt nhiên không thể chiếm thế thượng phong, không xuất chiêu đặc biệt không thể thủ thắng.
Chúng thần nín thở ngồi xem màn tỉ thí, tất cả buông chén đặt đũa, chăm chú theo dõi. Đặng Triển đấu kiếm với vương tử, sao dám ra tay trước? Ông ta giữ chặt thanh mía trong tay, đợi Tào Phi xuất chiêu. Nào ngờ Tào Phi không vội ra tay, thong thả bước sang phía đối diện, dựng thẳng thanh mía, vừa vuốt ve vừa ngắm nghía như thể cầm một thanh kiếm thật, mãi lâu sau vẫn chưa động thủ. Đặng Triển đợi một lúc, sốt ruột nói:
— Tướng… - Vừa thốt ra một từ, Tào Phi đột nhiên tiến lên, chĩa thanh mía vào bụng ông ta.
Đặng Triển nhìn đòn tấn công lanh lẹ, chiêu thức hiểm độc, trong lòng thầm nghĩ: Cũng không tệ. Người đánh không đoán được kẻ địch sẽ ra tay, nếu là hạng tầm thường thì khó mà đỡ được. Vị trí tấn công của chiêu này khá tinh vi, đâm phía trên thì ngửa người ra sau để tránh, còn đâm phía dưới thì lùi lại để tránh, đâm hai bên thì nghiêng người cũng có thể tránh được, chỉ có phần bụng dưới là khó phòng ngự. Đỡ được nửa trên, đường kiếm đi xuống bộ hạ có thể đâm trúng hai chân, còn nếu thụt lại đằng sau, phần thân trên không kịp tránh, đường kiếm chuyển lên trên có thể đâm trúng đầu. Ngũ quan tướng chưa có kinh nghiệm thực chiến, cớ sao hiểu được đạo lý này? Chắc chắn là có cao nhân chỉ dạy!
Chiêu này không tồi, nhưng Đặng Triển đâu phải một kẻ tầm thường, ông ta lập tức dựng thẳng thanh mía, định đỡ kiếm hất ra ngoài, tiện đà hóa giải chiêu thức của Tào Phi, tiến đánh bụng trước của y. Nhưng Tào Phi biết lượng sức mình, với sức lực của y, nếu Đặng Triển thực sự hăng máu lên, chỉ cần đụng “kiếm” là kiếm của y tuột khỏi tay ngay, nên không dám tiếp chiêu, vội thu kiếm lại, rồi nhanh chóng nhảy sang bên trái một bước, chuyển hướng đâm vào cạnh sườn Đặng Triển.
Đặng Triển thầm khen: Cao minh! Thế đỡ của ta lỗi thời rồi, hai lần công tử xuất kiếm, nếu đâm vào thân trên, kiếm của ta hướng lên trên, đi sau mà đến trước sẽ đâm trúng bụng, còn nếu đâm thân dưới, ta cũng có thể biến chiêu chống lại. Nhưng công tử lại đổi góc tấn công ở cạnh sườn, ta không kịp quay người, không phá được chiêu này. Xem ra, người dạy công tử thực sự là cao thủ!
Bất đắc dĩ, Đặng Triển đành phải lùi lại một bước, tránh đường đi của thanh mía. Ông ta đường đường là một kiếm khách tiếng tăm lừng lẫy, thế mà lại bị Tào Phi dồn vào đường cùng. Chúng tướng ban nãy còn nghĩ đây chỉ là một cuộc đấu vui, lúc này mới biết Tào Phi thực sự có bản lĩnh, không reo hò ầm ĩ nữa. Tào Phi thấy Đặng Triển tránh được đường kiếm, không rút tay lại, mà tiến thêm một bước, kiếm đi xiên lên trên, nhằm vào bụng đối phương - Đường kiếm này cũng có lý, dựa vào bản lĩnh của Tào Phi, muốn đấu với cao thủ, tất phải ra đòn trước, giờ đối thủ đã lùi lại phía sau, nếu muốn tiến chiêu phải bước lên phía trước, đâm một đường kiếm vào đúng bụng, khiến Đặng Triển không thể quay lên.
Ngồi mé tây đều là đám võ biền, thấy Tào Phi tung ra chiêu này, chúng tướng đồng thanh khen hay. Đặng Triển suýt nữa trúng chiêu, đành phải dừng bước, vung thanh mía lên trên, không ngờ Tào Phi chỉ vờ múa kiếm, rồi lại thu “kiếm” về. Đặng Triển thở một hơi dài, nhận ra chiêu thức của Tào Phi: Xấu hổ, thật xấu hổ, để công tử dạy cho một bài học rồi! Đánh mà không động, thì ra chính là bản lĩnh này đây!
Tào Phi thực tế chỉ biết ba chiêu trên, đem ra dùng hết rồi thì chỉ còn nước đánh bừa, nếu đọ sức, đấu võ thực sự, chớ nói là y, cho dù Sử A đích thân ra tay, có thể hòa với Đặng Triển cũng tốt lắm rồi. May là Đặng Triển hiểu rõ chân tướng, không so đo với y, chỉ phòng thủ chứ không tấn công, đỡ qua loa cho xong. Tào Phi quanh đi quẩn lại vẫn chỉ có ba chiêu đó, nháy mắt đã đánh được hơn chục lượt, Đặng Triển chống đỡ tự nhiên, hai người quen tay đánh nhanh, sắp ra được cả một bộ kiếm thuật. Đặng Triển thấy nhàm chán, đang định dừng trận tỉ thí, bỗng Tào Phi nhảy lên, bổ ập thanh mía xuống - Đây rõ là chơi xấu. Kiếm là phải đâm, bổ như thế chẳng hóa là đao ư? Kiếm đi xiên, xuất quỷ nhập thần, còn đao luôn chiếm vị trí bá đạo ở trung tâm, dù là con dao bình thường thái rau cũng phải đặt ở chính giữa khi sử dụng. Đường kiếm này căn bản là sai, chẳng qua nó là thanh mía nên không nhìn rõ lắm.
