Cô độc tẻ nhạt

Tào Tháo - Thánh Nhân Đê Tiện

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 491 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi Thứ 161
Hồn Đoạn Nơi Cố Đô, Gian Hùng Lìa Đời

❊ ❊ ❊

Tháng Mười nhuận năm Kiến An thứ hai mươi tư (năm 219 sau Công nguyên), trong lúc Từ Hoảng dốc sức đánh Quan Vũ, cục diện trận chiến ở Kinh Châu đã có sự chuyển biến lớn. Đại đô đốc Giang Đông là Lã Mông xuất binh từ Tầm Dương, đội quân tinh nhuệ ẩn mình trên những chiếc thuyền buôn ngược dòng mà tiến, ngày đêm thần tốc đánh úp Giang Lăng. Quân giữ Kinh Châu vừa ít lại vừa yếu, hơn nữa quan hệ giữa tướng trấn thủ Công An là Sĩ Nhân với Quan Vũ không tốt, nên đã mở cửa mời giặc; Thái thú Nam Quận là My Phương một mình không chống đỡ nổi, cũng chỉ có thể đầu hàng; bộ quân của Tôn Hiệu, Lục Tốn, Chu Nhiên, Phan Chương ồ ạt lấn vào Kinh Châu.

Quan Vũ ở Tương, Phàn, nhận được tiễn thư bên quân Tào tiết lộ tin tức, mới đầu chỉ nghĩ đó là kế lung lạc lòng quân, nhưng về sau hậu phương dồn dập truyền tin đến. Theo lý mà nói, Giang Lăng là vùng đất trọng yếu của Quan Vũ, bị tập kích tất phải quay trở về cứu, nhưng chiến cục có lợi lúc này không dễ gì có được, giờ mà từ bỏ ngày sau khó mà mưu tính, huống chi đột nhiên thu binh cũng sợ quân Tào đánh lén phía sau. Quan Vũ chần chừ chưa rút quân, nào ngờ Từ Hoảng anh dũng dẫn quân tấn công tiền doanh, phá vòng vây Phàn Thành, quân Tào khí thế ngùn ngụt, dẫu có đánh tiếp cũng không thắng được, chỉ còn cách bỏ Tương Dương quay về cứu Kinh Châu…

Đúng như Triệu Nghiễm dự liệu, từ đầu đến cuối Tào Tháo không truyền lệnh truy kích, mà chỉ nói với thần hạ rằng phải khiến cho hai tên giặc Tôn Quyền và Quan Vũ tàn sát lẫn nhau, để từ đó Tôn, Lưu hoàn toàn trở mặt, không đội trời chung. Đây cố nhiên là lời giải thích hợp lý, song những người có con mắt tinh tường cũng nhận ra, có thể giữ được Tương Phàn là Tào Tháo đã vui mừng dâng hương, cảm tạ muôn phần rồi, chứ thực ra ông còn đâu tâm trí và sức lực mà tiếp tục vướng vào chuyện này được nữa.

