Tào Tháo giết chết Dương Tu, song không thể nào thay đổi được cục thế bị động, tuy ông tuyên bố với ba quân phải quyết đấu đến cùng, nhưng những người tinh tường đều nhận ra, đó chỉ là một cách nói phô trương nhằm giữ lại thể diện mà thôi. Trong lòng mọi người đã ngầm định ngày thu quân không còn xa nữa. Kỳ thực, bản thân Tào Tháo cũng rất hoang mang, ông đem quân khiêu khích, kẻ địch cũng không chịu ra ứng chiến, trong khi đó bệnh đau đầu và tê liệt của ông lại lúc đỡ lúc không, ở bên ngoài phơi nắng chẳng bằng ngồi trong trướng dưỡng sức.
Cơn mưa giữa mùa hè kéo đến làm bầu trời trở nên u ám mù mịt, những giọt mưa tí tách rơi xuống khiến tâm trạng Tào Tháo càng thêm muộn phiền, suốt đêm ông không chợp mắt được, trằn trọc mãi không biết nghĩ những gì. May là có Khổng Quế ở bên hầu hạ, thỉnh thoảng lại pha trò…
— Thần nghe nói hôm qua xảy ra một chuyện hãn hữu. - Khổng Quế vừa đấm lưng cho Tào Tháo vừa kể, - Tướng quân Tào Hồng đồn trú Vũ Đô bắt mấy người con gái Khương, Đê giỏi ca vũ, rồi tụ tập uống rượu với bộ hạ, để cho những nữ nhân ấy lõa thể, chỉ che mỗi mảnh vải mỏng trên người mà múa thất bàn[1].
— Sao cơ? - Tào Tháo nhíu mày, - Chẳng lẽ thuộc quan trong doanh không ngăn cản à?
— Tất nhiên cũng có người thấy chướng mắt ạ. Thái thú Kim Thành Dương Phụ phản đối, nói rằng sự khác biệt giữa nam và nữ là phép lớn của xã tắc, vua Kiệt, vua Trụ hoang dâm cũng không đến mức ấy, khiến tướng quân Tào Hồng buộc phải dừng tiệc, mọi người mất hứng bỏ về.
Tào Tháo lắc lắc đầu:
— Mấy năm nay đúng là Tử Liễm cũng hơi bừa bãi, tham tài háo sắc, phóng túng ngang ngược. - Nói là vậy, nhưng dù sao hai người cũng là huynh đệ trong nhà, lại cùng tuổi với nhau, Tào Tháo không muốn quản thúc Tào Hồng quá chặt. Vả lại, ông trì hoãn chuyện xưng đế, làm người ta không được coi là công thần khai quốc, không được thăng quan tấn tước thêm nữa, chẳng lẽ đến hưởng lạc một chút cũng không được.
Khổng Quế dường như nói đùa, nhưng lại để ý từng cử chỉ nhỏ nhất của Tào Tháo:
— Mấy năm trước, thái tử có hỏi mượn tiền tướng quân Tào Hồng, tướng quân cương quyết không cho, đúng là keo kiệt.
— Có chuyện này sao? - Nghe thấy hai từ “thái tử”, Tào Tháo nhướng mày hỏi, - Thái tử cần mượn tiền làm gì?
Khổng Quế trả lời qua loa:
— Thái tử dù sao cũng là thái tử, ngài ấy mượn tiền không phải chỉ xoay quanh mấy việc thường ngày như đi săn tại vi trường, ban thưởng cho thần hạ và tụ tập với bọn họ thôi hay sao? Thực ra, thái tử còn không bằng hai hầu gia Lâm Tri và Yên Lăng, đã không có tước vị lại không có ấp phong, chút bổng lộc ít ỏi dùng để nuôi một đám thê thiếp, môn khách, cũng chật vật lắm. Tuy ngoài miệng thái tử không nói gì, nhưng trong lòng hẳn cũng ai oán…
— Nó dám! - Mặt Tào Tháo biến sắc, - Nó dựa vào đâu mà oán trách ta? Quả nhân giao cả giang sơn xã tắc lớn nhường này cho nó còn chưa thỏa mãn? Đi săn là trễ nải chính sự, lại còn tụ tập quần thần, ban ơn huệ riêng, nó muốn làm gì hả?
Khổng Quế cố tình thổi bùng ngọn lửa này lên, trông thấy Tào Tháo nổi giận, hắn mừng thầm trong lòng, nhưng vẫn cuống quýt quỳ xuống thỉnh tội:
— Thần nhất thời hồ đồ, ăn nói lung tung, không có ý nương theo thái tử, đây là chuyện vụn vặt trong nhà, xin đại vương chớ để bụng. Thái tử nào dám có nửa lời oán trách, mà dù có thầm nghĩ như vậy cũng không có gì quá phận. Thái tử thân là đích trưởng tử, ngồi trên chiếc ghế lạnh lẽo đó nhiều năm, cũng khó mà… - Những lời này nghe có vẻ như đang nói đỡ cho Tào Phi, nhưng thực ra mỗi câu mỗi từ lại xoáy sâu vào lòng Tào Tháo, rõ là đổ thêm dầu vào lửa. Khổng Quế ngầm tính: Nếu đã không nhận được sự khoan thứ của Tào Phi, ta chỉ còn cách gièm pha, xúi giục để Tào Tháo phế truất thái tử. Dù Tào Chương hay Tào Thực kế thừa đại thống cũng đều được, miễn là không phải Tào Phi, thì cái mạng của ta khỏi cần lo nữa.
Tào Tháo đang phiền muộn, không nhận ra ý đồ của hắn:
— Xem ra quả nhân phải giáo huấn Tử Hoàn một chút mới được, ngươi hãy gọi Tôn Tử, Lưu Phóng tới đây cho ta. - Ông định ban sắc lệnh khiển trách thái tử.
— Dạ. - Khổng Quế mừng thầm, một khi sắc lệnh này được ban xuống sẽ hạ phần lớn uy thế của Tào Phi, hơn nữa còn có huynh đệ Đinh Nghi ra sức phụ họa, cứ như vậy lo gì ngôi thái tử không đổ? - Hắn nhận lệnh đi ngay, không ngờ vừa xoay người đã thấy một vị đại thần đứng chặn ở cửa:
— Ông gọi Bí thư lang có chuyện gì? Lẽ nào đại vương có lệnh? - Không biết Thị trung Hoàn Giai đã tới từ lúc nào. Khổng Quế biết Hoàn Giai là người công nhiên ủng hộ Tào Phi, hậm hực nghiến răng: Tai lão này thính thật!
Hoàn Giai tới đưa quân báo, vừa đi đến cửa thì nghe bên trong nhắc tới chuyện của thái tử, lại thấy Tào Tháo nổi giận, ông ta bước vội vào:
— Quốc có quốc pháp, gia có gia quy, trị lý đất nước được hòa bình ổn định là giỏi, coi quản gia đình được êm ấm hòa mục là tốt. Đại vương giáo huấn thái tử xuất phát từ tình thương, nhưng ban sắc lệnh này, e rằng sẽ dẫn đến dị nghị trong chốn triều đường và dân gian, từ đó nổi sóng gió thì không phải phúc của xã tắc. Ban nãy Khổng đại nhân nói rất đúng, đây đều là chuyện nhà, mà đã là chuyện nhà thì nên chiếu theo phép nhà, đại vương chỉ cần lệnh cho Hiệu sự chuyển lời tới thái tử là được… - Rồi quay sang cười khà khà với Khổng Quế, - Có phải ngài cũng có ý đó không, Khổng đại nhân?
Câu này vừa hợp tình vừa hợp lý, Khổng Quế chỉ biết đáp:
— Đúng vậy, đúng vậy…
Nghe lời khuyên của Hoàn Giai, Tào Tháo tỉnh táo hẳn ra, nhớ lại năm trước ông mượn chuyện của Tư Mã để ban sắc lệnh khiển trách Tào Thực, khiến Tào Thực lúc nào cũng lo sợ bất an. Giờ người con thứ ba đã bị áp chế, chẳng lẽ ông còn muốn chỉnh lý cả trưởng tử? Mà ông cứ thay đổi xoành xoạch, quần thần biết nghĩ thế nào đây? Tào Tháo than thở:
— Bỏ đi, thái tử cũng đã ba chục tuổi đầu, tốt xấu gì cũng kệ thôi.
Hoàn Giai thầm thở phào, lúc bấy giờ mới trình tấu chương:
— Sứ giả của Kha Tị Năng đã tới Nghiệp Thành, dâng một số cống phẩm, và còn trao trả không ít người Hán lưu vong ngoài biên ải, khẩn cầu triều đình cho phép mở chợ thông thương.
Khổng Quế được dịp nói chen vào:
— Anh hùng vùng biên ải gì chứ, chẳng phải xun xoe cống nạp cho đại vương của chúng ta ư? Tất cả đều nhờ công lao của Yên Lăng hầu!
— Đề cao Tào Chương cũng đồng nghĩa với việc hạ thấp Tào Phi.
Hoàn Giai không để cho hắn lắm lời, vội cắt ngang:
— Tự dưng xun xoe dâng cống, không phải gian tà thì cũng là trộm cướp! Kha Tị Năng chưa giao chiến với chúng ta đã vội xưng thần, chắc chắn có mưu đồ. Triều đình xưa nay luôn lấy người Hồ áp chế người Hồ, nay các bộ quân của Bộ Độ Nâng, Tố Lợi đều không phải đối thủ của Kha Tị Năng, nếu ta lại đồng ý mở chợ thông thương, Kha Tị Năng càng giàu có, e là không lâu nữa sẽ thống nhất được người Tiên Ti. Trong nước Tôn, Lưu chưa diệt được, sau lưng lại nổi lên một kẻ thù mạnh, việc này thực sự rất đáng lo.
Tào Tháo suy nghĩ chốc lát, nói:
— Tuy nói như vậy, nhưng Kha Tị Nâng đã chủ động trao trả dân lưu vong, mà không cho phép mở chợ thì không hợp nhân tình lắm, hơn nữa cũng làm xấu hình ảnh của triều ta trong mắt người Hung Nô, Ô Hoàn. Chúng ta chấp thuận thỉnh cầu của hắn, nhưng chỉ được mở một chợ, và chỉ được trao đổi vải vóc, gốm sứ, phàm là lương thực, đồng thiếc, thư tịch đều không được truyền ra ngoài. - Đồng thiếc có thể tạo ra vũ khí, thư tịch có thể mở mang hiểu biết, không thể để người Hồ có được những thứ ấy. Còn vải vóc lụa là được dệt từ tơ sợi, chai lọ gốm sứ chẳng qua cũng chỉ là bùn đất nung thành. Những thứ dân du mục dùng để trao đổi là da thuộc như lông cừu, gia súc như trâu ngựa, nên mở chợ kiểu này rất có lợi cho người Hán.
Khổng Quế không chịu nhường lời:
— Đại vương anh minh, người Hồ nhỏ bé làm được gì, dù bọn chúng có sinh sự thì đã có Yên Lăng hầu dũng mãnh, chúng ta còn phải sự sao?
— Cũng đúng. - Hoàn Giai không bác bỏ, - Có Yên Lăng hầu phò tá thái tử sẽ ổn thôi. - Ông bẻ cong ý của Khổng Quế, khiến hắn hận đến nghiến răng nghiến lợi mà chẳng làm gì được. Tào Tháo đột nhiên đứng dậy, đi ra ngoài.
Khổng Quế vội theo sau:
— Đại vương muốn đi tuần doanh ạ? Thần xin đi cùng người.
— Thần cũng xin đi theo. - Hoàn Giai không chịu kém cạnh.
— Không cần. - Tào Tháo buông một câu kỳ quặc, - Hai ngươi cứ ở lại đấu khẩu tiếp đi!
