Những ngọn đèn trên Đồng Tước đài sáng lấp lánh như viên minh châu khảm vào giữa màn đêm mịt mùng.
Tuy rằng thời tiết nắng mưa thất thường, thiên tai liên tiếp xảy ra, trăm họ khốn khổ điêu đứng, Tôn, Lưu cũng chưa diệt được, ẩn họa trùng trùng, nhưng màn đêm u tịch đã che lấp tất cả. Cánh đồng hiu quạnh như được ánh trăng dát lên một lớp lụa mỏng, cây cối xơ xác được ánh đèn chiếu vào đỏ rực, tới cả tiếng gió thổi vù vù dường như cũng biến thành khúc nhạc du dương. Người ngồi trên đài cao đều đang nói cười, đàn hát vui vẻ, lúc này không ai nhắc đến thiên tai, bách tính, chiến tranh, mà cùng đắm chìm trong nền thái bình hư ảo, say sưa thưởng thức vẻ đẹp lung linh của Đồng Tước đài. Có lẽ mọi thứ phát sáng trên đời đều được tôn lên nhờ bóng tối.
Bữa tiệc lần này được tổ chức nhằm hai mục đích, một là chúc mừng Thiền vu Hung Nô Hô Trù Tuyền thần phục Tào Ngụy, hai là chúc mừng Chung Do chính thức nhận chức Tướng quốc nước Ngụy.
Hung Nô năm xưa là con sói hung ác xưng hùng ngoài biên ải, từ ngày Nhật Trục Vương Bỉ nương theo nhà Hán, Hung Nô dần suy yếu, đến nay chẳng khác nào con cừu có mình dưới chân Tào Ngụy. Tuy nhiên, huynh trưởng Hô Trù Tuyền là Ư Phu La từng là kẻ thù của Tào Tháo, hơn nữa Hô Trù Tuyền còn từng câu kết với Cao Cán, nên mặc dù bây giờ ở trong mắt Tào Tháo, Hung Nô đã sa sút, nhưng vẫn còn canh cánh nỗi lo. Vì vậy, nhân dịp được tấn thẳng tước vương, Tào Tháo bắn tin với Hung Nô, mời Hô Trù Tuyền đến Nghiệp Thành triều kiến. Trên danh nghĩa, Hung Nô là phiên quốc của nhà Hán, triều kiến Ngụy Vương há chẳng phải quay sang xưng thần với nước Ngụy hay sao? Hô Trù Tuyền biết rõ lợi hại, có điều người đứng dưới hiên thấp không thể không cúi đầu. Hô Trù Tuyền vốn nghĩ chỉ cần mình giữ thể diện cho Ngụy quốc, để Tào Tháo hưởng chút hư vinh được ngoại tộc thần phục là được, ai ngờ đến Nghiệp Thành rồi mới vỡ lẽ, người ta ngay đến cả phủ Thiền vu cũng đã xây xong, phen này khỏi cần tính đường về.
Tào Tháo đã sớm sắp đặt, từ nay Hung Nô ở đất cũ Tịnh Châu được chia làm năm bộ. Tả bộ là huyện Tư Thị, hữu bộ là huyện Kỳ, nam bộ là huyện Bồn Tử, bắc bộ là huyện Tân Hưng, trung bộ là huyện Đại Láng[1]. Mỗi bộ do một vị vương hầu Hung Nô cai trị cùng với một viên quan người Hán giữ chức Tư mã được triều đình nước Ngụy nhận mệnh. Năm bộ không lệ thuộc lẫn nhau, cũng không được tùy tiện xê dịch. Để bày tỏ sự “quan tâm” của Tào Ngụy đối với Hung Nô, sau này Thiền vu Hô Trù Tuyền sẽ ở lại Nghiệp Thành, được đối đãi bằng lễ thượng khách, không cần trở về Bình Dương nhọc lòng lo nghĩ “chuyện thế tục” - Vậy là địa vị thuộc quốc của Hung Nô chỉ còn trên danh nghĩa, từ đây họ thực sự trở thành con dân người Hán.
Bờ cõi Hung Nô đã được truyền nối suốt hơn bốn trăm năm, đến đời Hô Trù Tuyền thì mất hết, nhưng hiện giờ Hung Nô không phải đối thủ của Tào Ngụy, huống chi bản thân Hô Trù Tuyền còn rơi vào miệng cọp, có kháng cự cũng vô ích. Nghĩ lại, thiên tử nhà Hán còn là bù nhìn, Thiền vu một nước nhỏ như ông ta đã là gì? Người ta là dao thớt, còn ông là cá thịt, chỉ có thể nghe theo sự sắp đặt, an phận ở Nghiệp Thành sống nốt quãng đời còn lại.
Chung Do nhận chức Tướng quốc cũng là chuyện lớn. Từ khi Quang Vũ Đế phục hưng nhà Hán đến nay, tướng nước chư hầu đều do triều đình nhận mệnh, nói là phò tá nhà vua nhưng thực ra là quan đứng đầu địa phương. Tào Ngụy tất nhiên không giống với những phong quốc khác, một Tướng quốc như Chung Do do Tào Tháo tự phong có quyền mở phủ dựng nha, thu nạp duyện thuộc, tương tự tam công của nhà Hán khi xưa. Tào thị tấn vị từ tước công lên tước vương không chỉ là thăng chức, mà đó còn là một bước nhảy vọt của phong quốc Tào Ngụy, nói Tào Ngụy là phong quốc của nhà Hán chẳng bằng nói Tào Ngụy là “thượng quốc” của nhà Hán.
Chúng nhân ngồi trên Đồng Tước đài đưa chén nâng ly, oanh ca yến vũ, ai cũng nói những lời lọt tai. Đại Thiền vu Hô Trù Tuyền khoác áo lông cừu, đầu đội mũ cắm lông đuôi trĩ, cùng với các thuộc hạ như Hữu Hiển Vương, Cốc Lãi Vương, Nhật Trục Vương ngồi ở mé tây, dáng vẻ phóng khoáng, cử chỉ oai vệ. Tướng quốc Chung Do mặc áo bào tím, đầu đội mũ ngũ lương, cùng với công khanh nước Ngụy ngồi ở mé đông, cử chỉ khoan thai, thần thái nho nhã. Ấy vậy mà chủ nhân của Đại Ngụy ngồi chính giữa lại làm hỏng bức tranh đẹp - Tào Tháo dáng thấp, năm nay mới ngoài sáu mươi tuổi mà lưng đã hơi gù. Những năm gần đây, ông ngoài thì đánh tây nam, trong thì lo việc nước, râu tóc đều đã bạc cả rồi, gò má còn có mấy vết lốm đốm, khuôn mặt vỗ vàng, nom già hơn nhiều so với tuổi thực. Nếu không phải mình khoác vương bào, đầu đội mũ miện đính tua ngọc, ai tin được ông cụ uể oải kia chính là Ngụy Vương uy nghi? Và ai biết được khuôn mặt vỗ vàng ấy đang che giấu một trái tim hiếu chiến như dã thú?
Hữu Hiển Vương Khứ Ty năm xưa từng bảo vệ thiên tử về đông, thấm nhuần vương hóa, lại thông hiểu phong tục người Hán, từ lúc bắt đầu vào tiệc ông ta đã để ý từng cử chỉ nhỏ nhất của Tào Tháo. Kể ra có chút kỳ lạ, vào ngày đại hỷ như thế này mà Tào Tháo không mấy hào hứng, ngoài những lúc chúc rượu ra, từ đầu đến cuối ông không nói câu nào, rõ là trong lòng đang chất chứa tâm sự. Nhưng Khứ Ty xét lời nhìn mặt cũng không đoán được Tào Tháo phiền muộn chuyện gì, nên cố ý thăm dò. Đúng lúc ca nữ múa xong, ông ta đứng dậy cười nói:
— Yến tiệc hôm nay long trọng, khiến chúng thần được mở mang tầm mắt, ấp nhỏ vùng biên ải chúng thần không sánh được với phong nhã Trung Nguyên. Nhân tài Nghiệp Thành đông đúc, thơ văn ca vịnh vang lừng bốn phương, đó đều là do tài hoa của đại vương đã quán thông thiên hạ, cho nên kẻ sĩ phong dao mới vui vẻ noi theo. Tiểu thần nghe nói từ khi lập nhà Hán đến nay, Tư Mã Tương Như, Dương Tử Vân, Trương Bình Tử, Sái Bá Giai đều nổi tiếng nhờ thơ phú, nhưng họ chẳng qua chỉ có tài văn chương, chứ chưa thể mở ra phong nhã một đời như đại vương. Đại vương thực là đệ nhất thơ văn từ xưa đến nay!
— Nói có lý…
— Đúng vậy, đúng vậy…
Khứ Ty đã nói quá lên, nhưng quần thần nào dám làm mất hứng đại vương? Ai nấy nhao nhao phụ họa, thầm cười vương gia Hung Nô dẻo miệng, xu nịnh chẳng kém gì “người Trung Nguyên chính cống”[2]. Tào Tháo liên tục xua tay, mỉm cười khiêm tốn. Khứ Ty lại nói tiếp:
— Đại vương một đời anh tuấn, tài hoa quán thông thiên hạ không lấy gì làm lạ, lạ là các vị vương tử của người cũng đều tài hoa lỗi lạc. Nhất là Lâm Tri hầu, không những nổi tiếng Trung Nguyên, mà cả dân chúng vùng biên ải chúng thần cũng muôn phần ngưỡng mộ. Năm xưa, Lâm Tri hầu theo đại vương tây chinh dẹp Hàn Toại, dọc đường ca vịnh vô số, đến nay những bài thơ ấy vẫn còn được truyền tụng khắp đất Hung Nô, có thể gọi là giai thoại trong vườn văn.
— Khứ Ty không hổ là người đầu tiên mở lời với Tào Tháo, ông ta đã sớm nghe ngóng tình hình nhà họ Tào và biết được rằng Tào Tháo không ngại bức chết hai trọng thần, càng nhận định chắc chắn sớm muộn gì ông cũng đổi thái tử, nên mượn lời này để thể hiện mình cũng thuận theo ý của Ngụy Vương.
Khứ Ty nói chưa dứt lời, một vị công khanh ngồi mé đối diện đã đứng dậy, người này trạc ngũ tuần, mặt trắng râu dài, cử chỉ phóng khoáng, là Trung úy Dương Tuấn. Chung Do được tấn phong làm Tướng quốc, theo đó Vương Lãng được bổ khuyết vào chức Đại lý khanh, lão thần Tào doanh là Vạn Tiêm được nhận mệnh làm Thiếu phủ, còn Chinh Nam Quân sư Dương Tuấn cũng được thăng làm Trung úy, cai quản thị vệ cấm cung, nghiễm nhiên đứng vào hàng công khanh. Luận về công trạng, nhân phẩm hay tài học, Dương Tuấn đều không có gì đáng để chê trách, chỉ có điều ông ta cực kỳ đề cao giáo hóa văn học, nên rất có thiện cảm với Tào Thực. Ông ta thấy Khứ Ty tán dương Tào Thực, đương nhiên không thể bỏ qua dịp tốt, lập tức nghênh hợp:
— Hữu Hiền Vương nói hay lắm, tài thao lược của Lâm Tri hầu hiếm người bì kịp, đó không chỉ là may mắn của văn đàn mà còn là may mắn cho xã tắc Tào Ngụy chúng ta. - Câu này mang ý tứ sâu xa hơn cả lời của Khứ Ty.
Lúc này các vị vương tử đều đang ngồi dưới hiên, đại vương tử Tào Phi thân là Ngũ quan trung lang tướng như ngồi trên nệm gai. Khứ Ty là ngoại thần phiên quốc, xét về tình về lý đều có thể bỏ qua, trái lại lời của Dương Tuấn dường cứa sâu vào lòng y, nhưng trên khuôn mặt trắng trẻo, nho nhã của Tào Phi không hề để lộ nửa phần bất mãn, y vẫn cúi đầu uống rượu. Tranh giành bao nhiêu năm chịu không ít trở ngại, ngoài nhẫn nhịn ra, y còn làm được gì?
Kẻ xướng người họa đều không lay chuyển được Tào Tháo, ông chỉ mỉm cười ôn tồn rồi lại trở về dáng vẻ thâm sâu khó dò, nói:
— Tử Kiến, Hiển Vương khen con, còn không mau kính rượu Hiển Vương và các vị đại thần.
— Dạ. - Tào Thực khẽ đáp một tiếng, rảo bước tiến lên phía trước, thi lễ với Thiền vu và Hữu Hiền Vương. Hai vị vương công Hung Nô không dám nhận, vội đứng dậy đặt tay lên ngực, khom lưng đáp lễ, người hầu theo sau mang vò rượu đến rót đầy cho hai bên.
Tào Tháo lơ đãng một lúc, lại nói:
— Năm xưa, Hiển Vương bảo vệ thiên tử, có công với xã tắc Trung Nguyên.
Nay Thiền vu làm khách nước ta, tuy có quan người Hồ, người Hán đứng đầu năm bộ, nhưng vẫn thiếu một người hiền năng cai quản đất nước. Quả nhân xét thấy, người gánh vác trọng trách này phải thông hiểu chế độ hai nước Hồ, Hán, ngoài Hiển Vương ra không còn ai. - Câu này thốt ra, quan viên có mặt trong bữa tiệc còn ngạc nhiên hơn cả bản thân Hữu Hiển Vương: Thay Thiền vu cai quản đất nước là vinh hạnh lớn lao, sao đại vương có thể dễ dàng giao phó cho Khứ Ty như thế? Chẳng lẽ do ông ta vừa ca ngợi Lâm Tri hầu?
Tào Thực vốn thích uống rượu, lại vâng lệnh phụ vương nên không bỏ qua một ai, bắt đầu mời rượu từ mé tây đến từng bàn quần thần Hồ, Hán. Các vị trọng thần như công khanh, thị trung thì không nói làm gì, đám Lang quan, duyên lại mới được cất nhắc thấy vậy đều xun xoe nịnh Lâm Tri hầu.
