Tháng bảy năm Kiến An thứ mười ba, Tào Tháo theo kế của Tuân Úc, bề ngoài sắp xếp bảy bộ quân của bọn Vu Cấm, Trương Liêu, Trương Cáp đồn trú Dĩnh Xuyên, giả thế chuẩn bị nam tiến; còn bên trong lại tập hợp đội quân tinh nhuệ, bí mật xuất chinh theo con đường nhỏ, từ huyện Diệp bất ngờ đánh úp Uyển Thành. Quân Kinh Châu không kịp phòng bị, phòng tuyến Lưu Biểu bố trí ở mạn bắc sông Hán Thủy lập tức hỗn loạn, chỉ trong nửa tháng, nhiều huyện thành Nam Dương thất thủ, quân Tào thế như rung trời lở đất, không gì ngăn nổi.
Đứng trước thế tấn công mạnh mẽ đó, phía Tương Dương không tích cực chống đỡ, trái lại còn rơi vào rối loạn. Lưu Biểu đang ốm liệt giường, nghe tin biến cố ập đến, bệnh tình lại càng nặng thêm, cuối cùng buông tay mà đi khi sáu mươi bảy tuổi.
Bên ngoài có cường địch, bên trong để tang chúa, Lưu Bị, Lưu Kỳ lại chiêu binh tự vệ, quần liêu Tương Dương luống cuống không biết làm sao. Thái thú Cánh Lăng Sái Mạo và Thái thú Chương Lăng Khoái Việt phải đứng ra chủ trì đại cục, đưa thứ tử của Lưu Biểu là Lưu Tông lên làm chủ Kinh Châu, mới tạm ổn định được cục diện. Tang lễ vẫn phải cử hành, nhưng trong tình thế nguy ngập tất thảy đều giản lược. May đâu lăng mộ đã sửa sang từ hồi phu nhân nguyên phối của Lưu Biểu qua đời, đồ tuẫn táng cũng đã sớm chuẩn bị đầy đủ. Lưu Tông dẫn đầu chúng nhân đưa tiễn linh cữu, mở cửa lăng hạ táng, mọi người khoác áo dài trắng, khóc hai ba tiếng mang tính tượng trưng trước mộ, rồi lại vội vàng quay về trong thành bàn kế đối phó.
Chính đường rộng lớn trong mạc phủ chật ních người, ngoại trừ những bộ tướng đang lĩnh binh bên ngoài, quan lại các cấp đều tới đông đủ. Một thiếu niên mình mặc tang phục, đưa mắt nhìn khắp trên dưới chỉ toàn màu trắng tang tóc. Tân Kinh Châu mục Lưu Tông mới đến tuổi nhược quán, khuôn mặt thanh tú, còn nét trẻ con, trông non nớt hơn cả người cùng tuổi. Mặc dù rất muốn tiếp quản vị trí của phụ thân, thế nhưng đại địch sắp ập đến mà trước mặt lại toàn người mặc tang phục, nên Lưu Tông luôn cảm thấy là điềm báo chẳng lành. May còn kế mẫu Sái thị buông rèm phía sau, hai đại hào tộc Khoái Việt, Sái Mạo đứng đầu hai bên tả hữu, trong lòng anh ta mới không run sợ.
— Các vị... - Đây là lần đầu tiên Lưu Tông nói chuyện với nhiều quần liêu như vậy với thân phận chúa công, nên có phần ngượng ngùng, - Tào Tháo xâm phạm quá nhanh, phía bắc Tân Dã liên tục thất thủ, phụ thân ta lại mất vào lúc này. Các vị có kế gì đánh lui quân địch, xin hãy nói mau.
Ai nấy đều im lặng, đến Khoái Việt, Sái Mạo cũng im thít.
Lưu Tông chau mày, gặng hỏi:
— Gia huynh luôn muốn đoạt ngôi, nay lại nắm giữ binh mã ở Giang Hạ, tang sự của phụ thân được tổ chức gấp quá, chưa kịp báo tin, mà ta đã lên làm chủ Kinh Châu. Nếu như huynh ấy đem quân tới tranh ngôi thì phải làm sao?
Quần liêu nghiêng đầu ghé tai, thì thầm với nhau, song vẫn không ai chịu đứng ra hiến kế. Khoái Việt nhíu chặt đôi lông mày, mấy bận toan nói lại thôi, cúi đầu nín thinh. Còn Sái Mạo hai mắt vô hồn, vẻ mặt bất lực, cũng đứng ngây ra.
— Ây dà... - Lưu Tông lắc đầu quầy quậy, - Trên dưới Tương Dương nhân tài đông đúc, chẳng lẽ không có nổi một người có thể phân ưu với ta sao?
Thực ra, không phải chúng thần không có khả năng san sẻ nỗi lo, chẳng qua loạn trong giặc ngoài, thế cục đã rõ, cho nên nhân tâm giờ cũng thay đổi.
— Thuộc hạ nguyện được phân ưu với chúa công! - Y Tịch đột nhiên bước ra khỏi hàng, - Việc cấp bách hiện giờ là phải hỏa tốc gửi thư báo tang tới Giang Hạ, nói rõ lý lẽ, vỗ về đại công tử. Mặt khác, triệu tập các bộ quân đóng ở sông Hán Thủy như Lưu Bị, Văn Sính, lại đem lương thảo, quân nhu của Giang Lăng thưởng cho ba quân. Chúa công đích thân tới bờ sông khích lệ tướng sĩ, vua tôi huynh đệ đồng tâm hiệp lực thì vẫn có thể bảo toàn Kinh Châu!
Lưu Tông cũng lờ mờ có cách nghĩ này, chỉ là chưa vạch ra được một kế hoạch chu toàn như Y Tịch, nghe xong suy nghĩ liền mạch lạc. Anh ta đang đưa tay lấy lệnh tiễn, bỗng có một giọng nói hùng hồn vang lên:
— Tuyệt đối không được!
Lưu Tông ngước lên nhìn, thì ra là Đông tào duyện Phó Tốn, người quận Bắc Địa, Lương Châu, từng nhận chức Thượng thư trong triều, về sau lánh nạn ở Kinh Châu, được Lưu Biểu trưng vời, khá có uy vọng trong phủ Trấn Nam Tướng quân.
— Cơ Bá nói sai rồi. - Phó Tốn chắp tay thi lễ, - Chúa công và lệnh huynh kết oán nhiều năm, làm sao chỉ trong chốc lát đã có thể hòa giải?
Lời này vừa thốt ra khỏi miệng, quần liêu nhao nhao phụ họa:
— Đúng vậy... Nói có lý...
Lưu Tông cũng thấy Phó Tốn có lý. Trước lúc Lưu Biểu qua đời, Lưu Kỳ đã từ Giang Hạ chạy tới thăm, nhưng Trương Doãn canh giữ mạc phủ sợ Lưu Biểu trong lúc hấp hối lại hồ đồ đổi người kế vị, nên lấy trọng trách bảo vệ Giang Hạ làm cái cớ cự tuyệt Lưu Kỳ, đuổi khỏi Tương Dương, báo hại Lưu Kỳ không được nhìn mặt phụ thân lần cuối. Oán hận chất chứa há có thể nói đôi ba câu là cởi bỏ được? Lưu Tông bản tính nhu nhược, bị Phó Tốn hỏi vặn, lại chẳng có chủ ý gì:
— Vậy theo ý tiên sinh phải làm thế nào?
Phó Tốn vuốt vuốt chòm râu ngắn, vẻ mặt nghiêm túc:
— Thuộc hạ có một kế, có thể giúp dân chúng Kinh Tương vững như núi Thái Sơn, lại có thể giữ toàn danh tước của chúa công.
Khoái Việt đứng một bên nghe vậy liền thở phào: cuối cùng đã có kẻ công khai đề nghị!
Lưu Tông không hiểu được ẩn ý của câu “giữ toàn danh tước”, còn hỏi:
— Kế ấy là sao?
Phó Tốn vái một vái dài:
— Quy hàng Tào Tháo.
— Sao kia! - Lưu Tông được phụ thân coi trọng, trong lòng đang tràn đầy nhiệt tâm cai trị Kinh, Tương, nghe thấy lời này bất giác phẫn nộ, - Tiên sinh cớ sao lại nói vậy? Ta cùng với các vị có đất Kinh, Sở, giữ cơ nghiệp của tiên phụ mà quan sát thế cục thiên hạ, có gì không thể? Nay hài cốt của phụ thân ta còn chưa lạnh, há có thể vứt bỏ tổ nghiệp, dâng Kinh Châu cho kẻ khác? - Anh ta càng nói càng giận, khuôn mặt trắng trẻo đỏ phừng phừng, lấy lệnh tiễn nói, - Ông chê ta còn ít tuổi, ta đưa ra chủ ý cho ông xem! Chuyện của gia huynh tạm thời không nhắc tới, trước tiên triệu Lưu Bị đến cùng bàn kế ngăn địch!
Câu ấy còn chưa dứt, Sái phu nhân ở sau rèm đã òa khóc:
— Thằng bé ngốc, Lưu Huyền Đức đồng mưu với anh con. Nếu triệu hắn tới trước, hắn và Kỳ nhi thông đồng cướp Tương Dương, há còn đất dung thân cho mẹ con ta hay sao?
Bà ta chỉ nói khe khẽ, nhưng Lưu Tông như bị dội gáo nước lạnh lên đầu, ngón tay run rẩy, thế là tấm lệnh tiễn rơi “cạch” xuống đất. Phó Tốn đang nơm nớp lo sợ, thấy tình hình này có thể xoay chuyển được, vội nói tiếp:
— Chúa công bớt giận... Từ xưa, thuận hay nghịch đều có nguyên tắc chung, mạnh hay yếu đều có hình thế sẵn. Nay, Tào Tháo phụng lệnh thiên tử thảo phạt bốn phương, chứ không phải bừa bãi xuất quân. Huống chi, chúng sĩ đất bắc tiến vào Kinh, Sở như Thái Sơn đè đầu, làm bề tôi mà chống lại nhà vua là phản nghịch; lấy đất Sở mới gây dựng để ngăn cản nước lớn, thế ấy chẳng thể địch nổi; còn dựa vào Lưu Bị nhiều lần bại trận để đánh lại Tào Tháo, cũng không thể thắng. Cả ba điều này đều bất lợi, nếu cứ chống cự không hàng, tất không tránh khỏi diệt vong!
— Thế nhưng... Thế nhưng...
Lưu Tông ruột gan rối bời, mặc dù không cam lòng nhưng không biết cãi lại thế nào. Đúng lúc này lại có người nói:
— Thuộc hạ cả gan muốn hỏi chúa công một câu, không biết có được không?
Chúng nhân quay sang nhìn, người vừa lên tiếng còn khá trẻ, vóc dáng thấp nhỏ, mình mẩy gầy gò, mặt mũi trắng trẻo, cử chỉ nhẹ nhàng, khí chất cao quý, trông nho nhã hơn cả Lưu Tông. Tuy nhiên, không thể đánh giá người khác qua vẻ bề ngoài được, người này họ Vương, tên Xán, tự Trọng Tuyên, cũng là người huyện Cao Bình, quận Sơn Dương, cháu của Tam công tiên triều Vương Sướng, con của Trưởng sử Vương Khiêm trong phủ Hà Tiến, từ nhỏ đã theo học Sái Ung, mười bảy tuổi được vời vào phủ quan. Ông ta ngâm thơ họa phú, xuất khẩu thành chương, văn nhân mặc khách, không ai không phục.
— Trọng Tuyên cứ nói!