Câu này khiến Hoàn Giai và Khổng Quế túa mồ hôi, nghĩ đến chuyện mấy hôm trước Dương Tu vừa bị giết, ai còn dám nói nữa.
Chiều tối trời vẫn lất phất mưa, những hạt mưa nhỏ rơi xuống đủ làm ẩm áo, Tào Tháo không đi xa, chỉ loanh quanh mấy doanh trung quân. Binh sĩ đều uể oải lười biếng, vệ binh chỗ nào cũng trễ nải canh gác, trông thấy đại vương bước tới mới đứng thẳng lưng lên. Trận này đánh không được, lui cũng không xong, lại gặp đúng thời tiết ẩm ướt, không tìm được nơi thích hợp trong khe núi để thao luyện, cả ngày nhàn rỗi binh sĩ còn đâu nhuệ khí? Tào Tháo ngầm tính: Cố đợi chục ngày nữa cho chuyện của Dương Tu lắng xuống mới có thể thu binh, trở Trường An sẽ chấn chỉnh quân sĩ.
Không ngờ ông vừa mới có chủ ý này, đã thấy Tào Chân hốt hoảng chạy vào viên môn. - Sao vậy? - Tào Tháo nhìn là biết đã xảy ra chuyện.
— Thưa, không ổn rồi! Tướng địch là Hoàng Trung vòng tới Bắc Sơn cướp lương thảo của ta, tướng quân các bộ hậu doanh đã đi ngăn chặn, xin đại vương phái đại quân tiếp ứng!
Lương thảo của quân Tào chuyển từ Quan Trung qua đường Bao Tà được để ở phía nam ải Dương Bình. Hoàng Trung cũng thật to gan, dám vòng qua doanh trại quân Tào tới Bắc Sơn cướp lương. Tào Tháo phẫn nộ quát hỏi:
— Các ngươi trông coi kiểu gì hả? Quân địch đi ngay dưới tầm mắt mà cũng không biết, đúng là toàn một lũ ăn hại! Còn đứng ngây ra đấy làm gì? Điều quân cứu viện! Điều hết đi cho ta! - Tướng sĩ sợ hãi, người thì lấy binh khí, người thì đi dắt ngựa, nhốn nháo một lúc rồi vội vàng đi cứu, còn những doanh khác cũng lục tục chia quân. Tào Tháo dẫn thân binh, mưu sĩ ra khỏi doanh, lên Nam Sơn quan sát.
Do mây đen dày đặc, mưa giăng khắp ngả, trời lại gần tối nên chỉ lờ mờ nhìn thấy phía tây Quan Thành xảy ra hỗn chiến, Hoàng Trung tập kích thành công, nhưng khi rút lui bị quân Tào chặn đánh. Xích hầu tới bẩm báo:
— Hoàng Trung không cướp được nhiều lương thảo, hắn chỉ giết mấy trăm quân vận lương và hủy mấy chục xe lương. - Tào Tháo đỡ lo, song nỗi oán hận trong lòng lại trào lên:
— Hoàng Trung không chỉ hủy lương thảo của ta, còn giết hại Hạ Hầu Uyên, không được để cho hắn chạy thoát! Truyền lệnh các bộ đồng loạt tấn công, hôm nay không bắt được tên giặc ấy, tất cả tướng tá đều sẽ bị hỏi tội! - Xích hầu nhìn hai mắt đại vương đỏ sọng, sợ đến ngã lăn xuống núi, lồm cồm bò đi truyền lệnh.
Hoàng Trung quả không hổ danh là mãnh tướng Kinh Châu, đối mặt với quân Tào đông gấp mấy lần lại càng chiến đấu dũng mãnh, mở một lối thoát giữa vòng vây. Nhưng lúc này sáu bảy vạn quân Tào cùng ùa ra một lúc, chúng tướng nhận được quân lệnh nào dám trễ nải, bao vây vòng trong vòng ngoài, Hoàng Trung dẫu có là mình đồng da sắt thì cũng nhổ được mấy cái đinh? Ông ta nhanh chóng bị quân Tào vây khốn dưới chân Nam Sơn, binh sĩ tử thương gần hết, cờ xí đổ rạp. Lúc này hai quân đã đánh đến rất gần, Tào Tháo đứng trên vách núi nhìn rõ cảnh bên dưới, xoa nắm tay thét lên:
— Giết đi! Giết cho ta! Bằm hắn thành tương cho ta!
Các mưu sĩ thấy ông gầm ghè như điên dại, không dám lại gần, chỉ có mình Hứa Chử đứng đằng sau ôm chặt eo ông, sợ ông sẩy chân ngã xuống vách núi - Những ngày qua, Tào Tháo luôn cảm thấy bức bối, vừa hay có trận đánh hôm nay để ông trút hết sự bực dọc trong người. Dù không thể đánh lui Lưu Bị, nhưng nếu bắt được Hoàng Trung báo thù cho Hạ Hầu Uyên, ông cũng nguôi ngoai phần nào.
Tiếc là Tào Tháo không vui mừng được lâu, đúng lúc Hoàng Trung sắp không trụ được nữa, từ phía tây sơn lĩnh xông ra một toán quân Thục như những mũi tên lao vào trận chiến. Tướng dẫn đầu đội nón bạc, mình mặc áo bào trắng, khuôn mặt trắng trẻo, ba chòm râu đen rủ xuống, năm xưa Tào Tháo đã từng gặp người này: chính là Triệu Vân, tự Tử Long!
Quân Tào còn đang trố mắt kinh ngạc, bộ quân của Triệu Vân đã đánh vào giữa trận cứu Hoàng Trung, phá vòng vây theo hướng tây. Tào Tháo nghiến răng giậm chân:
— Lũ ăn hại! Chớ để bọn chúng chạy thoát! - Người ngoài cuộc tỉnh táo, người trong cuộc mê muội, người trên núi nhìn rõ, còn người dưới núi lại không biết có bao nhiêu quân địch xông ra, bảy tám bộ binh mã bên quân Tào chen chúc một chỗ, đội hình hỗn loạn, cuối cùng vẫn để cho quân Thục chạy thoát. May là các tướng như Từ Hoảng, Chu Linh, Trương Cáp ở phía sau nhanh trí rượt đuổi, đại quân hỗn loạn một lúc rồi cũng lục tục kéo theo.
Trời tối dần, Tào Tháo nhìn chằm chằm quân địch vòng qua rặng núi, mất hút giữa hoàng hôn, nhưng lúc này ông không gào hét ầm ĩ nữa, dường như toàn bộ sức lực đã bị rút cạn. Khổng Quế trông sắc mặt ông không bình thường, tiến lại nói:
— Đại vương yên tâm, địch ít ta đông, hai thằng giặc đó chạy không thoát đâu.
— Chạy không thoát? - Tào Tháo cúi đầu buồn bã, không còn ôm hy vọng gì nữa, - Trận Trường Bản năm xưa chúng đã chạy thoát thế nào đấy? Truyền lệnh các tướng không đuổi kịp thì thu quân, thế này đã đủ mất mặt lắm rồi, chớ để lại trúng mai phục của địch.
Tào Tháo xuống núi về doanh, chẳng nói chẳng rằng, ngồi ngây ra trong đại trướng, các mưu sĩ cũng nín lặng. Mãi nửa canh giờ sau, chúng tướng đứng đầu là Từ Hoảng mới trở lại, người nào người nấy tháo mũ đâu mâu quỳ cả ngoài trướng - Bọn họ không những không bắt được Triệu Vân, Hoàng Trung, mà trên đường xông tới địch doanh còn trúng kế, bị quân Thục chặn đánh, binh sĩ giẫm đạp lên nhau mà chết, tổn thất không ít.
Từ Hoảng dập đầu xuống đất nói:
— Chúng thần bất tài để cho quân giặc chạy thoát, xin chịu sự trách phạt của đại vương. - Bọn Chu Linh, Trương Cáp cũng lũ lượt thỉnh tội.
— Các ngươi tạm nhớ lấy, nếu còn bại trận lần nữa quả nhân sẽ không dễ dàng bỏ qua! - Tào Tháo mệt mỏi xua tay. Ông chỉ nói ngoài miệng vậy thôi, chứ làm sao có thể trị tội tất cả? Hoàng Trung, Triệu Vân có thể tập kích thành công, không chỉ do họ dũng mãnh thiện chiến, mà nguyên do lớn hơn là quân Tào uể oải lười biếng, lơi lỏng canh phòng. Nửa đánh nửa lui, lòng quân chán nản, suy cho cùng trách nhiệm thuộc về Tào Tháo.
Chúng tướng đứng dậy đi vào trướng theo hàng lối ngay ngắn. Tào Tháo ngồi nghiêng bên soái án, ngoái đầu lại nhìn tấm bản đồ in trên bình phong, lúc sau mới mở miệng hỏi:
— Vũ Đô ở ngay mé tây ải Dương Bình, nếu quân ta bỏ Hán Trung, Vũ Đô tất sẽ gặp mũi quân của địch, có kế sách nào phòng ngự quân địch không?
Chúng quan văn võ giật mình: Cái gì mà “nếu quân ta bỏ Hán Trung”? Mọi người phải hơi động não suy nghĩ mới hiểu ý ông muốn rút quân!
Tào Tháo cuối cùng cũng quyết định từ bỏ Hán Trung. Trận chiến này chính là một bài học, sĩ khí giảm xuống mức quân địch có thể nghênh ngang đi lại ngay trước mặt, không cần đợi đến mười ngày nữa, cứ cái đà suy sụp thế này quân Tào sẽ không tránh khỏi thất bại lớn. Huống chi, ông đích thân trấn giữ doanh trại còn để xảy ra chuyện bị cướp lương, nếu là tướng tá khác lại càng đáng lo. Đường đốc lương[2] dài những bốn trăm dặm, sau này thiếu lương thảo muốn tiếp tế cũng khó, thực sự là không còn cách nào giữ lại nơi này. Từ bỏ Hán Trung là tất yếu, nhưng Tào Tháo ngượng mồm, máu của Dương Tu còn chưa khô, sao có thể dễ dàng nói ra hai từ lui quân?
Chúng nhân đều hiểu ý này, nhưng vì thể diện của đại vương nên không dám nói toạc ra, sự an nguy của Vũ Đô đúng là một nỗi lo. Phần lớn các bộ Khương, Đê đều quen biết Mã Siêu, năm xưa Trương Lỗ từng giúp Mã Siêu làm mưa làm gió ở đây, Lưu Bị trọng dụng Mã Siêu hơn cả Trương Lỗ, biết phải đối phó thế nào? Thứ sử Ung Châu Trương Ký bước ra khỏi hàng, nói:
— Theo ý của vi thần, chúng ta dùng kế vườn không nhà trống, di dời dân Vũ Đô đi nơi khác.
— Đành phải vậy thôi, nhưng người Hồ đã ở đây nhiều năm, liệu có chịu rời đi không? Nếu xử trí không ổn để bọn chúng quay sang đầu hàng quân địch thì họa vô đơn chí.
Trương Ký đã có dự tính:
— Thần ở Tây Châu đã lâu nên hiểu tâm tính người Đê tham lợi bạc nghĩa. Hiện Quan Trung nghèo đói, đất rộng người thưa, đại vương có thể ban sắc lệnh khuyến dụ người Đê đi lên phương bắc là nơi có nhiều ngũ cốc, người nào đến trước sẽ được ban thưởng vàng bạc hậu hĩnh, người trước thấy lợi, người sau tất tranh nhau đi. Không đến một tháng, người Khương, Đê ở Vũ Đô sẽ rời đi hết. Lúc đó, đại vương đặt ra phép tắc, quy hoạch đồn điền, một là vỗ yên chúng dân, hai là có thể tích trữ lương thực cho chiến sự.