Chỉ có những bề tôi chủ chốt hiểu rõ sự tình, bọn Thượng thư Phó Tốn, Tiết Đễ, Vũ Châu mới được điều vào trung đài ngồi ở mé đông nam, Phó Tốn thấy đồng liêu nịnh Tào Thực, không nhịn được nói thầm với Hà Quỳ ngồi bên cạnh:
— Việc để Khứ Ty cai quản nước Hung Nô đã được đại vương trù hoạch từ trước, liên quan gì đến Lâm Tri hầu? Bọn a dua đó thực biết đoán mò.
Hà Quý là Thượng thư kiêm Tướng phủ đông tào duyên, là người điềm đạm, kiệm lời, nghe Phó Tốn nói vậy, trong lòng ngầm tán đồng, nhưng chỉ mỉm cười gật đầu không nói gì. Phút chốc, Tào Thực đã chúc rượu được không ít thần liêu, không biết từ khi nào bên cạnh lại xuất hiện thêm một người - Tây tào duyện Đinh Nghi, đi theo nâng chén kính rượu. Quần thần đều biết ngoài Dương Tu ra, Đinh Nghi là người thân cận nhất của Tào Thực, vả lại hắn còn là nhi tử của Đinh Xung, cố hữu của đại vương, mấy năm trở lại đây nhận được nhiều sự chú ý, chẳng ai dám đắc tội, nên sau khi rời chỗ đáp lễ Tào Thực, cũng tiện thể kính Đinh Nghi một chén. Bọn nịnh thần như duyên lại Hồ Tu, Lý Đàm còn vỗ tay cười với Đinh Nghi, thể hiện rõ sự thân thiết.
Dần dần hai người họ đi đến các bàn mé đông nam. Tiết Đễ, Vũ Châu vội đứng dậy thi lễ, kính lại Lâm Tri hầu, uống xong lại đối ẩm với Đinh Nghi. Hà Quỳ, Phó Tốn không đợi Tào Thực đến trước mặt mình đã đứng lên thi lễ. Tào Thực gặp các vị đại thần trung đài, cũng muốn hàn huyên đôi câu:
— Hà công và Phó công là cánh tay phải của Đại Ngụy ta, tham mưu việc nước chịu nhiều vất vả rồi.
— Hầu gia quá khen. - Phó Tốn đáp lễ, vừa uống cạn chén rượu đã thấy Đinh Nghi tiến lại, chưa kịp nói gì thì Hà Quỳ vén vạt áo ngồi sụp xuống - Đây chẳng phải là không nể mặt Đinh Nghi ư?
Đinh Nghi tay đang cầm chén rượu khựng lại giữa không trung, Tào Thực xoay người giải vây cho hắn ta:
— Chính Lễ cai quản tây tào, Hà công cai quản đông tào.
Nhưng Hà công là bậc trưởng bối, lại là lão thần đức cao, ngươi phải năng học hỏi, thỉnh giáo lão ngài đấy!
— Vâng, vâng, vâng. - Đinh Nghi liên tục vâng vẻ mặt lúng túng chuyển thành nét tươi cười, bên người chắp tay, - Tại hạ có chỗ nào không phải, xin Hà công chỉ giáo.
Tục ngữ có câu: “Vung tay không đánh kẻ đang cười”, huống chi còn có mặt Tào Thực ở đây, Hà Quỳ đành cười xòa, chắp tay nói:
— Ngài khách sáo rồi. - Miễn cưỡng uống một chén với Đinh Nghi, rồi Đinh Nghi lại lật đật theo Tào Thực qua bàn kế tiếp.
Phó Tốn đứng bên cạnh quan sát, lo đến túa mồ hôi thay cho Hà Quý, nhìn hai người họ đã đi xa, ông ghé tai Hà Quý nói:
— Tất nhiên Đinh Nghi bản tính bất lương, nhưng hiện giờ quan lộ của hắn đang rộng mở, ngài hà tất phải cự tuyệt từ xa? Ngài vốn có quan hệ tốt với Mao Giới và Từ Dịch, giờ Mao công gặp nạn, Từ công cũng vì thế mà mất chức, dẫu ngài không coi Đinh Nghi là người, thì để yên ổn làm quan cũng chớ nên đắc tội với hắn.
— Tiểu nhân ngông cuồng, bụng dạ nham hiểm, hành vi xiểm nịnh, lão phu lấy làm xấu hổ khi là đồng liêu với hắn! - Hà Quỳ hậm hực quay đầu nhìn Từ Dịch ngồi tít phía cuối - Ông ta đã bị bãi quan do Đinh Nghi đàn hặc, nhưng dù sao cũng không thể ruồng bỏ một lão thần như vậy được, cách đây hai tháng Tào Tháo lại bổ nhiệm Từ Dịch làm thái thú Ngụy quận. Có điều, từ một trọng thần chủ chốt tham dự vào những việc cơ yếu, coi sóc việc tuyển chọn quan lại chuyển sang làm quan địa phương, khác nào bị gạt ra khỏi trung tâm triều đình. Từ Dịch chán chường, ngồi thu lu một góc, rót rượu uống một mình, chẳng hề lên tiếng.
Nhìn dáng vẻ đáng thương của Từ Dịch, trong lòng Hà Quỳ càng thêm tức giận, lại nghĩ đến cái chết thảm của Mao Giới và Thôi Diễm, không nhịn được chửi:
— Làm nhiều việc bất nghĩa tất tự đẩy mình vào chỗ chết! Đinh Nghi mang lòng gian trá, để xem hắn còn đứng được trong triều bao lâu nữa?
Bầu không khí rộn ràng lúc này dần trở nên im ắng, do Tào Tháo bỗng nhiên vịn vào thái giám mà đứng lên:
— Quả nhân còn có công chuyện cần xử lý, Thiền vu từ xa xôi đến đây, phiền chư khanh thay ta tiếp đãi.
Muộn thế này rồi còn có công chuyện gì nữa? Quần thần không ai dám hỏi, thảy đều đứng dậy thi lễ:
— Cung kính tiễn đại vương!
Tào Tháo bước đi chậm rãi, mắt liếc sang một người:
— Giả Văn Hòa, khanh đi theo quả nhân. - Các quan càng thấy khó hiểu: Giả Hủ không quan tâm chính sự đã lâu, hơn nữa còn mang danh là Thái trung đại phu trong triều nhà Hán, tối nay đến đây chẳng qua là cho có mặt, đại vương triệu ông ta làm gì? Chúng nhân cũng không nghĩ nhiều, đợi hai người đi khỏi, lại vây quanh Lâm Tri hầu để tán tụng…
Đồng Tước đài được nước Ngụy dùng để tiệc hôm nay nằm ở chính giữa, phía nam và phía bắc là Kim Hổ đài, Băng Tỉnh đài, giữa ba đài có bắc cầu nối thông với nhau. Tào Tháo dẫn Giả Hủ rời khỏi bữa tiệc, đi đến đầu cầu phía bắc để qua Băng Tỉnh đài. Giả Hủ tuổi tác đã cao nhưng vẫn rất khỏe, người hứng trọn gió đêm, thế mà lúc đi trên cầu cũng không hề thấy nặng nề, có điều từ đầu đến cuối ông ta luôn cố ý đi chậm rì, cúi đầu theo sau Tào Tháo. Cách đây không lâu, Tào Tháo mắc trọng bệnh, chứng tê liệt nặng hơn trước, tuy chuyện này chưa được công bố với quần thần nhưng trong ngoài cung không ai không biết. Đi đứng bất tiện có thể giấu được bằng cách đi chậm lại, chứ một bên vai cao, một bên vai thấp thì có ai không nhận ra? Chẳng qua không người nào dám nói toạc ra thôi.
Tiểu thái giám Nghiêm Tuấn cẩn thận dìu Tào Tháo, mãi lúc lâu sau mới tới đài phía bắc, trên đó có một gian phòng sáng đèn, ngoài rèm có mấy thị nữ đang xua muỗi - có vẻ như bên trong đã chuẩn bị tiếp giá từ lâu. Giả Hủ không dám nhiều lời, lặng lẽ theo Tào Tháo vào trong, lại bắt gặp một nhân sĩ trung tuổi, mình vận áo đen, bưng bát thuốc đứng hầu bên cửa, đó là y lại Lý Đương Chi.
— Tối nay đại vương không uống rượu chứ ạ?
Tào Tháo gật đầu:
— Thứ quả nhân uống là nước. - Dứt lời đón bát thuốc rồi khe khẽ thổi.
Lý Đương Chi vui vẻ nói:
— Đại vương không uống rượu thì tốt rồi, như vậy vi thần mới cho ngài dùng thuốc được.
Bấy giờ Giả Hủ mới biết Tào Tháo nghe lời dặn của y lại, lấy nước thay rượu. Ông thầm nghĩ, cả đời Tào Tháo thích uống rượu, lúc ngâm thơ còn có câu “đối tửu đương ca”, giờ lại vì lý do sức khỏe mà phải kiêng rượu, kể cũng có chút đáng thương. Trong lúc Giả Hủ đang mãi suy tư, Tào Tháo đặt bát thuốc xuống, rút từ trong tay áo ra một bản sách bằng lụa, đưa cho Lý Đương Chi:
— Sáng nay quả nhân đã gặp phương sĩ Khích Kiệm đó, hắn dâng hai phương thuốc nói là có thể kéo dài tuổi thọ, ngươi xem… Nghiêm Tuấn, mang nước mơ cho Giả công.
Giả Hủ vội vàng cảm tạ. Lý Đương Chi nhận đơn thuốc, xem lướt qua rồi cười:
— Những thứ như phục linh, đương quy là đồ bổ, đại vương dùng không sao cả. Có điều, không thể trông mong phương thuốc này chữa được bệnh.
— Vậy thì được, quả nhân chỉ sợ lòng dạ hắn đen tối, định dùng thuốc độc để mưu phản. Nếu phương thuốc của hắn không có vấn đề gì, mà hắn lại giỏi thuật tịch cốc[3], ta nên triệu kiến vào cung. - Vừa nói Tào Tháo vừa ngồi xuống giường, - Không còn việc gì nữa, ngươi đi đi. Lui hết cả đi. - Nghiêm Tuấn và Lý Đương Chi tuân lệnh lui ra, ngay cả thị nữ ngoài cửa cũng không thấy đâu nữa.
— Văn Hòa huynh, mời ngồi.
Giả Hủ nghe Tào Tháo gọi mình bằng “huynh”, vội chắp tay thi lễ:
— Thần không dám…
— Ây dà, ta bảo ngồi thì ngồi đi. - Tào Tháo chép miệng như thể nhận ra vị đắng của bát thuốc khi nãy, - Sức khỏe của quả nhân giờ đã kém rồi, bộ dạng này hẳn là khiến chúng nhân thấy buồn cười.
Giả Hủ nhẹ nhàng ngồi xuống:
— Đại vương là người có phúc, bệnh nhẹ không có gì đáng lo, ngài sẽ mau khỏe lại thôi.
— Năm nay ông bao nhiêu tuổi?
Giả Hủ cười nhăn nhó:
— Thần đã sống hoài bảy mươi năm.
— Ồ, ông lớn hơn quả nhân tám tuổi, thế mà thân thể rắn rỏi hơn.
— Không phải vậy đâu ạ, bệnh tức ngực của thần ngày càng nặng, răng cũng rụng hết gần một nửa rồi.
Tào Tháo bật cười:
— Theo ngũ phúc[4] trong thiên Hồng phạm, thọ là phúc thứ nhất, ở tuổi của ta với ông, sống khỏe là quan trọng nhất, có vậy mới hưởng được niềm vui tử tôn quây quần dưới gối… Uống nước, uống nước đi, nước mơ này mới sắc, vừa hay giải được rượu.
Nước mơ ngọt thanh, nhưng Giả Hủ nào có tâm trạng thưởng thức hương vị của nó - Đại vương bảo ta đến rốt cuộc là muốn hỏi điều gì? Chắc không phải liên quan đến việc nhà đại vương chứ.
Quả nhiên, Tào Tháo chậm rãi chuyển ý:
— Quả nhân không nhớ ông có mấy nhi tử?
— Dạ bẩm đại vương, thần có ba khuyển tử.
— Quá khiêm tốn rồi, chúng đã ra làm quan chưa?
— Trưởng tử là Giả Mục và nhị tử là Giả Kỳ đều đang nhận chức bên ngoài, còn tam tử là Giả Phóng hiện hầu hạ bên thần.
— Tốt lắm, ta sẽ cho Giả Phóng một chức quan, ông nghĩ sao?
Miếng bánh từ trên trời rơi xuống, Giả Hủ không dám tùy tiện nhận:
— Đa tạ đại vương ban ơn, nhưng thần đã già, bên cạnh mà không có đứa nào chăm sóc thì luôn cảm thấy bất an. Con cháu tự có phúc của con cháu, nên để chúng tự cố gắng thì hơn.
— Cũng phải… - Tào Tháo thừa biết Giả Hủ không thành thật, ông vốn định ban cho Giả Hủ một chút lợi lộc rồi mới đi vào việc chính, để ông ta không còn đường lui, không ngờ ông ta lại từ chối. Nhưng Tào Tháo trăn trở về chuyện lập thái tử đã lâu, ông thực sự thấy lo lắng, nên dù Giả Hủ đã đẩy ra, Tào Tháo vẫn buộc phải nói:
— Những bậc vương hầu luôn phải có người kế thừa để chống đỡ với thế sự. Quả nhân hiện đang buồn phiền vì chuyện này, Văn Hòa huynh mắt tinh tai thính, nhìn xa trông rộng, theo sở kiến của huynh, nhi tử nào của ta thích hợp hơn cả để kế thừa đại thống?