Lưu Tông ngày thường hay đàm đạo văn chương với Vương Xán, hai người khá thân thiết, lúc này thấy ông ta chủ động mở miệng, trong lòng mừng rỡ. Vương Xán vái chào nghiêm cẩn:
— Dám hỏi chúa công tự so mình với Tào Tháo thì thấy thế nào?
Lưu Tông nói rất thật:
— Ta vừa mới nối nghiệp phụ thân, làm sao bì được với Tào Tháo.
Vương Xán lại hỏi:
— Vậy chúa công so với Lưu Bị thì sao?
Lưu Tông ngẫm nghĩ, Lưu Bị dù sao cũng lĩnh binh nhiều năm, nên đành thừa nhận:
— Ta cũng không bằng hắn.
— Đúng vậy. - Vương Xán chuyển ý, - Xin chúa công hãy thử nghĩ, nếu Lưu Bị không chặn được quân Tào, Kinh Châu sẽ mất. Còn nếu Lưu Bị chặn được quân Tào, chắc chắn không chịu khuất phục dưới trướng của tướng quân. Thuộc hạ lo thay cho chúa công, trước mắt... chỉ có thể quy hàng.
Lưu Tông chết lặng. Vương Xán thong thả bước ra giữa đại đường, nói dõng dạc:
— Xưa, thiên hạ đại loạn, hào kiệt nổi lên, vào lúc nguy ngập, mạnh yếu chưa phân, nhà nhà đều muốn xưng đế vương, người người đều muốn làm công hầu. Còn nay thế lớn đã rõ, thắng bại đã định, chúa công chỉ có xét theo tình hình mà hành sự mới mong giữ được phú quý. Thuộc hạ thiết nghĩ, Tào Mạnh Đức cũng là bậc hào kiệt, mưu trí hơn người, bắt sống Lã Bố ở Hạ Bì, phá tan Viên thị ở Quan Độ, đuổi Tôn Quyền ra mãi Giang Đông, lại trừ được Ô Hoàn ở núi Bạch Lang, dụng binh như thần, thắng trận vô số. - Ông ta vừa nói vừa vén vạt áo quỳ sụp xuống, - Thuộc hạ gặp thời loạn, lưu lạc Kinh Châu, được phụ tử chúa công hậu đãi, nào dám biết mà không nói hết? Chúa công nếu bỏ đao cởi giáp, thuận theo thiên mệnh, Tào công chắc chắn sẽ ban ân huệ cho ngài, giữ toàn tông tộc, vĩnh hưởng phú quý, đó là kế vạn toàn!
Quần thần thầm khen: không hổ là tài tử, đến lời khuyên hàng cũng nói hay thế! Thảy đều quỳ xuống nói theo:
— Giữ toàn tông tộc, vĩnh hưởng phú quý, đó là kế vẹn toàn...
— Các ông... Cha con ta có khi nào bạc đãi các ông?
Lưu Tông giận đến suýt khóc. Khoái Việt thấy sắp đến lúc quan trọng, bước ra phía trước một bước, thấp giọng nói:
— Phó Công Đễ, Vương Trọng Tuyên đều nói không sai. Tiên chủ lúc còn sống luôn lấy việc bảo vệ bờ cõi, vỗ yên bách tính làm trọng, nay thiên hạ rối loạn đã lâu, nếu như chúa công có thể dập tắt binh đao, lê dân cũng sẽ cảm tạ ân đức của ngài. Xin chúa công yên tâm, Khoái mỗ nhận sự ủy thác của tiên chủ, nhất định cạn lời vun vén trước mặt Tào công, dù có phải liều cái mạng già này, cũng sẽ giữ toàn cho mẫu tử ngài...
Nói đến đây, ông ta nước mắt lưng tròng. Lưu Tông thấy vị trọng thần nhận lời phó thác cũng nói như vậy, trong lòng nguội lạnh phân nửa, nhưng lại nghĩ: vẫn còn cữu cữu nắm quyển binh mã, chỉ cần cữu cữu đứng về phía mình, những người này sẽ phải phục tùng thôi. Anh ta hốt hoảng đưa mắt tìm kiếm - không biết Sái Mạo đã biến đi đâu mất.
Trương Doãn thấy Lưu Tông dáo dác nhìn quanh, bèn nói:
— Chúa công đừng tìm nữa. Sái công vốn đang có bệnh, phải cố gượng dậy lo liệu tang sự, ban nãy ngài ấy thấy trong người không khỏe, đã về phủ rồi.
Thái độ đó còn chưa thể hiện rõ quan điểm ư? Trong lòng Lưu Tông hoàn toàn nguội lạnh, anh ta quay đầu nhìn kế mẫu ngồi sau tấm rèm - chút sắc sảo khi nãy cũng chẳng còn, chỉ biết khóc thút thít. Lưu Tông lại quay lên nhìn khắp văn thần trên đại đường, người chắp tay, kẻ dập đầu, người khóc lóc, tất cả đều nói ra từ “hàng”, chỉ có một mình Y Tịch mặt đầy căm hận. Tiếc rằng ông ta kinh lịch bình thường, trong tay lại không có binh quyền nên chẳng biết làm sao, chỉ biết đứng giậm chân.
Lưu Tông rơi nước mắt, trong lòng thầm hiểu: “Mẫu thân đâu phải mẹ ruột, cữu cữu đâu phải cậu ruột, hào tộc chỉ muốn bảo vệ lấy mình, còn những nhân sĩ lánh nạn cũng muốn quay về phương bắc. Ta không thể đối đầu được với Tào Tháo, cũng chẳng thể trông cậy vào Lưu Bị, ngay đến huynh trưởng ruột thịt cũng muốn đọ sức với ta. Thì ra, thứ ta phải vất vả tranh đấu mới có được chỉ là một ngôi vị chưa ngồi ấm chỗ. Tất cả bọn họ đã thông đồng với nhau từ trước, chỉ có ta là người ngoài, chỉ có ta một mình lẻ loi, cô độc.”
— Đã như thế... Cũng đành làm vậy...
Lưu Tông ném ra một câu không đầu không cuối, lảo đảo trở về hậu đường, theo sau còn có tiểu đệ Lưu Tu, hai huynh đệ sụt sùi dìu nhau.
Lưu Tông bỏ đi, quần liêu lập tức dừng khóc, nói chuyện thoải mái, có kẻ còn tỏ vẻ hân hoan. Khoái Việt cố nén tâm trạng buồn bã, thở dài não nề, nhưng cũng nhanh chóng nhận ra việc xin hàng không hề đơn giản. Lưu Bị ở gần Phàn Thành, trong khi chúng tướng lại phân tán bên ngoài, thế cục vẫn chưa ổn định. Ông ta sải bước tới trước soái án, rút một tấm lệnh tiễn ném cho Trương Doãn:
— Tức tốc đóng tất cả cửa thành, không có lệnh của ta không cho bất cứ kẻ nào ra ngoài!
Trương Doãn nói:
— Nhà Sái công ở ngoại thành, có lẽ lúc này ngài ấy đã ra khỏi thành.
— Sái đại nhân thì không sao, còn những người khác không được phép đi qua, mọi việc trong mạc phủ đều phải giữ bí mật. Ai dám hé lộ tin tức, ta lấy mạng kẻ đó!
Khi nói lời này, Khoái Việt cố ý lừ mắt nhìn Y Tịch. Ông ta lại rút tấm lệnh tiễn thứ hai:
— Đặng Hi nghe lệnh.
— Có tại hạ!
Trị trung tòng sự Đặng Hi bước ra khỏi hàng.
— Ta ra lệnh cho ông cầm phù tiết của Trấn Nam Tướng quân, hỏa tốc tới Nam Dương xin hàng Tào Tháo. Không được dẫn theo nhiều tùy tùng, hãy đi đường nhỏ vắng vẻ, lội qua sông suối, tuyệt đối không được để lộ hành tung.
— Rõ.
Đặng Hi vội vàng đi chuẩn bị.
— Phó Tốn, Vương Xán nghe lệnh!
— Có tại hạ.
— Hai người các ông soạn công văn, bí mật điều các tướng ở gần Tương Dương vào thành... ngoại trừ Lưu Bị.
Khoái Việt biết Lưu Bị rất thông minh, ông ta trở về chắc chắn sẽ đoán ra ý định quy hàng. Đến khi đó ông ta không chịu khuất phục, còn câu kết với Lưu Kỳ làm phản, tất gây hoạ từ trong vách, cho nên phải giấu nhẹm Lưu Bị.
Phó Tốn nghi ngại:
— Bên phía đại công tử phải làm thế nào? Ngài ấy vẫn chưa biết tiên chủ đã qua đời.
Khoái Việt đã sớm có tính toán:
— Giao ấn Thành Vũ hầu của tiên chủ cho đại công tử để an ủi. Tạm thời đừng nhắc tới chuyện đầu hàng.
Kỳ thực, ông ta muốn giấu Lưu Bị cả chuyện Lưu Biểu đã chết, nhưng Lưu Bị đóng quân ở Phàn Thành, gần kề Tương Dương, việc đưa tang ầm ĩ như vậy, muốn giấu cũng không giấu được, chỉ có thể giấu chuyện đầu hàng mà thôi.
— Rõ.
Phó Tốn, Vương Xán cũng lui xuống. Khoái Việt lại rút thêm một tấm lệnh tiễn nữa, nhưng lần này ông ta không quyết đoán như ban nãy, ngẫm nghĩ một lát lại cắm lệnh tiễn vào ống quyển, ngẩng đầu hỏi:
— Tống Trọng Tử tiên sinh tới chưa?
— Có thuộc hạ.
Một vị văn sĩ râu dài, tuổi gần sáu mươi chui ra từ giữa đám người. Tống Trọng Tử tên là Tống Trung, là đại nho Kinh Châu, từng chú giải sách Chu dịch, Pháp ngôn, biên soạn Ngũ kinh chương cú. Không ít môn sinh của ông ta đều đang làm quan tại Kinh Châu, cũng có người từ Thục Trung vượt ngàn dặm xa xôi tới xin học. Lưu Biểu mặc dù nhận mệnh ông ta làm Tòng sự, nhưng tỏ ý trọng vọng, chưa từng bắt ông ta phải làm việc.
— Tống tiên sinh, ta có việc muốn phiền ngài vất vả một phen, nhưng có thể gặp nguy hiểm. Không biết ngài có bằng lòng không?
Khoái Việt vồ cùng khách khí.
— Dị Độ hà tất phải khách sáo, trên sai dưới làm là chuyện đương nhiên.
— Tốt lắm. - Khoái Việt kéo tay Tống Trung, - Chúng ta tới hậu đường, ta sẽ nói rõ với ngài.
Khoái Việt đi khỏi, những người còn lại càng không kiêng dè gì nữa, việc quy hàng Tào Tháo đã được đem ra nói công khai, có người còn cởi bỏ tang phục, bàn xem Tào Tháo sẽ trao chức quan gì cho họ, phải thu xếp sản nghiệp ở Tương Dương ra sao. Những cái giậm chân được đổi bằng vẻ mặt hoan hỷ, giọt nước mắt khóc thương nhường cho những tiếng chúc mừng...
Lưu Bị trốn về nam
Phàn Thành mà Lưu Bị đóng quân nằm ở bờ bắc sông Hán Thủy, là một tòa thành nhỏ thuộc địa phận huyện Đặng, quận Nam Dương, chỉ cách Tương Dương một con sông, là trọng địa bảo vệ trung tâm Kinh Châu. Còn Lưu Kỳ đồn trú Giang Hạ, mặc dù khá xa Tương Dương nhưng là nơi giao nhau của hai con sông Hán Thủy, Trường Giang, vùng đất xung yếu phòng ngự Tôn Quyền. Hai đất ấy, một nơi ở mạn bắc, một nơi ở mé đông, song có sông Hán Thủy nối liền, cho dù bên nào xảy ra nguy hiểm, bến kia cũng đều có thể theo đường sông mà kịp thời ứng cứu.