— Hay lắm. - Tào Tháo rút lệnh tiễn trao cho Trương Ký, - Biết nhiều khổ nhiều, việc này quả nhân giao cho khanh toàn quyền xử lý, tối nay phải xuất phát đến quận phủ càng nhanh càng tốt. Chúng tướng nghe lệnh…
— Có!
Tào Tháo nặng nề thốt ra câu:
— Hiểu dụ tướng sĩ chỉnh đốn quân nhu, ba ngày sau… thu binh.
Tất cả thở phào nhẹ nhõm, coi như kết thúc những giày vò, khổ sở. Đêm nay, ngay cả Tào Tháo cũng được ngủ ngon giấc, có lẽ từ sâu thẳm đáy lòng ông đã sớm nhận trách nhiệm về mình rồi chăng?
Dường như ông trời cũng đang đùa cợt Tào Tháo, đến ngày thứ ba, bầu trời u ám chuyển sang quang đãng. Hơi ẩm mờ mịt tan dần, mưa cũng thưa hạt và biến mất theo làn gió; vài vạt nắng vàng tựa như lưỡi kiếm xuyên từ giữa đám mây xuống khu rừng còn đọng những giọt nước óng ánh; mùi đất và hương hoa nhè nhẹ, tươi mát xộc vào mũi; hai ba con chim yến tước chao liệng trên bầu trời, đôi cánh sáng lóa dưới những tia nắng, trông chúng thật tự do, vô ưu vô lo… Một khoảng trời đẹp nhường này từ nay đều thuộc về Lưu Bị.
Tào Tháo không cam lòng dừng lại rất lâu, sau cùng thân binh phải dìu ông đang run rẩy lên xe ngựa, trong khi miệng vẫn không ngừng lẩm bẩm:
— Bỏ đi! Không tranh nữa… Thực sự không tranh nữa…
Tôn Quyền thì không tiêu diệt được, còn Lưu Bị cũng đã định sẵn cát cứ vùng tây nam, Tào Tháo liệu rằng lúc còn sống ông không thể mở rộng bờ cõi. Thân tâm ông đều mệt mỏi, không còn sức đâu chống lại số phận, chỉ muốn trở về Nghiệp Thành yên ổn sống đến hết đời…
Địch tiến ta lui
Binh pháp có câu: “Thiện dụng binh giả, khuất nhân chi binh nhi phi chiến dã, bạt nhân chi thành nhi phi công dã đạt.”[3] Lưu Bị đảo khách thành chủ, đánh lui quân Tào, có thể nói là đã lĩnh hội được hết ý nghĩa của câu nói này. Trận chiến tranh giành Hán Trung cũng chính là dấu ấn rực rỡ nhất trong cuộc đời của ông ta. Hán Trung đổi chủ, sĩ khí quân Thục dâng cao, Lưu Bị một tiếng trống rung, lại sai Mạnh Đạt, Lý Nghiêm dẫn quân tiến về phía đông, Thái thú Tây Thành Thân Nghi, Thái thú Thượng Dung Thân Dam là thổ hào một phương, xét thấy quân Tào đã lui, cũng lựa gió bỏ buồm, không đánh mà hàng; tiếp đến các bộ hợp quân với Lưu Phong tấn công Phòng Lăng một lần nữa, Thái thú Phòng Lăng là Khoái Kỳ không chống đỡ nổi, thành trì sụp đổ, còn bản thân ông ta bị quân Thục bắt giết - Đến đây, Hán Trung cùng với ba quận phía đông đều bị quân Thục chiếm giữ, Lưu Bị cuối cùng cũng lấy được toàn bộ Ích Châu.
Trên đường hồi sư, Tào Tháo liên tục nhận được tin xấu nhưng không bận tâm, chuẩn bị phòng ngự Hán Trung thật tốt mới là việc cấp bách hiện giờ. Kế di dời người Khương, Đê của Trương Ký quả là rất hiệu nghiệm, sắc lệnh ban xuống, người nào đến trước sẽ được thưởng, nên các bộ lạc Khương, Đê nhấp nhổm hồ hởi, được mấy ngày[4] bách tính Hồ, Hán chuyển đến các quận như Phù Phong, Thiên Thủy đã lên đến hơn năm vạn; quan lại Tây Châu như Tô Tắc, Dương Phụ, Du Sở, Dương Thu trấn an người mới tới, chia ruộng đất cho họ; Tuy tập đô úy Thương Từ có kinh nghiệm cai quản đồn điền ở Hoài Nam tới Quan Trung nhận chức, dựng đồn trú sẵn sàng chuẩn bị chiến sự; quận Vũ Đô vườn không nhà trống, từ đây trở thành vùng đệm chiến tranh giữa hai nhà Tào, Lưu. Mặt tây đã bố trí cẩn thận như vậy, mặt đông còn được trù tính khéo léo hơn, Tào Tháo múa bút khoanh vùng cứ điểm phòng ngự Hán Trung là ở Trần Thương, phía đông đường Bao Tà, ải Đại Tán - Nơi đây từ trước đến nay luôn là trọng trấn kìm hãm binh lực Thục quốc, quân Tào lùi hẳn một bước dài, bỏ lại con đường hiểm trở dài bốn trăm dặm cho Lưu Bị, tạo thành nỗi lo lớn cho quân Thục khi muốn chinh phạt phương bắc.
Tới tháng Năm năm Kiến An thứ hai mươi tư (năm 219 sau Công nguyên), Tào Tháo rốt cuộc cũng bố trí xong tất cả, trở về Trường An. Lần rút quân này không thảm bại như trận Xích Bích, nhưng sự đả kích trong lòng Tào Tháo thì chỉ có hơn chứ không kém: Phòng ngự Ưng Châu được bố trí hoàn hảo, không có kẽ hở nào, nhưng nó cũng vạch rõ địa giới của hai nhà, bắc phạt không dễ, nam chinh càng khó. Tôn Quyền chiếm giữ Giang Đông, Lưu Bị làm chủ Thục quốc, Tào thị có dân chúng phương bắc, nhưng cũng không thể tiêu diệt bọn họ trong ngày một ngày hai, thế chân vạc đã được hình thành!
Chủ bạ Triệu Nghiễm, Hoàng môn thị lang Đinh Dực lưu giữ Trường An đến dịch đình cách thành mười dặm để nghênh giá, Biện phu nhân cũng dẫn Hoàn thị, Tần thị, Tống thị ngồi xe ngựa đến - Chỉ có Vương thị, Triệu thị do bận con nhỏ nên ở lại Nghiệp Đô, chưa từng theo quân. Mọi người kính cẩn thi lễ, không hề đả động đến chiến sự, ai nấy đều hiểu rằng lần này quân Tào thua trận, nào dám lật vết sẹo lên? Ngay cả những câu xu nịnh phấn sức cũng không dám thốt ra, chỉ e vuốt đuôi ngựa lại bị ngựa đá.
Tào Tháo ngồi trên xe ngựa nhìn quanh chúng nhân, dường như không muốn nói gì, chợt thấy Vu Cấm mặc quan phục đứng giữa đám người, ông cười nhăn nhó:
— Văn Tắc, để khanh đi một chuyến tay không, vất vả rồi.
Bọn Vu Cấm và Trương Liêu trấn giữ Cư Sào, lần tây chinh này Tào Tháo vốn định điều Vu Cấm đi cùng, không ngờ trước thì Nam Dương xảy ra loạn, sau thì Tào Tháo vì chuyện Hạ Hầu Uyên tử trận mà vội vàng tiến quân không chờ ông ta. Vu Cấm hiệp trợ Tào Nhân dẹp loạn rồi đến Trường An, trên đường lúc đi nhanh khi đi chậm, tới nơi ông vừa cùng Đỗ Kỳ sắp xếp xong lương thảo chuẩn bị tiếp viện thì nhận được tin Tào Tháo hạ lệnh rút quân, đành đóng quân ở đây đợi lệnh.
— Phụng mệnh sai phái là việc bề tôi nên làm, sao đại vương lại nói vất vả được? Có điều, mạt tướng có chuyện cần tâu rõ, xin đại vương… đại vương bớt đau buồn…
— Chuyện gì? - Tào Tháo thấy khuôn mặt luôn thận trọng, điềm tĩnh của Vu Cấm hiện lên vẻ ngần ngự, khó nói.
— Bảy ngày trước, quân coi giữ Cư Sào thượng báo, Nhạc Văn Khiêm đã qua đời vì bệnh.
Tào Tháo không đau buồn, cũng không than thở, chỉ có đôi lông mày khẽ giật giật, ông cúi đầu im lặng: Nhạc Tiến là viên tướng đầu tiên mà Tào Tháo cất nhắc từ khi cử binh ở Duyện Châu, luôn xung phong dẫn đầu, trung dũng quả cảm. Ông ta chinh chiến ba mươi năm, lập vô số công lao hiển hách, làm quan tới chức Hữu Tướng quân, được quyền cầm phù tiết. Mấy năm trở lại đây, bọn Lý Điển, Hàn Hạo lần lượt qua đời, Hán Trung vừa cướp mất Hạ Hầu Uyên, giờ lại mất thêm một Nhạc Tiến, những người năm xưa từng cùng ông gây dựng cơ nghiệp, tranh đoạt giang sơn còn lại ngày càng ít. Tào Tháo không nhỏ một giọt nước mắt, nhưng trong lòng thực sự rất khó chịu, ngoài sự thương cảm ra, điều khiến ông khó chịu nhất chính là sự bất lực, mà cụ thể là bất lực vì không còn khả năng thống nhất thiên hạ. Nói không chừng một ngày nào đó ông cũng sẽ đi theo đám lão tướng kia, trong khi hoài bảo vẫn chưa đạt được, đúng là sự cảm khái của bậc anh hùng hết thời.
— Xin đại vương giữ gìn phúc thể. - Vu Cấm vén vạt áo quỳ xuống.
Tào Tháo muốn xuống xe đỡ ông ta đứng lên, nhưng lấy sức mấy lần vẫn không nhấc người dậy được, đành vịn vào tay vịn, thở dài nói:
— Khanh cũng phải bảo trọng đấy. Người đã đi rồi, có đau buồn cũng vô ích, giờ khanh là vị tướng dày dặn kinh nghiệm nhất, chiến công to lớn nhất. Quả nhân già rồi, chẳng còn sức… - Nói đến đây, khuôn mặt Tào Tháo hiện lên vẻ chua chát:
— Sau này xã tắc có việc gì còn phải trông cậy vào khanh, khanh phải giữ gìn sức khỏe cho tốt, quả nhân còn mong khanh dốc sức thêm vài năm nữa giúp tử tôn đời sau.
— Đại vương… - Vu Cấm nghe những lời này không khỏi nghẹn ngào, bao nỗi đắng cay ngọt bùi dâng lên trong lòng. Ông ta gia nhập Tào doanh đã nửa đời người, chưa bao giờ thấy Tào Tháo nói những lời như thế này, ngay cả trong thảm bại Xích Bích, Tào Tháo cũng không chịu buông bỏ, thế mà lúc này lại tự nhận mình già yếu, bất lực và còn dặn dò chuyện hậu thế, sao không khiến người ta xót xa cho được? Tuy nhiên bên cạnh sự xót xa, Vu Cấm cũng cảm nhận được sự ấm áp, đại vương coi trọng ông như vậy quả là không có vinh hạnh nào lớn hơn. Trình Dục từ quan dưỡng lão, Nhạc Tiến lại mới qua đời, trong Tào doanh không còn ai có thể coi thường Vu Cấm. Trương Liêu mặc dù cũng lập được nhiều chiến công rực rỡ, nhưng luận về kinh lịch vẫn thua ông một bậc, còn luận về mưu kế làm quan càng kém xa. Những người quật khởi như bọn Từ Hoảng, Trương Cáp chỉ đáng là hậu bối, không tính tử đệ tông tộc Tào thị, Hạ Hầu thị, Vu Cấm chẳng khác nào người đứng đầu chúng tướng Tào doanh.