Giả Hủ nghe những lời Tào Tháo nói ban nãy cũng đã sớm đoán ra chuyện này, tuy trong lòng ông ta đã chọn được người rồi, nhưng không dám nói thẳng, chỉ đáp rằng:
— Đây là việc nhà đại vương, không phải việc thần có thể tham gia.
— Chuyện lập người kế vị liên quan đến xã tắc, há lại nói là việc nhà? - Nụ cười trên mặt Tào Tháo tắt dần, - Ông còn có chỗ nào không hiểu, Tử Hoàn, Tử Kiến đều nổi danh và có vây cánh ủng hộ, quả nhân ngày đêm suy nghĩ vẫn không thể đưa ra quyết định. Ông thấy ai trong hai đứa nó thích hợp hơn cả, Tử Hoàn hay Tử Kiến? - Tào Tháo thổ lộ hết nỗi lòng.
Giả Hủ vẫn không trả lời, cúi đầu im lặng.
— Ây dà… - Tào Tháo thấy ông ta không nói, lại than thở, - Đáng lẽ quả nhân không nên hỏi ông chuyện này, nhưng quả thật ta không biết làm sao. Trước đây có đích trưởng tử Tào Ngang văn võ toàn tài, đức hạnh cũng tốt, tiếc là yểu mệnh. Nếu nó còn sống trên đời, ta đâu phải phiền muộn như bây giờ? Nay đích tử không còn, người có thể làm nên cơ đồ chỉ có Tử Hoàn và Tử Kiến, khó phân cao thấp, do vậy ta mới hỏi ông. Sao không chịu giúp quả nhân hóa giải muộn phiền? - Câu này nghe như lời giãi bày, nhưng thực ra lại rất sắc sảo - Bởi đâu Tào Ngang chết ở Uyển Thành? Không phải vì Trương Tú tập kích ư. Bởi đâu Trương Tú tập kích thành công? Không phải vì Giả Hủ hiến kế ư. Cho nên, có thể nói Giả Hủ chính là người gián tiếp gây ra cái chết cho Tào Ngang! Ý của Tào Tháo rất rõ ràng, ông tiếp tay hại chết đứa con ngoan của ta, nên giờ phải giúp ta chọn ra một người kế vị. Người khác có thể vờ như không biết, nhưng liệu ông có trốn được không?
Tào Tháo biết Giả Hủ rất thông minh, nên nói những lời này để tỏ rõ thái độ của mình. Không ngờ, ông ta vẫn coi như không nghe thấy gì, cúi gằm đầu, bát nước trong tay hơi sóng sánh. Nếu là mấy năm trước, hẳn là Tào Tháo đã nổi giận, nhưng lúc này ông phải nghe lời thái y không được cáu giận, chỉ gõ nhẹ lên mặt bàn, cao giọng nói:
— Không nghe quả nhân nói gì sao? Sao còn không trả lời?
— Dạ? - Giả Hủ ngẩng đầu lên nhìn, vẻ mặt ngơ ngác.
— Vừa rồi thần mải nghĩ mấy chuyện nên chưa trả lời ngay được, xin đại vương thứ tội.
Tào Tháo không tin câu nói vớ vẩn ấy, nhưng không vội vạch trần mà nói với giọng giễu cợt:
— Chuyện gì khiến ông nhập tâm như vậy, quả nhân hỏi cũng không đáp?
Giả Hủ đặt bát nước xuống, hơi khom lưng nói:
— Thần nghĩ đến chuyện phụ tử Viên Bản Sơ, Lưu Cảnh Thăng.
— Sao? - Tào Tháo nghe được câu này, bỗng giật mình. Chuyện phụ tử Viên Bản Sơ, Lưu Cảnh Thăng? Năm xưa, Viên Thiệu phế con trưởng Viên Đàm, lập con út Viên Thượng, dẫn đến cảnh huynh đệ tranh giành ngôi vị, đất nước chia làm hai, nhân đó Tào Tháo ngư ông đắc lợi, bình định được Hà Bắc. Lưu Biểu cũng phế con trưởng Lưu Kỳ, lập con thứ Lưu Tông, kết quả là con thứ nhỏ tuổi không thể áp chế nổi chúng nhân, đành phải dâng đất Kinh Châu mà đầu hàng. Hai nhà Viên, Lưu đều bại dưới tay Tào Tháo, hơn nữa đều bại vì chuyện phế trưởng lập thứ, ý của Giả Hủ không phải đã rất rõ ràng rồi hay sao?
— Ha ha ha!… - Tào Tháo vỗ tay cười lớn, - Ông quả là mưu sĩ thâm sâu!
— Đại vương quá khen… - Giả Hủ thở hắt ra.
Tào Tháo coi như đã bỏ được khối đá đè nặng trong lòng. Tuy ông hỏi ý kiến của Giả Hủ, nhưng cũng không phải không có chủ ý riêng. Gần đây, mỗi lần nghĩ đến chuyện lập thái tử, ông luôn cảm thấy Tào Phi thích hợp hơn, giờ nghe kiến nghị của Giả Hủ lại càng thêm chắc chắn. Thế nhưng, nỗi lo này vừa qua đi nỗi lo khác đã vội ập đến, Tào Tháo chỉ thoáng cười trong chốc lát, rồi lại chẳng nặn ra được khuôn mặt vui vẻ - Cục diện hai phủ Ngũ quan tướng và phủ Lâm Tri hầu đã hình thành, mỗi bên đều có một đám duyện thuộc, lại còn không ít quan viên trong triều âm thầm góp sức. Nay đột nhiên lập thái tử trong tình hình này, khác nào tạo nên một trận cuồng phong, ai nấy đều ra mặt ủng hộ chủ nhân của mình, chẳng phải loạn sao? Việc này vẫn phải tiến hành từ từ…
— Khải bẩm đại vương. - Giọng nói lanh lảnh của Nghiêm Tuấn từ ngoài rèm vọng vào, cắt ngang dòng suy nghĩ của Tào Tháo.
— Có chuyện gì?
Tào Tháo chưa cho phép, Nghiêm Tuấn không dám bước vào, đành đứng bên ngoài bẩm báo:
— Hiệu sự Triệu Đạt, Lư Hồng cầu kiến.
Giả Hủ vội đứng lên:
— Đại vương có việc, vi thần…
— Khoan đã, ông muốn thoát thân à? - Tào Tháo cười nhạt, nói vọng ra ngoài, - Truyền lệnh của quả nhân, tối nay không tiếp bất cứ ai. - Do dự một chút lại thêm, - Hỏi Triệu Đạt và Lư Hồng xem có chuyện gì cần cầu kiến để ngươi bẩm báo thay bọn chúng.
— Dạ. - Nghiêm Tuấn vâng lệnh lui ra.
Tào Tháo lại chuyển ánh mắt sang phía Giả Hủ:
— Việc lập Tử Hoàn làm thái tử cũng là ý muốn của quả nhân dạo gần đây, có điều thế lực của Tử Kiến khá mạnh, hai đứa nó đều có người ủng hộ. Ông nghĩ nên làm thế nào áp chế được Tử Kiến, để cắt đứt hy vọng của sĩ nhân? - Thực ra là do Tào Tháo tự mua dây buộc mình, ai bảo lúc đầu ông dựng cả hai phủ, việc đến nước này không phải cứ muốn khống chế là khống chế được, dẫu ông là vua cũng có chỗ bất lực.
Giả Hủ càng không dám trả lời: Hai người họ đều là nhi tử của Tào Tháo, há có thể đoạn tình phụ tử? Tuy nói lúc này áp chế Tào Thực là để củng cố địa vị cho thái tử, nhưng một khi bày cách cho ông, sẽ không tránh khỏi việc đắc tội với Tào Thực. Đắc tội với vương tử cũng chưa chắc gặp họa, vạn nhất ngày nào đó Tào Tháo xót con, trở mặt truy cứu người vẽ đường, há chẳng phải chết oan sao?
Giả Hủ trả lời qua loa:
— Không ai hiểu con bằng cha, vi thần không thể hiến kế.
— Ông thật là… đã đứng dưới gốc cây còn sợ lá quệt vào người. - Tào Tháo tỏ vẻ rất chân thành, - Ông cứ nói ra chớ ngại, vì xã tắc mà ta đã vất vả gây dựng nửa đời người, dù ông nói gì ta cũng không trách tội.
Giả Hủ cúi đầu bái lạy:
— Không phải thần không dám nói, mà thực sự là không có kế nào hay. - Bây giờ Tào Tháo nói chân thành, nhưng ai dám chắc sau này ông ta có hối hận không? Một lần sảy chân để hận ngàn đời, tuyệt đối không thể dính vào chuyện này.
— Ông vẫn còn cảnh giác với quả nhân, không phải bề tôi chân chính… - Tào Tháo không chịu buông tha, khẩu khí bỗng trở nên sắc lạnh. Giả Hủ quỳ mọp xuống, trán túa mồ hôi, đang không có kế thoát thân chợt nghe bên ngoài vẳng lại tiếng bước chân - Nghiêm Tuấn quay trở lại.
— Khải bẩm đại vương, hai vị Hiệu sự bẩm báo trong bữa tiệc tối nay xảy ra chuyện thất lễ.
— Lại mấy chuyện vớ vẩn! - Hiệu sự lúc nào cũng căng mắt ra để bắt lỗi quần thần, dù là lỗi lớn hay lỗi nhỏ cũng đều bẩm báo, nhiều lúc Tào Tháo cũng thấy phiền.
— Ai thất lễ?
Nghiêm Tuấn dường như khó mở miệng, ấp úng nói:
— Là Lâm Tri hầu… Lâm Tri hầu uống quá chén, lúc rời cung đã tự ý lệnh cho Công xa[5] mở cửa cung để qua. Việc đóng mở cửa cung có quy định riêng, ngay cả vương tử cũng không được phép trái lệnh, huống chi cửa Tư Mã lại là cửa chính trong cung vua, chỉ có Ngụy Vương mới được đi qua, việc làm của Tào Thực không những không theo phép tắc mà còn tiếm vượt quyền hạn. Xem ra, Tào Thực đúng là đã say khướt rồi.
— Hừ… - Tào Tháo nhíu mày lắc đầu, - Nó thực thiếu suy nghĩ, uống rượu xong rồi làm càn. - Tào Tháo đã thấm mệt, định dựa vào giường nghỉ ngơi, nhưng lưng chưa chạm tới gối, trong đầu chợt lóe lên một ý nghĩ, liền ngồi bật dậy. Ông vốn có bệnh đau đầu, cử động nhanh khiến đầu óc quay cuồng, trước mặt tối sầm lại, ông vội bấu vào mép bàn thở sâu, tầm nhìn mới dần hiện rõ trở lại, sau đó quét ánh mắt về phía Giả Hủ.
Giả Hủ nãy giờ không nói gì, lúc này cũng ngước mắt lên nhìn Tào Tháo - Hai người đều mưu tính hơn người, bốn mắt nhìn nhau trong chốc lát rồi lại thu về, không ai nói câu nào, nhưng đều hiểu trong lòng đối phương nghĩ gì.
Im lặng hồi lâu, Giả Hủ lại mở miệng xin cáo lui:
— Nếu đại vương không còn việc gì sai bảo, thần…
— Ông đi đi. - Tào Tháo bóp nhẹ bên chân trái đang tê dại, - Quả nhân biết phải làm thế nào rồi. - Giọng ông trầm xuống, mắt chăm chú nhìn vào bóng cây đen sì đu đưa ngoài cửa sổ, ruột gan rối bời. Cả đời ông không biết đã xử tội bao nhiêu người, không ngờ cũng có ngày phải xuống tay với cả nhi tử của mình. Muốn bảo vệ đứa con này ắt phải hại đến đứa con khác, nói là bất đắc dĩ, nhưng dù sao phụ tử tình thâm, lòng bàn tay mu bàn tay đều là thịt!
Kỳ sĩ đất Bái
Trần Quần đến Nghiệp Thành nhận chức Ngự sử trung thừa, ngay trong ngày đầu tiên đã làm liền ba việc: vào cung yết kiến Ngụy Vương, tạ ơn trao chức; bái kiến Ngự sử đại phu Viên Hoán, thăm hỏi bệnh tình quan trên; mang thư của Tuân Uẩn đến phủ Lâm Tri hầu, vấn an Tào Thực và Gia thừa hầu phủ Hình Ngung - Mấy việc hình thức coi như đã xong, sáng sớm hôm sau ông ta một mình tới phủ Ngũ quan trung lang tướng.
Hồi hơn mười tuổi, Trần Quần từng có thời gian làm việc trong mạc phủ, lúc đó Tào Chương và Tào Thực còn nhỏ, chỉ có Tào Phi đã qua tuổi nhược quán[6] nên thường qua lại với nhau. Cho đến mấy năm trước, khi việc tranh giành ngôi vị dần dần lộ rõ, Trần Quần mới ngầm góp sức cho Tào Phi, tiếc là ông ta ở tận Hứa Đô nên không giúp được gì, chỉ có thể theo dõi tình hình trong triều để lén đưa tin. Nay hai người hội ngộ tại Nghiệp Thành, đúng là một cơ hội tốt, Tào Phi vô cùng vui mừng. Ngô Chất bị điều đi nhận chức ở bên ngoài, Tư Mã Ý bị khiển trách không dám hành động khinh suất, Chu Thước bị bãi mất chức quan, Hạ Hầu Thượng không có thực quyền, còn Thôi Diễm, Mao Giới cũng lần lượt bị bức chết, hiện đang là lúc thế lực của Tào Phi suy yếu nhất, mà lại có Trần Quần đến thì khác nào trời hạn gặp mưa rào. Hơn nữa, Trần Quần đến nhận chức Ngự sử trung thừa là một chức quan chuyên đàn hặc người khác, trước đây Tào Thực phái Đinh Nghi làm tây tào duyện, đó là kẻ gán tội, giờ phía Tào Phi đã có người gỡ tội, hai bên tạm ở thế cân bằng.