Tuy nhiên, phàm việc gì có lợi thì cũng có hại, nếu như quân coi giữ Phàn Thành và Giang Hạ thay đổi lập trường, cũng có thể hợp sức uy hiếp Tương Dương từ cả hai phía. Chính vì vậy, sau khi Gia Cát Lượng hiến kế trấn giữ Giang Hạ cho Lưu Kỳ, Lưu Bị cũng nhanh chóng xin dời đến Phàn Thành. Như vậy, xét về đối ngoại có thể dễ dàng phòng ngự Tào Tháo, Tôn Quyền, còn về đối nội, do Lưu Biểu không sống được bao lâu nữa, một khi ông ta buông tay mà đi, Lưu Bị có thể dựng cờ giúp Lưu Kỳ tranh ngôi để đoạt lấy Tương Dương, tiếp đến đảo khách thành chủ, khống chế Kinh Châu, bước đầu thực hiện kế hoạch “thu về cả hai châu Kinh, Ích, giữ vững những nơi hiểm yếu” mà Gia Cát Lượng đã nói. Cho nên, bề ngoài là Lưu Bị tự chui vào tầm mắt của Lưu Biểu, nhưng trên thực tế lại có huyền cơ. Có điều, ông ta không ngờ được rằng, tình huống xấu nhất đã xảy ra: Tào Tháo xâm phạm phía nam, Lưu Biểu bạo vong, họa trong giặc ngoài cùng xuất hiện.
Tào Tháo bất ngờ đánh úp, làm loạn tuyến phòng ngự ở Nam Dương, liền sau đó, bảy bộ quân đóng tại Dĩnh Xuyên lại ồ ạt tấn công. Đổ Dương thất thủ, Bác Vọng thất thủ, Tây Ngạc thất thủ, Uyển Thành bị khốn... Tin báo bất lợi dồn dập truyền tới Phàn Thành, dân chạy nạn cũng đổ về như nước lũ. Bên phía Tương Dương, Sái Mạo và Khoái Việt đã hạ táng Lưu Biểu, đưa Lưu Tông lên kế nhiệm chức Trấn Nam Tướng quân, Kinh Châu mục, chỉ chia cho Lưu Kỳ một cái ấn vô dụng của Thành Vũ hầu. Lưu Kỳ nhận được tin thì vô cùng giận dữ, ném ấn xuống đất, điểm binh mã định quyết chiến với đệ đệ. Nhưng, anh ta chưa kịp ra khỏi Tây Lăng đã nhận được tấu báo, một đội quân khác của Tào Tháo áp sát địa phận quận Giang Hạ, Lưu Kỳ thân mình không lo nổi, đành phải bỏ qua cho Lưu Tông.
Lưu Bị rơi vào thế lưỡng nan: đưa quân lên mạn bắc cứu viện thì sẽ gặp phải khó khăn rất lớn, Nam Dương có xu hướng binh bại như núi đổ, huống chi Lưu Kỳ vẫn chưa xuống lệnh. Còn nếu trở mặt nam tiến, mưu đoạt Tương Dương mà không có Lưu Kỳ giúp sức, chỉ dựa vào hơn một vạn quân của ông ta cũng rất khó thành công. Dù cho may mắn lấy được thành trì, kịp ổn định nhân tâm thì liệu có thể chống lại Tào Tháo không? Lưu Bị bàn bạc hồi lâu với Gia Cát Lượng mới đưa ra được quyết sách, trước mắt chỉ còn một đường thoát duy nhất là dẹp lợi ích riêng sang một bên, cùng đoàn kết với Lưu Tông và Lưu Kỳ, lấy sông Hán Thủy làm bức bình phong ngăn chặn Tào Tháo. Không đánh lui kẻ thù bên ngoài, ai cũng đừng mong được sống yên ổn.
Lưu Bị lập tức hành động, một mặt di dời binh sĩ, bách tính ở Tân Dã đến Phàn Thành, chuẩn bị phòng thủ trên sông; mặt khác gửi thư cho Lưu Tông hiến kế ngăn địch; đồng thời phái Từ Thứ đưa gia quyến của các thuộc hạ vào trong quân, để phòng bọn họ bị quân Tào bắt làm tù binh. Nhưng thư gửi đến Tương Dương như đá chìm đáy biển, Lưu Tông không có hồi âm gì, quân địch đang ở ngay trước mắt, không biết chúng thần Kinh Châu còn bận gì mà cứ thờ ơ như không. Ông ngày ngóng đêm trông mới thấy Tống Trung xuất hiện, nhưng ông ta không mang tới lệnh chống địch mà là một tin long trời lở đất: Lưu Tông đã âm thầm hàng Tào, lệnh cho Lưu Bị bỏ tuyến phòng ngự, chuẩn bị giao nộp binh khí.
Bất cứ người nào trong thiên hạ cũng có thể quy hàng Tào Tháo, riêng Lưu Bị là không thể. Ông từng cử binh ở Từ Châu phản lại Tào Tháo, còn tham dự vào vụ “chiếu thư trong đai ngọc”, nếu một lần nữa rơi vào tay Tào Tháo, làm sao có đường sống? Lưu Bị nghe tin này như sấm nổ bên tai, sửng sốt hồi lâu mới nổi cơn thịnh nộ, chỉ thẳng vào mặt Tống Trung mắng rằng:
— Các ông sao có thể làm chuyện này? Đã có ý quy hàng thì phải sớm báo cho ta, nay đại nạn ập đến nơi mới chịu nói. Các ông có ý đồ gì hả!
Trong mắt Tống Trung, Lưu Bị là người tác phong nhẹ nhàng, cử chỉ tiêu sái, có khi nào trông thấy dáng vẻ giận dữ như vậy? Tống Trung run rẩy nói:
— Mong Huyền Đức công thể lượng. Chúa công và Khoái Dị Độ lệnh cho ta chuyển lời tới ngài, họ sẽ nói tốt cho ngài ở trước mặt Tào công, nhất định...
— Im miệng! - Lưu Bị không để cho ông ta nói hết, - Bảo ta hàng Tào? Chẳng bằng chém chết ta, dâng thủ cấp cho Tào tặc!
Tống Trung thấy râu tóc Lưu Bị dựng ngược cả lên, trán nổi đầy gân xanh, hốt hoảng liên tục lùi lại phía sau, suýt nữa ngã ngửa.
Lưu Bị không chịu buông tha, cướp thanh đao trong tay thân binh, nhảy tới túm cổ áo của Tống Trung, dí đao lên cổ ông ta:
— Tống Trung ơi Tống Trung, ông rõ ràng là tới “đưa tang” ta! Ta giết ông trước, rồi liều mạng với quân Tào!
Tống Trung chỉ là một văn nhân, sợ đến nỗi hồn bay phách lạc, nằm dưới đất run bần bật:
— Tướng quân chớ làm vậy! Tướng quân tha mạng! Đó là mưu kế của Khoái Dị Độ, không liên can gì đến tôi!
Gia Cát Lượng đứng cạnh, thấy Lưu Bị định giết Tống Trung, vội khuyên nhủ:
— Xin chủ công hãy bỏ đao xuống...
Chưa nói dứt câu đã thấy thanh đao lóe sáng, cắm “phập” xuống đất. Tống Trung kinh hãi thét lên, hai mắt nhắm chặt, nhưng không hề thấy đau ở đâu, mở mắt nhìn lại - hóa ra mũi đao chỉ sượt qua tai. Lưu Bị tuy tức giận nhưng không hồ đồ, đứng dậy thở mạnh:
— Giết ông cũng không trút được mối hận trong lòng ta. Ta không muốn làm bẩn đao vì một kẻ bán chủ cầu vinh, ham sống sợ chết như ông! Cút!
— Tạ ơn tướng quân không giết...
Tống Trung không còn để ý đến thể diện nữa, lồm cồm bò ra ngoài, run rẩy lúc lâu mới leo được lên lưng ngựa, kéo dây cương phóng như bay khỏi Phàn Thành, bỏ mặc đám thuộc hạ đi theo.
Lưu Bị hầm hầm ngồi phịch xuống giường:
— Chuyện tới trước mặt rồi mới báo với ta, chẳng bằng không nói cho xong. Ta đơn độc chống lại Tào tặc, thà chết một cách oanh liệt trên chiến trường còn hơn!
Gia Cát Lượng hiểu ra sự tình:
— Họ sợ nói sớm quân ta xâm phạm Tương Dương, còn nói muộn lại sợ ta đụng độ với Tào quân, sau này sẽ khó ăn nói. Còn phái Tống Trung tới báo tin chính vì đoán được chúng ta không dám giết hiền sĩ. Đây đều là kế hoàn hảo.
— Khoái Dị Độ xảo quyệt!
Lưu Bị căm hận nghiến răng.
— Chúng ta không thể ngồi chờ chết được. - Đôi mắt sáng ngời của Gia Cát Lượng tỏ vẻ nghiêm túc, - Phàn Thành là nơi chật hẹp, lại ở phía bắc sông Hán Thủy, một khi Tào quân đánh đến chúng ta tất bại, phải mau chóng dời đi!
— Tiên sinh thật nể mặt ta, di dời gì chứ? Không phải là chạy trốn à! - Lưu Bị nửa đời người bôn ba lận đận, quen chịu đả kích, chỉ giận dữ chốc lát rồi lại thản nhiên nói, - Gọi mọi người tới bàn xem còn có thể chạy đến đâu.
Lát sau, các tướng Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Vân, Trần Đáo, Mi Phương cùng với các mưu sĩ Gia Cát Lượng, Lưu Diễm, Mi Chúc, Tôn Càn, Giản Ung tập hợp ở một gian nhà. Trong lúc sống chết cận kề chỉ mong sao mọi người đồng tâm, Lưu Bị cho phép các quan cấp dưới như Ngụy Diên, Tiết Vĩnh, Sĩ Nhân và cả nghĩa tử Lưu Phong mà ông thu nhận mấy năm trước tham gia nghị sự. Tình hình cấp bách nên chúng nhân không nói lan man, sau quá trình bàn bạc chóng vánh, tựu chung có hai luồng ý kiến:
Lưu Kỳ giữ đất Giang Hạ, có hơn một vạn quân thủy bộ, hơn nữa anh ta đã đoạn tuyệt với Lưu Tông, kế sách hiện giờ là theo sông Hán Thủy rút về Giang Khẩu ở mé đông, hợp binh với Lưu Kỳ, cùng chống lại Tào Tháo. Ưu điểm lớn nhất khi dời tới đó là nhanh và tiện, đường sống cũng an toàn, dù cho Tào Tháo đuổi tới Phàn Thành, không có thuyền bè cũng chẳng theo kịp.
Còn một nơi khác có thể tạm trú chân là Giang Lăng, ở ven sông Trường Giang. Hầu hết lương thảo, quân nhu của Kinh Châu đều đặt tại đây, thêm vào đó còn không ít chiến thuyền. Nếu như có thể lấy Giang Lăng, cướp vật tư, chẳng những có thể trang bị nhiều binh khí hơn cho quân đội, còn có thể chặt đứt mối liên hệ giữa hai miền nam bắc Kinh Châu, chặn thế tấn công của Tào Tháo. Thế nhưng, lắm ưu điểm thì cũng nhiều nguy hiểm, từ Phàn Thành đến Giang Lăng phải đi hết năm trăm dặm, đoạn đường này có nhiều ao đầm, núi cao và ngòi nhỏ. Quân của Lưu Bị không nhiều, tính cả số binh mã mới chuyển đến từ Tân Dã cũng chưa đầy hai vạn. Nếu Tào Tháo biết tin truy kích phía sau, Lưu Bị sẽ rơi vào tình thế vô cùng hung hiểm.