Chúng nhân có mặt khuyên giải mãi Vu Cấm mới quệt nước mắt, cùng quần thần bảo vệ xa giá vào thành Trường An. Đi được một lúc, vừa nhìn thấy lầu thành, lại trông thấy đằng xa bụi cát mù mịt, tiếp đến có người chạy lại báo phía trước có một đội binh mã. Chúng nhân đưa mắt nhìn nhau không hiểu chuyện gì, đúng lúc này có hai người tế ngựa tới, người đi đằng trước mặc kim khôi kim giáp, lưng hổ eo gấu, đang tuổi tráng niên, chòm râu vàng khè dưới cằm phất phơ, chính là Yên Lăng hầu, Phiêu Kỵ Tướng quân Tào Chương.
Tào Tháo thấy nhi tử nhảy xuống ngựa thi lễ với mình, ngạc nhiên hỏi:
— Con chạy tới đây làm gì?
Tào Chương ngây người ra, vừa thở vừa nói:
— Không phải phụ vương điều nhi thần tới sao ạ?
— À. - Tào Tháo lúc này mới nhớ ra, lần trước ở ải Dương Bình, vì quá phẫn hận Lưu Phong, ông đã vội vàng điều Tào Chương tới trợ chiến để phân cao thấp với Lưu Bị. Nhưng thực ra đó chỉ là hành động bộc phát trong lúc tức giận, sự việc qua đi ngay cả bản thân ông cũng không nhớ nữa. Tào Chương đi chuyến này khá cực khổ, Thục quốc và Hà Bắc cách nhau cả vạn dặm, nhận được chiếu lệnh, y lập tức dẫn quân ngày đêm lên đường, không ngờ Tào Tháo đã thu binh, vì vậy mới tương ngộ tại Trường An. Tiểu tướng phía sau Tào Chương cũng tiến lên thi lễ, là Tư mã Hạ Hầu Nho - Hạ Hầu Nho là tòng đệ của Hạ Hầu Thượng, cũng thân với thái tử. Tào Tháo triệu Tào Chương đem quân trợ chiến, Tào Phi không dám không thả người, nhưng sợ đệ đệ lại lập được kỳ công, thậm chí còn nhân có binh quyền ở bên ngoài mà tạo dựng thế lực vững chắc, nên thông qua Thượng thư đài tạm bổ nhiệm Hạ Hầu Nho làm Tư mã, trên danh nghĩa là phụ tá, nhưng thực chất là nhằm hạn chế Tào Chương.
Tào Tháo nhìn khuôn mặt phong trần của nhi tử, cũng hơi áy náy:
— Con đến rồi cũng tốt, thân thể phụ vương không khỏe, phải ở lại Trường An nghỉ ngơi ít ngày, nhân tiện xem xét các quận phía tây. Con hãy sắp xếp công chuyện trong doanh cùng với các tướng.
— Vâng. - Tào Chương nhận mệnh, nhưng do không được ra chiến trường nữa nên có chút thất vọng, tới vấn an mẫu thân. Còn Hạ Hầu Nho quay lại báo binh mã dừng lại đóng trại ngoài thành Trường An.
Thành Trường An là Tây Đô của nhà Hán, từng trải qua những trận hỏa hoạn lớn trong loạn Vương Mãng, Xích My, khi Đổng Trác di giá Lưu Hiệp đến đây cũng từng cho sửa lại, nhưng không ra thể thống gì. Cung Kiến Chương ở phía tây gần như là một bãi gạch ngói nát, cung Trường Lạc, cung Minh Quang nằm chếch về phía đông còn giữ được hình dạng cũ, nhưng đã trở thành nha môn của quan viên, còn cung Vị Ương và cung Quế thì không còn nữa. Phủ đệ, sản nghiệp của bọn nghịch thần Lý Thôi, Quách Dĩ thuộc về người khác. Phần lớn lão thần Tây Kinh sau khi nghỉ hưu đều nhàn cư ở đây, lại thêm sự trù hoạch của bọn Chung Do, Vệ Khởi, nên thành Trường An tuy không tráng lệ như xưa, nhưng được cái phố phường cũng không đến nỗi tiêu điều.
Tào Tháo không muốn quấy quả lê dân, không hạ lệnh dẹp đường, bỏ vương giá lại ngoài thành, lên xe của Biện thị phu nhân vào thành nghỉ ngơi, mọi việc trong doanh giao cho Tào Chương xử lý. Biện thị thấy trượng phu lên xuống xe khó nhọc hơn, tâm sự càng nặng nề, đôi phu thê già cùng ngồi một xe, Biện thị khuyên giải:
— Đại vương thực sự không nên chinh chiến nữa rồi, dù người không nghĩ cho mình, cũng xin nghĩ cho mẹ con thiếp một chút. Tuổi đã cao còn đánh giết bên ngoài, đại vương bảo thiếp và các con làm sao an tâm được? Vạn nhất có sơ sẩy gì, chẳng nhẽ đại vương lại muốn các con phải mang tiếng bất hiếu ư?
Tào Tháo không biện hộ, buồn bã gật đầu:
— Không đánh… Không đánh nữa… - Không biết ông có ý nói thân thể già yếu không thể đánh trận nữa, hay là thế lực của Lưu Bị đã vững chắc nên không đánh được nữa, có lẽ là cả hai ý này.
Biện thị cũng xót xa khi thấy ông nguội lòng, nhưng lại nói:
— Cánh nam nhân đại vương không nghĩ thoáng như chúng thiếp, thành hay bại có nghĩa lý gì? Cả đời chỉ mong được sống an nhàn, thảnh thơi, ai lo được họa phúc của tử tôn? - E rằng chỉ Biện thị mới có đủ tư cách nói những câu riêng tư như thế này.
— Ây dà… Trong họa có phúc, trong phúc có họa. Có những chuyện không thể phân rõ là tốt hay xấu được. - Tào Tháo ý tứ sâu xa, - Nàng còn nhớ trận Quan Độ không? Lưu Bị làm loạn Nhữ Nam, cướp phá Bái Quốc, Trương Phi bắt mất một người con gái nhà họ Hạ Hầu, không ngờ lại danh chính ngôn thuận lấy nàng ta làm vợ. Khi Diệu Tài chết ở Hán Trung, may có nàng ta đứng ra cầu xin, nên Lưu Bị đã cho thu liệm, an táng cha con ông ấy. Nàng nói xem, đó là thiện duyên hay nghiệt duyên?
Biện thị nghe câu “thiện duyên hay nghiệt duyên”, chợt nhớ ra hai chuyện, nhìn Tào Tháo đang cố mỉm cười, bà biết lúc này không tiện nhắc tới, nhưng không kìm được, ngập ngừng mãi rồi cũng nói:
— Hôm trước Phi nhi gửi thư tới nói Quân nhi mất rồi. - “Quân nhi” mà bà nói đến chính là Tào Quân do Chu cơ sinh ra, đã đến tuổi trưởng thành, hai năm trước được phong làm Phàn hầu, là con thừa tự của Tào Bân, huynh đệ yểu mệnh của Tào Tháo, từ đó trở thành điệt nhi của ông - Thực ra lúc Tào Bân chết, Tào Tháo cũng mới chỉ ba bốn tuổi, căn bản không có ấn tượng gì với người này, việc làm này của ông chẳng qua là để củng cố tông tộc Tào thị.
Tào Tháo lại than thở:
— Diệu Tài đi rồi, Văn Khiêm đi rồi, giờ tới nhi tử của ta cũng đi rồi.
— Và còn, nghe nói phu nhân cũng… - Người được Biện thị tôn xưng là “phu nhân” chỉ có một, đó là chính thê Đinh thị đã ở riêng với Tào Tháo nhiều năm.
Tào Tháo giật mình:
— Nàng ấy làm sao? - So với nhi tử tầm thường mà ông chẳng thể nào yêu thương kia, Tào Tháo quan tâm đến thê tử hơn.
Biện thị khẽ lắc đầu, thở dài.
Tào Tháo trầm tư: Đi rồi, nàng ấy cũng đi rồi! Đến cuối cùng nàng ấy vẫn không chịu tha thứ cho ta, sống khổ sống sở để rồi sinh bệnh mà chết trong dân gian. Nàng ta quá bướng bỉnh, quá cố chấp hay ta quá coi trọng thể diện của mình? Hai ta cùng chia hoạn nạn nhưng lại không thể cùng hưởng phú quý, lẽ nào là “có duyên không có phận” như người ta vẫn thường nói… Phút chốc, hai mắt Tào Tháo mờ đi, ông thấp thoáng trông thấy hình dáng Đinh thị chỉ là một cái bóng đang ngồi se sợi, gọi thế nào cũng không chịu quay đầu lại nhìn.
Biện thị thấy trượng phu ầng ậng nước mắt, vội rút khăn gấm ra lau cho ông, không ngờ Tào Tháo cầm tay bà, nói những câu bi thương:
— Ta cả đời hành sự, trong thâm tâm chưa từng phụ ai. Sau chết đi có thiêng, ngày nào đó gặp được Ngang nhi dưới cửu tuyền, nếu nó hỏi “Mẫu thân con đâu?” Ta biết phải trả lời thế nào? Thê nhi của ta ơi… - Lúc này Tào Tháo đã quên mất thân phận tôn nghiêm của mình là Ngụy Vương, ông chỉ là một người chồng thất bại, và là người cha chưa tròn trách nhiệm.
Xe đang đi trên đường lớn trong thành Trường An, may là hương xa của Biện thị rủ một bức rèm châu, nên người bên ngoài không nhìn thấy gì, nhưng có người hầu cận nào không nghe được những câu ấy đâu? Không biết đôi phu thê già có chuyện gì, không ai dám hỏi. Biện thị cũng không để ý thể diện, ôm người bạn già đang ngậm ngùi khóc, lặng lẽ rơi nước mắt theo. Tiếng khóc sụt sùi xen lẫn tiếng bánh xe vọng lại trên đường.
Một lúc sau, xe tới trước cung Minh Quang, Tào Tháo lấy lại dáng vẻ của một bậc quân vương, ngồi trong xe trấn tĩnh một lúc rồi sửa lại mũ áo, Biện thị cũng đã lau khô nước mắt. Phu thê hai người được nội thị đỡ xuống xe, đang ngẩng đầu lên nhìn ngắm cửa nghi môn, chợt nghe binh sĩ gần đó sẵng giọng quát:
— Lão già này ở đâu ra? Không nhìn thấy quý nhân à? Cút mau!
Tào Tháo không ngồi vương giá mà vệ binh quát mắng bách tính đi đường như thế kể cũng hơi bất công, ông định nhắc bọn họ không được ăn nói ngông cuồng, không ngờ lúc đưa mắt nhìn lại nhận ra ông cụ đang bị ngăn cản kia chính là Dương Bưu - Dương Bưu đã gần tám mươi tuổi, râu tóc trắng xóa, eo cong lưng còng, hai hàng lông mày rủ xuống, tay chống gậy thanh trúc, thở hổn hà hổn hển.
Dương Bưu nhàn cư ở Trường An, mới đây lại phải để tang nhi tử, trong lòng phẫn uất, nên thường tản bộ ngoài đường, ngờ đâu hôm nay không hẹn mà gặp Tào Tháo. Nếu như Dương Bưu biết Tào Tháo trở lại Trường An, chắc chắn ông ta sẽ đóng cửa ở trong nhà, sao có thể tương kiến kẻ thù đã giết hại nhi tử của mình được? Tào Tháo lại không cho thị vệ dẹp đường, cũng không ngồi xe loan, đúng là oan gia ngõ hẹp. Ông ta không muốn nhìn thấy Tào Tháo, kỳ thực Tào Tháo càng không muốn nhìn thấy ông ta, hai người chạm mặt nhau biết phải nói gì? Huống chi, Dương Tu vừa bị xử tử vì tội làm loạn kỷ cương trong quân, Tào Tháo đã vội thu binh trở về, thử hỏi còn mặt mũi nào nữa?