Tào Nhân, Lã Thường, Mãn Sủng gặp đại nạn không chết, bắt đầu tu bổ tuyến phòng thủ, không dám dùng hình luật hà khắc để lại gây ra rắc rối như việc đồ sát bách tính sau cuộc phản loạn của Hầu Âm. Họ khoan dung đối với những quan lại và dân chúng đã hàng địch, dần dần khôi phục được sự kiểm soát quận Nam Hương. Có điều trải qua nạn binh đao lớn như vậy, lại có ôn dịch bùng phát, muốn dựng lại uy phong không phải chỉ một sớm một chiều. Từ Hoảng thu nhặt lương thảo, quân nhu Quan Vũ bỏ lại đưa về Lạc Dương, Trương Liêu cũng tiêu diệt được bọn thổ phỉ Tôn Lang thu quân về bắc. Tào Tháo không quản thân thể mang bệnh, đích thân ra ngoài doanh cách Ma Pha bảy dặm để nghênh đón, chúc mừng chiến công của Từ Hoảng. Ông phát quân lệnh nêu rõ “hàng rào chông chà của địch bao bọc mười lớp, thế mà Từ tướng quân vẫn chiến đấu toàn thắng, đâm thủng trùng vây, bắt giết vô số quân giặc. Quả nhân dụng binh hơn ba mươi năm, đã được nghe nhiều danh sĩ giỏi dùng binh thời xưa, nhưng chưa từng thấy ai xông thẳng vào vòng vây quân địch. Công lao của Từ tướng quân còn hơn cả Tôn Vũ[1], Nhương Thư”[2]. Tất nhiên công lao của Từ Hoảng không nhỏ, nhưng quan trọng hơn là ông ta giữ được thể diện bá chủ cho Tào Tháo - Sở dĩ quân Tào quyết tâm giải vây Tương, Phàn là vì Tôn Quyền rút củi dưới đáy, Tào Tháo cả đời ngang tàng, há lại cam tâm mượn sức của kẻ khác giải vây cục diện. Có trận thắng này của Từ Hoảng, ông có thể tuyên bố với người đời rằng mình đã đánh lui được Quan Vũ. Đối với một bậc quân vương mà nói, còn gì quan trọng hơn tôn nghiêm?

Lúc này binh mã các bộ tản đi cứu viện đều đã tập hợp tại Ma Pha, tổng binh lực lên đến gần tám vạn, nghỉ ngơi mấy ngày, Tào Tháo liền truyền lệnh nhổ trại về Lạc Dương, trận chiến đến đây kết thúc. Thế nhưng, đúng lúc vừa về đến Lạc Dương, ông bỗng nhận được tin Quan Vũ đã chết!

Hóa ra quân Kinh Châu rút binh về cứu vãn, nhưng cũng đã quá muộn, Giang Lăng đã đổi chủ, toàn bộ gia quyến của Quan Vũ và bộ hạ đều bị quân Giang Đông khống chế. Lã Mông thực hiện theo đúng quân pháp, đối đãi tốt với tù binh, bảo vệ kho phủ, vỗ về bách tính. Bộ hạ của Quan Vũ đều là binh sĩ Kinh Châu, nghe tin gia viên rơi vào tay địch vốn đã hoang mang lo sợ, đến khi được biết thê nhi, tử đệ của mình vẫn được đối đãi tốt, tất cả vẫn bình an, trong lòng họ bắt đầu dao động, càng không còn ý chí chiến đấu. Tiếp theo đó, Tôn Quyền lại đích thân đến tiếp quản trấn Công An, chiêu hàng nạp phản, những trọng thần Kinh Châu như Phan Tuấn, Hác Phổ lần lượt quy hàng, binh mã các lộ nhân cơ hội này chiếm trọn đất Nam Quận.

Đến tháng Mười hai, năm Kiến An thứ hai mươi tư, quân của Quan Vũ dần bỏ đi, Quan Vũ biết mình lâm vào đường cùng, không thể khôi phục lại được lực lượng như trước, bèn quay về hướng tây đóng quân tại Mạch Thành. Tôn Quyền phái người khuyên hàng, Quan Vũ giả đồng ý, cắm cờ trên tường thành, nhân đêm tối định tháo chạy đến đất Thục. Không ngờ Tôn Quyền phòng trước, sớm đã lệnh cho Chu Nhiên, Phan Chương bố trí quân mai phục; Quan Vũ sức cùng lực kiệt, chỉ còn hơn mười kỵ sĩ đi theo, cuối cùng bị Tư mã Mã Trung - bộ hạ của Phan Chương bắt được ở khu vực làng Chương, huyện Đương Dương. Quan Vũ cùng với nhi tử của mình là Quan Bình và các bộ tướng như Triệu Lũy đều bị chém đầu. Tiếc thay một đời danh tướng Quan Vân Trường, từ một người đang ở trên đỉnh cao thắng lợi, mượn nước lũ tiêu diệt bảy bộ quân Tào, uy doanh chấn động Hoa Hạ lại đi đến chỗ thất bại và có kết cục bi thảm, đầu lìa khỏi cổ tại Mạch Thành. Quãng thời gian ấy chỉ vẻn vẹn hơn bốn tháng.