Tào Phi đuổi hết tả hữu lui xuống, nói chuyện riêng với Trần Quần. Y kể rõ tình hình gần đây, Trần Quần nghe xong rút từ trong tay áo ra một bản danh sách dài:
— Đây đều là môn sinh cố lại ba đời nhà họ Trần tại hạ đang làm quan bên ngoài, họ cũng như tại hạ nguyện dốc lòng phò tá tướng quân. Đinh Nghi cùng lắm chỉ hại được một hai người, há có thể diệt hết quan lại bốn phương một lòng muốn hướng thiện?
Tào Phi nhận bản danh sách, xem đi xem lại, không nỡ rời tay:
— Trần thị ở Dĩnh Xuyên đúng là danh bất hư truyền! - Từ khi Hà Quỳ nắm việc tuyển chọn quan lại, đạo dùng người của triều đình nước Ngụy đã có ít nhiều thay đổi, từ chỗ “chỉ cử người tài” chuyển sang coi trọng cả tài lẫn đức, con nhà thế gia được ưu tiên một bậc dựa vào xuất thân. Tào Ngụy coi nhân sĩ Dĩnh Xuyên là phụ tá chính, cho nên nắm được hương đàng Dĩnh Xuyên cũng chính là nắm được huyết mạch của nước Ngụy. Nếu Tào Phi dựa vào đó mà củng cố thế lực của mình, bọn Đinh Nghi há có thể làm lung lay?
Nhưng chỉ một mình Trần Quần ủng hộ thôi chưa đủ, quận Dĩnh Xuyên có bốn gia tộc Tuân, Trần, Chung, Tân, Trần thị đã tỏ rõ thái độ, còn ba gia tộc kia thì sao? Ban đầu Tân thị theo Viên Thiệu, sau bị Thẩm Phối tàn sát, thực lực kém nhất, tuy bây giờ Tân Tỵ cực lực ủng hộ Tào Phi, nhưng tầm ảnh hưởng cũng có hạn. Tuân thị đã nghiêng hẳn về phía Tào Thực, Tuân Uẩn còn trẻ, song có uy tín không nhỏ, hơn nữa năm huynh đệ Tuân Uẩn dựa vào dư uy của tiên phụ, lại là thân tộc với hậu duệ của Tuân Du, Tuân Duyệt, nên không thể coi thường được. Bởi vậy, gia tộc đóng vai trò quyết định là Chung thị.
Ngụy Vương là tướng nhà Hán, Chung Do là tướng nước Ngụy, ngoài Tuân Úc đã chết ra, không ai sánh được với địa vị hiện giờ của Chung Do. Nay họ Trần, họ Tuân mỗi bên thờ một chủ, thành thử thái độ của Chung thị đóng vai trò cực kỳ quan trọng. So với Trần Quần và Tuân Uẩn, Chung Do là bậc trưởng bối, lại thuộc hàng quan cửu phẩm, nắm giữ trọng quyền, rất có thể thái độ của một mình ông ta sẽ dẫn dắt ý nghĩ của toàn thể nhân sĩ Dĩnh Xuyên. Có điều vị lão thần này cũng rất cao tay, thể hiện thái độ trung dung, chỉ răm rắp nghe lệnh Tào Tháo, còn với Tào Phi không nóng không lạnh, với Tào Thực cũng không thân không sơ.
Trần Quần kiến nghị với Tào Phi:
— Phàm việc gì cũng nên làm sớm, không nên làm muộn. Giờ chúng ta đi bái kiến Chung Tướng quốc, thăm dò ý tứ lão ngài, tướng quân thấy sao?
Tào Phi ở Nghiệp Thành thường xuyên chạm mặt Chung Do, y còn từng tặng Chung Do một chiếc ngũ phủ đỉnh tượng trưng cho việc “cân bằng âm dương, điều hòa ngũ vị”, nhưng việc này cũng không kéo gần quan hệ được bao nhiêu. Nếu có Trần Quần đi cùng thì khác, vì không những là thăm hỏi đồng liêu mà còn tăng thêm tình đồng hương giữa bọn họ nữa. Tào Phi muốn đi, song lại do dự:
— Lần trước phụ vương ta nói, thần hạ không được phép câu kết với chư hầu, hai ta đi cùng e là không ổn, chi bằng ta với ông người đến trước người đến sau, vờ như không hẹn mà gặp.
Trần Quần cười nói:
— Tại hạ mới đến Ngụy Đô, thăm hỏi Tướng quốc là lệ làm quan, tướng quân dẫn đi giới thiệu cũng là lẽ thường tình. Hôm qua, tại hạ đã qua phủ Lâm Tri hầu, sao hôm nay không thể cùng tướng quân đi dạo? Làm việc quang minh chính đại không sợ chỉ trích, muối cửa quan cớ sao coi là bán muối tư?
Tào Phi nghe vậy cũng thấy có lý, vội dặn người chuẩn bị ngựa, tâm phúc của y là Chu Tước muốn đi theo, nhưng bị ngăn lại. Hai người vừa ra khỏi cửa phủ thì gặp quan Tòng sự Bào Huân bê một chồng quyển trục đi đến hỏi:
— Tướng quân định ra ngoài sao? Đây là tấu chương về tình hình thiên tai mùa màng của các quận, trung đài đã sao lại một bản, sai thuộc hạ đem qua đây cho ngài xem.
— Sao cơ? - Tào Phi khá bất ngờ. Từ khi quyết ý chọn Tào Thực, Tào Tháo đã không khiến y làm việc gì, hơn một năm qua trung đài không cho một Phó thừa tướng là y xem tấu chương, chẳng lẽ hôm nay mặt trời mọc ở đằng tây rồi chăng?
Bào Huân cũng mơ hồ như vậy:
— Thuộc hạ cũng không rõ, nghe các lệnh sử nói, số tấu chương này do đại vương đích thân chỉ định để ngài xem.
Tào Phi như chim sợ cành cong, vội rút lấy mấy bản tấu chương lật xem ngay ngoài đường, thấy bên trong không kẹp thứ gì khác mới an tâm, ngẩng đầu nhìn Bào Huân:
— Ta đang định cùng Trần trung thừa sang phủ Tướng quốc, ngươi vào cất tấu chương rồi đi cùng bọn ta luôn.
— Dạ. - Bào Huân chạy vào trong phủ.
Trần Quần gật đầu tán thưởng: Ngũ quan tướng đúng là suy nghĩ chu toàn, không dẫn Chu Tước theo, mà dẫn Bào Huân. Bào Huân là con của Bào Tin, làm Tòng sự trong phủ, nhưng thực chất do Tào Tháo cố ý phái tới. Hắn là người quá thẳng thắn, cứng nhắc, không hòa hợp với Ngũ quan tướng. Đúng lúc này có thể lợi dụng Bào Huân, chỉ cần dẫn Bào Huân theo, người ngoài nhìn vào sẽ hiểu ngay là không có gì mờ ám, bớt được khối chuyện thị phi.
Hai người đứng ngoài phủ đợi một lúc, trông thấy Bào Huân nhễ nhại mồ hôi chạy ra, mới lên ngựa cùng đi. Chẳng mấy chốc đã đến phủ Tướng quốc, tên lính gác cổng sao dám cản vương tử? Hắn mở cửa mời mọi người vào trước, rồi lật đật chạy đi bẩm báo, lát sau có một vị lão thần ra đón, nhưng không phải Chung Do mà là Tướng quốc Trưởng sử Triệu Tiễn:
— Tướng quân và Trần trung thừa giá đáo, lão hủ không nghênh đón từ xa, xin lượng thứ. - Ông ta tuổi đã cao, đi đứng không tiện, thi lễ rất vất vả.
Tào Phi vội chạy lại đỡ:
— Triệu công làm bọn ta tổn thọ rồi, há có thể nhận đại lễ của ngài được? Năm xưa, ngài chống Đổng Trác ở Lạc Dương, ta còn là đứa trẻ quấn tã đấy! Ngài sai người hầu ra là được, đâu cần phải đích thân nghênh tiếp. - Triệu Tiễn cũng là một nhân vật có tiếng tăm trong triều, mấy năm trước chinh phạt phương nam, Tào Tháo bổ nhiệm ông ta làm Tướng quốc Trưởng sử, ý muốn dát vàng lên mặt Chung Do.
— Lão hủ vô dụng, để các vị cười chê. - Triệu Tiễn từ từ đứng thẳng lên, - Hai vị đến gặp Tướng quốc ư? Thật không may, mới sáng sớm ngài ấy đã được đại vương triệu vào cung. - Tào Phi và Trần Quần đưa mắt nhìn nhau, không biết nên đi hay ở. Triệu Tiễn lại nói, - Nếu hai vị không ngại, xin nán lại một lúc, Tướng quốc vào cung đã một canh giờ, có lẽ cũng sắp về rồi. Vả lại, lát nữa Lâm Tri hầu cũng tới…
— Tam đệ sắp đến? - Tào Phi ngạc nhiên hỏi lại.
— Gần đây Tướng quốc thu nạp một hậu sinh tên là Ngụy Phúng, tự Tử Kinh, cũng là đồng hương với tướng quân. Người này còn trẻ nhưng tiếng tăm không nhỏ, thường có quan viên lui tới thăm hỏi, Lâm Tri hầu cũng muốn gặp thử, nên định hôm nay qua phủ. Có không ít tân khách tới trước, đều đang ngồi ở gác tây, hai vị có muốn qua đó tụ họp không?
Tào Phi cũng đã nghe nói về tên Ngụy Phúng này, hắn xuất thân hàn môn ở đất Bái, ham đọc thi thư, học hỏi khắp nơi, nửa năm trước hắn đến Nghiệp Thành, thường lui tới phủ đệ của quan lại, quý tộc, chẳng bao lâu thì nổi danh. Nghe đâu hắn có tài ăn nói, được chúng nhân Nghiệp Thành bái phục, tử đệ quan viên tranh nhau kết giao với hắn. Chung Do mới nhận chức Tướng quốc, cũng muốn thu nạp hiền sĩ để củng cố phủ duyện, một là vì nghe đại danh của hắn, hai là vì mến hắn cùng quê với Ngụy Vương nên cho làm Tòng sự.
Tào Phi thầm nghĩ: Tam đệ muốn gặp Ngụy Phúng tám phần là để chiêu mộ hiền tài, mua danh cầu lợi, nhân lúc nó chưa đến, ta đi gặp người này trước xem thế nào. Nếu đúng là người dùng được, sao lại không tìm cách kéo hắn về dưới trướng của mình? Tuy vậy, ngoài miệng y lại nói:
— Triệu công bận nhiều việc, bọn ta không tiện làm phiền, cứ để bọn ta đến khách đường đợi Tướng quốc và tam đệ đến rồi nói.
Triệu Tiễn chắp tay:
— Vậy lão phu xin tranh thủ đi làm việc. - Ông ta thân là Trưởng sử, những lúc Chung Do vắng mặt, mọi việc lớn nhỏ trong phủ đều do một tay ông ta lo liệu, nên không muốn làm lỡ thì giờ. Cũng may Ngũ quan tướng là vương tử, còn Trần Quần là đồng hương của Tướng quốc, để bọn họ ngồi đó cũng không sao. Ông ta vừa nói vừa dẫn ba người vào chính đường, sai nô bộc mang hoa quả lên, nói mấy câu khách sáo rồi vội đi lo việc của mình.
Triệu Tiễn đi khỏi, Tào Phi liền đứng bật dậy:
— Theo ta đến gác tây xem tên Ngụy Phúng đó là người thế nào. - Tào Phi không nói gì thêm, cứ thế kéo Trần Quần và Bào Huân đi.
Phủ Tướng quốc nằm ở phía tây đường Chính Dương, đối diện cửa Tư Mã trong cung. Hồi mới dựng Nghiệp Đô, nơi đây là phủ đệ của Tào Phi, về sau giao cho Chung Do, đổi tên là Đại lý tự, rồi lại đổi làm phủ Tướng quốc. Tào Phi thuộc đường, không cần nô bộc chỉ dẫn cũng biết vòng qua cửa thùy hoa[7], đi hết hành lang là đến tây viện. Cửa nào cũng có người đứng gác, nhưng ai dám cản vương tử chứ? Ba người lẳng lặng đến trước cửa gác tây, Tào Phi đang định đưa tay vén rèm, chợt nghe bên trong rộ lên một tràng cười, y vội rút tay về, nghĩ bụng: Nghe tiếng cười có thể đoán được bên trong có không ít người, hẳn là cũng có cả những kẻ thân cận của tam đệ trong đó. Muốn biết chuyện giấu kín trong lòng bọn chúng, phải nghe lén sau lưng mới được.
Thế là Tào Phi không lên tiếng, nhẹ nhàng vén tấm rèm ra. Gác tây là nơi thường ngày Chung Do tụ họp bằng hữu, cạnh bậc cửa dựng một bức bình phong, Tào Phi không tháo giày, nhấc cao chân bước vào nấp sau bức bình phong đó, hơi nhít đầu vào trong quan sát. Trần Quần theo sát phía sau, Bào Huân cảm thấy không ổn, đứng ngoài cửa nghĩ: Thân là vương tử cao quý nhường ấy, mà lại đi nghe lén người ta nói chuyện, thật chẳng ra làm sao.