Bốn mắt nhìn nhau sững sờ trong chốc lát, Tào Tháo ngượng ngùng mở lời trước:
— Dương công dạo này sao lại gầy sọp đi vậy? - Câu ấy vốn là lời chào hỏi khách sáo, nhưng dùng vào hoàn cảnh này không phù hợp cho lắm - Ông không giết hại nhi tử của người ta, thì người ta sao phải tiều tụy tới mức ấy?
Ánh mắt già nua, phức tạp của Dương Bưu hiện lên một tia oán hận, khóe miệng nhân nhún khẽ giật giật mấy cái, ông định nói rồi lại thôi, cuối cùng cười lạnh lùng:
— Thần hổ thẹn vì không biết nhìn xa thấy trước như Kim Nhật Đê, vẫn mang tình thương của trâu mẹ liếm nghé.
Nói rồi ông không thèm nhìn Tào Tháo lấy một cái, chống gậy nặng nề bỏ đi.
Hiếu Vũ Đế triều trước tín nhiệm vương tử Hung Nô là Kim Nhật Đê, nhi tử của ông ta cũng được Hiếu Vũ Đế sủng ái, đưa vào cung làm cận thần, không ngờ lại tư thông với cung nữ. Kim Nhật Đê trong lúc tức giận đã giết chết nhi tử, người đời sau ca ngợi ông ta vì đại nghĩa diệt thân, biết nhìn xa thấy trước, trừ bỏ tai họa cho gia tộc. Dương Bưu tự nhận mình “không biết nhìn xa thấy trước như Kim Nhật Đê, vẫn mang tình thương của trâu mẹ liếm nghé” là muốn nhắm vào những lời lẽ trong bức thư Tào Tháo gửi cho ông trước đó, nói cái gì mà không xử tử Dương Tu thì sẽ khiến toàn gia môn của ông bị liên lụy, đúng là xảo ngôn, giả dối vô cùng.
Tào Tháo bỗng thấy có điều gì đó chua chát trong lòng, Biện thị nhận ra, vội dìu ông vào cửa cung. Cung Trường An trang trí đơn giản, nhưng có không gian rộng rãi, thoáng mát, tất cả đồ tắm rửa giường nệm đã được chuẩn bị sẵn. Tào Tháo ăn uống qua loa, Lý Đương Chi lại lải nhải một hồi, rồi đi rót một bát thuốc tới, Tào Tháo nằm xuống nghỉ, lệnh cho các phu nhân ai về phòng nấy an giấc, thái giám lẳng lặng lui ra ngoài - Từ sau cái chết của Nghiêm Tuấn, đám người hầu này hễ thấy Tào Tháo đi nghỉ là không dám ở lại trong phòng, chứ đừng nói tới việc lại gần chăm sóc.
Dọc đường bôn ba đã mệt, vậy mà lúc này Tào Tháo không tài nào chợp mắt được, hễ nhắm mắt vào là ông lại thấy hình ảnh của Đinh thị hiện về, muốn xóa cũng không xóa được, cả đời ông không thể bù đắp nỗi ân hận này. Trong lúc trằn trọc, ông bất giác nghĩ đến Dương Bưu. Dương gia bốn đời làm tam công, hiện cũng sa sút, lão Dương Bưu già khọm chẳng có khả năng gây nên sóng gió gì được, ngược lại những câu nói của ông ta khi nãy còn gợi lên sự đồng cảm trong lòng Tào Tháo. Ông đến nay vẫn còn đau buồn vì cái chết của Tào Ngang, mà lại đang tay giết hại nhi tử của người ta, hơn nữa còn viết thư giễu cợt, chuyện này quá đê tiện. Người sáu mươi tuổi như ông còn có tình thương sâu nặng dành cho con cái, huống chi ông cụ tám mươi, làm sao chịu nổi đây?
Tào Tháo không buồn ngủ, trở dậy khoác áo, ra ngoài tản bộ, thái giám và thị vệ muốn tới dìu nhưng bị ông đuổi lui xuống, một mình khập khiễng đi lại giữa cung đình đổ nát. Vào mùa hè, sau giờ Ngọ mặt trời tỏa nắng gay gắt, cái nóng hun đúc khiến tâm trạng con người thêm buồn bực, Tào Tháo bất giác đi tới gác phụ ở Tây điện là nơi Biện thị ở tạm, ông đưa tay vén bức rèm màu xanh ngọc ngó vào bên trong, thấy Biện thị đang cầm bút ngồi trước án trầm tư.
Tào Tháo sống với Biện thị cả đời, chưa từng thấy bà cầm bút viết chữ bao giờ, không kìm được sự hiếu kỳ, sẽ sàng tiến lại chỗ bà. Biện thị biết ông bước vào nhưng không nói gì, vẫn cúi đầu suy nghĩ.
Tào Tháo ghé mắt nhìn thì thấy một tấm thiệp làm bằng thẻ tre, bên trên đề dòng chữ “Thê tử của Ngụy Vương, Thừa tướng nhà Hán là Biện thị gửi thư khuyên nhủ phu nhân của Dương công là Viên thị”, ông lập tức hiểu ra: Hóa ra, nàng viết thư cho mẫu thân của Dương Tu.
Từng cái nhíu mày, mỉm cười của Tào Tháo làm sao lọt qua được con mắt của lão thế? Biện thị trông thấy vẻ mặt nặng nề của Tào Tháo khi nghe Dương Bưu đối đáp, biết là trong lòng ông có chỗ hổ thẹn. Nhưng Tào Tháo dù sao cũng phải giữ thể diện, ông thân là vua của một nước, không tiện bày tỏ sự áy náy với Dương gia, vì vậy Biện thị viết thư cho phu nhân của Dương Bửu là Viên thị, mềm giọng an ủi, tỏ ý bù đắp lỗi lầm. Vị phu nhân Viên thị này cũng không phải người tầm thường, bà ta là người họ Viên ở Nhữ Nam, trưởng tỷ của Viên Thuật, năm xưa được gả cho Dương gia, cũng là người hiểu biết lễ nghĩa. Biện thị lấy thân phận là nội quyến gửi thư cho nội quyến của Dương gia, vừa không thất lễ lại giữ được thể diện cho Tào Tháo, đúng là một cách hợp lý.
Tào Tháo cảm kích trong lòng, nhưng không động thanh sắc, ông muốn xem thê tử viết bức thư này như thế nào. Biện thị ngẫm nghĩ một lúc lâu mới bắt đầu viết, ngắc ngứ mãi cuối cùng cũng viết được một bức thư hoàn chỉnh. Trong thư nói:
Biện thị dập đầu bái lạy:
Quý môn không bỏ rơi chúng ta, còn cho hiền lang phò tá việc nước, ta luôn cảm nhận được sâu sắc điều này, nên vô cùng biết ơn. Hiền lang nhà ta phẩm đức cao khiết, sáng chói, lại có tài văn chương hơn người, cả nhà ta đều khâm phục, kính trọng, muốn trọng dụng mãi không đừng. Nay, thế sự rối ren, nạn binh đao liên tiếp xảy ra, Chủ bạ là cánh tay đắc lực và cũng là cận thần, trù hoạch mưu kế chinh phạt, đáng lý nên kính cẩn trao đổi với bề trên, đánh trống theo quy định đã được đặt ra, thì lại không nghe theo lệnh trên, để đến nỗi đại vương nóng nảy nổi giận, xử trảm bên ngoài theo quân pháp. Biện thị lúc đó không biết chuyện, đến khi được tin thì ruột gan đau đớn, kinh hãi sửng sốt mãi không thôi. Ta vô cùng đau xót và thương tiếc trước chuyện của hiền lang, chẳng thể nào nén được cảm xúc. Phu nhân là người rộng lượng, hãy rủ lòng khoan thứ cho ta. Biện thị tặng phu nhân một hòm y phục, một trăm xấp lụa in hoa, một trăm cân gấm quan xuất xứ từ Phòng Tử, một cỗ hương xa của mình, cùng với một con trâu tốt. Ta tất nhiên biết rằng lễ vật này nhỏ mọn, nhưng đó là tâm ý của ta, mong phu nhân nhận cho.
Tào Tháo xem xong không khỏi gật đầu - Bức thư dùng lời lẽ uyển chuyển, vừa thể hiện được sự đau buồn da diết, vừa làm toát lên ý đồng cảm sâu sắc. Nếu như nói, bức thư trước đó của Tào Tháo cho thấy sự phẫn nộ và căm hận, thì Biện thị lại nhún nhường cầu xin sự tha thứ, có tình người hơn so với ông. Tuy rằng Biện thị không có danh phận là chính thất, nhưng người trong thiên hạ có ai không biết bà là nữ chủ nhân nhà họ Tào, bà chịu dập đầu bái lạy, cầu xin phu nhân Viên thị “rủ lòng khoan thứ” cũng đủ thấy chí tình chí nghĩa.
— Không ngờ phu nhân cũng có tài văn chương bậc này. - Tào Tháo hết nhìn bức thư, lại quay sang nhìn thê tử, dường không thể tin bức thư do chính Biện thị viết ra, khó tin hơn là nét chữ vuông vắn, như thể đã bỏ nhiều công sức sửa rèn, mà trước giờ ông chưa từng nhìn thấy.
Biện thị khiêm tốn:
— Có gì đáng nói đâu, chẳng qua là chút tài mọn của nữ nhân.
Tào Tháo chăm chú nhìn lão thê, dần dần ngẫm ra: Đúng vậy, hạng đàn bà giỏi giang nhất trong thiên hạ chính là ca nương, miệng hát thơ văn ca phú, mắt nhìn nhân tình thế thái, sao lại không biết viết văn? Nhớ bốn mươi năm trước lần đầu tiên nhìn thấy bà xinh đẹp dịu dàng, phong thái yêu kiều, ông đã đem lòng si mê, không thể từ bỏ. Giờ thì hoa tàn nhụy rữa, hai lọn tóc mai như sương, tuổi xuân nhanh qua, nhan sắc chóng phai. Tào Tháo đưa tay vuốt sợi tóc mai đốm bạc của bà:
— Phu nhân, chữ nàng đẹp thế này mà không thể viết vào ý chỉ thì thật là phí, ta phong nàng làm vương hậu.
Biện thị giật mình:
— Đại vương lại chê cười thiếp rồi.
— Ta không nói đùa. - Tào Tháo nói giọng nhẹ nhàng, - Ta muốn phong nàng làm vương hậu từ lâu, nhưng vì còn ngại Đinh thị, nên đành phải để nàng làm trắc thất, thực ấm ức cho nàng. Giờ nhi tử của chúng ta đều đã lớn, mà còn không xác định địa vị cho nàng, ta thực lấy làm hổ thẹn trong lòng.
— Không sao, thiếp không để tâm.
— Không được! - Tào Tháo nói dứt khoát, - Ta đã có lỗi với một nữ nhân, không thể có lỗi thêm với nàng nữa.
Biện thị thực sự không để tâm hay sao? Mấy chục năm qua bà có địa vị như chính thê, nhưng lại không có danh phận này, tuy không nói ra nhưng trong lòng hẳn là đã có ngàn vạn lần oán trách lão oan gia bạc tình.
Cho đến tận hôm nay bà mới đạt được tâm nguyện, bỗng chốc không nén được tình cảm, ngoài miệng nói “không sao, thực sự không sao”, nhưng nước mắt bà đã chảy vòng quanh.