Biết Quan Vũ đã chết, Tôn Quyền huy động binh mã xuống phía nam, đánh úp bộ hạ của Lưu Bị là Phàn Trụ, Trần Phượng, đoạt được Vũ Lăng, Linh Lăng; lại lệnh cho Lục Tốn dẫn quân tiến về phía tây, lấy được các cứ điểm quan trọng như Tỷ Quy, Chi Lăng, Di Đạo, rồi cho đóng quân tại Di Lăng, canh giữ cửa Giáp Khẩu để đề phòng quân Thục - Đến lúc này, thế lực của Lưu Bị hoàn toàn bị đuổi ra khỏi Kinh Châu.

Sứ giả Giang Đông là Lương Ngụ lại nhận lệnh đi sứ Tào doanh lần nữa, đem mọi việc quan trọng “hồi báo” với Tào Tháo, vua tôi Tào Ngụy không khỏi bất ngờ. Quan Vũ bại trận là điều không nằm ngoài dự kiến, có điều Tôn Quyền trong một thời gian ngắn có thể thôn tính Kinh Châu, uy thế thực khiến người ta phải kinh hãi. Vua tôi Tào Ngụy một mặt vui mừng, mặt khác lại lo lắng: vui mừng là vì hiền tướng tâm phúc bậc nhất của Lưu Bị, được đối đãi như huynh đệ, một mình cai quản một phương là Quan Vũ nay đã chết, Kinh Châu đổi chủ. Không những hai đường đông tây trong chiến lược bắc phạt của Lưu Bị đã trở thành vô nghĩa, mối liên minh giữa hai nhà Tôn, Lưu cũng hoàn toàn bị phá vỡ. Còn họ lo lắng là vì Kinh Châu vừa đuổi được sói lại rước hổ vào, cuộc tranh giành giữa hai nhà Tào, Lưu giúp cho Tôn Quyền làm ngư ông đắc lợi, thế lực chiếm cứ vùng đông nam tăng mạnh, tất cả những vất vả, gian khổ kia là vì ai?

Tuy nhiên, thời gian này Tôn Quyền cũng tỏ ra an phận như một chú mèo con, Lương Ngụ nhiều lần nhấn mạnh trận thắng này hoàn toàn nhờ vào uy danh của Ngụy Vương và sự tương trợ của quân Tào nên mới thành công. Ông ta thậm chí còn ngỏ ý nói quân Giang Đông đã “giải cứu” cho bọn Vu Cấm, Hạo Chu, Đông Lý Cổn bị giam cầm ở Giang Lăng, không lâu nữa sẽ dẫn bọn họ cùng với Thái thú Lư Giang là Chu Quang từng bị bắt năm trước mang lễ đến Nghiệp Thành, đề nghị hai bên nam bắc mở chợ lưu thông hàng hóa, thể hiện thiện chí.

Tào Tháo biết những thái độ ấy đều là giả tạo, Tôn Quyền không phải muốn đem lợi lộc từ chuyện đổi chủ ở Kinh Châu chia cho ông, mà chỉ muốn mượn lực lượng của Tào Ngụy phòng việc Lưu Bị phục thù. Nhưng ông càng hy vọng hai nhà Tôn, Lưu trở mặt hơn, để ly gián bọn họ rồi đánh từng bên một, nên chấp nhận “ý tốt” của Tôn Quyền, sắc tấu chức quan cho Lương Ngụ và giữ lại trong doanh trại, tiện đi lại trao đổi.