Đặng Triển mải cười trộm, quên mất Tào Phi không ra chiêu thực, vì lòng tự trọng và cũng vì không muốn tránh, ông đỡ ngang “kiếm” theo bản năng. Tào Phi nhớ những thủ đoạn mà Sử A đã nói với mình, âm thầm luyện tập nhiều lần, trông thấy thanh mía của Đặng Triển nằm ngang, trong lòng y sung sướng: Thành công rồi! Trong chớp mắt, y thu thanh mía lại, quét ngang một chiêu, lại biến thành cây côn. Đặng Triển càng thấy buồn cười, chiêu thức không thay đổi, vừa xoay người đã muốn phủ “côn”. Nào ngờ Tào Phi căn bản không quật cây côn này xuống, mà nhanh chóng lùi lại phía sau nửa bước, thanh mía đâm ra lại biến thành kiếm chiêu. Màn biến hóa bất ngờ không kịp đề phòng, Đặng Triển không kịp quay người, thanh mía chạm đúng vào khuỷu tay.
— Hay! Ngũ quan tướng lợi hại! - Tào Chấn, Tào Hưu hô lên trước nhất.
Đặng Triển vô cùng tức giận: Đáng ghét! Đây mà gọi là đấu kiếm sao? Thiên hạ đều biết ta là cao thủ về kiếm, hôm nay hồ đồ thua dưới tay Tào Phi, còn biết giấu mặt vào đâu? Ông ta kêu tướng lên:
— Mạt tướng không phục, đấu lại!
Vẫn là Tào Phi xuất chiêu trước, và vẫn dùng ba chiêu cũ, nhưng đợi y dùng hết ba chiêu, lần này Đặng Triển bắt đầu đánh lại. Tào Phi tránh bên trái, né bên phải, không đỡ được chiêu, Đặng Triển đâm liền hai đường kiếm, nhìn Tào Phi luống cuống, loạn hết cả chiêu thức, từ trên xuống dưới đều để lộ sơ hở, định đưa một đường kiếm quyết định phần thắng, nhưng trong đầu ông ta chợt xuất hiện ý nghĩ: Ây dà, không được! Tào Phi là vương tử, gần như chắc chắn sẽ trở thành chủ tử sau này, há ta có thể thắng thật? Uổng công đọc Hán thư, không thấy chuyện Lôi Bị[5] đấu kiếm với Lưu Thiên sao? Không thể vì chuyện này mà phá hỏng tiền đồ được… Nghĩ đến đây, ông lập tức chuyển sang thế đánh cầm chừng, xuất chiêu chậm.
Màn tỉ thí trở lại tình thế giống lần trước, Tào Phi nhảy lên, hóa kiếm thành đao, hóa đao thành côn, sau cùng đâm một nhát kiếm. Đặng Triển thua, nhưng là cố tình thua, chỉ khác ở chỗ lần trước Tào Phi đâm trúng cánh tay trái, còn lần này đâm trúng cánh tay phải. Người ngoại đạo không nhận ra sự tình, các quan văn thực sự nghĩ rằng kiếm thuật của Tào Phi bất phàm, nhìn đến ngây người ra.
Còn Tào Chân và Tào Hưu muốn Tào Phi nở mặt, cũng luôn miệng khen hay. Trước tấm thịnh tình này, hai người khó có thể từ chối đấu hiệp ba. Lần này cũng không vượt quá ba chiêu trên, Đặng Triển giữ chặt thanh “kiếm”, hai thanh mía giao nhau một hồi. Tào Phi thấy mình sắp không chống đỡ được nữa, chợt nghe Đặng Triển nói lớn:
— Không ổn! - Nói xong liền buông tay, y nhân cơ hội hất thanh mía của Đặng Triển bay xa hơn hai trượng. Sau đó, Tào Phi thừa thắng cướp bước, đâm thẳng một chiêu, nằm ngay giữa trán Đặng Triển.
— Ồ! - Các quan văn thốt lên một tiếng kinh ngạc, nhưng trong lòng tướng tá đều hiểu rõ: Đặng Triển có sức khỏe hơn người, há có thể bị kẻ khác dễ dàng đánh bay binh khí? Thanh mía bật ra theo phương thẳng đứng, không bị đánh cong, rõ ràng là ông ta tự ném đi, thật biết diễn trò! Tuy nhìn ra chân tướng, song bọn họ vẫn hô hay, bởi đã có người nguyện đánh, có người nguyện chịu đòn, họ cứ vui vẻ hùa theo thôi!
Đặng Triển chắp tay thi lễ:
— Kiếm pháp của tướng quân cao siêu tuyệt diệu, mạt tướng tâm phục khẩu phục!
Tào Phi bỏ thanh mía xuống, mỉm cười:
— Kiếm thuật thâm thúy huyền diệu, nếu như tướng quân chịu bỏ chiêu thức cũ, ắt sẽ lĩnh hội được những đạo lý hay hơn. - Ngoài miệng nói vậy, chứ trong lòng y nghĩ: Đa tạ, đa tạ tướng quân đã giữ thể diện cho ta!
— Được tướng quân chỉ giáo, mạt tướng lĩnh hội được nhiều điều sâu sắc. - Lúc này Đặng Triển mới kính cẩn trở về chỗ. Thế sự bây giờ là vậy, kẻ không có năng lực giáo huấn người có tài, kẻ ngoại đạo ngông nghênh chỉ dạy một đám người trong nghề.
Người khác cũng không ngớt lời ca ngợi, nào là “tư chất anh tuấn”, “thông minh dũng cảm”, “phụ tử kiệt xuất”. Tào Phi liên tục từ chối:
— Không dám, không dám nhận. - Trông thấy Trưởng sử Bính Nguyên ngồi thẫn thờ bên bàn mé đông, mặt mày ủ rũ, y vội hỏi thăm:
— Bính công, ngài làm sao vậy? Thức nhắm có hợp khẩu vị không?