Đứng trước hai lựa chọn khó khăn, Lưu Bị quyết định rằng:
— Bất luận chọn Giang Hạ hay Giang Lăng đều là kế quyền biến, dù thuận lợi đến nơi cũng chỉ là thoát chết, làm sao đương cự Tào Tháo mới là mấu chốt. Giang Hạ dù sao cũng nằm trong tay Lưu Kỳ, chúng ta tới đó bất quá là hợp binh một chỗ; nếu nghĩ cho việc chống Tào sau này thì lấy được Giang Lăng sẽ có thêm thực lực. Thứ nữa, trên đường xuôi nam, ta qua sông ghé vào Tương Dương trước, có thể khuyên Lưu Tông hồi tầm chuyển ý, nhân lúc Tào Tháo đắc ý mà tập kích bất ngờ cũng có thể xoay chuyển cục diện.
Chính Lưu Bị cũng cảm thấy cách nghĩ này hơi ngây thơ, nhưng chuyện đã đến nước này, dù chỉ có một cơ hội mong manh ông cũng phải thử.
Bàn bạc xong, chúng nhân vội vàng hành động, binh mã Phàn Thành xuất phát ngay lập tức, tướng sĩ chen chúc chưa lên được thuyền, Từ Thứ đã quay lại dẫn theo gia quyến của các tướng và cả một đám dân đen nguyên ý đi theo. Lưu Bị chợt nhận ra vấn đề: trong quân lẫn lộn quá nhiều bách tính. Bọn họ tự nguyện sung quân, bảo vệ gia hương, nhưng phần lớn là dân Nam Dương chạy nạn, cả nhà già trẻ dắt díu nhau. Lưu Bị phải vượt đường xa tới Giang Láng mà lại mang theo những người này làm sao đi nhanh được?
Quả nhiên, sau khi qua sông đã bắt đầu xảy ra chuyện. Vốn dĩ đội thuyền Quan Vũ cai quản không nhiều, đi vài chuyến nữa mới chở hết binh sĩ và quân nhu, nay lại phải chở thêm cả đám dân chúng. Có những kẻ chạy nạn chỉ thiếu nước dỡ cả ngôi nhà, còn lại mang theo cả nồi niêu, chăn màn, then cài, đồ đạc linh tinh gì cũng có, trẻ con khóc lóc, người lớn quát tháo, hai bờ sông Hán Thủy ầm ĩ tiếng cãi vã. Lưu Diễm theo Lưu Bị qua sông trước, trông cảnh tượng hỗn loạn không khỏi lo lắng:
— Dềnh dàng thế này, khi nào mới đến được Giang Lăng? chúng ta không thể mang bách tính theo!
Trong lòng Lưu Bị vô cùng mâu thuẫn: mang bách tính theo có lợi cũng có hại, sau khi đến Giang Lăng muốn tổ chức vũ trang phải cần nhiều quân hơn, dân chúng chạy nạn chính là nguồn mộ binh tốt nhất. Nhưng, đám người này vàng thau lẫn lộn, người già, đàn bà và trẻ nhỏ chẳng những không đánh trận được, còn có thể làm liên lụy tới toàn quân. Nhưng giờ đâu thể phân loại bọn họ? Ông suy nghĩ hồi lâu, cuối cùng quyết định:
— Trước hết cứ đưa họ qua sông Hán Thủy, sau đó người nào nguyện ý theo chúng ta thì đi tiếp, còn người nào không muốn đi thì để họ ở lại Tương Dương. Coi như ta đã tận tình tận nghĩa!
Đợi khi chúng tướng và gia quyến đã qua hết sông, Lưu Bị lệnh cho Quan Vũ chở tiếp bách tính, còn ông lập tức dẫn hai ngàn tinh binh tới thành Tương Dương. Nhưng bốn cửa đóng kín, cầu treo kéo cao, tường thành giáp sĩ san sát, tinh kỳ phấp phới, cung nỏ kéo căng, sẵn sàng nghênh chiến. Khi Tống Trung trở lại, phía Tương Dương đã chuẩn bị đâu đấy.
Lưu Bị nhìn cảnh tượng này, trong lòng đau đớn - bởi do ông tính kế không chu toàn, không thể đoạt được Tương Dương, và cũng bởi cảm thấy đau lòng thay cho Lưu Biểu, ông ta dụng tâm tính kế, đề phòng người ta cả đời, chẳng ngờ xương cốt còn chưa lạnh, hai nhà Sái, Khoái đã dâng cơ nghiệp của ông ta cho kẻ khác. Thế cục lúc này còn chưa phân định, Lưu Bị không dám tùy tiện vào thành, cao giọng nói lớn:
— Huynh đệ trên thành hãy giúp ta bẩm báo, mạt tướng Lưu Bị cầu kiến Trấn Nam Tướng quân!
Lời này vừa dứt, một tiểu tướng thò ra lầu thành, nói năng hùng hổ:
— Giặc tai to kia! Ngươi chết đến nơi rồi, còn muốn kiếm chác Tương Dương sao?
Lưu Bị nhận ra kẻ đó là Trương Doãn, biết hắn theo phe Sái, Khoái, hận đến nghiến răng kèn kẹt, nhưng không thể trở mặt, nén giận nói:
— Trương tướng quân chớ hiểu lầm, ta có lời cần truyền đạt với chúa công.
Trương Doãn cười nhạt:
— Ngươi là kẻ tráo trở, luôn dùng tà thuyết mê hoặc người khác, đừng hòng gặp được chúa công nhà ta! Thức thời thì cút đi!
Lưu Bị nghe hắn thản nhiên nói “chúa công nhà ta”, không coi mình là tướng lĩnh Kinh Châu, giận sôi gan, quất ngựa tới mép hào quát:
— Họ Trương kia! Nếu ngươi nghi ngờ ta muốn đoạt Tương Dương, sao không phóng tên? Ta có mấy lời gan ruột muốn nói với chúa công, đó không chỉ vì bản thân ta, mà cũng vì quân dân bách tính trên dưới Kinh Châu!
Trương Doãn miệng hùm gan sứa, bị khí phách hiên ngang của Lưu Bị làm cho kinh hãi, không dám truyền lệnh bắn tên, ngập ngừng bảo:
— Ngươi... ngươi rốt cuộc muốn nói gì?
Các tiểu tướng Ngụy Diên, Lưu Phong sợ trên thành ám toán, dẫn binh sĩ xông lên bảo vệ Lưu Bị. Lưu Bị thét lớn:
— Xưa, Lưu Kinh Châu một mình đi nhận chức, giết Tô Đại, Bối Vũ, chống Viên Thuật, Tào Tháo, thu nạp hiền tài lánh nạn, hậu đãi nhân sĩ hào kiệt, hết lòng lo lắng, chịu bao khổ cực mới dựng nên cơ nghiệp. Các ngươi nhận sự ủy thác, vào lúc nguy nan đáng lẽ phải đồng tâm hiệp lực cùng ngăn ngoại địch, sao có thể thất tín bội nghĩa, dâng gia bang cho kẻ khác? - Lưu Bị nhiều lần đổi chủ nhưng bản tính kiệt ngạo, lòng ôm chí khí, những lời ấy đều là thật lòng, cho nên hùng hồn và chất chứa tình cảm, - Theo ý mạt tướng, xin chúa công nối lại hòa khí với đại công tử, huynh đệ hợp lực giữ Giang Miện, còn đám tướng tá như chúng ta thống lĩnh binh sĩ dốc sức tham chiến thì vẫn có thể bảo toàn Kinh Châu. Quân địch từ xa tới chắc chắn không thể ở lại lâu, nếu như phía đông kết minh với Tôn Quyền, phía tây liên thủ với Lưu Chương, tướng sĩ hào kiệt cùng tụ hội tại Kinh, Sở, đánh lại Tào tặc thì kết cục chưa ai nói chắc! Cứ thế này không đánh mà hàng, còn mặt mũi, nào nhắc tới tiên chủ đã khuất, mặt mũi nào đứng trước tướng sĩ ba quân, và còn mặt mũi nào nhìn mặt phụ lão hương thân của chín quận Kinh, Tương...
Binh sĩ trên thành đều là người Kinh Châu, từ những thay đổi trong mấy ngày nay không ít người đã lờ mờ đoán ra trong thành có chuyện, nhưng chỉ biết làm theo mệnh lệnh, nào dám hỏi nhiều, mãi đến lúc này họ mới hiểu ra bọn Trương Doãn muốn hàng Tào, nên lập tức xì xào bàn luận. Trương Doãn thấy quân tâm không yên, không dám để cho Lưu Bị nói tiếp, bèn chặn họng:
— Câm miệng! Tào Tháo là Thừa tướng đương triều, thay thiên tử chinh phạt bốn phương, hàng Tào đâu phải bất chính. Ngươi vốn là phản tướng của Tào doanh, biết mạng mình khó giữ nên đổi trắng thay đen, đầu độc nhân tâm! Mau cút đi cho ta, còn nhiều lời nữa bản tướng quân sẽ không khách khí!
Lưu Bị quát mắng:
— Tên tiểu nhân bỉ ổi không đáng cùng mưu việc lớn! Ta muốn gặp thiếu chủ!
— Chúa công sao có thể gặp ngươi? - Trương Doãn thét lớn, - Ta nể tình đồng liêu mới thả ngươi đi, còn chần chừ ta sẽ thả cầu treo, ra ngoài đánh một trận sống mái. Đến lúc đó, ngươi muốn chạy cũng không chạy được!
Kỳ thực, đó chỉ là lời đe nẹt, trong thành cũng có binh mã, nhưng hắn không dám xông ra. Bởi vì, sau khi mật lệnh điều động tướng lĩnh được ban xuống, có bộ tướng không chịu phục tùng, trong đó có Văn Sính hiện đang nắm giữ mấy ngàn binh mã, đồn trú mãi mé đông bắc, cách thành Tương Dương hơn chục dặm. Tin tức không thông, Trương Doãn không biết Vân Sính là địch hay bạn, nếu như ông ta thông đồng với Lưu Bị, nhân lúc hai bên giao chiến mà đánh vào trong thành thì chẳng thể trừ được họa. Nào dám tùy tiện mở cửa thành?
Đúng lúc đó lại có những tiếng ồn ào, dân chúng đã qua sông Hán Thủy ùa tới con hào như ong vỡ tổ, già trẻ trai gái la hét ầm ĩ:
— Mở cửa thành nhanh lên!... Cho chúng tôi vào!... Quân Tào sắp đánh đến rồi!...
Họ chưa biết chuyện Lưu Tông đã hàng Tào nến nghĩ rằng vào trong thành Tương Dương là có thể trốn được Tào quân.
— Yên lặng! Yên lặng!
Trương Doãn gân cổ quát, nhưng tiếng của hắn chìm nghỉm giữa sự hỗn loạn. Hắn ngước mắt nhìn, nạn dân càng lúc càng xúm lại đen kịt dưới chân thành, kẻ quỳ rạp xuống đất van nài, kẻ ngửa cổ chửi mắng đòi mở cửa thành. Trương Doãn mất bình tĩnh, truyền lệnh:
— Bắn tên! Mau bắn tên!