Lưu Bị xưng vương
Dịch truyện có câu: “Nam chính vị hồ ngoại, nữ chính vị hô nội; nam nữ chính, thiên địa chi đại nghĩa dã đạt.”[5] Quy chế cung đình là một phần nằm trong lễ pháp, đế vương là khuôn mẫu cho nam nhân một nước, còn vương hậu đứng đầu nữ nhân, nên mới nói rằng “Mẫu nghi thiên hạ, đức phối khôn linh đạt.”[6] Các triều đại luôn coi trọng việc lập hoàng hậu, riêng Tào Tháo lại là một ngoại lệ, tính ra nước Ngụy cũng dựng được sáu năm rồi mà ngôi vương hậu vẫn để trống.
Sở dĩ Tào Tháo không lập vương hậu suốt một thời gian dài phần lớn là vì nguyên phối Đinh thị, tuy phu thê hai người phân ly đã lâu, không còn tình cảm thắm thiết, nhưng Tào Tháo không thể rũ bỏ địa vị của Đinh thị, bởi dù sao bà cũng là chính thê kết tóc với ông. Mặt khác, có lẽ ông cũng nghĩ đến vết xe đổ khiến nhà Hán suy bại. Từ thời Hiếu An Đế, họ ngoại can dự vào chính sự là nguyên nhân lớn khiến triều cương không dựng lại nổi, thời trẻ Tào Tháo tận mắt chứng kiến quyền thế của Đậu thị, Hà thị, mà hiện bản thân ông cũng mang thân phận quốc trượng, thao túng thiên tử trong lòng bàn tay, há lại không đề phòng việc đất nước của mình bị ngoại thích chuyên quyền? Nay, thái tử Tào Phi đã ba mươi ba tuổi, Tào Chương và Tào Thực cũng gần đến tuổi nhi lập[7], không thể xảy ra chuyện “tử ấu mẫu tráng,”[8] nỗi về ngoại thích giảm được quá nửa. Cho nên được tin Đinh thị đã mất, ông đau đớn là vậy, nhưng vẫn quệt nước mắt quyết định lập Biện thị làm vương hậu và ban bố sắc lệnh:
Phu nhân Biện thị, nuôi dạy các nhi tử, có đủ đức hạnh tốt đẹp làm khuôn mẫu cho các bà mẹ. Nay tấn phong làm vương hậu, thải tử cùng với chư hầu đều đến dự tiệc, đại thần nâng chén chúc mừng, tù nhân trong nước bị xử tội tử hình được giảm một bậc.
Chuyện khó xử vì Ngụy cung không có người làm chủ đã được tháo gỡ, lúc này là tháng Bảy năm Kiến An thứ hai mươi tư, cách ngày Biện thị chính thức được gả vào nhà họ Tào đã bốn mươi năm. Trong bốn mươi năm qua, Biện thị không có danh phận là đích thê, nhưng thực tế bà đã sớm được coi là đích thê, siêng năng lo liệu việc nhà, giúp phu quân nuôi dạy nhi tử, thực không dễ dàng gì. Dù luận về thứ tự bước vào Tào gia, hay xét dưới góc độ mẹ sang nhờ con, ngôi vương hậu cũng nên thuộc về bà từ lâu, tiếc là giờ đạt được ý nguyện, Biện thị đã là một bà lão sáu mươi. Sau khi vương hậu được xác định, hàng phi tần của Tào Tháo theo đó cũng được đặt ra với năm bậc là phu nhân, chiêu nghi, tiệp dư, dung hoa và mỹ nhân. Hoàn thị, Đỗ thị, Tần thị, Doãn thị, hoặc là bước vào Tào gia từ rất sớm, nhi tử đều đã trưởng thành, hoặc là dung mạo xinh đẹp từng nhận được sự sủng ái, đều được phong làm phu nhân; Vương thị tuy không có con, nhưng được Tào Tháo cực kỳ sủng tín, lại nhận Tào Cán là con của Trần thiếp làm con thừa tự, nên chỉ đứng sau đám Hoàn nhi một bậc, một mình ở ngôi chiêu nghi; tiếp đến, Tôn cơ - mẫu thân của Tào Bưu, Lý cơ - mẫu thân Tào Chỉnh, Lưu cơ - mẫu thân của Tào Quân, Tống cơ - mẫu thân Tào Huy, Triệu cơ - mẫu thân Tào Mậu và những cơ thiếp chưa từng sinh con đều được gia phong ở những bậc khác nhau.
Tào Tháo nhân việc lập vương hậu mà ban bố lệnh xá miễn trong bờ cõi nước Ngụy, tin tức truyền đến Hứa Đô, thiên tử Lưu Hiệp cũng phải hưởng ứng. Biện thị đã là đích thê của Tào Tháo, đương nhiên cũng trở thành nhạc mẫu của thiên tử, vì vậy dưới sự xui khiến của Gián nghị đại phu Đổng Chiêu, Lưu Hiệp ban cho Biện vương hậu rất nhiều vật phẩm như dư phục[9], lụa màu, châu ngọc, đủ để trang trí vài cỗ xe.
Đổng Chiêu mang phần thưởng hậu hĩnh Trường An trước, dọc đường không ngừng suy nghĩ: Lưu Bị lấy được Hán Trung, e là năm mười năm nữa chỗ đứng của hắn sẽ không bị lung lay, giờ Ngụy Vương tuổi đã cao, việc thiên hạ cũng đã tận lực, cũng nên nghĩ đến chuyện xưng đế chứ? Chục năm nay, không biết Đổng Chiêu đã khuyến tiến bao nhiêu lần, ngay bản thân ông ta cũng thấy phiền, còn phải mang tiếng xấu là xiểm nịnh, nhưng việc trong thiên hạ luôn cần có người đứng ra gánh vác, ai hiểu được nỗi khổ tâm của ông ta?
Trong lúc Đổng Chiêu miên man suy nghĩ, xa mã đã tiến dần về Trường An, vừa đến dịch trạm, ông ta trông thấy một đội binh mã từ mé đông đi tới, cờ xanh lọng che, binh sĩ mặc áo giáp hộ vệ, tuyệt nhiên không phải người tầm thường. Đổng Chiêu ngạc nhiên, sai người đi hỏi, mới biết là bọn vệ tướng quân Tào Du, quốc cữu Biện Bỉnh - Hóa ra, Tào Phi ở Nghiệp Thành nhận được chiếu lệnh sắc phong cho mẫu thân thì rất vui mừng, muốn qua chúc mừng phụ mẫu, nhưng ngặt nỗi y đang lưu thủ không được rời khỏi chức vụ, nên đành mời thúc công và cửu phụ nhàn rỗi vô sự đi thay, Gián nghị đại phu Giả Quỳ cũng xin đi theo. Hành động này, thứ nhất là nhằm chúc mừng mẫu thân lên ngôi vương hậu, thứ hai là tạo sự vui vẻ tưng bừng xua tan bầu không khí ảm đạm do quân Tào bại chiến trở về, thứ ba là thể hiện hiếu tâm của thái tử, tránh để cho Tào Chương ở gần lại được thêm sủng ái.
Mọi người đều đi chúc mừng, tương hội hàn huyên một hồi, rồi nhập làm một đoàn. Bọn họ là thân tín của Tào thị, một khi đã bẩm báo lên trên thì chẳng có lý gì lại không được phép nhường nhau ngồi cùng một xe. Chưa đến chính điện đã trông thấy Tư Mã Ý cầm gián thư hớt hải bước lại.
— Ô kìa! Đây không phải Trọng Đạt sao? - Biện Bỉnh khôi hài, đem hậu sinh ra đùa, - Bữa trước ta còn thấy ông thu xếp mọi việc trong ngoài phủ thái tử, giờ đã lại lăng xăng bên cạnh Ngụy Vương. Bao nhiêu cái khôn khéo đều thuộc hết họ Tư Mã nhà ông, trên dưới Tào gia đều nhờ cả vào ông hầu hạ, tám phần mười đại vương sắp thăng quan cho ông chăng? Ông vào Tào doanh chưa được bao lâu mà đã lên vù vù, thật tốt số đấy.
— Quốc cữu, hạ quan đang vội! - Tư Mã Ý hoàn toàn không có tâm trạng trêu đùa, - Lưu Bị ngày càng ngông cuồng, dám tự xưng vương, lại để cho một trăm hai mươi thủ hạ liên danh dâng tấu ủng hộ, đường hoàng đưa tới Trường An, nói là phải trình lên thiên tử. Quan Vũ ở Kinh Châu còn thừa thế điều binh xâm phạm đất Tương Dương của ta, chọc tức đại vương!
Lưu Bị đoạt được Hán Trung, thâu tóm ba quận phía đông, thanh thế càng mạnh, không cam lòng ở dưới Tào Tháo, vì vậy tự xưng là Hán Trung Vương, xây dựng triều đình, cho Gia Cát Lượng và Pháp Chính lĩnh việc của Thượng thư, còn phong Lưu Thiện làm thái tử, nâng địa vị lên ngang hàng với Tào Tháo. Đáng nói nhất, năm xưa lão tổ tông nhà Hán là Lưu Bang cũng dựng nghiệp từ Hán Trung, mở nghiệp đế kéo dài những bốn trăm năm của Lưu thị, nay Lưu Bị nối bước Lưu Bang, há chẳng cố ý tuyên bố với Tào Tháo rằng, ông ta cũng có chí thống nhất thiên hạ?
— Có chuyện này sao? - Đổng Chiêu kinh hãi, giật ngay lấy tấu chương mở ra xem:
Thần Bình Tây Tướng quân Đô Đình hầu Mã Siêu; thần Tả Tướng quân Trưởng sử, lĩnh Trấn Quân Tướng quân Hứa Tĩnh; thần Doanh Tư mã Bàng Hy; thần Nghị tào Tòng sự trung lang tướng, Quân nghị trung lang tướng Xạ Viên; thân Quân Sư Tướng quân Gia Cát Lượng; thần Đãng Khấu Tướng quân, Hán Thọ Đình Quan Vũ; thần Chinh Lỗ Tướng quân, Tân Đình hầu Trương Phi; thần Chinh Tây Tướng quân Hoàng Trung; Thần Trấn Viễn Tướng quân Lại Cung; thần Dương Vũ Tướng quân Pháp Chính; thần Hưng Nghiệp Tướng quân Lý Nghiêm… tất cả một trăm hai mươi người cùng dâng tấu: Xưa, vua Nghiêu nhà Đường là bậc chí thanh, vậy mà trong triều vẫn có bốn kẻ hung ác, Chu Thành Vương nhân ái hiển minh, vậy mà bốn nước chư hầu vẫn làm loạn, hoàng hậu của Hán Cao Tổ nhiếp chính dẫn đến việc Lã thị chuyên quyền, Hiếu Chiêu Đế nhỏ tuổi, nên Thượng Quan Kiệt âm mưu tạo phản. Bọn họ đều cậy vào ân sủng được triều đình ban cho, mà nắm giữ đại quyền của xã tắc, phóng túng làm loạn, vô cùng hung ác, khiến cho xã tắc gặp nguy…[10]
Đổng Chiêu chỉ xem lướt qua phần ký tên ở đoạn đầu, rồi cười nói:
— Thú vị đấy!
— Giờ là lúc nào rồi mà ngài còn cười được? - Tư Mã Ý không khỏi trách cứ lão tiền bối.
— Ta vốn tưởng rằng Lưu Bị đã được lòng người đất Thục, nhưng xem tấu chương này mới biết hắn cũng bình thường thôi.
— Xin ngài thị ý cho. - Tư Mã Ý thấy khá hiếu kỳ về câu nói của ông ta.