— Ồ. - Bính Nguyên lấy lại tinh thần, mỉm cười đáp, - Không sao đâu, lão hủ già rồi, nhìn bóng chiều đổ dần xuống nên có chút cảm khái.
Tào Phi vừa tỉ thí xong, đầu tóc nhễ nhại mồ hôi, lúc này ngồi xuống cũng từ từ cảm nhận được từng làn gió thu thổi tới, vội lấy áo choàng khoác lên người, không quên sai người hầu lấy thêm một chiếc khác cho Bính Nguyên mặc chống lạnh. Tân khách dồn mắt nhìn vào Tào Phi, thấy y tôn kính Bính Nguyên cũng ca ngợi:
— Ngũ quan tướng văn võ song toàn là nhờ Bính công chỉ giáo, phò tá, chúng tại hạ xin kính ngài một chén.
Thực ra, những câu xu nịnh kiểu này chẳng khác nào giễu cợt. Bính Nguyên thân là Trưởng sử trong phủ Ngũ quan tướng nhưng chỉ làm tấm gương đạo đức, chưa từng chỉ giáo hay phò tá Tào Phi điều gì theo đúng nghĩa. Từ khi nhận chức đến nay, ông ta luôn đóng cửa giữ mình, đối với chuyện tranh giành ngôi vị có thể tránh được bao xa thì tránh, mọi việc Tào Phi làm đều không hề liên quan đến ông ta. Bính Nguyên hiểu rõ, ngựa nghi trượng chỉ làm đẹp mắt, tử tôn Tào thị há lại đến lượt ông ta dạy dỗ? Muốn cho êm đẹp, ông ta có thể giảng đạo lý lớn, chứ nếu thực sự quản giáo, e là lão Tào không vui. Quần liêu tán thưởng như vậy, ông ta cũng chỉ biết cười trừ, tuổi cao không uống được nhiều rượu, chỉ khẽ nhấp một ngụm.
Tào Phi nói chen vào:
— Những năm qua, ta nhận được không ít sự chỉ dạy của Bính công, lão ngài vất vả công cao khiến người ta phải kính nể… Phải rồi, mấy hôm trước có người hỏi một câu khó, ta không biết trả lời ra sao, mong Bính công và các vị ngồi đây nghĩ giúp.
Ai nấy đưa mắt nhìn nhau, không biết y có dụng ý gì.
Tào Phi thờ ơ gắp một đũa thức nhắm, bỏ vào miệng nhai từ tốn, rồi nói:
— Câu hỏi thực làm khó người ta. Giả sử thiên tử và phụ vương cùng mắc bệnh, vừa hay có một viên thuốc tốt, nhưng chỉ cứu được một người. Theo các vị ta nên cứu thiên tử hay phụ vương?
Phút chốc, Kiến Chương đài im bặt: Ở đâu ra một viên thuốc, rõ ràng có ý chỉ giang sơn nhà Hán! Nếu đại nghiệp của Tào Tháo chưa hoàn thành mà ông ta đã chầu trời, Tào Phi là người kế vị, nên trao lại quyền lực cho thiên tử hay tiếp nối chí hướng của phụ thân đoạt lấy giang sơn?
Bữa tiệc vừa nãy còn ồn ào, huyên náo, lúc này lại im ắng đến mức nghe được cả tiếng lá rơi, quần thần cúi đầu, siết chặt chén rượu trong tay, chỉ mong y sẽ thu lại câu hỏi tế nhị. Nhưng đó là điều không thể, chưa có sự ngầm cho phép của Tào Tháo, y dám mở tiệc trong cung sao? Không có sự ngầm cho phép của Tào Tháo, y dám mời hết lượt quần thần sao? Vả chăng, không có sự ngầm cho phép của Tào Tháo, y dám đưa ra câu hỏi sắc sảo này ư?
Lúc sau, Tào Chân cười ha hả, phá tan sự im lặng:
— Có gì khó đâu? thiên tử là trời, cũng là chủ tể của con người, đương nhiên phải dâng thuốc cho thiên tử. - Không ai hùa theo, Tào Chân là nghĩa tử của Tào Tháo, lại có quan hệ thân thiết với Tào Phi, nói thế nào cũng không sao, người khác chưa chắc được vậy.
Chu Thước lớn tiếng bác bỏ:
— Không được! Có thuốc cứu mạng đương nhiên phải đưa cho phụ thân, phụ tử thân nhất! - Cũng không ai dám phụ họa.
— Cũng đúng. - Tào Chân gật gật đầu, - Trung hiếu không thể vẹn toàn, thực làm khó người ta.
Tào Phi thấy ngoài hai người họ ra không ai trả lời nữa, bèn quét ánh mắt về phía Trần Quần. Trần Quần biết ý, lập tức mở miệng:
— Nhà Hán lấy chữ hiếu trị thiên hạ, tới trẻ con còn đọc Hiếu kinh, trong đó có đoạn: “Phu hiếu, thuy vu sự thân, trung vu sự quân, dữ dĩ biên tích tác đáp, danh chính ngôn thuận vô giải khả kích đạt.”[6] Không thể thờ phụ thân, sao biết trung với vua? Thuốc này đương nhiên phải dâng lên phụ thân. - Ông ta nâng vấn đề lên tầm kinh nghĩa để biện luận về câu trả lời, danh chính ngôn thuận, không thể chê vào đâu được. Thân phận và học thức của Trần Quần đều không thấp, nên khi lời này được nói ra, những người vẫn giữ im lặng dần dần biểu lộ thái độ. Có người tỏ ý tán đồng, nhất là Khổng Quế, vừa gật đầu vừa phụ họa, rướn cổ cố nói cho Tào Phi nghe rõ.
Nhưng Tào Phi không thèm để ý đến hắn, quay sang hỏi Bính Nguyên:
— Bính công, lão ngài là thầy của ta, ngài nói xem Trường Văn nói vậy có đúng không? Rốt cuộc nên dâng viên thuốc cho thiên tử hay dâng lên phụ vương?