Tào Tháo đề xướng việc tiết kiệm, Chung Do đi đầu thực hiện, trong gác ngoài bức bình phong ra không có vật gì trang trí, trông rất giản dị, trang nhã. Lúc này ở dưới bậu cửa sổ phía đông có bảy tám người ngồi, đều là con nhà quan lại, mình mặc áo gấm thêu hoa, khoảng hai mươi tuổi, nhiều người Tào Phi không biết, y chỉ nhận ra hai người mặc y phục màu xanh, tầm tuổi nhược quán, là con của Thị trung Vương Xán; còn người lớn tuổi hơn, một mình dựa vào góc tường là con của đại nho Kinh Châu Tống Trung, mới được bổ nhiệm làm Lang quan. Phía tây cũng có hai người trẻ tuổi đang ngồi, đầu đội mũ vỗ nhấn, thì ra là Văn Khâm và Trần Y, hai tiểu tướng Bái Quốc thuộc trung quân. Chỗ của chủ nhà bỏ trống, chỉ có một người ngồi sát mép bàn. Tào Phi không quan tâm người này là ai, nhưng lại bị một vật đặt trên bàn thu hút - Đó chính là chiếc ngũ phủ đỉnh mà y đã tặng Chung Do.
Chung Do một mặt trưng bày chiếc đỉnh quý do Ngũ quan tướng tặng, mặt khác lại tụ tập với đám người của Lâm Tri hầu ở đây, một chân đạp lên hai thuyền, rõ là thể hiện quan điểm trung dung không theo bên nào. Trong lúc xuất thần, Tào Phi mới để ý người ngồi cạnh kỳ án. Hắn khoảng ba mươi tuổi, mình mặc áo đen của duyện lại, đầu vấn khăn, khuôn mặt trái xoan, mắt sáng mày dài, tai to ngực ưỡn, mũi lớn môi đỏ, dưới cằm có mấy sợi râu lún phún, tay trái cầm quạt, tay phải chỉ trời vẽ đất, miệng nói liến thoắng, trông có vẻ đĩnh đạc. Tào Phi đoán chừng người này là Ngụy Phúng - Ngụy Tử Kinh, kỳ sĩ đất Bái được nhân chúng Nghiệp Đô ca ngợi.
Tào Phi thầm khen: Tướng mạo được lắm! Y định thò đầu vào nhìn kỹ hơn, chợt nghe mé trong bức bình phong có người nói:
— Ngụy tiên sinh bình phẩm các nhân vật trong ngoài triều giúp bọn ta có cái nhìn mới mẻ, không biết tiên sinh cho rằng trong thiên hạ hiện nay, người như thế nào mới được coi là hiền sĩ?
Bấy giờ Tào Phi mới biết có người dựa lưng vào bức bình phong, sợ bị phát hiện, y thụt ngay đầu lại. Giọng người ấy nghe rất quen, là Lưu Vĩ, đệ đệ của Hoàng môn thị lang Lưu Dục. Ngụy Phúng không biết tai vách mạch rừng, thản nhiên đáp:
— Quan niệm về người hiền và bất hiền xưa nay vẫn vậy, hiền sĩ trong thiên hạ được chia làm năm bậc. Người cẩn thận việc nhà, kính nhường đồng bối, là kẻ sĩ ở hương lý; người khôn ngoan giảo hoạt, văn sử hơn người, là kẻ sĩ ở huyện đình; người thành tín đôn hậu, công bình liêm chính, liệu lý chính vụ trên dưới, là kẻ sĩ ở châu quận; người thông hiểu kinh sách, danh tiếng và đức hạnh đều cao, có khả năng tham dự chính sự, bản tính khoan dung, kiên định, là kẻ sĩ của tam công, tứ phụ; còn người tài năng vượt trội, đặc biệt khác người, có nhiều trù hoạch, mưu đời lập công là kẻ sĩ của cả thiên hạ!
Lưu Vĩ hỏi tiếp:
— Tiên sinh nghĩ mình thuộc bậc nào?
Ngụy Phúng mủm mỉm cười:
— Tại hạ xuất thân bần hàn, nhưng cũng có chí thao lược lập công. - Ngụy Phúng có ý tự xưng là đệ nhất hiệp sĩ trong thiên hạ, khẩu khí quả là không nhỏ.
Tào Phi muốn nghe thêm, nhưng Bào Huân ở đằng sau cứ kéo vạt áo y, nên đành phải rón rén lui ra. Bào Huấn ghé sát lỗ tai Tào Phi, can gián:
— Tướng quân thân là vương tử cao quý, há có thể làm chuyện lén lút này được? Thật trái với đạo nghĩa của người quân tử.
Trong bụng Tào Phi đã phát chán lối suy nghĩ bảo thủ của Bào Huân, nhưng lúc này không tiện lên tiếng, đành xua tay tỏ ý bảo hắn im lặng, sau đó cũng không vào trong nữa mà đứng ngoài cửa nghe lén. Bên trong bàn luận một hồi, rồi không biết ai lấy ra một bài văn mời Ngụy Phúng bình phẩm, chỉ thấy người này đọc rằng:
Tiểu lại chấp pháp, không xem xét điển lễ của tiên vương, nho sĩ làm quan, không thông hiểu luật lệ. Tiểu lại quản lý công văn, há sống mà hà khắc? Đi lên từ dưới thư án, trưởng thành trong quan phủ, không tỏ ra ôn hòa nhã nhặn là để lợi cho bản thân, dù không muốn hà khắc cũng chẳng được vậy. Nho sĩ chăm lo sách vở, há sống mà lù đù? Đi lên từ trên lớp học, dạo chơi trong trường làng, không tỏ ra khắt khe dứt khoát là để chế ước bản thân, dù không muốn lù đù cũng chẳng được vậy. Tiên vương thấy được những việc này, nên mở rộng giáo hóa, điều hòa dân tính, khai thông những chỗ bế tắc, vén mờ những chỗ khuất lấp, để tiểu lại thực thi giáo huấn trong sách vở, còn nho sĩ cũng thấu đạt quy chế phép tắc, từ đó khoan nghiêm bổ sung cho nhau, mềm cứng kết hợp.
Tào Phi vừa nghe qua đã biết là Nho lại luận, do Vương Xán mới viết. Tào thị trị nước theo cả Nho gia và Pháp gia, Hà Quý còn mời không ít nho sĩ ra làm quan, vì vậy Tào Tháo lệnh cho Vương Xán viết bài này, phân tích số ưu điểm cũng như khuyết điểm của nho sĩ và tiểu lại, phổ biến cho trăm quan, với mong muốn “tiểu lại thực thi giáo huấn trong sách vở, còn nho sĩ thấu đạt quy chế phép tắc”, điều hòa quan hệ giữa hai phái, để bọn họ cùng cống hiến sức mình cho nước Ngụy. Nghe bài văn này, Bào Huân cũng nổi hứng hiếu kỳ muốn xem thử Ngụy Phúng bình phẩm thế nào về cách tuyển chọn quan lại, nên không lải nhải nữa.
Không ngờ, Ngụy Phúng lại trả lời theo hướng khác, hắn không nói rõ quan điểm của mình như thế nào mà chỉ đáp:
— Hành văn tốt, bài viết hay. - Có người hỏi hay ở chỗ nào, hắn nói:
— Năm xưa, đại vương mưu tính Quan Trung, Vương Trọng Tuyên làm Tam phụ luận khi khai khẩn ruộng nương, ông ấy viết Vụ bản luận nay Hà Quỳ đổi chế độ tuyển chọn quan lại, ông ấy làm Nho lại luận. Có thể hiểu lòng đại vương, mượn ý viết lời, nói đâu trúng đấy, tất nhiên là văn hay!
Câu này rất trái tai, tuy là khen ngợi nhưng lại ngầm châm chọc Vương Xán xiểm nịnh. Hai nhi tử của Vương Xán cũng đang có mặt ở đây, há có thể để yên:
— Tiên sinh nói vậy là có ý gì? - Giọng hậm hực.
— Hai vị công tử chớ giận, tại hạ không có ý phỉ báng Vương đại nhân. - Ngụy Phúng bình tĩnh đáp, - Năm xưa Hiếu Vũ Đế thích thần tiên, Tư Mã Trường Khanh dâng Đại nhân phứ, Hiếu Thành Đế thích xây cung điện rộng lớn, Dương Tử Vân trình Cam tuyền tụng. Người đời có ai cho rằng Tư Mã Tương Như, Dương Hùng xiểm nịnh? Theo ý của tại hạ, bề tôi làm vừa ý của đế vương, không phải chuyện sai trái mà còn cực kỳ tốt.
Lời này vừa dứt, trong gác im bặt, đến cả Tào Phi và Bào Huân cũng ngơ ngác nhìn nhau, đúng là lập luận kỳ quái. Bề tôi tán tụng đế vương, tuy không đến nỗi bị chê là tiểu nhân, nhưng cũng chẳng phải chuyện vẻ vang, thế mà Ngụy Phúng lại coi đó là cách biểu dương ân đức. Hắn nói:
— Nhà vua là người trị lý thiên hạ, bề tôi tựa như tay chân tim phổi, vua tôi vốn là một thể. Người làm bề tôi giữ chí hướng tốt đẹp ở trong lòng, nếu không nhận được sự tín nhiệm của nhà vua thì khó có thể leo lên được vị trí nhất định mà mưu tính việc nước. Trên không thể ổn định triều chính, giữa không thể toại chí nguyện, dưới không thể quý trọng thân mình. Dẫu có tài trù hoạch thiên hạ, có kế trị nước an dân cũng chẳng thể hòa hợp với nhà vua, bãi chức mất vị, họa phúc khôn lường, còn nói gì đến trị lý thiên hạ?
Câu này cũng có lý, hai nhi tử của Vương Xán không làm khó Ngụy Phúng nữa. Nhưng Lưu Vĩ lại cười nói:
— Huynh đệ hai người chớ nói chen vào. Tử Kinh huynh, hiện giờ người nắm quyền tại các châu quận phần lớn là nhân sĩ Dĩnh Xuyên, ví thử đời bọn ta, dù có tài năng và chí hướng cũng khó mà leo lên được những chức vị quan trọng, lấy đâu ra cửa báo quốc?
Tào Phi không hiểu, nhưng Trần Quần đã nghĩ thông tỏ: Huynh đệ Lưu Dực từng ở Kinh Châu, sau này quy hàng Tào thị; Vương Xán vốn là bộ hạ của Lưu Biểu; còn Tống Trung mở trường học tại Kinh Châu, là sư tổ một phái kinh học. Chả trách hầu hết những người ở đây đều là hậu bối Kinh Châu, thì ra bọn chúng ghét nhân sĩ Dĩnh Xuyên ta cản đường, nên chạy đến hỏi kế sách, nhân tiện nịnh Lâm Tri hầu.
Ngụy Phúng đáp:
— Đại đạo của kẻ sĩ trong thiên hạ đều giống nhau, chỉ có sách lược hơi khác. Người ta nói giữa vua tôi chỉ là gặp, khó có thể cầu, Vương Trọng Tuyên hiếm có là vì thế. Chức Thị trung[8] rất khó làm, làm tốt người bên cạnh gọi huynh một tiếng “thường bá,”[9] còn làm không tốt người đời lại mỉa mai là “xách hổ.”[10] Vương công vừa không đánh mất phong nhã chính đạo, lại vừa không trái ý bề trên, thực khó muôn phần. Nếu như các vị huynh đệ ngồi đây đều có thể làm vừa ý chúa thượng, thì lo gì không được tiến vị? Người quân tử lấy gốc ở đạo, nhưng cũng tinh thuật vậy.
Người trong gác nhao nhao phụ họa, còn bên ngoài có kẻ lại không cho là vậy, Bào Huân lầm rầm:
— Cái gì mà giữa vua tôi chỉ là gặp? Rõ ràng là hắn đang cổ xúy thói a dua xiểm nịnh, đề cao thuật hạnh tiến!
Tào Phi không nghĩ nhiều như thế, lừ mắt nhìn Bào Huân, tỏ ý nhắc nhở hắn không được lên tiếng.
Người bên trong đang hào hứng bàn luận chủ đề này, căn bản không phát hiện ra bọn họ, có kẻ bạo gan nói thẳng:
— Trịnh Trang Công khắc chế tiểu đệ để củng cố ngôi vị, Ngô Khởi giết chết thê tử để cầu làm tướng, chớ nghĩ làm thế nào có được quyền thế, một khi leo lên được ngôi cao, giỏi thực thi khéo cai trị thì có gì không làm được?
Nhưng Ngụy Phúng nói:
— Nói ra thì dễ, làm được mới khó. Mỗi bậc quân vương lại có một tâm thuật khác nhau. Xưa, Hàn Chiêu Hầu say rượu nằm ngủ trên giường, rùng mình vì lạnh, điền quan[11] lấy quần áo đắp cho ông. Lúc tỉnh rượu, Hàn Chiêu Hầu hỏi chuyện, biết điền quan quan tâm đến mình, song vẫn trị tội vì lý do vượt quá chức phận. Tham thừa[12] nước Vệ nhìn ra lỗi của người đánh xe, vội gọi xe lại từ phía sau, vì có nghĩa cứu nguy nên không bị trị tội. Tham thừa gọi xe, điền quan thêm áo, cùng là một ý, nhưng với Hàn Chiêu hầu là tội, còn với Vệ tướng quân là trung, kết quả khác nhau, đại để vì tâm trí của người làm vua không giống nhau. Thương Ưởng ba lần thuyết giảng với Tần Hiếu Công, hai lần trước Hiếu Công không chịu nghe, đến lần cuối lại thành công, bởi hai lần trước Thương Ưởng luận về đế vương, còn lần cuối ông luận về bá chủ. Tần Hiếu Công cả đời nuôi mộng làm bá chủ Trung Nguyên, há có thể dùng đạo của đế vương? Gặp may thì tiến, không may thì mất vị. Trần Phồn, Hồ Quảng đều là thượng công, nhưng một người bị giết hại, còn người kia thọ chung; Trương Ơn, Đoàn Quýnh đều là danh tướng, nhưng một người được lưu tiếng thơm, còn một người lại bị phỉ báng, đều vì thuật dùng người khác nhau.