Mặc dù Tôn Quyền miễn cưỡng thần phục, nhưng đó cũng là thành tựu duy nhất mà Tào Ngụy đạt được trong ba năm trở lại đây, vua tôi Tào Ngụy dù thế nào cũng muốn đem thắng lợi này tuyên bố với cả thiên hạ. Quần thần chuẩn bị khao thưởng ba quân, dâng biểu với Hứa Đô báo tin thắng trận. Nhân dịp hội kiến cuối năm, thái tử Tào Phi ở Nghiệp Thành cũng phái Thái thú Ngụy Quận là Từ Tuyên đến Lạc Dương vấn an chúc mừng. Tào Tháo bày tiệc, thưởng rượu, cho các quan văn võ đón mừng năm mới.

Đây là tiệc mừng năm mới ảm đạm nhất trong cuộc đời Tào Tháo, yến tiệc được tổ chức tại đại doanh trung quân, không có liệt khanh, cũng chẳng có nhi tử bên cạnh, bởi ông đang đóng quân ngoài chiến trường, vương hậu cũng không tiện tham dự, nhân vật chính chỉ có một mình ông. Quần thần theo quân đều biết sức khỏe của Tào Tháo không tốt nên nói chuyện nhỏ nhẹ, cũng không có ai kính rượu, đến những võ tướng đứng đầu là Trương Liêu, Từ Hoảng cũng trở nên khép nép. Buổi tối gió thổi vù vù, dù không quá lạnh nhưng ai cũng mặc thêm áo rét. Vầng trăng khuyết mới nhô lên ẩn hiện giữa đám mây mỏng manh cùng với ánh đèn bị làn gió đêm thổi lúc tỏ lúc mờ, mang lại cho con người ta một cảm giác hiu quạnh buồn bã, tất thảy đều không có không khí của năm mới.

Theo lễ chế, đáng lẽ quần thần phải thay nhau kính rượu đại vương, nhưng thực tế chỉ có Trần Kiều và Đổng Chiêu chúc tụng cho có lệ. Tào Tháo nhìn chúng quan văn võ xếp hàng dài phía dưới, bực bội xua tay - Những lời có cánh, nào là công lao bậc nhất xưa nay, ân đức vượt cả Nghiêu, Thuấn, thọ ngang trời đất… ông đã nghe nhàm tai. Từ lúc vào tiệc, ông chẳng nói chẳng rằng, tự rót rượu uống, quần thần cũng không đoán ra được ông đang nghĩ gì, không khí vô cùng buồn tẻ, chỉ có nhạc công ở bên cạnh tấu nhạc chúc mừng, giấu đi tiếng thở dài khe khẽ của mọi người.

Trong những cuộc vui như thế này xưa nay thường có người dâng thơ làm văn, nhưng bọn Vương Xán, Lưu Trinh đều đã thành người thiên cổ, Bí thư lang cũng chỉ biết thừa ý soạn chỉ, thiếu tài hoa về phần này. Trong những người ngồi đây, luận về thơ văn thì phải kể đến Đinh Dực đầu tiên, Tôn Tư nháy mắt ra hiệu, tỏ ý muốn ông ta dâng thơ góp vui. Nhưng Đinh Dực hoàn toàn không nhận ra, vẻ mặt không biểu cảm, chỉ chăm chăm uống rượu - Đinh Dực cũng đang mang tâm sự của mình, tình hình sức khỏe của đại vương thế nào ai cũng nhìn ra được, ngày đại họa sụp xuống nhà họ Đinh đã đến rất gần.

Ngược lại, đầu óc Khổng Quế linh hoạt, hắn đứng dậy thi lễ:

— Đại vương có tài văn chương quán thông thiên hạ, nhân ngày tốt như hôm nay lẽ nào không ngâm một bài thơ?