Bính Nguyên chống tay vào mép bàn, những sợi râu trắng như tuyết không ngừng run rẩy: Muốn trốn cũng không được, đã vào triều đình nước Ngụy thì không thể trốn tránh, sớm muộn gì ngày này cũng tới! Dương Bưu có nỗi nhục vào tù, Triệu Ôn xấu hổ vì bị bãi miễn, Hy Lự hổ thẹn vì bôi nhọ Khổng Dung, Hoa Hâm có vết nhơ giết hại hoàng hậu, nay lại đến lượt ta! Lão Tào không ép ta, tiểu Tào cũng chẳng buông tha, phụ tử họ đều là những kẻ tham quyền mà không từ thủ đoạn nào…
Một danh sĩ cả đời thanh bạch bị đệ tử của mình hỏi câu này, biết phải trả lời thế nào? Kỳ thực, câu trả lời ngắn gọn của Trần Quần đã nói lên tất cả, chuyện Tào thị cướp ngôi nhà Hán là sự thật, một câu nói có thể thay đổi được gì? Họ Tào không nói toạc chuyện mờ ám trong lòng ra, mà cứ muốn vòng vo nói gần nói xa, để người đức cao vọng trọng phải xiển phát tính hợp lý của chuyện nhà Ngụy lên thay nhà Hán.
Ánh mắt của mọi người đổ dồn vào Bính Nguyên, trông thấy gò má gầy hõm của ông giật giật vài cái, lông mày nhíu lại, như thể trong lòng đau đớn vô cùng, giọng thều thào, nghe không rõ:
— Vẫn phải dâng cho phụ thân chứ…
— Dạ. - Tào Phi miệng nở nụ cười, dường như tán đồng, lại dường như thỏa mãn, - Bính công là người đức cao vọng trọng, lời ngài ấy nói tuyệt không thể sai được. Các vị nghĩ thế nào?
Tiếng phụ họa của quần thần vang lên, truyền khắp Kiến Chương đài - Ngay đến người đức độ cũng nói như vậy, bọn họ còn bận tâm điều gì nữa?
Tào Phi lại rót đầy chén rượu:
— Được Bính công và chư vị chỉ giáo, ta xin kính mọi người một chén.
— Không dám, nên để chúng tại hạ kính rượu Ngũ quan tướng! - Tất thảy quần thần đứng lên, cung kính mời rượu.
Tào Phi ngửa cổ uống một hơi cạn, đó là chén rượu ngon nhất trong ba mươi năm cuộc đời y kể từ khi sinh ra đến nay - Văn thần thuần phục, võ tướng cũng thuần phục, lão thần đức cao cũng thuần phục.
Phồn hoa đã tận
Để củng cố dư uy từ trận Hợp Phì lần trước, khiến cho Tôn Quyền không dám ngo ngoe dòm ngó phương bắc nữa, Tào Tháo lên kế hoạch phát động cuộc nam chinh thứ tư. Lần xuất quân này có quy mô lớn nhất, ông điều động cả trung quân cùng với binh tướng các bộ Ký, Dự, Duyên, Thanh, Từ, Dương, nhận mệnh Thượng thư lệnh Hoa Hâm từng là Thái thú Cối Kê ở Giang Đông làm quân sư, binh mã đã sẵn sàng, chỉ còn chờ ngày khởi hành.
Lần đầu tiên nam chinh vào năm Kiến An thứ mười ba, Tào Tháo bị liên quân Tôn, Lưu đánh bại ở Ô Lâm; lần thứ hai nam chinh vào năm Kiến An thứ mười bảy, tuy đoạt được đại doanh Giang Bắc của Tôn Quyền, nhưng thủy quân thua trận nên không thể tiến xuống phía nam; lần thứ ba là vào năm Kiến An thứ mười chín, do Lưu Bị vào đất Thục, Mã Siêu làm loạn, cục thế đột ngột thay đổi, quân chủ lực chưa kịp khai chiến đã phải lục tục kéo về. Tính ra chưa lần nào nam chinh Tào Tháo đắc thế, lại còn nhận được một bài học đau đớn trong trận đại bại Xích Bích, hầu hết tướng sĩ đều mang tâm lý ngại khó, ngại khổ. Nhưng sĩ khí lần này dâng cao, bởi vì thứ nhất, quân Tào ra trận vào cuối thu đầu đông, tránh được mùa mưa; thứ hai, trận Hợp Phì bận trước đã đánh bại Tôn Quyền, tăng thêm uy thế cho quân Tào; và quan trọng hơn, hiện giờ Tào Tháo được tự chủ trong việc sắc phong sáu bậc quân công[7], tướng sĩ chỉ cần dốc sức chiến đấu là có thể được phong hầu, cho nên sĩ khí ba quân dâng cao ngùn ngụt. Chưa đến nửa tháng, quân dụng và lương thảo đã được chuẩn bị đầy đủ, chỉ đợi ngày lành, nhưng đúng lúc này lại lan truyền tin dữ: Lang trung lệnh nước Ngụy, lĩnh chức Ngự sử đại phu Viên Hoán mắc bệnh qua đời.