Dù luận điệu của Ngụy Phúng thế nào, cũng phải thừa nhận hắn thông thạo thi thư, am hiểu lịch sử cổ kim, biết biến lời nói của người khác thành lập luận của mình, hạ bút thành vần, xuất khẩu thành chương, lại có giọng nói trong vắt, êm tai, dường như những đạo lý nghiêng lệch qua cái miệng của hắn đều trở nên đúng đắn, đó là một bản lĩnh. Nhưng, từ khi Vũ Quang Đế phục hưng nhà Hán đến nay, sĩ nhân lấy đức làm gốc, tuân theo chính đạo, ngay cả thời Hoàng Đế, Linh Đế, nhà Hán suy vi, đám hậu sinh vẫn tìm cách sửa chính những sai lầm của nhà vua, làm gì có ai ngang nhiên bàn luận hạnh tiến nhằm trục lợi? Giờ thì khác rồi, sự trỗi dậy của bọn Tào Tháo, Lưu Bị đã lật đổ quan niệm truyền thống, người trẻ tuổi giờ trở thành những kẻ chỉ biết tới công danh lợi lộc và không từ thủ đoạn, đó là lớp người mới xuất hiện khi đạo đức cũ băng hoại.
— Không biết tiên sinh cho rằng Ngụy Vương hiện nay là người thế nào, muốn tiến thân thì phải theo sách lược nào?
— Tại hạ được Tướng quốc thu nạp, chưa có dịp được yết kiến đại vương, nên không dám nói bừa. - Coi như Ngụy Phúng còn biết nông sâu, dừng lại đúng lúc.
Có người nịnh hắn:
— Với tài của tiên sinh, nếu được ra mắt đại vương, tất được trọng dụng. Đến lúc đó, tiên sinh chớ quên đám hậu sinh Kinh Châu bọn ta đấy.
Có người nói chen vào:
— Cần gì phải đợi đến sau này? Lát nữa phiền tiên sinh nói giúp bọn ta mấy lời tốt đẹp trước mặt Lâm Tri hầu.
Lại có người nói:
— Tiên sinh biện luận mọi việc sắc sảo, chẳng hay có tuyệt học nào?
Ngụy Phúng đắc ý:
— Tại hạ có mỗi thuật sửa lưỡi.
— Hắn không hề giấu giếm, - Trong một nhà tất có người tranh luận, trong một làng tất có người kiện tụng. Kiện tụng nhất định có ngay gian, tranh luận hẳn là có phải trái, sai và vô lý coi như thua, đúng và có lý coi như thắng. Tranh luận, kiện tụng bằng miệng lưỡi giống như đánh nhau bằng kiếm kích. Kiếm sắc kích dài, lại thêm chân tay nhanh nhẹn thì giành phần thắng; còn đao cùn mâu ngắn, lại lóng ngóng chân tay thì chịu thua! Miệng lưỡi là vũ khí lợi hại của văn nhân, vì vậy phải bắt chước Tỏ Tần, Trương Nghi, Sái Trạch, Ly Sinh, trong thì sửa rèn học thức, ngoài thì miệng lưỡi lanh lợi, đường làm quan mới nên…
Bào Huân xưa nay luôn đi theo chính đạo, tính tình ngay thẳng, đã thấy chướng tai từ lâu:
— Người này không xứng với những gì được ca ngợi, chẳng qua chỉ là một kẻ gian tà tả đạo, không gặp cũng được.
Tào Phi cười khinh miệt:
— Nói hắn gian tà tả đạo cũng không hẳn, chỉ là miệng lưỡi lợi hại. Nhà nào cũng bán muối tư, chắc chắn sẽ chẳng có ai mua. Nếu ai cũng muốn được thăng quan tiến chức theo đường may mắn, thì chuyên tâm làm việc lại hóa thành lối tắt. Được mất của người làm quan đều nằm trong tay phụ vương ta, há phải chuyện một tên văn nhân như hắn có thể phán xét? Dù cho hắn tinh ranh như Khổng Quế thì sao chứ, chức phò mã hay đô úy chẳng qua cũng chỉ là quan coi xa giá, đâu đến lượt được can dự vào chính sự của đất nước? Chỉ dựa vào chút tài nịnh hót mà muốn nhảy vào triều đường, cũng coi thường phụ tử Tào gia ta quá.
Trần Quần lại nghĩ khác hẳn hai người: Người ta nói Ngụy Phúng có học thức uyên bác, chí hướng cao xa, hôm nay gặp thì thấy cũng chỉ rèn được mỗi cái tài ăn nói, nếu hắn không phải người đất Bái, sao Chung Do có thể coi trọng được? Bọn Lưu Vĩ trẻ người non dạ, chưa kịp nhận ra đã bị thuật hợp ngang chia dọc của hắn nẹt rồi, thế mà còn hy vọng nhân sĩ Kinh Châu làm chủ cục diện chính sự nước Ngụy, há chẳng phải chuyện hoang đường? Kinh Châu còn nằm trong tay Tôn, Lưu, người như bọn chúng tới nền móng cũng chẳng có, nước không có nguồn, cây không có cội, sao so được với vọng tộc Trung Nguyên bọn ta? Trần Vỹ, Văn Khâm là võ nhân không nhìn rõ thời cuộc, thân là đồng hương với quân vương, cứ ngoan ngoãn làm viên quan nhỏ là được, còn dây vào cái đám vớ vẩn này làm gì? Đúng là một lũ hồ đồ!
Bào Huân lại nói:
— Những lời hỗn xược đó có gì đáng nghe? Không khéo để bọn chúng trông thấy, chi bằng chúng ta trở lại khách đường ngồi đợi.
— Cũng đúng. - Tào Phi gật gật đầu, toan dẫn hai người họ rời khỏi đó, nhưng vừa quay người thì trông thấy có hai đại thần bước qua cửa hành lang đi tới. Người đi đằng trước râu tóc bạc phơ, mình mặc triều phục màu tím, lưng cài hốt ngà, chính là Tướng quốc Chung Do, còn người đi phía sau gần bốn mươi tuổi, mặc triều phục màu vàng, cạnh sườn giắt đao, là Hoàng môn thị lang Lưu Dực.
Tào Phi vồn vã tiến lại chào, không ngờ hai người bọn họ lại tỏ vẻ nghiêm túc, chỉ hơi chắp tay hành lễ rồi đi lướt qua y vào thẳng gác tây. Trần Quần cảm thấy kỳ lạ:
— Hoàng môn thị lang là quan truyền đạt chiếu lệnh, lẽ nào đại vương có lệnh? - Ba người chẳng nói chẳng rằng lặng lẽ quay lại đứng ngoài cửa nghe trộm.
Lưu Dực giọng khàn khàn:
— Nửa tháng trước, Lâm Tri hầu tự ý mở cửa Tư Mã, không tuân thủ phép tắc, đã bị đại vương triệu vào cung giáo huấn, không thể tụ họp với các ngươi. Đại vương còn truyền lệnh, văn sĩ Nghiệp Thành tụ tập gặp gỡ nhau là chuyện thường, triều đình không can thiệp, nhưng nếu đi lại quá thân với vương tử sẽ bị nghi ngờ là có câu kết với vương tử. Niệm tình các ngươi còn trẻ, chức tước thấp bé, đại vương tạm thời không truy cứu, nếu sau này còn vô cớ gặp riêng Lâm Tri hầu thì sẽ nghiêm trị không tha!
Không biết bọn Lưu Vĩ, Ngụy Phúng nghe những lời này xong thần sắc như thế nào, chỉ thấy bên trong rối rít vâng dạ, giọng nói cũng toát lên vẻ khúm núm, sợ sệt. Tào Phi chợt thấy bất an - Đáng lẽ Tào Thực bị khiển trách, Tào Phi nên vui mừng mới đúng, nhưng lúc này trong lòng y chẳng hề thấy vui. Từ khi Thôi Diễm, Mao Giới chết, Tào Tháo rất ít khi cho gọi hai huynh đệ y, dù công nhiên triệu kiến thì cũng sẽ cùng thưởng hoặc cùng phạt, thể hiện thái độ công bằng. Nay Tào Thực bị giáo huấn, Tào Phi sợ rằng mình cũng khó thoát tội.
Nghĩ đến đây, Tào Phi không còn tâm trạng nào nghe tiếp chuyện bên trong, bèn cất bước quay về phủ. Đúng lúc này, tấm rèm màu xanh được vén lên, Chung Do trầm mặt bước ra:
— Ban nãy lão phu bận công chuyện, đã thất lễ với tướng quân. - Đám người vừa bị đuổi đều ở trong phủ của ông ta, chắc hẳn lão thần này đã bị Tào Tháo phê bình, cho nên sắc mặt mới khó coi thế.
— Không dám, không dám. - Tào Phi muốn đi mà không được, lòng thấp thỏm không yên, chắp tay cười nhăn nhó.
— Chẳng hay tướng quân ghé qua bản phủ có chuyện gì? - Chung Do hỏi thẳng.
Tào Phi không biết phải mở miệng thế nào. May là Trần Quần còn bình tĩnh, chắp tay thi lễ, nói chen vào:
— Hạ quan mới tới Nghiệp Thành chưa đến bái kiến thúc phụ, Ngũ quan tướng có lòng dẫn đường đưa hạ quan… - Trần Quần tự xưng “hạ quan”, nhưng lại gọi Chung Do là “thúc phụ”, thực chẳng ra thể thống gì. Nhưng nghĩ kỹ thì luận về việc công, hai người là quan trên quan dưới, còn xét về tình riêng hai nhà họ Trần, họ Chung lại là chỗ đồng hương thân thiết, xưng hô như vậy kể cũng hợp lý.
Chung Do là người già dặn trong chốn quan trường, thấy hai người họ cùng tới đã biết ngay dụng ý bên trong, không đợi Trần Quần nói hết câu, ông ta đưa tay cắt ngang lời, không thèm để ý đến Trần Quần mà nhìn thẳng vào mặt Tào Phi:
— Xin tướng quân chớ phụ sự ủy thác của đại vương!
— Sự ủy thác của đại vương? - Tào Phi không hiểu ý Chung Do.
— Thượng thư đài mang tấu chương đến phủ của ngài, ngài đã xem chưa?
— Ta chưa kịp xem kỹ…
Tào Phi càng hoang mang: Chẳng lẽ tấu chương có liên quan đến mình?
Chung Do vân vê chòm râu, bỗng nhiên bật cười:
— Đại vương muốn tướng quân xem công văn, ngụ ý là để tướng quân tham dự chính sự một lần nữa. Vậy mà tướng quân lại bỏ chính sự qua một bên không lo, cùng hạ liêu đi thăm lão phu, chẳng phải đã phụ sự ủy thác của đại vương hay sao? - Đại sự chưa được ban bố, ông ta không tiện nói toạc ra, chỉ gợi ý đến đây thôi.
Tào Phi lẽ nào vẫn còn chưa hiểu? Người y run lên, suýt nữa té ngã, ngỡ là mình đang nằm mơ: có lẽ sự thật đã bày ra trước mắt, tam đệ bị phụ vương quở trách, còn ta lại được khôi phục quyền tham dự chính sự với tư cách là một Phó thừa tướng đúng nghĩa. Phụ vương có ý gì đây? Ta chịu khổ bao nhiêu năm, tranh đấu với tam đệ liên tục thất thế, cuối cùng tất cả lại nằm ngoài dự liệu, im ắng như thế, chẳng hề nổi sóng gió! Tất cả là thật ư?
Chung Do nói tiếp:
— Lão phu còn có câu này muốn nói, mong Ngũ quan tướng xét kỹ. Thành tựu quý ở chỗ chuyên cần, nhân hiếu quý ở chỗ lâu bền. - Vừa nói ông vừa chỉ vào trong gác, - Xin lấy Lưu Dực làm ví dụ, năm xưa ông ta làm Văn học thị tòng trong phủ của ngài, ai cũng nghĩ ông ta chỉ là một tên mọt sách. Từ khi được điều làm Hoàng môn thị lang, lo việc chiếu lệnh cùng với Đinh Dực, ông ta lại càng cúc cung tận tụy, không nề gian khổ. Tài vi chính, đạo làm quan đều do trui rèn mà ra, giờ ai còn nói ông ta là tên mọt sách? Việc này cũng giống như xương cốt của con người vốn không hoàn thiện, nếu thường xuyên điều dưỡng, cơ thể sẽ cường tráng, nhược bằng buông thả, họa phúc khôn lường.
Chung Do ăn nói kín kẽ, nhưng Tào Phi cũng hiểu được - Đây đâu phải nói Lưu Dực, mà rõ ràng đang nhằm vào y. Nói Tào Phi “xương cốt vốn không hoàn thiện” cũng còn dễ nghe, bởi không phải y chưa từng mắc sai lầm, có được đã khó, giữ được còn khó hơn, nếu muốn giữ vững địa vị, y buộc phải siêng năng, hiếu thuận hơn nữa, ngày sau ắt còn nhiều thử thách.
— Đa tạ Tướng quốc đã chỉ giáo. - Tào Phi thi lễ nghiêm chỉnh, đoạn kéo Bào Huân đi, - Mau lên! Về xử lý công văn, tối nay ta phải vào cung bẩm lại với phụ vương. Ngươi dặn Chu Tước mua thêm ít hoa quả để ta dâng lên mẫu thân và chư vị phu nhân nữa.
Trần Quần cũng muốn đi theo nhưng bị Chung Do gọi lại:
— Trường Vân đã đến đây rồi thì ở lại một lát, ta có lời muốn nói với ông. - Trần Quần tinh ý hiểu ra: Tốt rồi! Hố nước đục đã trở nên trong, cuối cùng vị Tướng quốc luôn giữ thái độ trung dung này cũng thể hiện thái độ của mình.