Quần thần lập tức hùa theo, người thì nói “chiến thắng Phàn Thành lẫy lừng xưa nay, lúc này nên ghi lại bằng thơ để truyền cho hậu thế”, người lại nói “cuối đông đầu xuân, dương thịnh âm suy, xin đại vương dùng thơ phú nói về việc nhậm dụng hiền tài, chỉ dạy chúng thần đạo vi chính.” Lại có người khác nói “đã lâu chưa được nghe kiệt tác của đại vương, chúng thần rất mong ngóng.” Đây tuyệt nhiên không phải những lời xu nịnh, vị trí đại thi nhân một đời của ông không cần nghi ngờ gì nữa.

Nhưng, Tào Tháo chỉ mệt mỏi lắc đầu:

— Quả nhân không có hứng.

Khổng Quế bị từ chối khéo, chớp mắt lại bày ra vẻ mặt khổ não, nói:

— Đại vương không làm thơ thực là tiếc. Gần đây thần cũng học ngâm thơ làm phú, nên đang muốn nghe để bắt chước làm theo.

Hắn vừa nói lời này, quần thần nhao nhao cười nhạo, một tên nịnh bợ, học không hay cày không biết, làm thơ gì chứ? Nói những điều khoác lác như vậy mà không biết ngượng mồm.

— Hừ. - Tào Tháo không coi ra gì, - Ngươi ấy, đời này chớ học đòi làm sang, không cần phải phí công nhọc sức làm gì.

Khổng Quế thở dài một tiếng:

— Ây dà! Thần biết mình thuở nhỏ sao nhãng, đầu óc không nhanh nhẹn, làm thơ cũng chỉ là vọng tưởng. Nhưng dạo này mỗi khi rảnh rỗi, thần cũng đọc một vài cuốn sách, ghi nhớ những câu chữ ấy trong bụng, để không phụ chức quan mà đại vương ban cho.

Tào Tháo càng tỏ vẻ coi thường:

— Chớ đùa với quả nhân, ngươi cũng biết đọc sách ư? Đọc sách gì?

Khổng Quế cố làm ra vẻ xấu hổ, cười đáp:

Tân luận của Hoàn Đàm.

Quần thần châu đầu ghé tai nghe, có ai ngờ tên nô tài này có thể nghiên cứu một cuốn thư tịch thâm sâu như thế; cũng có người hoàn toàn không tin, lặng lẽ khịt mũi khinh miệt. Tào Tháo càng lắc đầu không tin:

— Sách của Hoàn Đàm ngươi hiểu được không? Có chỗ nào tâm đắc thử nói xem.

Khổng Quế vò đầu bứt tai nói:

— Thần không dám nói là tâm đắc, chỉ là trong đó có một câu quá hay, có thể gọi là chí lý, khiến cho vi thần khó mà quên được.

— Câu nào?

Khổng Quế cúi người chắp tay:

— “Ở đất Ngô, du chơi dưới sông như cá rùa; ở đất Thục, leo trèo trên núi như chim thú.”

Câu này có chỗ nào đặc biệt? Quần thần mới đầu còn ngẩn người ra, từ từ ngẫm nghĩ, bỗng tất cả cùng cười phá lên - Chuyện tầm chương trích cú của Khổng Quế biến thành chuyện cười. Bản thân câu “ở đất Ngô, du chơi dưới sông như cá rùa; ở đất Thục, leo trèo trên núi như chim thú” không có ý gì đặc biệt, nhưng đặt trong cục thế hiện giờ của thiên hạ, há chẳng phải mỉa mai Tôn thị ở Giang Đông là cá rùa, còn bè đảng của Lưu thị ở Thục Trung là chim thú sao?

Khuôn mặt của Tào Tháo giãn ra một nụ cười, không khí buổi tiệc cũng theo đó mà rộn ràng hơn đôi chút. Có người định đứng dậy kính rượu, đúng lúc này lại có tên thị vệ chạy từ ngoài viên môn vào báo:

— Khải bẩm đại vương, Thứ sử Dương Châu vừa gửi tấu chương của Tôn Quyền tới. - Chuyện Tôn Quyền xưng thần mới được giải quyết yên ổn, để bày tỏ thành ý, Tôn Quyền đưa Vu Cấm sang sông, lại nhân dịp năm mới dâng tấu chúc mừng, và gửi cho Tào Tháo thủ cấp của Quan Vũ để “khoe công”.