Viên Hoán là trọng thần giỏi xử lý việc dân chính nhất Ngụy đình. Tuy xuất thân từ danh môn vọng tộc Viên thị ở Trần Quận, nhưng ông ta cả đời thanh liêm, cần kiệm, đã đem hết vật phẩm được ban thưởng trong thời gian làm quan chia cho dân làng. Tào Tháo xem trọng ông ta, năm đó còn cho nhận chức quan phụ mẫu tại quê nhà mình là huyện Tiểu. Cái chết của Viên Hoán là một tổn thất lớn với nước Ngụy, Tào Tháo buồn rơi nước mắt, ban cho Viên gia hai ngàn hộc ngũ cốc để lo tang sự, đích thân viết hai đạo sắc lệnh, một đạo nói “lấy một ngàn hộc ngũ cốc Thái Thương ban cho nhà Lang trung lệnh”, một đạo khác nói “lấy một ngàn hộc ngũ cốc Viên Hạ ban cho nhà ái khanh”. Ngũ cốc Thái Thương thuộc kho triều đình, còn ngũ cốc Viên Hạ thuộc kho tư. Tào Tháo lấy từ kho triều đình và kho tư mỗi bên một ngàn hộc ban cho Viên gia, càng khẳng định sự ưu ái với Viên Hoán ở cả hai mặt công, tư. Ba huynh đệ của Viên Hoán là Viên Bá, Viên Huy và Viên Mẫn đều giữ những chức vị quan trọng trong Ngụy đình, nhi tử của ông ta là Viên Khản, Viên Ngụ cũng có chút danh tiếng, nay được Ngụy Vương ban thưởng hậu hĩnh, muốn giản tiện tang lễ cũng không được. Các vị vương tử, công khanh đều đến khóc tang, ngày xuất chinh cũng vì thế mà bị lùi lại nửa tháng.
Nào ngờ kỳ hạn nửa tháng chưa qua, lại có tin dữ, Thái bộc Quốc Uyên qua đời. Quốc Uyên là danh sĩ Đông thổ, lại là học trò xuất sắc của Trịnh Huyền, một bậc Thái sơn, Bắc đầu về kinh học. Ông ta không những giỏi xử lý công vụ mà còn là lá cờ đầu của Tào Tháo trong việc chiêu mộ hiền tài. Quân thần Tào doanh càng đau buồn, lại kéo dài ngày xuất chinh, chưa được mấy ngày, Thiếu phủ Vạn Tiềm cũng qua đời vì tuổi cao sức yếu. Trong đám người hung hiểm ở Duyện Châu năm xưa, Vạn Tiềm một lòng trung thành phò tá Tào Tháo, là lão thần sáng nghiệp, nay cũng buông bỏ nhân gian. Trong một tháng ngắn ngủi, có tới ba vị đại trọng thần lần lượt qua đời, cả triều đình chìm trong đau buồn.
Bệnh tình của Tào Tháo vốn có chiều hướng nặng thêm, nhìn bọn họ từng người một dắt nhau đi, ông há có thể chịu nổi? Nhưng ngoài gắng gượng ra, còn làm được gì? Để uy hiếp Giang Đông, tiêu diệt Lưu Bị, ông đành phải cố hết sức chống đỡ. Lúc này đã là tháng Mười năm Kiến An thứ hai mươi mốt, chớp mắt đã sang mùa đông, không thể trì hoãn thêm nữa, Tào Tháo truyền lệnh khởi binh.
Tháng Tư cùng năm, nước Ngụy được tấn phong từ công quốc lên vương quốc[8], việc dụng binh lần này là lần đầu tiên Tào Tháo dụng võ kể từ khi xưng vương, nên mang ý nghĩa quan trọng, không thể qua loa được. Đàn Nam Giao ở Nghiệp Thành tạm thời được dựng làm đài diễn võ, các bộ trung quân chọn ra những binh lính tinh nhuệ thao luyện võ nghệ, bày bố trận pháp của Tôn Tử, Ngô Tử, làm lễ diễn võ, Ngụy Vương Tào Tháo sáu mươi hai tuổi đích thân dâng đài, đánh trống cổ vũ ba quân.
Diễn võ xong, đội quân tiên phong khởi hành trước, hai lộ đại quân thủy bộ chở quân dụng và lương thảo theo sau, Tào Tháo cùng thị vệ và tướng sĩ hổ báo kỵ lùi lại một đoạn, đi sau cùng. Chúng nhân đều nghĩ đám nữ quyến Biện thị không tiện tòng quân, hiếm người nhận ra một nguyên nhân khác: Tào Tháo đi lại bất tiện, cưỡi ngựa sẽ rất mệt mỏi!
Chúng thần và các vị vương tử lưu thủ tiễn quân đến Đô Đình cách thành mười dặm thì dừng lại. Tào Tháo không mặc khôi giáp mà mặc tiện y, khoác áo choàng dài bên ngoài, ngồi trên yên ngựa, cố giữ chặt dây cương. Tào Phi khôi giáp chỉnh tề, đi ngay sau đuôi ngựa của phụ thân, nhiều năm qua y như người đi trên băng mỏng nên đã biết xét lời nói, nhìn sắc mặt người khác, nhận ra tâm khí lão nhân gia lúc này không thuận, y không dám rời xa dù chỉ một khắc.
Tào Tháo đúng là không vui, do ban nãy ông đăng đài đánh trống nửa canh giờ, chưa lấy lại được hơi thở, năm xưa chinh chiến trên sa trường dãi gió dầm mưa, giờ mới đánh mấy hồi trống mà đã thở hổn hển, lẽ nào ông già thật rồi sao? Thứ nữa, trong số quần thần tiễn quân có người đến muộn, mà người đó lại chính là Tướng quốc Chung Do. Thân là tể phụ chức trách quan trọng vô cùng, thế mà tiễn nhà vua xuất chinh lại đến muộn, đã thế còn đeo bộ mặt buồn bã, như thể để tâm tận đâu. Tào Tháo tất nhiên tức giận, nhưng Lý Đương Chi và Khích Kiệm đều nhắc nhở ông phải khống chế tâm tình, vì vậy mới cố nhịn không phát tiết.