Đổng Chiêu chỉ vào tên mười một nhân vật đứng đầu, phân tích từng người:
— Bọn Quan Vũ, Trương Phi, Gia Cát Lượng, Pháp Chính, Hoàng Trung thì không nói làm gì, đều là tâm phúc của Lưu Bị. Còn người ký tên đầu tiên là Mã Siêu này, tự xưng là Bình Tây Tướng quân, nhưng mang ba phần tình cảm của môn khách, hắn là người lâm vào bước đường cùng nên mới nương nhờ Lưu Bị, chưa chắc được tín nhiệm. Giờ người Hồ ở Hứa Đô đều đã rời đi, hắn không thi triển được bản lĩnh, cảm giác ăn nhờ ở đậu nhà người ta liệu có dễ chịu không?
Tư Mã Ý thấy có lý, gật đầu tán đồng.
Đổng Chiêu nói tiếp:
— Hứa Tĩnh là kẻ sĩ thanh lưu, có hư danh mà chẳng có thực tài; Bàng Hy vốn là quyền thần dưới trướng Lưu Chương, đứng đầu phái Đồng Châu; Xạ Viên là thủ lĩnh nhóm di dân vùng Tam Phụ, cũng thuộc cựu đảng của Lưu Yên. Lưu Bị cho ba người này lần lượt giữ chức Trưởng sử, Tư mã và Tòng sự là để lôi kéo nhân tâm, dựng gương cho kẻ khác. Còn Lại Cung vốn là thuộc hạ cũ của Lưu Biểu, được bổ nhiệm làm Thứ sử Giao Châu, do bất hòa với Sĩ Tiếp và Ngô Cư, nên bị đuổi về phương bắc, Kinh Châu khi ấy đã bị Lưu Bị chiếm giữ, Lại Cung không còn chỗ nương thân, mới phải đi theo Lưu Bị. Lý Nghiêm cũng là thuộc hạ cũ dưới trướng Lưu Biểu, ngày Lưu Tông đầu hàng hắn trốn sang đất Thục, khi Lưu Bị xâm phạm, Lưu Chương phái hắn đi đánh lại, không ngờ hắn chưa bắn một mũi tên đã dẫn quân đầu hàng kẻ địch, để đổi lấy sự trọng dụng của Lưu Bị… Nhìn vào đám người này, ngoài những phe phái cũ ở các nơi ra, có người nào là sĩ nhân sinh ra và lớn lên tại Thục quốc không? Điều này cho thấy nền móng của Lưu Bị chưa vững chắc, vẫn phải dùng cách cất nhắc thân tín, lôi kéo các phái, thực lực như thế có gì đáng lo?
Tư Mã Ý thầm than trong lòng: Khá lắm Đổng Công Nhân! Không riêng chuyện dâng tấu ủng hộ Lưu Bị tấn vị, mà bất cứ ngóc ngách nào trong chốn quan trường cũng đều không thể lọt khỏi con mắt của ông, đúng là người nhìn thấu thế thái nhân tình! Dù ta hành sự thế nào cũng khó mà đạt được đến bản lĩnh này!
Nhưng Giả Quỳ đứng bên cạnh lại lắc đầu, nhận lấy tấu chương thở dài nói:
— Nói là một chuyện, dù sao Lưu Bị cũng đã xưng vương, chúng ta chẳng thể làm gì được hắn. - Câu này là sự thật, Lưu Bị đoạt được hai châu Kinh, Ích, đôi cánh của ông ta đã chắc, bỏ qua thực lực, ít nhất trên danh nghĩa Hán Trung Vương và Ngụy Vương cũng ngang hàng, Tào Tháo không chịu thừa nhận chỉ là bịt tai trộm chuông mà thôi.
Giả Quỳ xem kỹ xong, đặt vào tay Tào Du. Tào Du ngượng ngùng nói:
— Lão hủ không biết chữ. - Rồi chuyển sang cho Biện Bỉnh. Biện Bỉnh giờ đã là quốc cữu danh chính ngôn thuận, thân phận không giống trước kia, nhưng không ngờ một chuyện lớn có liên quan đến đất nước như vậy mà ông ta cũng chẳng thèm ngó qua một cái, phất tay áo nói:
— Ta chẳng hơi đâu mà lo chuyện vớ vẩn này, chớ đưa cho ta! - Ông ta cả đời ở trong Tào doanh, Tào Tháo áp chế họ ngoại, ông ta có công không được thưởng, có tội thì bị phạt trước tiên, đến nay vẫn chỉ làm chức Biệt bộ tư mã, vì giận tỷ phu mà cáo bệnh ở trong nhà, không màng thế sự. Lần này nếu không phải tỷ tỷ được sắc phong vương hậu, Tào Phi lại năn nỉ mời ông ta xuống núi, ông ta sẽ chẳng tới Trường An.
Tư Mã Ý nhận lại tấu chương:
— Tấu chương này còn phải đưa đến Nghiệp Thành để thái tử và các vị công khanh xem qua. Xin các ngài thứ cho hạ quan không thể đi cùng. Mong các ngài khuyên giải đại vương nhiều hơn.
— Dứt lời vội vã đi ngay.
Bốn người chặc lưỡi, đoán trước là Tào Tháo đang tức giận, ai nấy đều tính toán tâm sự riêng, chậm rãi đi đến trước chính điện. Tuy nhiên bên trong lại rất yên tĩnh, Tào Tháo dựa người vào chiếc giường đơn sơ, dáng vẻ thất thần. Khổng Quế đứng đằng sau xoa bóp cho ông; các tướng như Vu Cấm, Chu Cái, An Thự, khoanh tay đứng mé tây, Tào Chương, Tào Chân và Tào Hưu cũng ở đó; còn mé đông chỉ có một sĩ nhân râu dài ngồi một mình, là Thái thú Hà Đông Đỗ Kỳ.
Tào Tháo trông thấy bọn họ tiến vào, không buồn cất lời mà chỉ vào cái sập mé đông, ý bảo họ ngồi xuống, rồi nói tiếp với chúng tướng; - Giặc tai to xưng vương rồi cũng chẳng ích gì, Thượng thư đài ở Hứa Đô nằm trong tay quả nhân, quả nhân không thừa nhận, thì danh phận của hắn là bất chính!
Đổng Chiêu đang ngồi xuống, nghe câu này thầm cười: Việc Tào Ngụy xưng vương há là ý muốn của thiên tử? Ngài xưng vương được thì khi thế lực của người ta đủ lớn mạnh cũng sẽ xưng vương thôi. Dù sao chiếu thư của thiên tử hiện giờ cũng không còn ý nghĩa gì, thực lực quyết định tất cả, ngài không thừa nhận người ta, người ta cũng đâu quan tâm liệu ngài có chịu thừa nhận hay không.
Tào Tháo dường như nhận ra câu mình vừa nói vô nghĩa, chuyển sang nói:
— Chuyện Thục quốc có thể không hỏi tới, nhưng Quan Vũ tấn công Kinh Châu của ta đúng là họa sát vách, Tào Nhân và Lã Thường ít quân, e là thành trì bị khốn. Tuy rằng còn có Bàng Đức đóng quân ở quận Nam Hương, nhưng chỉ như muối bỏ biển, phải phát đại quân chi viện, tiếc là quả nhân đang mang bệnh không tiện qua đó…
Chu Cái, An Thự nghe đến đây xoa nắm đấm, định xin lĩnh mệnh, nhưng Tào Tháo đưa mắt về phía Vu Cấm:
— Cái dũng của Quan Vũ thiên hạ đều biết, phản loạn Nam Dương bữa trước đã làm tổn thương nguyên khí nặng nề, không thể để xảy ra sơ sảy lần nữa. Biết nhiều khổ nhiều, vẫn phải phiền Văn Tắc vất vả chuyến này vậy.
Vu Cấm nghe Tào Tháo chỉ đích danh mình thống lĩnh đại quân, cảm thấy rất hãnh diện, chắp tay nói:
— Nhận sự sai khiến, há lại nói đến vất vả? Quan Vũ tuy dũng hãn, nhưng ngông cuồng tác loạn là tự chuốc lấy nỗi nhục, mạt tướng dựa vào hồng đức thần uy của đại vương, tất sẽ lập công trở về!
Chúng tướng nghe những lời này đều thầm lắc đầu, luận về chiến công của Vu Cấm thì không nói làm gì, nhưng tính người này thượng đội hạ đạp, dùng binh nghiêm khắc mà ít ơn huệ, lại có quan hệ không tốt với các tướng tá khác. Nhất là Chu Linh năm xưa từng bị ông ta cướp doanh, hai người như nước với lửa, vừa nghe thấy câu “dựa vào hồng đức thần uy của đại vương”, Chu Linh đã nhếch miệng cười khinh miệt. Có điều, Tào Tháo lại rất an tâm:
— Tốt! Thứ sử Kinh Châu Hồ Tử và Thái thú Nam Hương Phó Phương đã thu gom lương thảo, sửa sang khí giới, khanh hãy bàn bạc với bọn họ xem nên cự địch ở đâu. Tiếc là Từ Hoảng và Trương Cáp vẫn đồn trú Tây Châu, đợi bọn họ trở về ta sẽ phái đi yểm trợ khanh.
Vu Cấm lại nói:
— Một tên Kinh Man có là gì, mạt tướng một mình gánh vác được, hà tất phải phiền người khác? - Ông ta hiện đang ở vị trí đệ nhất tướng quân Tào doanh, nên không muốn chia công với người khác.
— Cũng được. - Nhưng lý do Tào Tháo đồng ý lại khác, Quan Vũ từ Kinh Châu xâm phạm phương bắc, e là Lưu Bị cũng từ Hán Trung tiến lên mạn bắc, người Khương đã chuyển đi, nhưng nhân tâm chưa vững, nếu Vu Cấm có thể chống đỡ cục diện, để bọn Hạ Hầu Đôn, Từ Hoảng và Trương Cáp đồn trú Quan Tây thêm một thời gian nữa cũng tốt. Đợi đến khi Quan Vũ rút quân, ta có thể an tâm trở về Nghiệp Thành. Nghĩ đến đây, Tào Tháo liền nói, - Ngoài bản bộ binh mã, khanh hãy chọn ra bảy bộ quân khác thuộc trung quân, tất cả đều do một mình khanh thống lĩnh. Ta giao cho khanh toàn quyền quyết định việc chi viện Tương, Phàn.
Cả đời Tào Tháo dụng binh hầu hết đều đích thân lâm trận, bằng không cũng giao nhiệm vụ quan trọng cho tướng tá là thân tộc, chưa từng có chuyện để người ngoài một mình thống lĩnh cả bảy bộ quân, đây được coi là vinh dự lớn lao vô cùng. Vu Cấm cảm khái buông lời thề:
— Mạt tướng dù có phải nhảy vào nơi nước sôi lửa bỏng, cũng quyết không phụ ân điển của đại vương!
— Khanh tạm đi trước, mấy ngày nữa quả nhân sẽ rời quân đến Lạc Dương tạo thanh thế từ xa, trợ uy cho khanh.
— Dứt lời, Tào Tháo lại chỉ vào Tào Chương, - Tuyến phía tây cũng không thể không đề phòng, ta lệnh cho Tử Văn và Đỗ Tập cùng ở lại Trường An, tiếp ứng Hứa Đô.
— Dạ. - Tào Chương được một mình tọa trấn một phương, quá đỗi vui mừng, nhưng vẫn làm ra vẻ lo lắng.
— Nhưng phụ vương mang bệnh trong người, nhi thần không ở bên hầu hạ, thực lấy làm hổ thẹn.