Binh sĩ thoáng do dự, song vẫn không dám làm trái lệnh. Tiếng chiêng vang lên, loạn tiễn bắn ra, những mũi tên lao vun vút về phía bách tính vô tội như đàn châu chấu.
Dân chúng lập tức rối loạn, người bị bắn chết, kẻ bỏ chạy tứ tán, không ít người chen lên phía trước bị xô ngã, tự giẫm đạp lên nhau, thương vong một mảng, kêu khóc rúng trời, thảm thương khôn xiết. Ngay cả đám người Lưu Bị cũng bị cuốn vào biển người, gượng mãi mới đứng thẳng được. Bách tính xung quanh đã tản đi quá nửa, chỉ có số ít tráng đinh cố trụ lại bên cạnh. Trương Doãn thấy bắn tên có hiệu quả, đang định truyền lệnh bắn tiếp loạt tên thứ hai, chợt nghe phía sau có tiếng quát:
— Dừng tay!
Trương Doãn quay lại nhìn thì thấy Khoái Việt, lúc này mới tạm an tâm.
Khoái Việt đứng cạnh tường, chắp tay thi lễ:
— Huyền Đức công, ngài vẫn bình an chứ.
Khoái thị ở Kinh Châu từ trước đến nay nổi tiếng hiền đức, bách tính đều biết, nên khi nhìn thấy ông ta đứng trên lầu thành, những tiếng ầm ĩ dần lắng xuống. Lưu Bị mặc dù rất hận ông ta, song cũng không thể thất lễ được, khách sáo nói:
— Thì ra là Khoái đại nhân, mạt tướng muốn tham kiến thiếu chủ.
— Chính chúa công đã phái ta tới. - Khoái Việt vân vế chòm râu, - Chúa công sai ta nói lại với ngài, thiên hạ hỗn loạn đã lâu, sinh linh rơi vào cảnh nước sôi lửa bỏng. Mong Huyền Đức công nghĩ tới trăm họ, sớm từ bỏ binh đao, thuận theo lệnh trời, tránh để cho lê dân bách tính lại phải lầm than lần nữa. Chỉ cần ngài chịu cởi giáp quy hàng, chỗ Tào công chúng tôi sẽ nói giúp, nhất định có thể giữ được mạng của tướng quân.
Lời này ý nói, thà tặng kẻ thù bên ngoài còn hơn là cho nô tài nhà mình. Rước Tào Tháo vào, bọn Sái, Khoái vẫn giữ được phú quý, nhưng một khi để Lưu Bị nắm quyền, họ đừng mong làm phú ông.
Lưu Bị thấy ông ta ăn nói thong thả, trong lòng nguội lạnh hẳn: thì ra chủ tớ Lưu Tông đã thống nhất với nhau, không thể vãn hồi chuyện hàng Tào được nữa, chỉ có thể tiếp tục chạy xuống phía nam mà thôi. Nghĩ vậy, ông định nói đôi lời khách sáo rồi dẫn quân rời đi, nhưng lại nghe bách tính gào to:
— Xin Khoái công cứu chúng tôi, binh Tào sắp tới, mau mở cửa thành! - Những dân thường này không biết chuyện Lưu Tông hàng Tào, cũng không biết vì sao lại không mở cửa thành, vẫn nghĩ rằng Lưu Bị, Lưu Tông cùng một phe, chỉ nóng lòng muốn trốn vào nơi an toàn.
Khoái Việt nhíu mày một lúc, cố nói lớn:
— Bình tĩnh! Các vị phụ lão hương thân, chớ nên hoảng sợ! Chúa công đã quyết định quy thuận triều đình Hứa Đô, mọi người hãy quay về quê, yên tâm gìn giữ gia nghiệp. Còn ai không muốn quay về có thể ngồi tạm tại chỗ, đợi Lưu tướng quân đi khỏi, ta sẽ mở cửa thành cho mọi người vào!...
Ông ta chưa nói dứt lời, bên dưới lại có người hỏi:
— Quy thuận triều đình nào? Triều đình ở đâu ra?
Lưu Biểu cai trị Kinh Tương hai chục năm, giống như hoàng đế đất này, chưa từng phổ biến chính lệnh của Hứa Đô xuống bách tính, nên rất nhiều người không hiểu được trong thiên hạ còn có triều đình.
Khoái Việt nhẫn nại giải thích:
— Triều đình... chính là Tào Thừa tướng! Tào công! - Người dưới thành vẫn ngây ra, ông ta liền nói thẳng, - Chính là Tào Tháo!
Hai từ “Tào Tháo” thốt ra, bên dưới lại ồn ào. Kinh Châu xưa nay luôn đối đầu với phương bắc, quan lại sở tại cũng chửi Tào Tháo là giặc, nói ông ta tàn sát bách tính, tàn bạo vô cùng; nay lại quay ngoắt sang quy thuận Tào Tháo, thử hỏi bách tính làm sao chấp nhận được?
Có người gào khóc:
— Không thể hàng Tào, nghe nói tên giặc ấy hiếu sát, giết sạch bách tính Từ Châu, còn chôn sống bảy mươi vạn người ở Quan Độ. Khoái công hàng Tào, lẽ nào không quan tâm đến sự sống chết của chúng tôi sao?
Tào Tháo từng phá thành, giết hại bách tính Từ Châu, nhưng việc này có nguyên do, cũng không đến nỗi giết sạch người dân. Còn trong trận Quan Độ, số quân Viên bị chôn sống thật ra là bảy vạn, lấy đâu ra bảy mươi vạn? Những năm qua, quan lại Kinh Châu luôn truyền bá cho bách tính tư tưởng Tào Tháo đáng sợ thế nào, lại còn ra sức thêu dệt tin đồn nên mới có sai biệt lớn như vậy!
Một ông lão trách móc:
— Ngàn vạn lần không thể hàng Tào, hắn mà cai trị đất này, dân chúng sẽ phải nộp thuế nặng trên năm phần. Tôi tuổi đã cao, thà chết cũng không chịu nỗi khổ đó!
Thực ra, quy định nộp thuế trên năm phần chỉ áp dụng với dân đồn điền, không liên quan tới những nông dân bình thường có hộ tịch. Có điều, khu đồn điỀn của Tào Tháo đều nằm ở Dự Châu và Hoài Nam, bách tính Kinh Châu gần đó nhìn thấy việc thu thuế hơn năm phần, cứ nghĩ rằng đó là quy định chung. Còn như ở Ký Châu chỉ thu bốn thăng thuế ruộng, nhưng họ không hề hay biết. Kẻ cai trị tuyên truyền để phục vụ lợi ích của mình, há lại đi nói chân tướng sự thật với bách tính hay sao? Nào ngờ, lúc cần thay đổi quan niệm lại nếm phải trái đắng!
Hai lý do tàn sát người vô tội và thu thuế nặng được nêu lên, bách tính lập tức hưởng ứng, hò hét ầm ĩ:
— Quan lại các ông không màng đến sự sống chết của dân đen chúng tôi ư?
— Không thể hàng Tào được, chúng ta mau chạy đi!
— Không vào được Tương Dương, chúng ta theo Lưu tướng quân thôi!
— Ông trời hãy mở mắt mà coi người dân chúng tôi đáng thương nhường nào!
— ...
Kỳ thực, phía Tương Dương và Tào Tháo đều muốn việc chuyển giao Kinh Châu diễn ra trong yên ổn, nên sẽ không để xảy ra sai sót gì. Tào Tháo sao có thể vô cớ giết người? Khoái Việt trong bụng đầy mưu hay, nhưng lúc này cũng chẳng có cách nào nói rõ với những bách tính đang phẫn nộ, ông ta gào khản cổ, mồ hôi nhễ nhại. Lại nghe một tiếng “rầm” lớn vang lên - cầu treo hạ xuống, cửa thành mở ra.
— Có kẻ chặt đứt khóa!
Khoái Việt có cảm giác máu trong người như bị rút cạn, nếu như Lưu Bị nhân lúc hỗn loạn mà xông vào thành thì nguy. Ông ta không còn quan tâm sự chết sống của lê dân nữa:
— Bắn tên! Mau bắn tên!
Trương Doãn không dám chậm trễ, chạy xuống dưới điều binh. May mà nhưng người ở vòng ngoài đều là bách tính, thấy mưa tên lao tới từ bốn phía, không ai dám tiến vào trong thành. Lưu Bị cũng kinh sợ, dẫn thân binh tháo chạy. Ông tưởng rằng trong thành phát binh đánh mình!
Biến cố bất ngờ xảy ra, trên dưới thành đều hỗn loạn. Lưu Bị bỏ chạy một hồi, chợt nghe phía sau có tiếng gọi quen quen, quay đầu lại nhìn, người xông ra không phải là quân binh thủ thành, mà chỉ là một đội quân ô hợp - có bách tính mặc áo vải, có sĩ nhân đầu đội mũ võ biền, còn có cả tiểu lại tạp dịch, người dẫn đầu mình khoác áo giáp, tay cầm bội kiếm, chính là Tòng sự Kinh Châu Y Tịch.
Lưu Bị lập tức ghì ngựa, Y Tịch phóng tới trước mặt, cũng không để ý tới lễ nghĩa, hổn hển nói:
— Lưu Kinh Châu đã mất, tại hạ từ nay về sau chỉ đi theo ngài! Mong Huyền Đức công thu nhận!
— Tốt! Tốt lắm! - Lưu Bị không ngờ vào lúc này vẫn có người nguyên ở dưới trướng mình, nên vô cùng xúc động.
— Không riêng tại hạ, - Y Tịch chỉ vào đám người phía sau, - Bọn họ đều nguyện ý đi theo ngài.
Y Tịch kiên quyết phản đối việc quy hàng Tào Tháo, nhưng không lay chuyển được bọn Khoái Việt, còn bị giữ trong thành, không trốn ra được. Ông ta câu kết với một đám tiểu lại có chức quan khá thấp, chuẩn bị đánh ra ngoài, song đành phải bó tay bất lực vì thành trì được canh phòng quá chặt. Hôm nay, Lưu Bị dẫn bách tính đến ngoài thành, la hét ầm ĩ, bên trong nhân tâm lo sợ, Y Tịch thừa cơ giết lính giữ cửa, hạ cầu treo trốn ra. Không ít quan lại hàn gia, tướng tá trai tráng và tiểu lại tạp dịch cũng xông ra theo. Những người này không giống người theo phe hàng Tào, bọn họ hoặc là bị hào tộc chèn ép, sinh lòng bất mãn, hoặc là tuổi trẻ hừng hực, tràn đầy nghĩa khí, hoặc là muốn kiến công lập nghiệp, thay đổi vận mệnh, quá nửa là bất đắc chí nên muốn đánh cược một lần.
Lưu Bị nhìn dòng người ùn ùn xông ra ngoài, tinh thần phấn chấn hẳn lên, Lưu Phong, Ngụy Diên ở bên cạnh nói:
— Tương Dương đã loạn, sao chúng ta không phát quân đoạt lấy thành này?
Lưu Bị lắc đầu:
— Lưu Kinh Châu lúc sắp mất đã phó thác con côi cho ta, sao ta có thể bội nghĩa chiếm mất thành trì của cha con họ? Chúng ta mau đi thôi.
Lưu Bị nói lời hay, nhưng thực ra trong lòng cũng không hẳn không muốn làm vậy, chỉ là không thể làm được mà thôi. Dù không tính đến chuyện hai nhà Sái, Khoái còn có binh mã, nếu ông may mắn lấy được Tương Dương thì làm sao ngăn được quân của Tào Tháo đang ầm ầm kéo tới? Đây chính là chui đầu vào rọ.