Các vị vương tử quỳ xuống bái lạy phụ thân, Tào Chương và Tào Thực đều buồn rười rượi. Tào Chương không vui chỉ vì không được ra trận, từ nhỏ y đã thích cưỡi ngựa bắn cung, lập chí làm tướng, ngày trước từng theo phụ thân đánh vài trận nên càng mê việc võ, lúc nào cũng mong được đi đánh giặc, lần này không có phần mình, y há cam lòng? Còn lý do vì sao Tào Thực không vui thì ai cũng biết, tuy không phải đóng cửa suy nghĩ nữa, song uy vọng đã rớt xuống ngàn trượng, trong khi đó y lại là người ngay thẳng, vui buồn đều hiện ra nét mặt nên trông càng rầu rĩ. Trong các vị vương tử chỉ có Nhiêu Dương hầu Tào Lâm là hứng khởi, cúi xuống trước ngựa của phụ thân nói những lời chúc tốt lành. Phu nhân Đỗ thị dung mạo xinh đẹp, Tào Lâm sang nhờ mẹ, năm xưa cùng được phong hầu với Tào Thực, từ khi Tào Xung chết, trong các ấu tử chỉ kể ra được cậu ta và Tào Vũ, con Hoàn thị là được sủng ái nhất, nói về những ban thưởng vụn vặt thường ngày thì huynh đệ Tào Phi còn kém xa. Tào Lâm đã đến tuổi nhược quán, là một mỹ nam được thừa hưởng nét đẹp từ mẹ, không kém gì Tần Lãng, miệng lưỡi lại ngọt, nói vài câu đã xua tan hết những u ám trong lòng Tào Tháo.
— Con ta, mau lại gần đây để phụ vương ban thưởng. - Tào Tháo vừa nói vừa cởi thanh đao bên hông.
— Tạ ơn phụ vương! - Tào Lâm đưa hai tay lên nhận, cúi đầu nhìn mới giật mình sửng sốt: Bách Bích đao!
Chốc lát, ánh mắt của tất cả các vương tử như Tào Phi, Tào Chương, Tào Thực, Tào Bưu, Tào Quân, Tào Tuấn, Tào Cổn, Tào Cứ và Tào Vũ… đều đổ dồn vào thanh đao ấy, trong lòng ai nấy thầm kinh ngạc. Bách Bích đao có tất cả năm thanh, năm xưa Tào Tháo từng nói ai trong số các nhi tử có công trạng nổi bật sẽ được ban một thanh. Tào Phi nhận chức Ngũ quan trung lang tướng được ban một thanh, về sau Tào Thực được sủng ái, làm Đồng Tước đài phú được ban một thanh, cuộc chiến tranh giành ngôi vị cũng từ đó mà nổi lên. Vì Bách Bích đao cùng với huyền cơ ẩn đằng sau nó mà huynh đệ Tào thị đấu đá lẫn nhau, bao nhiêu thần liêu cuốn vào đó không bị trị tội thì cũng bị bức chết, nay chỉ dựa vào mấy câu nói lọt tai mà Tào Tháo đem thanh đao này trao cho Tào Lâm, cứ như nó không phải vật gì quan trọng. Sự việc bắt đầu từ đâu thì kết thúc ở đó, Bách Bích đao đã không còn ý nghĩa, chuyện tranh giành ngôi vị thực sự cũng sắp kết thúc rồi.
Tào Thực có cảm giác hụt hẫng tột cùng, y đứng ngây ra một lúc mới nhận ra các huynh đệ của mình đã lũ lượt cáo biệt, nên cũng thi lễ lùi lại, không cam lòng liếc nhìn phụ thân một cái, nhưng Tào Tháo vẫn nhìn thẳng, căn bản không để ý tới y. Vương tử thi lễ xong đến lượt các vị đại thần, đứng đầu là Tướng quốc Chung Do lần lượt thi lễ với đại vương, sau đó bọn họ còn hàn huyên đối câu với đồng liêu phải tòng quân.
Ứng Sướng bệnh lâu không khỏi, ngày càng gầy giơ xương. Ông ta thân là thuộc quan của Lâm Tri hầu tất nhiên nằm ngoài danh sách xuất chinh, nhưng đệ đệ của ông ta là Ứng Cừ mới nhận chức trong mạc phủ, nên bất chấp thân thể mang bệnh ông ta vẫn tới tiễn quân, Ứng Sướng dặn dò đệ đệ mấy câu, nhìn đằng xa thấy Vương Xán đứng thẫn thờ giữa hàng ngũ, bèn lò dò đi đến:
— Trọng Tuyên huynh, trên đường viễn chinh nhớ phải bảo trọng… Lông mày của ngài?
Từ mùa xuân năm nay, lông mày Vương Xán bắt đầu rụng, giờ gần như nhẵn thín. Người ngoài có lẽ chỉ nghĩ là khó coi, nhưng bản thân Vương Xán biết vấn đề thực sự nghiêm trọng. Hồi còn ở Kinh Châu ông ta từng gặp Trương Trọng Cảnh, Thái thú Trường Sa và cũng là một bậc danh y, Trương Trọng Cảnh bắt mạch nói rằng sau này lông mày ông ta sẽ rụng dần, đến khi lông mày rụng hết thì ngày chết của ông ta cũng cận kề. Nay lông mày sắp rụng hết rồi, Vương Xán chưa thấy có dấu hiệu gì khác lạ, nhưng thần y Trương Trọng Cảnh há lại nói xằng?
Tính mạng đang bị đe dọa, đáng lẽ không nên xuất chinh, nhưng Vương Xán là trí sĩ được Tào Tháo coi trọng nhất, vả lại ông ta há có thể lấy chuyện rụng mấy cái lông mày ra làm cái cớ từ chối việc tòng quân? Vương Xán đứng trong hàng binh mã, trong lòng đầy lo lắng, không phấn chấn nổi, thở dài nói:
— Ôi! Nhân lời chúc của Đức Liễn huynh, ta có chuyện muốn… - Vương Xán không sợ chết, nhưng nghĩ tới hai nhi tử mới đến tuổi trưởng thành, ông ta muốn gửi gắm cho Ứng Sướng, nhưng nhìn bộ dạng Ứng Sướng chỉ còn da bọc xương, trán nhễ nhại mồ hôi, dường cũng không còn sống được bao lâu nữa, lời đến đầu môi lại nuốt vào, quay sang hỏi:
— Lưu công sao rồi?