Nếu đổi lại là trước đây nghe được những lời này, Tào Tháo sẽ không thèm để tâm tới con cái, nhưng giờ ông lại mong tử tôn quây quần dưới gối, nên cười nhăn nhó:
— Ra ngoài một năm, ta và mẫu thân con cũng không muốn chia ly với các con nữa, tiếc là vì quốc gia đại sự, Tử Hoàn cũng phải lưu thủ không dứt ra được. Con tạm ở lại Trường An, vài hôm nữa ta triệu Tử Kiến tới, tiện thể giúp ta san sẻ những chuyện vụn vặt. Đợi khi hoàn tất mọi việc, chúng ta lại cùng về kinh… Ây dà, phụ vương không chinh chiến được nữa rồi, chỉ mong được sống vài năm yên ổn. - Tào Tháo bắt đầu cử binh từ năm Trung Bình thứ sáu đến nay đã ba mươi năm, trong ba mươi năm này chỉ có duy nhất năm Kiến An thứ mười lăm là ông không dụng binh, bởi liên tục chịu tổn thất nặng nề trong trận Xích Bích, Hợp Phì, buộc phải nghỉ ngơi lấy lại thực lực. Dùng hai từ “hiếu chiến” để khái quát về cuộc đời Tào Tháo là hoàn toàn phù hợp, nhưng nay ông muốn sống yên ổn vài năm, e rằng phần lớn nguyên do nằm ở sự bất lực.
Tào Chân, Tào Hưu đưa mắt nhìn nhau, trong lòng thấy bất an: Vương tử nắm giữ binh quyền vốn là đại kỵ, đại vương cho Tào Chương trấn thủ Trường An, lại còn triệu Tào Thực đến, không phải đều bất lợi cho Tào Phi ư? Đang tư lự không biết can gián thế nào, Tào Tháo lại gọi tên:
— Tử Đan, Văn Liệt! - Hai người vội bỏ qua tâm sự, chắp tay thi lễ.
— Thân thể quả nhân suy nhược, trong quân lại khá nhiều việc, từ nay ta tấn thăng hai khanh làm Trung hộ quân, Trung lĩnh quân, san sẻ nỗi lo với quả nhân.
Tào Chân, Tào Hưu ngỡ mình nghe nhầm, Trung lĩnh quân, Trung hộ quân chính là trưởng quan tối cao trong trung quân chỉ đứng dưới Ngụy Vương, há không phải đại vương đang đặt quyền cai quản trung quân vào tay hai người họ? Đúng là chuyện quá tốt, ngay cả nằm mơ bọn họ cũng không dám nghĩ tới, hai người thoáng ngây ra.
Tào Tháo nhìn hai tử điệt với ánh mắt tràn đầy kỳ vọng:
— Hai khanh không còn nhỏ, sớm muộn cũng phải gánh vác việc nước, nhân lúc này mà trui rèn thêm, về sau mới đảm đương được trọng trách của mình. Mau đi làm việc đi! Tuy nhiên, các khanh không được cậy mình là thân tộc mà tỏ ra kiêu ngạo, gặp chuyện gì cũng phải trao đổi, bàn bạc với mọi người.
— Dạ. - Hai người mặc dù vui mừng, nhưng nhìn ánh mắt Tào Tháo cũng không nén được chút buồn bã: Trước đây lão nhân gia tự phụ thế nào? Chớ nói là việc trong trung quân, ngay cả hổ báo kỵ cũng do người đích thân chỉ huy, vậy mà giờ lại chịu ngồi yên, thừa nhận mình già, làm sao không khiến người ta xót xa cho được?
Tào Tháo dường như nhìn thấu tâm tư bọn họ, quay mặt đi xua tay:
— Lui xuống đi, các khanh đều lui xuống cả đi. - Cả đời ông hiếu thắng, luôn được người ta ngưỡng mộ, không quen nhận sự quan tâm, đồng cảm, mà đôi khi ông coi đó là một chuyện rất mất mặt.
Đợi chúng tướng lui hết xuống, Tào Tháo mới để ý đến bọn Biện Bỉnh:
— Các khanh lặn lội từ xa tới chỉ để chúc mừng quả nhân thôi sao?
Chúng nhân im lặng một lúc, Tào Du mủm mỉm cười, nói trước:
— Đại vương dựng nước đã sáu năm, nay thái tử và vương hậu cũng được lập rồi, Tào Ngụy của chúng ta ngày càng hưng thịnh, phụ lão quê nhà cảm niệm ân đức của người. Gần đây có mấy lão hương đều là cố hữu đến thăm phủ đệ của thần, tử điệt của họ cũng đã trưởng thành, liệu đại vương có thể ban thêm ân huệ cho họ không? - Vị thúc phụ này lúc nào cũng chỉ nghĩ việc cất nhắc bằng hữu thân thích, có câu “Không được lợi hơi đâu dậy sớm”, e là ông ta đã nhận hối lộ, nhưng ông nhiều tuổi như vậy còn nói gì được nữa.
Tào Tháo im lặng không trả lời, Giả Quỳ lại nói:
— Chế độ tuyển chọn quan lại mới đã có sự thay đổi so với trước đây, nhưng tại các châu quận địa phương vẫn còn những khốc lại hà khắc, phản loạn Nam Dương chính là một ví dụ. Khẩn cầu đại vương ban chiếu lệnh thi hành pháp lệnh khoan dung, loại bỏ khốc lại. - Đây là một đề nghị chính đáng, nhưng Tào Tháo không thể chấp nhận, bởi chính ông đã tự tay bóp chết chế độ tuyển chọn quan lại chỉ cử người tài, không thể lại tiếp tục đả kích thế gia đại tộc. ông đã chịu thỏa hiệp rồi, chẳng lẽ trong những năm cuối đời, ông còn phải đảo lộn toàn bộ quan điểm vi chính của mình? Thi hành pháp lệnh khoan dung, trừ bỏ khốc lại thì pháp lệnh truyền xuống còn ra thể thống gì, sau cùng vẫn dung túng cho bọn hào cường, kẻ bị loại là quan lại xuất thân hàn môn. Tào Tháo đã ngầm hạ quyết tâm, dù hậu thế ra sao, chỉ cần ông còn sống một ngày, pháp lệnh cũng sẽ không thay đổi, nên để mặc bọn Giả Quỳ nói huyên thuyên, từ đầu đến cuối ông chỉ đáp lại bằng sự im lặng.
Biện Bỉnh cũng tùy tiện nói:
— Tỷ phu suy nghĩ lại đi, để Chương nhi lưu giữ Trường An liệu có thích hợp không? Phi nhi làm thái tử đã hai năm, người cho Chương nhi thống lĩnh binh mã ở bên ngoài, còn gọi Thực nhi tới hầu hạ, Phi nhi không được nắm binh quyền lại không được tương kiến với tỷ phu, thử hỏi trong lòng nó nghĩ thế nào? - Câu ấy có lý, nhưng Tào Tháo biết vị cửu gia này cũng thuộc “phe thái tử”, hẳn là cố ý bênh vực Tào Phi.
Tào Tháo thực phát chán với những tính toán vụn vặt của riêng họ, ông không thèm đếm xỉa đến ai, quay đầu nhìn Đỗ Kỳ ngồi bên cạnh:
— Khanh có biết mình được điều đến đây làm gì không?
Đỗ Kỳ nhận chức ngoài kinh sư, nhưng sự sủng tín mà Tào Tháo dành cho ông ta không kém gì Vương Xán, Hòa Hiệp, nhận mệnh ông ta làm Thái thú Hà Đông mười lăm năm liền, trong thiên hạ còn có người thứ hai không? Đỗ Kỳ ngẫm nghĩ một lúc rồi nói:
— Hai lần tây chinh đều do tệ ấp cung cấp quân lương, tính ra vẫn còn dư dả, nghề nông là gốc của một nước mạnh, hẳn là đại vương muốn hỏi thần về những kinh nghiệm đại loại như khai khẩn đất đai để an dân?
— Tốt! - Tào Tháo nói giọng kỳ quặc, - Vẫn có người biết quả nhân nghĩ gì, không mang mấy chuyện vớ vẩn ra làm phiền quả nhân! - Tào Tháo chửi mèo quèo chó, khiến cho bọn Tào Du đỏ mặt.
Đổng Chiêu từ đầu đến cuối không nói gì, ngoảnh mặt làm thinh, nhưng trong lòng đã soạn sẵn một bài nói: Đại vương già rồi, cả tinh thần lẫn thể chất đều đã suy nhược. Người phái bộ tướng đi cứu viện Kinh Châu, còn việc trong quân ngũ thì bỏ cho tử điệt, nếu là ngày trước, dù người không tán thành với ý kiến của chúng nhân thì cũng tỏ thái độ rõ ràng, không như bây giờ chỉ ậm ừ qua loa. Có điều, người vẫn có hứng thú với việc trị lý dân chính, như thể muốn tích chút công đức trong dân gian, việc này xuất phát từ ý đồ gì? Lưu Bị xưng vương, muốn ngang hàng với đại vương, cách tốt nhất để người nâng địa vị của mình lên cao hơn một bậc là xưng đế, khó có thể đổi thành ba nhà cùng lập. Nếu sinh thời đại vương không giành đế vị, há chẳng phải quá ấm ức? Giờ chính là cơ hội tốt để khuyên người đăng cơ.
Đổng Chiêu định nói lại thôi, tự nhủ phải thật bình tĩnh, chiến sự Kinh Châu chưa kết thúc, vẫn phải chờ thêm một thời gian nữa để đánh lui Quan Vũ, thiên hạ vô sự mới là vẹn toàn. Nếu như Vu Cấm đại thắng, vỗ tay chen vào thì càng tốt. Ta cứ chờ thôi, không lâu nữa đại vương chắc chắn sẽ xưng đế, đó là bước đi cuối cùng mà trước sau gì người cũng bước qua.
Nhưng Đổng Chiêu đã đoán sai cả, cả cục diện chiến sự Kinh Châu cũng đoán sai…
❀ ❀ ❀
[1] Múa thất bàn còn gọi là múa bàn cổ, là một điệu múa của người Hán thời xưa. Khi múa, người ta xếp sẵn những chiếc mâm, chiếc trống dưới đất, số lượng mâm, trống nhiều hay ít tùy thuộc vào tài nghệ của người diễn.
[2] Chỉ con đường quân đội vận chuyển lương thảo để tiếp tế cho tiền tuyến.
[3] Người giỏi dụng binh, khiến quân địch phải khuất phục mà không cần giao chiến, đoạt được thành trì của quân địch mà không cần tấn công.
[4] Nguyên văn dùng từ “tuần nguyệt” (khoảng mười ngày đến một tháng), ý nói trong một thời gian ngắn.
[5] Nam lấy đạo chính mà xử trí việc bên ngoài, nữ lấy đạo chính mà xử trí việc bên trong, cả hai đều giữ đạo chính là hợp với nghĩa lớn của trời đất vậy.
[6] Hoàng hậu là khuôn mẫu cho những người mẹ trong thiên hạ, đức hạnh tốt đẹp sánh với linh khí của trời đất.
[7] Chỉ ba mươi tuổi. Khổng Tử nói “tam thập nhi lập”, ý nói người đến tuổi này đã chín chắn, vững vàng, có thể đối mặt với mọi khó khăn.
[8] Ý nói đến chuyện ngoại thích chuyên quyền do hoàng đế lên ngôi tuổi khi còn nhỏ, trong khi ấy mẫu thân còn trẻ sẽ trở thành người chấp chính. Câu này xuất phát từ điển cố, trước lúc Hán Vũ Đế lâm chung, thái tử Lưu Phất Lăng còn nhỏ, mà mẫu thân của thái tử là Câu Dặc phu nhân cũng còn rất trẻ. Hán Vũ Đế sợ rằng sau khi ông chết, thái tử lên ngôi, Câu Dặc phu nhân sẽ can dự vào chính sự, từ đó dẫn đến việc họ ngoại làm loạn triều cương, vì vậy đã ban cái chết cho bà, và phó thác đại thần Hoắc Quang phò tá thái tử.
[9] Chỉ quan phục, xa giá và đồ nghi trượng. Thời xưa xa giá và quan phục đều có quy định về kiểu cách, thể hiện cấp bậc và địa vị tôn ty của người dùng.
[10] Hán Trung Vương khuyến tiến biểu, Lý Triêu.