Trần Quần hành lễ đệ tử, dìu Chung Do đến chính đường, nghe phía sau có tiếng ồn ào, liền ngoái lại nhìn. Thì ra Lưu Dực ban bố xong chỉ dụ của Ngụy Vương, bèn lôi đệ đệ Lưu Vĩ hằm hằm xông ra khỏi cửa gác, đi mãi đến chỗ giàn hoa đỗ my vắng vẻ mới chịu buông ra, xơi xơi mắng phủ đầu:
— Không phải ta đã bảo đệ không được phép qua lại với tên Ngụy Tử Kinh sao? Hắn không sửa rèn đức hạnh, chuyên tụ tập đàn đúm, là kẻ bán đời mua danh! Loại người tâm địa bất chính như hắn, ai mà biết được sau này sẽ gây ra họa gì? Đến lúc đấy, đệ hối hận cũng muộn rồi!
— Vâng, vâng, vâng… - Lưu Vĩ bị huynh trưởng lôi đi, mũ áo xộc xệch hết cả, chỉ biết vâng dạ.
Gió bỗng đổi chiều
Trong bữa tiệc nửa tháng trước, Tào Tháo nhắc đến chuyện thoái vị, khiến không ít quan lại nghĩ rằng Lâm Tri hầu chiếm thế thượng phong, đều quay sang kính rượu y, ngay tới Thiền vu Hô Trù Tuyền cũng nhận định Tào Thực chính là Ngụy chủ sau này. Không ngờ trăng tròn lại khuyết, cực thịnh tất suy, đêm hôm ấy đã gieo mầm tai họa. Tào Thực sảng khoái trong lòng, uống đến say khướt, đáng lẽ uống quá chén rồi thì nên về phủ nghỉ ngơi, đằng này ỷ lại vào hậu cung vấn an mẫu thân Biện thị, lúc xuất cung hơi men bốc lên, đã lớn tiếng quát lính canh giữ cung cấm, tự ý mở phanh cửa để đi qua.
Cửa Hiển Dương, cửa Tuyên Minh đều là cửa trong cung, buổi tối phải đóng lại để đảm bảo an toàn, Tào Thực tự ý mở hai cửa này đã đành. Nhưng còn cửa Tư Mã là cửa chính của Đông cung, bất luận là ngày hay đêm cũng phải đóng kín, quan lại ra vào đều đi cửa ngách. Cửa Tư Mã chỉ mở cho Tào Tháo ra vào, dù là vương tử, chư hầu cũng không được phép đi qua. Tào Thực đã vượt quá lễ chế.
Cách xử trí những chuyện vượt quá lễ chế kiểu này nặng hay nhẹ tùy thuộc vào tâm trạng của Tào Tháo. Thường thì nhi tử phạm lỗi, lại là lỗi sau khi uống rượu, chỉ cần giáo huấn vài câu là xong, nhưng lối hành xử của Tào Tháo lần này lại khiến người ta kinh ngạc. Trước tiên, ông cho gọi Tào Thực vào cung, mắng một trận xối xả, lệnh cho Tào Thực đóng cửa suy nghĩ, xử tử công xa Tư Mã đã mở cửa cung; tiếp đến lại ban sắc lệnh công bố sự việc với quan viên toàn triều, nhiều lần nhắc nhở quần thần và các vị vương tử giữ nghiêm phép tắc. Trong sắc lệnh có hẳn một đoạn nói rằng: “Lâm Tri hầu tự ý mở cửa Tư Mã, khiến ta phải nhìn bằng con mắt khác vậy!” - Lời lẽ thật gay gắt. Ông nói đi nói lại chuyện này ba ngày chưa hết, còn triệu tập tất cả quan viên Ngụy đình và mạc phủ để cử hành một cuộc triều hội lớn.
Lần triều hội này được tổ chức ở điện Văn Xương thuộc tây cung, không chỉ có quan lại triều đình nước Ngụy mà cả duyện thuộc mạc phủ chưa được ban chức phận trong triều cùng với Trưởng sử, Gia thừa của các hầu phủ cũng phải dự thính. Có điều, ngoài Ngũ quan trung lang tướng ra, các vị vương tử chỉ có tước hầu chưa có tước vị đều không được phép tham dự, ngay cả Tào Chương, Tào Thực, Tào Bưu cũng bị khước từ ngoài cung. Người đến dự rất đông, may là sức chứa của điện Văn Xương rộng lớn nên vẫn đủ, quan cao thì ngồi trong điện, còn thuộc quan đứng dưới sân. Ai nấy mang vẻ mặt nghiêm túc, cúi gằm đầu im lặng, đoán chừng đại vương sắp nổi trận lôi đình.
Thế nhưng tất cả đều đoán sai hết, hôm nay Tào Tháo điềm tĩnh khác thường, một chút nóng giận cũng không có. Ông từ từ đưa mắt nhìn khắp bá quan văn võ, rồi hướng mắt ra ngoài điện, chậm rãi nói:
— Ngũ quan tướng Trưởng sử Bính Nguyên và Lâm Tri hầu Gia thừa Hình Ngung vào điện, ban ngồi. - Hai người này là nhân sĩ đức cao vọng trọng nổi tiếng trong thiên hạ, Tào Tháo phái họ đến phủ của Tào Phi, Tào Thực nhằm dựng uy vọng, tuy chỉ là quan giúp việc nhưng cũng được biệt đãi.
Hai người vào điện cảm tạ, ngồi xuống, bấy giờ Tào Tháo mới đi vào việc chính, không phải bằng giọng giáo huấn mà giống như bàn bạc:
— Gần đây quả nhân mắc bệnh nhẹ, chắc các khanh cũng đã biết, cho nên ta hơi lơ là chính sự. Hôm nay, quả nhân cho gọi các khanh tới không có ý gì khác ngoài việc muốn căn dặn các khanh dụng tâm hơn nữa. Việc của thiên hạ luôn phải có người lo liệu, những lúc quả nhân nhàn rỗi, các khanh cũng không được trễ nải. Hiện phương bắc gặp nhiều thiên tai, nơi chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là đất Dự, Duyện, trung đài hãy bàn bạc miễn giảm thuế khóa và lao dịch sao cho thỏa đáng, chớ quá câu nệ điều lệ. Việc binh ở Hán Trung chưa yên, Tôn Quyền ở Giang Đông lại luôn ẩn giấu họa tâm, vẫn phải đôn đốc các quận Kinh, Tương tăng cường phòng bị, có thể quả nhân sẽ nam chinh… - Ông kể lần lượt từng việc khiến quần thần mơ hồ: Đại vương đột nhiên triệu mọi người vào cung, chẳng lẽ chỉ vì những chuyện vụn vặt này?
Tào Tháo hiếm khi điềm tĩnh, căn dặn một lúc bảy tám việc lớn nhỏ, sau cùng nói qua loa:
— Vậy thôi, sức khỏe của quả nhân không tốt, khó có thể chu toàn mọi việc, mong các khanh bổ khuyết, hằng ngày thay quả nhân lưu tâm nhiều hơn… - Nói đến đây, ông dường như cố ý ngừng lại, - Hoặc có thể thương lượng với Chung Tướng quốc và Ngũ quan tướng.
Câu nói nhẹ bẫng như thể Tào Tháo đang nhắc đến một việc thường ngày, thế nhưng các đại thần bên dưới đều vô cùng kinh ngạc, thiếu chút nữa thì bật thành tiếng: Sao Ngũ quan tướng cũng được nhắc đến? Tào Phi đã không tham dự chính sự hai năm, giờ đại vương sắp xếp như vậy không phải là quay trở lại cục diện trưng cầu chuyện lập người kế vị trước đây sao?
Liên tưởng đến chuyện Tào Tháo khiển trách Tào Thực, các quan mới vỡ lẽ ra rằng gió lại đổi chiều! Đúng là bất ngờ, mới vài tháng trước hai đại thần cực lực bảo vệ Tào Phi là Thôi Diễm và Mao Giới lần lượt bị xử tử, thế mà nay Tào Tháo lại ném ra câu này, rõ là tráo trở. Chúng nhân liếc trộm Tào Phi, thấy vẻ mặt y không hề ngạc nhiên, nên đều nghĩ rằng phụ tử họ đã ngầm hẹn với nhau.
Đại điện im phăng phắc, nhưng Tào Tháo như nghe được những tiếng kêu kinh ngạc trong lòng quần thần, ông bỗng cao giọng nói:
— Tất nhiên! Những việc lớn vẫn do quả nhân toàn quyền quyết định, bất cứ ai cũng không được chuyên quyền!
Quần thần dần dần thức tỉnh, người thì vui vẻ, kẻ thì buồn rầu, hầu hết không coi là thật: Gió đổi hướng quá nhanh, ai mà biết được đại vương có đổi ý nữa hay không? Chuyện nhà họ quá rối rắm, ít dính vào thì hơn.
Thực ra, Tào Tháo xử trí như vậy cũng có nỗi khổ tâm. Bởi thứ nhất, chính ông là người tạo ra cục diện hai phủ cùng dựng, trên dưới Nghiệp Thành vì chuyện lập người kế vị mà ngấm ngầm xoay chuyển, giờ nói một câu gọn lỏn là lập Tào Phi thì khác nào đổ thêm dầu vào lửa, tất sẽ lại rối loạn. Thứ hai, phần lớn quan lại dự triều hội đều dính líu đến chuyện tranh giành ngôi vị, ân oán giữa duyên lại hai phủ cũng không nhỏ, nếu lúc này đột nhiên ấn định triều cục, chắc chắn có người sa cơ thất thế, đấu qua đấu lại chẳng phải vẫn làm hao tổn người mình hay sao? Hơn nữa, ban đầu Tào Tháo định lập trưởng tử, sau lại quay sang hỏi ý kiến quần thần, gây ra bao chuyện ầm ĩ, cuối cùng lại trở về ý định lúc đầu, bản thân ông cũng bị mất mặt. Cho nên, Tào Tháo tính toán mất nửa tháng trời mới quyết định xử trí theo cách này.
Sau một hồi im lặng, quần thần không có ý kiến gì khác, Tào Tháo lại nói:
— Còn một việc nữa, các khanh phải nhớ kỹ. Xã tắc nước Ngụy đã dựng được bốn năm, chế độ lễ pháp không phải mới được thiết lập, tước có cấp bậc, quan có quy chế, quan liêu đi lại với nhau vì việc riêng phải giữ phép tắc. Người xưa có câu: “Bước qua ruộng dưa không cúi xuống sửa giày, đi dưới cây mận không đưa tay sửa mũ”, nếu để quả nhân phát hiện ra có chuyện câu kết với chư hầu, chớ trách quả nhân không niệm tình xưa!
Quần thần sợ hãi cúi đầu, trong lòng thầm tính toán, đến lúc ngẩng đầu lên, Ngụy Vương đã được nội thị dìu về hậu cung. Trong lần triều hội này, Tào Tháo không nói nhiều nhưng đều chỉ ra những chỗ quan trọng, bách quan về nhà từ từ lĩnh hội vậy.
Quan Hoàng môn hô bãi triều, nhưng phần lớn quan viên vẫn đứng im, liếc trộm sang phía Ngũ quan tướng. Tào Phi cũng không vội, đợi các lão thần như Tướng quốc Chung Do, Đại lý Vương Lãng, Thiếu phủ Vạn Tiềm nhổm dậy, y mới đứng lên, rảo bước đến chỗ Bính Nguyên, Hình Ngung lần lượt đỡ bọn họ dậy, cùng ra khỏi điện. Bấy giờ quần thần mới yên tâm đứng dậy, lặng lẽ ra về.
Tây tào duyện Đinh Nghi ra ngoài điện Văn Xương, bước chân chao đảo như đi trên mây, hắn đứng ngoài thềm nhìn bầu trời nhợt nhạt mà ủ rũ, ngẩn ngơ - Hắn không tài nào hiểu được vì sao đùng một cái Lâm Tri hầu lại từ đỉnh núi rớt xuống đáy vực? Nói đổi là đổi, không hề có dấu hiệu báo trước! Lẽ nào chỉ vì chuyện cửa Tư Mã, hay Tào Phi giở trò gì bên trong? Có thể cứu vãn được nữa chăng?
Đinh Nghi có tật ở mắt, lại thêm tâm sự chất chồng, nhìn xa liền bị hoa mắt chóng mặt, bỗng có cảm giác như trời sắp sập xuống đến nơi, vội cúi ngay đầu xuống, nhưng vẫn chẳng thể trấn tĩnh được tâm tình đang rối bời.
Đương lúc thở dốc, hắn lờ mờ trông thấy Chủ bạ Dương Tu cũng đứng thất thần dưới thềm điện, lảo đảo đi xuống hỏi:
— Đức Tổ! Làm thế nào bây giờ?
Dương Tu bình tĩnh hơn Đinh Nghi, vội chạy lại chặn miệng Đinh Nghi:
— Chớ có làm ầm lên. - Trước điện có thị vệ, quần thần cũng chưa tản hết, bàn luận chuyện lập người kế vị ở đây chẳng phải tự tìm đến cái chết sao?
Đinh Nghi bị Dương Tu kéo tới vườn ngự uyển, đi mãi đến dưới gốc cây ngô đồng ngoài cửa Chỉ Xa môn, Dương Tu mới dừng lại:
— Chính Lễ, chớ hốt hoảng.
— Làm sao bây giờ? - Đinh Nghi ruột gan rối bời, níu lấy cánh tay Dương Tu.
Dương Tu thẫn thờ lắc đầu:
— Ý trên đã quyết, chúng ta còn làm gì được.