Thân binh bê một chiếc hộp gỗ mun hình vuông vào đặt giữa sân tiệc, khoảnh khắc ấy tất cả các con mắt đều đổ dồn vào chiếc hộp. Dũng tướng một thời chém Nhan Lương tại thành Bạch Mã, cuối cùng lại rơi vào cảnh mình một nơi đầu một nẻo, thực khó tin.

— Đại vương có cần mở ra không ạ? - Thân binh hỏi.

Chút vui vẻ mà Tào Tháo vừa có được lại vụt biến mất, ông cố gượng đứng dậy:

— Quả nhân sẽ tự xem. - Rồi vòng qua soái án, chầm chậm bước đến trước chiếc hộp, đưa tay ra định mở nắp, nhưng còn chưa chạm vào đã dừng lại - Tuy Quan Vũ bỏ ông mà đi, hai mươi năm theo Lưu Bị đối đầu với ông, thậm chí còn đánh bại cả bảy bộ binh mã, bắt sống Vu Cấm, nhưng Tào Tháo không hề căm hận. Người làm tướng quý ở chỗ trung nghĩa, Quan Vũ cả đời một lòng trung thành với Lưu Bị, đó là điều mà bất kể ai cũng nên ca ngợi. Giữa con người với con người đều cần phải có duyên phận, ông và Quan Vũ không có được duyên phận này.

Bỗng nhiên Tào Tháo nhớ ra một chuyện, trong trận Quan Độ năm đó, lúc Quan Vũ từ biệt đã từng thề, chỉ cần Tào Tháo không đánh Lưu Bị, thì Quan mỗ sẽ không bao giờ chủ động khởi binh tấn công Tào thị, nếu làm trái với điều ấy, đầu lìa khỏi cổ, chết không toàn thây. Không ngờ tới hôm nay, lời thề đã ứng nghiệm! Lẽ nào thực sự mọi thứ đã ngầm được sắp đặt sẵn? Nghĩ đến đây, ông thấy thật hoang đường - Bội tín thì nhất định sẽ gặp báo ứng ư? Nếu đúng là như vậy, bản thân ông cả đời đã nói bao nhiêu lời dối trá, có lần nào thực sự gặp quả báo chưa?

— Ây dà! Bỏ đi. - Tào Tháo chầm chậm thu tay về, - Vân Trường cũng được coi là một danh tướng, mình một nơi đầu một nẻo đã là nỗi sỉ nhục lớn rồi, quả nhân sao nỡ để cho thủ cấp của hắn bày ra giữa chúng nhân? - Vừa nói vừa lấy một chén rượu trên bàn của thần hạ rưới xuống trước chiếc hộp đó, - Chén rượu này xóa bỏ ân oán, hãy tìm chỗ nào yên tĩnh chôn đi. - Ông cố nhiên có chút thương xót, nhưng quan trọng hơn đó là thuật thu phục nhân tâm. Tôn trọng dũng sĩ dưới trướng kẻ khác cũng là tôn trọng dũng sĩ của chính mình, những nam tử dũng mãnh sẽ càng nhận thấy chủ nhân của họ đáng để trung thành. Tào Tháo tuy đã già, nhưng thuật dùng người của ông ngày càng cao minh, và nó sớm đã hòa vào xương cốt, linh hồn của ông, khó có thể phân biệt được là thật hay giả. Trương Liêu, Từ Hoảng cũng có nhiều cảm xúc đan xen lẫn lộn, rưới chén rượu bái tế Quan Vũ, rồi mới để binh sĩ mang thủ cấp của ông ta đi.