Sau một hồi luống cuống, quân coi giữ Tương Dương dần ổn định trở lại. Trương Doãn dẫn binh sĩ xuống dưới cửa thành, giết mấy chục mạng mới ngăn được dòng người muốn xông ra ngoài, nhưng cũng không dám truy kích Lưu Bị, Y Tịch, mà lại nhanh chóng rút về trong thành, lệnh cho binh sĩ đóng cửa lại, kéo cầu treo lên. Vậy là coi như dập tắt được một trận hỗn loạn, Khoái Việt gục xuống tường thành thở dốc, có cảm giác như vừa nhặt được mạng về.
Tiếng ồn ào tan dần, chỉ còn lại một bãi xác chết, đồ đạc linh tinh vương đầy dưới đất, con hào bảo vệ thành nhuộm đỏ máu tươi. Lưu Bị ngoảnh nhìn lầu thành đằng xa mà thở dài, lại cao giọng:
— Khoái Việt, Trương Doãn! Các ngươi bức ép thiếu chủ, bán nước cầu vinh, tàn hại bách tính vô tội. Bị ta quyết không đội trời chung với các ngươi! Chỉ cần ta còn một hơi thở cũng sẽ đấu với Tào tặc đến cùng!
Ném lại mấy lời ấy, đoạn dẫn bọn Y Tịch rút về mé đông hội họp với đại quân đang vượt sông.
Dọc đường toàn là bách tính bỏ chạy tứ tán, còn có không ít người bị thương nặng nằm gục dưới đất, khóc lóc rên rỉ, khiến lòng người não nề. Lưu Bị thở ngắn than dài suốt đường đi, một lúc sau ngẩng đầu quan sát: trên ngọn núi phía trước có một lăng mộ cao một trượng bảy thước, rộng chừng một mẫu, tấm bia dựng trước mộ còn mới, đó là mộ của Lưu Biểu.
Lưu Biểu mặc dù không có mưu lược, nhưng những năm qua trị lý Kinh Châu, ông ta thi hành chính sách khoan dung, yêu thương dân chúng, cho nên bách tính rất nhớ ơn, nay “Tào tặc” sắp vào tiếp quản Kinh Châu, bách tính chịu ấm ức đều chạy tới trước mộ khóc lóc. Gia Cát Lượng, Trương Phi tập hợp binh sĩ, còn Triệu Vân, Trần Đáo bảo vệ gia quyến, bọn họ đã đợi ở đây rất lâu, trông thấy Lưu Bị đi đến vội giục ông mau chóng lên đường. Thế nhưng Lưu Bị lắc đầu quầy quậy, nhảy xuống ngựa, bước tới trước mộ của Lưu Biểu, vái một vái dài sát đất. Kể ra cũng lạ, lúc Lưu Biểu còn sống, Lưu Bị chưa từng cảm thấy ông ta anh minh, thậm chí còn muốn chiếm đoạt địa bàn. Đến khi ông ta chết rồi, Lưu Bị mới nhận ra, ông ta chính là bóng cây đại thụ của mình, chỉ khi có mặt ông ta, Kinh Châu mới không bị rơi vào tay Tào Tháo.
Bản thân Lưu Bị cũng không rõ, rốt cuộc ông thật sự cảm khái hay là vì chịu ủy khuất mà lại rơi nước mắt. Ông buồn bã hồi lâu mới quay người leo lên ngựa, nhưng không đi nổi.
Bách tính từ bốn phía đều tụ lại, vây kín đám người của Lưu Bị, có người quỳ xuống đất dập đầu lia lịa:
— Xin tướng quân rủ lòng dẫn chúng tôi theo!...
Bọn họ sợ Tào Tháo, nên coi Lưu Bị là cứu tinh của mình. Một người lên tiếng, thảy đều hưởng ứng, chớp mắt người ở khắp núi quỳ rạp xuống, hầu hết muốn theo Lưu Bị chạy trốn. Dường như chỉ có đi theo Lưu Bị mới thoát được kiếp nạn, có người chạy đến nên nắm dây cương của bọn Lưu Bị, Gia Cát Lượng, như cố giữ lấy cọng rơm cứu mạng.
Tiếng van xin, tiếng khóc lóc, tiếng tán dương vang lên không dứt, trong lòng Lưu Bị nửa buồn nửa vui - Ông vui vì trong nửa cuộc đời bôn ba chưa khi nào có nhiều người nguyện ý đi theo mình đến vậy. Bách tính gia nhập nghĩa là nhân tâm hướng về, có nhiều hy vọng chống được Tào Tháo. Còn ông buồn là vì những người dân này tốt xấu lẫn lộn, trong đó phân nửa là người già, đàn bà và trẻ nhỏ, còn mang theo rất nhiều vật dụng, gia súc, chẳng sẽ ảnh hưởng tới việc hành quân ư?
Từ Thứ nhẹ nhàng khuyên hai người dân đứng cạnh tránh ra, nói nhỏ vào tai Lưu Bị:
— Kế sách hiện giờ là gấp rút tới giữ Giang Lăng. Chúng ta có nhiều người ủng hộ, nhưng binh sĩ mặc giáp lại ít ỏi, nếu quân Tào đuổi tới, sao cự nổi đây? Không thể dẫn dân chúng theo.
Lưu Bị không trả lời, chăm chú nhìn bách tính mang ánh mắt khẩn cầu, chỉ thấy hào khí trong lồng ngực bị đè nén bấy lâu bỗng dưng trỗi dậy, hùng hồn nói:
— Bách tính Kinh, Tương đã nguyện đi theo, sao ta nỡ bỏ lại họ? Mọi người hãy thu dọn đồ đạc theo ta!
— Đa tạ đại ân của tướng quân!...
Dân chúng đồng thanh hô lớn, đoạn vội vã dắt gia súc, đóng xe kéo, đeo tay nải, tất cả đều ngỡ rằng mình đã tìm được cứu tinh, nào biết bản thân đang bước vào con đường nguy hiểm hơn.
Từ Thứ liên tục can ngăn:
— Chúa công sẽ làm lỡ việc đó!
Nhưng Lưu Bị tỏ vẻ kiên quyết:
— Muốn nên đại sự phải lấy dân làm gốc, nay mọi người quy thuận, ta sao nỡ bỏ mặc được! Tào Tháo bức ép thiên tử, tru diệt Viên Thiệu, chiếm hết thiên thời, ta chỉ có thể lấy nhân hòa để kháng lại hắn.
Từ Thứ bị lý lẽ lớn lao đó chặn họng, không nói được gì, Gia Cát Lượng lo lắng:
— Chúa công đang đối mặt với nguy hiểm vậy mà vẫn không đánh mất tín nghĩa, thật đáng khâm phục, đáng khâm phục. Thế nhưng... Thế nhưng... Ây dà...
Lưu Bị cao giọng như thế, không thể trở mặt ngay trước mặt bách tính được, việc đến nước này, Gia Cát Lượng nói gì cũng vô ích. Tuy nhiên, Lưu Bị còn một ý khác, lại gần hai người, khẽ phân phó:
— Ta cũng biết chuyến này có nhiều nguy hiểm, hãy sai Quan Vũ đưa một vạn thủy quân tới Giang Lăng trước, tìm cách điều toàn bộ thuyền bè dưới trướng Lưu Kỳ đến bờ sông Hán Thủy tiếp ứng cho chúng ta. Có thể trốn đến Giang Lăng là tốt nhất, nhưng nếu hành quân chậm trễ, quân Tào đuổi đến nơi, ta sẽ lên thuyền chạy tới Giang Hạ, tạm lánh một thời gian. Các ông bí mật sắp xếp, chớ lộ ra ngoài.
Nói đoạn, ông hít một hơi sâu, ra vẻ ung dung, an ủi người già và trẻ nhỏ. Gia Cát Lượng, Từ Thứ vẫn rất lo lắng: dù cho sắp xếp như thế cũng khó mà đảm bảo không xảy ra sai sót gì. Mấy vạn dân quân đi trên đường, còn có gia quyến, xe thồ cùng với lương thảo, quân nhu, vạn nhất quân địch bất ngờ ập tới mà không có khả năng chống cự thì sẽ phải chuốc họa mất đầu. Đây rõ ràng là một canh bạc!
Tương Dương đổi chủ
Kẻ nên đi đã đi, người nên đến cũng đã đến. Tháng chín năm Kiến An thứ mười ba, đội quân tiên phong do Tào Tháo đích thân thống lĩnh vượt sông Hán Thủy, tiến sát chân thành Tương Dương.
Mặc dù Tào Tháo luôn miệng nói rằng, đất Kinh Tương không cần đánh cũng bình định được, song khi sứ giả do Lưu Tông phái tới xin hàng, ông vẫn có chút nghi ngờ. Theo như ông nghĩ, ít nhất cùng phải đợi khi đại quân rầm rộ kéo đến sông Hán Thủy, phô bày trận thế hùng tráng, quần thần Kinh châu mới xét tới việc đầu hàng. Cho nên, khi Tào Tháo nghe nói Lưu Biểu đã chết, Lưu Tông muốn quy hàng, phản ứng đầu tiên của ông là tìm Lâu Khuê, người từng có thời gian gửi thân ở Kinh Châu hỏi thật giả.
Lâu Khuê đáp rằng:
— Thiên hạ nhiễu loạn, người nào cũng muốn vin vào lệnh vua để củng cố thế lực, cha con Lưu Biểu xưa nay coi mình là danh sĩ thanh lưu, càng coi trọng điều này. Nay Lưu Tông đã mang phù tiết, cờ bạch mao tới trước, chắc chắn là thành tâm quy hàng, ngài còn gì không yên tâm?
Tào Tháo lúc này mới tin Kinh Châu thực sự quy hàng, còn rút ra một kết luận: thế lớn của thiên hạ đã quy về một mối, không thể nghịch chuyển được, chiến sự sau này càng dễ dự đoán.
Thành Tương Dương từng được Lưu Biểu coi là cơ nghiệp vẻ vang một đời, bốn cửa mở toang cho Tào quân tiến vào, tất cả binh sĩ vứt bỏ binh khí, tập trung ngoài thành. Thái thú Chương Lăng Khoái Việt, Trị trung tòng sự Đặng Hi dẫn toàn bộ quan viên ra ngoài nghênh giá, ai nấy đều đã cởi tang phục, đổi một bộ quần áo mới, đon đả vái lạy chủ nhân mới. Bọn họ vui vẻ, cung kính như thể mình vốn dĩ là người của Tào Tháo, quên béng Lưu Biểu vừa mới nằm xuống. Chỉ có huynh đệ Lưu Tông, Lưu Tu muốn khóc mà không khóc nổi, quỳ bên vệ đường, dâng ấn Kinh Châu mục, Trấn Nam Tướng quân, đợi sự phán quyết của số phận.
Tào Tháo ngồi trên yên ngựa nhảy xuống đỡ một vị quan râu tóc bạc phơ đứng dậy, đưa mắt nhìn khắp chúng nhân, ra vẻ ngạo nghễ. Ông chỉ phất tay áo, ra hiệu cho chủ bạ Ôn Khôi nhận ấn tín, rồi dẫn bộ hạ ruổi ngựa về phía cửa thành. Nhưng khi lướt qua đám người nghênh giá, ông đột nhiên ghì ngựa:
— Ha ha! Ta không mừng vì lấy được Kinh Châu, chỉ mừng có được Dị Độ!