Ứng Sướng thấy ông hỏi thăm Lưu Trinh, cười nhăn nhó:
— Cũng ốm không dậy được, e là… Than ôi!
Vương Xán trong lòng đau xót, nhớ năm xưa tài tử Nghiệp Thành cùng với huynh đệ Tào Phi, Tào Thực ngâm thơ làm phú, bình phẩm văn chương, sảng khoái bao. Nay Nguyễn Vũ, Lộ Túy không còn nữa, bản thân ông ta và Lưu Trinh, Ứng Sướng, Từ Cán đều đang mang bệnh, Trần Lâm, Phồn Khâm năm nay xấp xỉ bảy mươi, tựa như ngọn đèn trước gió, tới Lâm Tri hầu cũng không còn giữ được phong thái, đúng là cảnh xuân nhanh qua, hoa đẹp chóng tàn!
Ứng Sướng khẽ thở dài, cố mỉm cười:
— Để tiễn Trọng Tuyên, ta xin tặng ngài bài thơ. - Nói rồi đưa ánh mắt ra xa, chậm rãi ngâm rằng:
Trường Giang nước mênh mông,
Chín dòng chảy về đông.
Đêm ngày đổ ra biển,
Xuôi về đâu biết không.
Đường xa muôn ngàn dặm,
Chưa hẹn được ngày về.
Ra sông buồn than thở,
Thương nhớ hoài tái tê.[9]
Đời người tựa như dòng sông lớn luôn đổ ra biển khơi, một đi không trở lại, sau cùng chỉ còn một tiếng thở than, một nỗi buồn thương… Thực ra, tuổi tác hai người chưa cao, họ bằng tuổi nhau, mới bước sang tuổi bốn mươi nhưng đã không khỏi cảm thán về những ngày tháng ít ỏi sau này, bài thơ chỉ đơn giản là một lời vĩnh biệt giữa sự sống và cái chết.
Không riêng Vương Xán, Ứng Sướng, tất cả lão thần nước Ngụy cũng đều bao trùm trong không khí bi thương, mọi người cố gắng không nhắc đến chuyện thời tiết thất thường, cũng không đả động chuyện mấy vị trọng thần vừa qua đời, nhưng ai nấy cũng cảm khái về những ngày tháng ít ỏi sắp tới. Tào Tháo tất nhiên nhận ra điều này, trước khi lâm trận mà lại tỏ vẻ bi thương thực hại đến sĩ khí, ông dằn lòng, ngoái đầu lại nói với Tào Phi:
— Chớ nán lại nữa, truyền lệnh đội quân tiên phong lập tức khởi hành!
— Dạ. - Tào Phi vâng lệnh, đến trước đội quân, truyền lệnh cho Tào Chân, Tào Hưu, rồi bẩm báo trước một cỗ xe ngựa rủ rèm xanh - Mẫu thân Biện thị và nhi tử, nhi nữ của y với Chân thị ngồi bên trong, do thái giám Nghiêm Tuấn hầu hạ.
— Khải bẩm mẫu thân, quân ta sắp khởi hành, xin người ngồi cho vững. - Tào Phi nói với mẫu thân qua tấm rèm.
Biện thị đáp lại:
— Ta không sao, con hầu hạ phụ vương đi… Dẫn Duệ nhi theo nữa.
Tào Duệ trông trước xe tổ mẫu, năm nay mới mười hai tuổi, mắt to nhanh nhẹn, cưỡi một con ngựa nhỏ, búi tócđược cởi xuống để đội mũ võ nhân, trông như một tiểu đại nhân. Tào Phi vô cùng ưng ý - Năm xưa, y lần đầu theo đại quân đánh Uyển Thành cũng mới bằng ngần ấy, đời này nối tiếp đời kia, nay lại đến lượt con y tòng quân. Có bảo bối nhỏ đi cùng lo gì lão nhân gia không vui?
— Đi! Theo ta đi cùng vương giá. - Tào Phi quay ngựa toan đi, chợt thấy một người cưỡi ngựa tiến lại, người ngồi trên lưng ngựa vồn vã nói:
— Ngũ quan tướng, chuyện hầu hạ xe phu nhân cứ giao cho tiểu nhân. Nếu ngài có điều gì căn dặn, dù có phải nhảy vào nơi nước sôi lửa bỏng, tiểu nhân cũng quyết không từ! - Thì ra là Khổng Quế.
Khổng Quế được thăng làm Phò mã đô úy, coi đồ nghi trượng xa mã, mỗi lần Ngụy Vương xuất hành, hắn đều đi trước mở đường. Chức quan đó rất vẻ vang, nhưng không thể lúc nào cũng kè kè bên Tào Tháo được. Lần xuất chinh này Tào Tháo chỉ dẫn theo Tào Phi, Khổng Quế càng hoang mang - Đường xa ngàn dặm, cả nhà họ Tào gắn bó thân thiết, chuyện gì cũng nói với nhau, mà hắn lại ở tít đằng trước giám sát đồ nghi trượng, Tào Phi nói gì hắn làm sao biết được.
Tào Phi đã sớm nhận rõ bộ mặt của Khổng Quế, a dua phỉnh nịnh, gió chiều nào che chiều ấy, lại còn rất tham lam, loại người như hắn có gì hữu dụng? Giờ biết mình lên nhầm thuyền, muốn quay lại ôm chân người khác. Tào Phi hận Khổng Quế thấu xương, nhưng ngoài mặt không để lộ nửa phần cảm xúc, chỉ nói:
— Việc coi đồ nghi trượng mang trách nhiệm nặng nề, nào dám phiền thêm Khổng đô úy? Gia quyến tự có phúc của gia quyến, Trần Y bảo vệ được rồi, ngài quay lên trước đi.
— Việc này, việc này… - Khổng Quế cuống quýt xuống ngựa, chắp tay thi lễ, - Tướng quân hiểu lầm tiểu nhân chuyện gì chăng? Tiểu nhân xin…
— Ngài nói đi đâu vậy? - Tào Phi không cho hắn nói tiếp, - Chúng ta xưng thần cùng một điện, cũng đều vì việc công, có gì mà hiểu lầm?