Tào Tháo quay lại chỗ ngồi, dựa lưng vào ghế, lộ rõ vẻ thương tâm, mệt mỏi vẫy tay về phía Lưu Phóng. Lưu Phóng hiểu ý, cầm tấu chương của Tôn Quyền đọc to cho mọi người cùng nghe. Tấu chương này không biết là ai viết thay mà rặt những lời xu nịnh; đầu tiên chúc mừng Tào Tháo thắng trận Tương, Phàn; thứ đến thể hiện thành ý của bề tôi Giang Đông, tán dương Tào Tháo là đệ nhất anh hùng từ thuở khai thiên lập địa đến nay; sau cùng ngang nhiên ủng hộ việc lên ngôi cửu ngũ, khen ngợi ân đức của Tào Ngụy vượt xa nhà Hán, nên theo Chu Vũ Vương lật đổ nhà Thương, tiểu ấp vùng Giang Đông nguyện làm phiên thuộc, bằng lòng ở vị trí thần tử.

Quần thần xôn xao - Mục đích Tôn Quyền dâng tấu chương và thủ cấp của Quan Vũ quá rõ ràng, đó là muốn gán thêm thù hận với Lưu Bị, đồng thời mượn sức của Tào Ngụy để phòng thủ cho mình. Có điều, cách dùng những lời lẽ nhũn nhặn này thực khó tưởng tượng, còn hành động khuyến tiến càng khiến người ta giật mình.

Giữa những tiếng bàn tán, Đổng Chiêu đứng lên nói:

— Thần bạo gan xin đưa ý kiến tán thành, Tôn Quyền là một kẻ cát cứ, nhưng ý tứ của tấu chương này cũng không đến nỗi vô lý. Công lao của đại vương ai nấy đều thấy, quyền của nước Ngụy cả thiên hạ cũng rõ. Nhân dịp năm mới, sao đại vương không nghe theo lời phải? Bỏ cũ dựng mới, hoàn thành nghiệp đế! - Trong số quần liêu, Đổng Chiêu là người tích cực nhất với việc ủng hộ Tào Tháo đăng cơ, gần như ông ta không bỏ qua bất cứ cơ hội nào để nói. Đến lượt các tướng cũng bắt đầu thêm thắt vào, muốn Tào Tháo làm hoàng đế.

— Hừ… - Tào Tháo phát ra tiếng cười khô khốc, - Lời của Tôn Quyền sao có thể tin được chứ. Phụ thân hắn là Tôn Kiên khởi binh đánh Đổng Trác, huynh trưởng hắn là Tôn Sách vì chuyện Viên Thuật tiếm xưng hoàng đế mà nảy sinh bất hòa với Viên Thuật, tuy mang lòng phản nghịch, nhưng vì luôn tự xưng là có đạo nghĩa nên còn chưa dám mạo phạm nhà Hán, dựa vào đâu mà khuyến tiến quả nhân? Theo như ta thấy, thằng nhãi này định nướng ta trên lửa. Cái gì mà nguyện làm phiên thuộc, mãi mãi xưng thần? Nếu như ta thực sự lên ngôi, e rằng kẻ đầu tiên nhảy ra mắng ta là loạn thần tặc tử chính là Tôn Trọng Mưu đây!

Đổng Chiêu lại nói:

— Thiên hạ mười phần thì chín phần đã nằm trong tay đại vương, binh mã có thể chinh chiến cũng không dưới mười vạn, quân tiên phong đi đến đâu giặc tan tác đến đó, há phải sợ bọn Ngô, Thục nhỏ bé ấy? - Lời của ông ta có chút phóng đại, nhưng quả thực một khi khởi binh gây chiến, có thể thấy việc Tào Ngụy không sợ hai nhà Tôn, Lưu là sự thật. Những năm qua đều như vậy, huống chi bây giờ Tôn, Lưu đã trở mặt, không thể cùng lúc có hai kẻ thù.