Khoái Việt ngạc nhiên:
— Xa cách đã hơn hai mươi năm, Thừa tướng vẫn nhận ra tại hạ sao?
Tào Tháo cầm tay ông ta, tỏ vẻ gần gũi:
— Tây tào duyện phủ Hà Tiến năm xưa, làm sao ta có thể quên bằng hữu cũ?
Tuân Du, Hứa Du, Lâu Khuê cũng lục tục xuống ngựa, gọi “Khoái Tây tào”, nghe rất thân thiết. Khoái Việt thấy toàn người quen, trong lòng cảm khái: còn nhớ khi xưa ông làm Tây tào duyện trong mạc phủ, lo chuyện điều động nhân sự, cất nhắc danh sĩ trong thiên hạ, vẻ vang nhường nào? Nay, người ta ngồi ở ngôi cao, còn ông là kẻ “bán chủ cầu vinh”, thê thảm làm sao? Nghĩ đến đây, Khoái Việt lắc đầu quầy quậy:
— Hổ thẹn, hổ thẹn...
— Có gì phải hổ thẹn? Ông là công thần của lão phu, không có ông ở giữa lo liệu, sao ta có thể dễ dàng lấy được Kinh, Tương?
Đúng vậy, Lưu Biểu mới chết, nhân tâm dao động, Lưu Bị và Lưu Kỹ lại lăm le dòm ngó, muốn dâng đất quy hàng cũng chẳng dễ. Tào Tháo nói lời này vốn xuất phát từ ý tốt, nhưng Khoái Việt lại thấy chua xót:
— Hổ thẹn, hổ thẹn...
Ngoài hai từ ấy ra, ông ta còn biết nói gì đây?
— Đức Khuê ở đâu? - Người Tào Tháo muốn gặp nhất vẫn là Sái Mạo.
Khoái Việt càng tỏ vẻ lúng túng, ngập ngừng nói:
— Đức Khuê thân thể không khỏe, mấy bữa nay đều ở nhà tĩnh dưỡng, không thể nghênh tiếp Thừa tướng. Xin Thừa tướng thứ lỗi.
Ông ta bệnh thật hay giả? Tào Tháo thoáng ngây ra, rồi lấy lại tinh thần:
— Đi, chúng ta cùng vào thành.
Khoái Việt không dám coi mình là bằng hữu cũ, muốn từ chối, nhưng cổ tay lại bị Tào Tháo nắm chặt, đành cúi đầu cung kính đi theo bên cạnh. Tào Tháo tới trước con hào, bỗng đứng lại, nhìn lầu thành mà cười không đừng được.
— A Man huynh, ngài cười gì vậy?
Hứa Du đi phía sau buột miệng hỏi.
— Ta cười nơi đây có quá nhiều cố nhân. - Tào Tháo chỉ lên lầu thành, - Ông nhìn xem, hai chữ “Tương Dương” khắc trên đó là bút pháp của ai?
Hứa Du nhìn hai chữ triện ngay ngắn, cũng không nhịn được cười. Đó không phải là bút tích của lão già Lương Hộc - Lương Mạnh Hoàng ư? Năm xưa, khi Tào Tháo chưa đắc thế từng tới bái vọng Lương Hộc, nhưng bị chặn ngoài cửa, không ngờ ông ta cũng trốn đến Kinh Châu, đúng là báo ứng.
Khoái Việt không biết đoạn chuyện này:
— Thừa tướng có giao tình với Lương Mạnh Hoàng sao? Ông ta ở phía tây thành, có thể gọi tới hàn huyên.
— Ây dà... có bằng hữu lại muốn ôn chuyện cũ.
Tào Tháo nhớ tới Vương Tuấn, lại thở dài sườn sượt, nói lời sâu xa rồi dẫn chúng nhân vào trong thành. Các mưu sĩ, quan tướng theo sát phía sau, quần liêu Kinh Châu biết điều xếp hàng sau người của Tào doanh, còn huynh đệ Lưu Tông bị kẹp giữa một đám binh sĩ.
Phủ Trấn Nam Tướng quân không rộng bằng mạc phủ ở Nghiệp Thành nhưng lại có nét tinh tế, cổ kính, thể hiện khí chất nho nhã của Lưu Biểu. Ở đây còn một lượng lớn tranh vẽ quý giá, kinh sách tàng thư, là một kho tàng văn hóa hiếm hoi giữa thời loạn. Thế nhưng, bút giấy không đỡ được đao thương, giờ hết thảy mọi thứ của nơi này đều thuộc về Tào Tháo. Ông ung dung ngồi trên đại đường, còn các nhi tử của Lưu Biểu khúm núm bên dưới đợi sự phán xử. Lưu Tông dù sao cũng chủ động quy hàng nên Tào Tháo tỏ ra độ lượng, tuyên bố xóa hết các tội cát cứ tự vệ, câu kết với Viên Thiệu, vượt phận làm lễ tế trời, chống lại quan quân triều đình, cho họ cùng với lại dân Kinh Châu một khởi đầu mới. Tào Tháo phong Lưu Tông làm liệt hầu, nhận chức Thứ sử Thanh Châu, phải lên đường nhận chức ngay lập tức, còn ban cho đệ đệ của anh ta là Lưu Tu làm hiếu liêm, đưa gia quyến dời đến Nghiệp Thành.
Ông đưa ra cách sắp xếp này khi đã bàn trước với bọn Tuân Du, Hứa Du, Lâu Khuê. Lưu thị cai trị Kinh Châu gần hai mươi năm, dù cho huynh đệ Lưu Tông không còn dã tâm, nhưng khó có thể đảm bảo sau này sẽ không có kẻ mượn danh nghĩa của họ để mộ binh tạo phản. Việc Lưu Bị lôi kéo Lưu Kỳ không phải là một ví dụ sao? Vì thế, không thể giữ Lưu Tông ở lại Kinh Châu. Tào Tháo chọn Thanh Châu là có thâm ý, Thanh Châu được giao cho bọn Tang Bá, Tôn Quan tự trị, Lưu Tông đến đó nhận chức cũng chẳng có thực quyền. Còn việc đưa Lưu Tu đến Nghiệp Thành, thực ra là làm con tin.
Lưu Tông nghe nói mình phải lập tức lên đường, ngây người hồi lâu mới khẽ tâu:
— Tội thần dâng đất quy thuận, sẵn sàng nghe xử trí, vốn không dám mong cầu gì nhiều. Nhưng tiên phụ vừa mới mất, xin Thừa tướng cho phép tội thần ở lại giữ lăng mộ cho đủ một năm.
Nhưng Tào Tháo lại nói:
— Đại lễ bất từ tiểu nhượng, đại hiếu bất thúc tiểu tiết[1]. Ngươi quy thuận triều đình coi như đã lấy lại cái tiếng là trung thần cho lệnh tôn, hà tất còn phải giữ lăng làm kẻ ngu trung, ngu hiếu? Hãy đi đi.
Lưu Tông sinh ra và lớn lên tại Kinh, Tương, phụ mẫu cũng đều chôn cất ở đây nên không muốn dời đi nơi khác, lại thỉnh cầu một lần nữa:
— Thanh Châu đường xa vạn dặm, xin Thừa tướng đổi cho chức quan. Tội thần nguyện ở lại Kinh Châu, làm một Tòng sự nhỏ nhoi...
Tào Tháo không đợi anh ta nói hết câu đã cắt ngang:
— Đứa trẻ này thật không hiểu chuyện! Ta là Thừa tướng đương triều, thay thiên tử bãi nhậm trăm quan, há có thể tùy ý thay đổi? Đất Kinh, Sở chưa dứt can qua, huynh trưởng của ngươi còn chiếm giữ Giang Hạ không chịu quy hàng, ngươi ở lại đây không tiện, dời đi thì vẫn hơn.
Lưu Tông lớn lên giữa một đám văn nhân, là công tử cao quý, có khi nào phải chịu khuất phục trước kẻ khác? Anh ta thấy Tào Tháo tỏ vẻ giận dữ, sợ hãi bật khóc, quỳ xuống van nài:
— Tào Thừa tướng... Tội thần không muốn làm quan, nguyện nhàn cư ở cố hương, cả đời giữ mộ của phụ mẫu...
— Cố hương? - Tào Tháo cười lạnh lùng, - Kinh, Tương há phải cố hương của sứ quân? Có ai không biết Lưu Cảnh Thăng là danh sĩ Cao Bằng, quận Sơn Dương? Ngươi muốn về cố hương thì cũng phải về Duyện Châu chứ. Tức tốc lên đường, không được nhiều lời!
Lưu Tông nghe xong, nước mắt giàn giụa. Anh ta sinh ra ở Kinh, Tương, lớn lên ở Kinh, Tương, thế mà quê nhà lại trở thành xứ lạ. Thứ đệ Lưu Tu còn nhát gan hơn, chỉ biết ngậm ngùi lau nước mắt. Tào Tháo không nhẫn nhịn được nữa, trực tiếp dặn dò thân binh:
— Các ngươi đi giúp Lưu sứ quân thu dọn hành lý, đưa sứ quân lên đường ngay tức khắc.
Thân binh tiến lên kéo Lưu Tông ra ngoài, Lưu Tu thấy hai huynh đệ bị chia cắt, liền đuổi theo, nhưng bị giáp sĩ ôm vào hậu đường.
Khoái Việt từng thề sẽ giữ toàn cho họ trước mặt Lưu Biểu, chứng kiến cảnh này vội quỳ xuống:
— Khẩn cầu Thừa tướng nể công dâng đất mà rộng lượng một chút. - Dứt lời hốt hoảng dập đầu.
Tào Tháo cười nói:
— Dị Độ đâu cần căng thẳng vậy? Lưu Cảnh Thăng là nhân sĩ nổi tiếng một đời, lão phu sao có thể mưu hại các con của ông ta? Dù ta không nghĩ đến danh tiếng của Lưu Biểu, thì cũng phải nể mặt Sái gia. Ta chỉ muốn đưa bọn chúng rời khỏi Kinh Châu, không có ý gì khác. Gia quyến dời đến Nghiệp Thành, có thể tùy ý mang theo của cải trong phủ, sau này ta còn chiếu cố thêm nữa. Ông cứ yên tâm.
Khoái Việt nghe ông nói rõ như vậy mới tạm an lòng, đang định giới thiệu quần liêu, song Tào Tháo chắn trước:
— Việc phong quan không cần vội, trước mắt phải sớm lo liệu đại sự trong quân. Lưu Kỳ là con nhà phú quý, chẳng đáng lo lắng, nhưng không biết Lưu Bị trốn đến chỗ nào? - Từ chuyện phản bội ở Từ Châu, đến chuyện chiếu thư trong đai ngọc, Tào Tháo đều ghi nhớ trong lòng, há có thể dễ dàng tha cho Lưu Bị?
— Lương thảo, quân nhu của Kinh Châu đều để ở Giang Lăng, đó lại là con đường trọng yếu nối với Giang Nam. Hẳn là Lưu Bị chạy tới Giang Lăng.
— Sao không nói sớm! - Tào Tháo bắt đầu cảnh giác, - Hắn đã chạy được bao nhiêu ngày?
— Hơn mười ngày. - Nhưng Khoái Việt không lo lắng, - Thuộc hạ nhận được quân báo, bộ quân của Lưu Bị mang theo gần mười vạn bách tính, mỗi ngày chỉ đi được hơn chục dặm, mà tới Giang Lăng phải mất năm trăm dặm, ước chừng giờ hắn vẫn chưa đi được nửa đường. Thuộc hạ đã phái người báo với quân coi giữ Giang Lăng, tăng cường phòng bị, đợi đại quân của minh công đến đủ, rồi truy kích cũng không muộn.