— Tiểu nhân…
— Khổng đô úy, ta phải nói với ngài mấy câu này. - Tào Phi nhếch miệng cười, - Nay ngài ở ngôi quan cao chức trọng, không thể cứ mở miệng ra là nói “tiểu nhân” thế này “tiểu nhân” thế kia, xưng hô như vậy thực ảnh hưởng đến uy nghiêm của ngài, mà bản quan cũng không dám nhận. - Vừa nói y vừa chắp tay trên lưng ngựa, vái chào Khổng Quế.
— Tiểu nhân không dám, không dám! - Khổng Quế sợ đến mức quỳ mọp xuống đất, dập đầu lia lịa, lúc đứng lên Tào Phi đã dẫn nhi tử ruổi ngựa đi rồi. Khổng Quế khóc không ra nước mắt: Tào Phi chửi mắng mình còn đỡ, cứ khách khí thế này càng không ổn, chưa biết chừng trong lòng đang ẩn giấu âm mưu nào đó! Tiến không được, lùi cũng chẳng xong, Tào Phi khó hầu hạ hơn Tào Tháo, chẳng khác gì một miếng gân hầm không nhừ, nấu không nát, đun hết ba bó củi vẫn chưa chín! Phải làm sao đây?…
Binh mã rục rịch di chuyển, Tào Phi dẫn nhi tử xuyên qua hàng quân, lại gặp Tả tướng trung quân Đoàn Chiêu dẫn một công tử áo vải chừng hai mươi tuổi đi tới:
— Bẩm Ngũ quan tướng, vị này là nhi tử của Tướng quốc, xin tìm ngài có việc.
Công tử đó vái chào:
— Tại hạ Chung Dục vâng mệnh phụ thân đến bái kiến Ngũ quan tướng.
Từng đoàn binh mã lướt qua bọn họ, đây đâu phải nơi nói chuyện, Tào Phi không khách sáo:
— Xin đứng lên, đứng lên, Tướng quốc có gì căn dặn?
Chung Dục nói:
— Hôm nay đi tiễn đại vương, phụ thân tại hạ đến muộn, xin đại vương và tướng quân lượng thứ.
— Công tử không cần khách khí, phụ vương ta sẽ không trách tội.
Chung Dục nói tiếp:
— Phụ thân tại hạ không phải vô cớ đến muộn, chỉ vì… chỉ vì…
— Có chuyện gì công tử hãy nói mau! - Lúc này Tào Phi không có tâm trạng tiếp chuyện, mắt vẫn dõi theo lọng của phụ thân.
— Đêm qua Trưởng sử của bản phủ là Triệu công mất.
— Sao? Triệu Tiễn cũng… Mấy hôm trước ông ta còn khỏe cơ mà?
Chung Dục khó xử:
— Năm nay thời tiết không tốt, người già mang sẵn nhiều bệnh nên lần lượt qua đời. Phụ thân tại hạ đã tẩm liệm Triệu công, nhưng sợ làm ảnh hưởng đến lòng quân nên không dám bẩm báo, xin Ngũ quan tướng…
— Ta hiểu rồi, công tử về báo lại với Tướng quốc, lo liệu tang sự cho Triệu công trước, trên đường ta sẽ từ từ bẩm báo với phụ vương.
Chung Dục thi lễ cáo từ, Tào Phi nhìn đội quân hùng hậu đằng xa, trong lòng thầm lo lắng: Đúng là một năm không tốt lành, chưa từng xảy ra chuyện bốn vị lão thần cùng qua đời trước ngày xuất binh. Chưa nói hai quân chém giết nhau thế nào, dọc đường không biết còn bao nhiêu người sinh bệnh mà chết đây!
❀ ❀ ❀
[1] Chỉ nước chư hầu cùng họ với thiên tử.
[2] “Ngũ cầm hí” là một bài khí công cổ đại. Tương truyền bài này là do danh y Hoa Đà sáng tác, mô phỏng điệu bộ của năm loài thú là cọp, nai, gấu, khỉ và chim.
[3] Thứ tử là chức quan giúp việc cho thái tử và phủ đệ của chư hầu, trên thực tế là bằng hữu hằng ngày do nhà vua phân phái cho các tử điệt của mình. Nếu như sau này vị vương tử đó đắc thế, quan viên kiểu này thường trở thành quan cao mới được trọng dụng nhờ vào “giao tình với tiềm long”.
[4] Thị Ngũ quan Trung lang tướng Kiến Chương đài tập thi, Ứng Sướng. Bản dịch thơ của Điệp Luyến Hoa, đăng trên trang thivien. net
[5] Thời Vũ Đế nhà Tây Hán, con của Hoài Nam Vương Lưu An là Lưu Thiên đấu kiếm với môn khách Lôi Bị, không may bị thương. Lưu Thiên ôm hận trong lòng, Lôi Bị thấy không yên tâm, muốn dốc sức cho quan quân, nhưng Hoài Nam Vương không đồng ý, còn trách mắng vì chuyện này. Do vậy, Lôi Bị trốn đến Trường An, tố cáo Hoài Nam Vương mưu phản với Vũ Đế, khiến cả nhà Hoài Nam Vương bị giết.
[6] Hiếu bắt đầu từ thờ cha, trung bắt đầu từ thờ vua, kết thúc ở lập thân.
[7] Chỉ sáu tước bậc để ban thưởng quân công, gồm Liệt hầu, Quan nội hầu, Danh hiệu hầu, Quan trung hầu, Quan ngoại hầu và Ngũ đại phu, từ Quan nội hầu trở xuống chỉ có phong hiệu, chứ không có thực ấp.
[8] Chỉ quốc gia gắn liền với tước vị của người làm chủ. Công quốc là nước của người mang tước công, còn vương quốc là nước của người mang tước vương.
[9] Trích bài Biệt thi của Ứng Sướng.