— Không đúng, chắc chắn phải có cách! Chẳng phải đại vương vốn không định lập Ngũ quan tướng nên mới chuyển hướng sang Lâm Tri hầu đó sao? Ý trên thường hay thay đổi, chưa biết chừng còn thay đổi nữa…
— Ông tỉnh lại đi! Lần này không còn chỗ quay đầu nữa đâu. - Dương Tu buồn bã nói, - Ông không nhận ra dụng ý của đại vương trong việc xử lý chuyện của Tư Mã à? Sự việc đã trôi qua nửa tháng, lúc đó đại vương không truy cứu ngay, giờ mới lôi ra, lại còn ban bố sắc lệnh rõ ràng. Chuyện tự ý mở cửa Tư Mã xảy ra vào ban đêm, chẳng có mấy người biết, nhưng sắc lệnh này lại khua chiêng gõ trống như thể sợ trăm quan không biết! Nếu nói về vượt quyền vô lễ, có ai bằng Yên Lăng hầu Tào Chương, đại vương không ít lần khiển trách, nhưng có lần nào chuyện bé xé ra to thế này đâu? Rõ rành đại vương cố ý bắt tội Lâm Tri hầu, cố ý hủy hoại danh tiếng của ngài ấy! Đại vương công khai việc cho Ngũ quan tướng tham dự chính sự, lại luôn miệng nghiêm cấm quần thần câu kết với vương tử, đó chẳng phải là bố cáo với mọi người chuyện đại vương đã xác định người kế vị, sau này không thay đổi nữa, bất cứ ai cũng không được kết bè kết đảng với vương tử khác ư? Mọi việc đều được lên kế hoạch từ trước, chẳng lẽ ông vẫn chưa hiểu ra?
— Không thể nào! - Đinh Nghi hoảng sợ, lắc đầu quầy quậy.
Dương Tu thở dài:
— Ông hà tất phải tự lừa mình dối người? Ta cũng biết Lâm Tri hầu hiền lương đức độ, tài hoa xuất chúng, chỉ cần dựa vào giao tình riêng, ta cũng sẽ ủng hộ ngài ấy. Nhưng đại vương đã quyết định như thế rồi, chúng ta còn làm được gì nữa? - Nói đến đây, họng ông ta như nghẹn lại, - Bình tĩnh mà xét, Lâm Tri hầu đúng là không có bản lĩnh của bậc đế vương, ngài ấy quá lương thiện, quá thật thà, không thể đấu trí với Ngũ quan tướng, nói gì đến Tôn, Lưu. Kết thúc rồi, tất cả đã kết thúc rồi…
Đinh Nghi vẫn không chịu tin:
— Vậy cớ sao trước đây đại vương phải xử tử Thôi Diễm, bãi chức Mao Giới, và còn muốn lập Lâm Tri hầu?
Dương Tu cười nhăn nhó:
— Ông thử nghĩ kỹ xem. Thôi Diễm công nhiên dâng tấu, Mao Giới âm thầm nhạo báng, hai người họ nắm việc tuyển chọn quan lại đã lâu, hạch tội bọn họ thực sự chỉ vì lý do họ ra sức bảo vệ Ngũ quan tướng thôi sao? Ông rõ ràng không hiểu đại vương, nên cố mà lĩnh hội tâm kế của lão ngài đi!
Đinh Nghi tự tay dìm chết Thôi, Mao, cứ nghĩ đó cũng là ý muốn của Tào Tháo, chưa từng suy nghĩ sâu xa, hôm nay gặp biến cố lớn mới chột dạ. Hạch tội Thôi, Mao chỉ vì lý do bọn họ bảo vệ Tào Phi thôi sao? Thật ra, hai người họ đều đã chọc giận Tào Tháo, họ nắm giữ trọng quyền, môn sinh cố lại khắp thiên hạ, lại là những người kiên trì ủng hộ Tào Phi, Thôi Diễm còn có quan hệ thông gia với Tào Thực. Nếu sau này Tào Phi kế vị, chẳng phải hai người họ sẽ có công cao chấn chủ[13] ư? Huống chi Tào thị mới xưng vương, đang là lúc cần chỉnh đốn kỷ cương, thiết lập quân uy, hạ bệ hai người họ để giết gà dọa khỉ là quá thích hợp. Đinh Nghi chợt hiểu ra, chả trách hắn dựng tội cho bọn họ dễ như vậy, chả trách hắn nói gì Tào Tháo cũng tin. Đinh Nghi vốn dĩ cho rằng đã lợi dụng được chuyện Ngụy Vương bất mãn với Thôi, Mao để đả kích Tào Phi, nhưng bây giờ nghĩ kỹ thì rốt cuộc ai lợi dụng ai đây?
Sực hiểu ra những điều này, Đinh Nghi đứng ngây ra như tượng gỗ, miệng cứ lẩm bẩm:
— Làm thế nào bây giờ…
Làm thế nào bây giờ… - Lần này không phải Đinh Nghi lo cho Tào Thực, mà đang lo lắng cho chính mình.
Phò tá nhầm vương tử cũng không có nghĩa là rơi vào đường cùng, chỉ cần thay lòng đổi dạ, góp sức cho tân chủ thì không đến nỗi không ngóc đầu lên được. Nhưng Đinh Nghi thì khác, hắn đã lún quá sâu vào hố nước này, hắn không từ thủ đoạn đánh đổ Từ Dịch, hại chết Thôi, Mao, chẳng những kết thù với Tào Phi mà còn kết oán với đồng liêu. Lúc này Tào Tháo đang trị vì còn đỡ, một khi ông về chầu trời, chỉ e đến tính mạng của hắn cũng khó giữ. Ngày tận thế không còn xa nữa, hắn phải làm sao bây giờ?
Nhìn ánh mắt hoảng loạn của Đinh Nghi, Dương Tu cũng đoán được vài phần, vừa lo lắng thay hắn, cũng vừa giận hắn hành sự bừa bãi, chuốc oán với Tào Phi để đến nỗi hại mình hại người, chỉ biết an ủi:
— Có câu “Tọa hưởng thiên hạ giả đương hữu dung nạp bách xuyên chi lượng”[14] tuy Ngũ quan tướng không độ lượng nhưng cũng sẽ không dại gì làm khó huynh đệ, để lại tiếng cười cho hậu thế. Chúng ta chỉ cần cẩn thận hành sự, trên tuân theo ý đại vương, dưới hợp lòng Ngũ quan tướng, dẫu không có được quyền cao chức trọng trong triều, thì cũng không đến nỗi phải lo đến tính mạng…
— Đó là ông thôi! - Đinh Nghi quắc mắt nhìn lại, - Ông chẳng qua chỉ làm lộ đề thi mấy lần, cũng không phải tội gì lớn, huống chi ông còn là hậu duệ của danh môn Dương thị ở Hoằng Nông. Ta thì khác, Tào Phi há có thể giữ ta lại trên đời? Chuyện này không thể dừng lại ở đây được, ta phải tiếp tục đấu đến cùng!
Dương Tu chợt thấy lo lắng:
— Ông, ông chớ có làm bừa, cứ một mực cố chấp chỉ hại mình thôi, mà e là đến cả Lâm Tri hầu cũng bị vạ lây…
Ông ta chưa nói hết câu, lại có người chạy lại từ phía cửa cung, thở hổn hà hổn hển, trông thấy hai người vồ vập hỏi:
— Hai ngài còn đứng đây được à! Làm thế nào bây giờ? Làm thế nào mới được? - Dương Tu và Đinh Nghi thoáng giật mình, định thần lại mới biết là Khổng Quế.
Dương Tu giả ngây:
— Làm sao chứ? Cứ làm cho tốt chuyện của ngươi đi.
Khổng Quế lại nói:
— Các ngài chớ có bỏ mặc ta, chúng ta đều là người mình.
— Ai là người mình với ngươi? - Dương Tu không thèm đếm xỉa đến hắn.
Khổng Quế không được coi là người thuộc phe Tào Thực, nhưng vì hắn lập thân nhờ xu nịnh, muốn ra sức ủng hộ người kế vị để củng cố địa vị của mình, hơn nữa hắn vốn có quan hệ không tốt với Tào Phi, về sau gió chiều nào che chiều ấy nên mới chuyển hướng sang Tào Thực. Khi Đinh Nghi gièm pha hãm hại Thôi, Mao, hắn cũng được đà hùa theo, dậu đổ bìm leo, chẳng khác nào công khai trở mặt với Tào Phi. Ai ngờ tình thế thay đổi, sợ rằng người ngoài nhìn vào đều nghĩ Khổng Quế thuộc phe Tào Thực, thật xui xẻo!
Đinh Nghi hạ quyết tâm:
— Ta chẳng cần biết các ông làm thế nào, ta thề phải lật đổ Ngũ quan tướng. Đại vương đã nhiều lần thay đổi chủ ý, chắc gì không thay đổi lần nữa. Dẫu không phải vì Lâm Tri hầu, ta cũng phải tự bảo vệ mình! - Nói rồi phất tay áo bỏ đi.
Dương Tu muốn đuổi theo Đinh Nghi, nhưng lại bị Khổng Quế túm lấy ống tay áo:
— Đức Tổ, kệ ông ta đi. Chúng ta phải làm thế nào? Ngài giúp ta đưa ra chủ ý…
— Ngươi muốn làm thế nào thì làm! - Dương Tu hơi đâu mà lo cho Khổng Quế, ông ta đẩy hắn ra, vội vã đuổi theo Đinh Nghi.
Khổng Quế cuống lên giậm chân bình bịch, tự vả vào mặt mình hai cái: Nuôi cò cò mổ mắt, nửa đời người gió chiều nào che chiều ấy, sao ta lại không đoán ra tâm tư của Tào Tháo? Sau lưng còn chỗ quên lùi bước, trước mặt cùng đường muốn quay đầu, phú quý hiện giờ chưa biết đủ, còn muốn toan tính cho ngày sau? Không phải là tự nhảy vào hố lửa ư?
Khổng Quế không có tài cán gì, chỉ được cái giỏi hầu hạ người khác, chính vì vậy mà hắn hiểu tính cách phụ tử Tào thị hơn những kẻ khác - Thà đắc tội với Tào Tháo chứ không thể đắc tội với Tào Phi. Tào Tháo gian xảo nhưng vui thì cười, giận thì chửi, đắc tội với ông không quá nghiêm trọng, nhân lúc ông cao hứng mà chạy đến nói vài câu lọt tai, làm vài việc ưng lòng, đại để có thể thoát nạn. Còn Tào Phi thì khác, bề ngoài tỏ vẻ độ lượng nhưng bên trong lại nhiều tị hiềm, vui giận không hiện trên nét mặt. Bị ai đó đắc tội, mặt y không biến sắc, song trong lòng lại ôm hận cả đời, không giết người ta không xong!
❀ ❀ ❀
[1] Các huyện này nay thuộc địa bàn quận Sơn Tây, Trung Quốc.
[2] Nguyên văn dùng cụm từ “Trung Nguyên chính sóc”, trong đó chính sóc là ngày đầu tiên của một năm, mỗi triều đại phong kiến đều đặt ra lịch pháp riêng, để thể hiện sự thống nhất, và quyền uy. Các dân tộc thiểu số ngoài biên ải không theo lịch pháp của người Trung Nguyên, mà có lịch riêng của họ. Do vậy, người Trung Nguyên thường tự xưng, hoặc có khi được gọi là “Trung Nguyên chính sóc”, tương tự như ngôn ngữ hiện đại nói “người Trung Nguyên thực sự”, “người Trung Nguyên chính cống”. Ở đây, chúng tôi chọn cách chuyển dịch là người Trung Nguyên chính cống.
[3] Tịch Cốc là một phương pháp dưỡng sinh của người xưa, bắt nguồn từ thuật tu dưỡng của Đạo gia, xuất hiện từ thời Tiên Tần, và phổ biến dưới thời nhà Đường. Tịch cốc truyền thống gồm ba loại chính: nhịn ăn điều khí, nhịn ăn tự nhiên và nhịn ăn dùng thuốc. Cả ba loại đều có lợi cho sức khỏe, nhưng không có hiệu quả quá lớn, và vẫn đang được nghiên cứu thêm.
[4] Ngũ phúc gồm trường thọ, phú quý, khang ninh, hảo đức và thiện chung. Trong đó, trường thọ là sống lâu, không bị chết yểu; phú quý là tiến của giàu sang, địa vị tôn quý; khang ninh là thân thể khỏe mạnh, tầm hồn yên an; hảo đức là tâm tính lương thiện, thuận theo tự nhiên; thiện chung là chết nhẹ nhàng, thanh thản, chết vì già, chứ không phải vì tai họa, bệnh tật.
[5] Công xa là chức quan phụ trách canh gác cửa chính trong cung.
[6] Chỉ con trai hai mươi tuổi. Con trai đến tuổi này được làm lễ đội mũ để thể hiện mình đã trưởng thành.
[7] Một kiểu cửa trong kiến trúc sân vườn thời xưa của người Hán, trên có mái che, bốn góc buồng bốn trụ lửng, đỉnh trụ chạm trổ hoa văn sơn màu. Hai bên cửa thùy hoa là hành lang nối tiền viện với nhà trong.
[8] Thị trung là một trong những chức quan kiêm nhiệm bên cạnh những chức quan chính quy, lo việc tấu sở, được đặt ra từ thời Tần, Hán. Do quan thị trung theo hầu hoàng đế, ra vào cung cấm, nghe việc triều chính, nên dần trở thành thân tín. Thời Ngụy, Tấn chức quan này ngang với tể tướng.
[9] Thường bá là chức quan đại thần thời Chu, giúp hoàng đế quản lý việc dân chính, tương đương với chức thị trung thời Hán. Người Hán thường so sánh thị trung với thường bá.
[10] Hiện tượng nói lái: (hử zí) con hổ thành (thú) cái bô.
[11] Điền quan: người hầu cận lo việc nón mũ cho nhà vua.
[12] Thời xưa ngồi xe ngựa, người tôn quý ngồi bên trái, người đánh xe ngồi ở giữa, còn có một người theo hầu ngồi bên phải, được gọi là tham thừa.
[13] Chỉ bề tôi có công lao quá lớn, từ đó đe dọa đến địa vị của nhà vua.
[14] Người ngồi hưởng thiên hạ có sức chứa trăm sông.