— Tuy có phòng bị, nhưng chỉ e đêm dài lắm mộng...
Năm đó, cuộc nổi loạn ở Từ Châu mới chỉ nổ ra vài ba ngày mà Lưu Bị đã tập hợp được mấy vạn người. Khi diễn ra trận Quan Độ, ông ta lại câu kết với Lưu Tích, Cung Đô ở Nhữ Nam làm loạn, cho nên Tào Tháo hiểu rõ tài xúi giục của ông ta, liền phân phó:
— Tào Thuần, Hàn Hạo, Sử Hoán nghe lệnh!
— Rõ.
Đô đốc Tào Thuần, Trung hộ quân Hàn Hạo, Trung lĩnh quân Sử Hoán bước ra khỏi hàng.
— Quân nhu ở Giang Lăng không thể xảy ra sai sót được, các ngươi lập tức dẫn binh truy kích Lưu Bị, chiếm Giang Lăng trước.
— Sao?
Ba người họ quay sang nhìn nhau, Tào Thuần lên tiếng:
— Bọn mạt tướng đều đi lĩnh binh cả, lấy ai bảo vệ chúa công?
Tào Tháo cho khinh binh tới tiếp quản Tương Dương trước, nên chỉ dẫn theo hơn một vạn binh mã. Lúc này, ông lại phái binh sĩ tinh nhuệ của trung quân và hổ báo kỵ đi hết, vạn nhất ở đây xảy ra loạn thì phải làm sao?
Nhưng Tào Tháo nói:
— Không sao, chưa đến một ngày nữa bọn Nhạc Tiến sẽ đến nơi, có thể bảo vệ chu toàn cho ta. Hơn nữa, đám người Khoái công đều là bằng hữu của ta, sẽ không có sơ suất. - Dứt lời ông mỉm cười với Khoái Việt, tỏ ý tín nhiệm.
Hàn Hạo nói thêm:
— Chúng mạt tướng mới tới Kinh Châu, chưa thuộc đường đi, cần có tướng lĩnh bản xứ đi theo dẫn đường.
Đây là chuyện khó, Tào Tháo chưa kịp hỏi Khoái Việt, dưới sảnh đường đã có người chủ động xin lệnh:
— Mạt tướng Trương Doãn nguyện dẫn đường.
Tào Tháo biết Trương Doãn là cháu ngoại của Lưu Biểu, nhìn hắn dáng người không cao, sức vóc bậc trung, nhưng khuôn mặt luôn tươi cười, chẳng có vẻ gì giống với người tài năng, thiện chiến, sợ hắn không đảm đương được nhiệm vụ, song lại ngại gạt phắt sự nhiệt tình của hắn:
— Tướng quân dũng cảm đáng khen, lệnh cho ngươi...
Lời này chưa dứt, lại nghe bên ngoài có tiếng ồn ào, bọn Hứa Chử, Đặng Triển giải một quan tướng bị trói vào trong sân. Người này thân cao chín thước, vai rộng eo tròn, khuôn mặt đen sì, râu hùm mắt hổ, sống mũi rất thẳng, miệng rộng mang tai. Nhìn qua là biết một viên dũng tướng.
Hứa Chử hằm hằm bẩm tấu:
— Tướng lĩnh các bộ Kinh Châu đều ở trong thành quy hàng, chỉ có thằng nhãi này chiếm giữ quân doanh, không chịu giao nộp binh sĩ. Mạt tướng phải dùng lệnh tiễn của Thừa tướng mới điều được hắn vào thành. Xin chúa công xử lý!
Tào Tháo không nổi giận mà còn tỏ ra vui mừng:
— Tướng quân tôn tính đại danh là gì?
Viên tướng đó ủ rũ, không thèm trả lời, Trương Doãn cướp lời nói:
— Người này họ Văn, tên Sính, tự Trọng Nghiệp, người Nam Dương. Lúc chúng thẩn bàn việc quy hàng, tất cả tướng lĩnh đều nguyện theo, chỉ có hắn ta giữ binh mã ở ngoài, không chịu vào thành, thực là trọng tội! Xin Thừa tướng xử phạt thật nặng.
Văn Sính bị chúng nhân dẫn lên đại đường, nhưng vẫn đứng thẳng không chịu quỳ, chỉ cúi gằm đầu thở dài. Thân binh tả hữu cùng thét lớn:
— Gặp Thừa tướng, sao còn không quỳ?
— Ây dà, chớ làm khó Văn tướng quân. - Tào Tháo tiến lại gần ông ta, nhìn kỹ từ trên xuống dưới, càng cảm thấy người này sức vóc hơn người, nhưng trông vẻ mặt buồn bã, bèn hỏi, - Chúng tướng Kinh Châu đều quy hàng, tướng quân ở gần vì sao lại đến chậm?
Văn Sính còn chưa mở miệng, mắt hổ đã chan chứa lệ:
— Trước kia tôi chẳng thể giúp được Lưu Kinh Châu phụng sự quốc gia, nay lại chẳng thể giúp được thiếu chủ chống lại ngoại địch. Tương Dương tuy đã quy hàng, nhưng tôi vẫn muốn giữ đất Hán Xuyên để kháng cự quan quân, những mong sống không phụ lại con côi, chết không thẹn với người dưới đất. Nhưng lại đến nông nỗi này... - Nói đến đây, ông ta nghẹn ngào, - Tướng mất nước đau lòng hổ thẹn, còn mặt mũi nào tới gặp tân chủ?
Người đàn ông to lớn ấy mới nói được đôi câu mà cứ sụt sùi khóc mãi, lát sau bỗng khóc rống lên, tiếng khóc bi thương dội lên tận mái nhà.
— Im ngay! - Trương Doãn thét lớn, - Sao dám thất lễ trước mặt Thừa tướng?
— Ngươi câm miệng! - Tào Tháo gằn giọng, - đều là tướng lĩnh Kinh Châu, người ta biết hổ thẹn, còn ngươi có biết không?
— Dạ, dạ. - Trương Doãn bị ông hỏi vặn, mặt đỏ bừng, vội lui lại một bên.
— Ngươi đúng là trung thần! - Tào Tháo cảm thán tự đáy lòng, đích thân cởi trói cho Văn Sính, - Kinh Châu đã đổi chủ, nhưng lão phu nhất định đối đãi khoan hậu với bách tính nơi đây. Nếu tướng quân không bỏ đi, có thể giúp ta cùng mưu đại sự không?
Dứt lời liền chắp tay vái chào. Thừa tướng đương triều thi lễ với một tội tướng, Văn Sính đang chảy nước mắt cũng phải giật mình, hai mắt nhìn chăm chú:
— Mạt tướng có tài đức nào, sao dám...
Tào Tháo càng tỏ ra cung kính:
— Tướng quân tài đức vẹn toàn. Lão phu muốn an định thiên hạ từ lâu, há có thể bỏ qua nghĩa sĩ? Nếu tướng quân phò tá ta như Lưu Kinh Châu, trên có thể trừ nguy nan cho thiên hạ, giữa có thể cứu bách tính thoát khỏi chiến loạn, dưới có thể cầu công danh phú quý chốn triều đường. Không biết ý tướng quân thế nào?
— Việc này... Việc này...
Văn Sính không biết đối lại ra sao. Trước đây Lưu Biểu cũng rất trọng dụng ông ta, nhưng Lưu Biểu dù sao cũng chỉ là văn nhân, không ưu ái võ nhân nhiều như vậy. Nay Tào Tháo lại tự hạ thấp thể diện của một Thừa tướng để đối đãi với kẻ sĩ, khiến cho Văn Sính có chút ngượng ngùng.
Tào Tháo thấy sắc mặt ông ta thay đổi, lại nói tiếp:
— Tướng quân chớ do dự, tất cả binh mã dưới trướng vẫn sẽ do tướng quân sai phái, lão phu không lấy mất một người nào, còn tặng thêm quân nhu, lương thảo. Quân Kinh Châu cần phải dựa vào một dũng sĩ Kinh Châu như tướng quân dẫn dắt, còn có yêu cầu gì tướng quân cứ nói.
Văn Sính không nghe lọt nữa, quỳ sụp xuống đất:
— Tướng bại trận nào dám nói nhiều? Được sự quý trọng của Thừa tướng, mạt tướng dù có phải thịt nát xương tan cũng không hối tiếc!
— Tốt lắm! - Tào Tháo đỡ ông ta dậy, - Trước mắt ta có việc cấp bách cần phiền đến tướng quân, không biết tướng quân có...
— Mạt tướng lĩnh mệnh! - Văn Sính không để Tào Tháo nói hết đã vội đồng ý.
Khoái Việt chợt ngẩn người ra: rốt cuộc dùng binh vẫn chẳng bằng dùng người, Tào Mạnh Đức không hổ là cao thủ dùng người, mới nói hai ba câu đã thu phục được Văn Sính. Giá như cha con Lưu Biểu cũng có thể hạ mình đối đãi võ nhân như thế, Kinh Châu đâu đến nỗi như ngày hôm nay?
Tào Tháo không khách sáo, nghiêm mặt truyền lệ:
— Văn tướng quân, lão phu tạm thời nhận mệnh ông làm Trung lang tướng, nghe lệnh điều động của trung quân. Nay Lưu Bị trốn về Giang Lăng, hãy tức tốc thống lĩnh kỵ binh tinh nhuệ dưới trướng dẫn đường truy kích, sau này nên việc lão phu sẽ còn phong thưởng.
— Mạt tướng tuân mệnh!
Sử Hoán thấy chúa công kiếm được một tiên phong dễ quá, cảm thấy buồn cười nên nói đùa:
— Văn tướng quân, kỵ mã trung quân của chúng tôi đều là ngựa tốt U Châu. Ông dẫn đường phải đi nhanh hơn chúng tôi, có cần tôi chia bớt cho mấy chục con khoái mã không?
Văn Sính trừng mắt nói:
— Người phương bắc các ông có bản lĩnh gì lớn? Tôi người không thua ông, ngựa cũng không thua ông, chúng ta cứ chờ xem!
— Đi!
Bốn tướng nói cười đi điểm binh.
Tào Tháo nhìn bọn họ đi rồi mới an tâm:
— Ngày mai đại quân đến nơi, lập tức xuất binh theo sau tiếp ứng, tuyệt đối không thể để cho Lưu Bị cướp được quân nhu. Giờ ta có việc riêng cần ra ngoài, mọi việc trong thành xin nhờ quân sư lo liệu.
Hứa Chử, Đặng Triển vội tiến lại gần:
— Chúa công vừa mới đến đất này, lòng người khó lường. Chúng tôi phải theo hầu bảo vệ chúa công!
— Không cần. - Tào Tháo xua tay, - Ta tới thăm bạn cũ, các ngươi tay đao tay kiếm, không tiện đi theo
Hứa Chử xưa nay luôn ít lời, nhưng lúc này cũng bất giác hỏi:
— Người nào mà phải để chúa công đích thân thăm viếng vậy?
Tào Tháo cố làm ra vẻ bí hiểm:
— Bằng hữu này của ta lợi hại lắm, ông ta không vào trong quân của ta thì coi như chúng ta mới chỉ có được một nửa Kinh Châu thôi. Hôm nay ông ta ở nhà giả bệnh không ra, lão phu phải đích thân đi một chuyến.
Dứt lời liền nháy mắt với Hứa Du và Lâu Khuê, hai người họ đều mủm mỉm cười.
❀ ❀ ❀
[1] Một tuần ở đây là mười năm.