Tào Tháo lại viện lý do mà ông đã nói đi nói lại suốt nửa đời người:

— Quả nhân xuất thân là bề tôi nhà Hán, không thể phụ lại quốc ân. Các khanh không cần nhiều lời, ngày mai Đổng công hãy đến Hứa Đô báo tin thắng trận cho thiên tử biết.

Đổng Chiêu không cam lòng, nhưng chưa kịp nói gì, đã có người lên tiếng:

— Ngày trước Tân Tỵ từng vì đại vương mà cởi bỏ chuyện tranh giành giữa hai huynh đệ nhà họ Viên, nay Tôn Quyền khuyến tiến cũng có thể nhìn nhận giống vậy. Đại vương không cần hỏi đến ẩn ý thật giả, chỉ cần xem cục thế của thiên hạ để ra quyết định. - Mọi người quay ra nhìn, những lời này là của Trần Quần, - Nhà Hán từ thời An Đế, tông thất đã mất quyền chấp chính, quốc thống cũng nhiều lần đứt đoạn, đến nay chỉ còn danh hiệu, không một tấc đất một người dân nào còn là của nhà Hán, kỳ vận đã tận, lịch số đã hết. Những người tinh thông sấm vĩ dưới thời Hoàn Đế và Linh Đế đều nói “Hán hành khí tận, hoàng gia đương hưng.”[3] Đại vương ứng vận, mười phần thiên hạ thì đã có chín phần, vậy mà vẫn cúi mình phụng sự nhà Hán, khiến xa gần than thở tiếc nuối. Cho nên, Tôn Quyền ở xa mà xưng thần cũng là ứng với thiên nhân. Thần cho rằng, nhà Ngu, nhà Hạ chẳng vì khiêm tốn mà chối từ, nhà Ân, nhà Chu chẳng từ việc tru diệt mà thả xổng. Sợ trời biết mệnh, không cần khiêm nhượng. Kính xin đại vương sớm lên ngôi đại thống, cai quản tám phương, trên ứng với số trời, dưới hợp với lòng dân.

Luận về tước lộc kinh lịch, Trần Quần không bằng Đổng Chiêu, nhưng ông ta cũng là hậu duệ của Trần Thật, danh môn Trung Nguyên, có uy vọng bậc nhất trong giới sĩ lâm. Ngay cả ông ta cũng công nhiên nói như vậy rồi, những người khác còn băn khoăn điều gì nữa? Tất cả bá quan văn võ, đứng đầu là Trưởng sử Trần Kiều đều quỳ sụp xuống:

— Kính xin đại vương sớm lên ngôi đại thống để cai quản tám phương!

— Đứng dậy hết đi… - Tào Tháo không thể hiện sự ngạc nhiên, cũng không có vẻ gì vui mừng, đôi mắt của ông sâu hoắm như cái giếng cổ, - Quả nhân biết các khanh rất có thành ý, nhưng ta không thể làm hoàng đế được… - Lần này ông không đưa ra bất kỳ lý do nào, cũng không muốn vin vào cái cớ vờ vĩnh do mình dệt nên nữa. Dù to gan đến mấy thì Tào Tháo cũng là người lớn lên theo học thuyết của Nho gia, ông không thể xóa bỏ sự thật rằng phân nửa đời người mình đã ăn bổng lộc của nhà Hán, hưởng ân đức của nhà Hán, ngay tới bản thân ông cũng phải thừa nhận, bề tôi mưu tính ngôi vua là việc trái với lẽ trời. Ông lừa mình dối người làm hoàng đế không mũ miện, nhưng cũng không dám vượt qua bước này, đây là lý do thứ nhất. Ba mươi năm qua, mỗi khi đạt được ý đồ, ông đều “từ chối ba lần rồi mới chịu nhận”, trước sau luôn thể hiện lòng trung thành với nhà Hán, giờ mà phản lại thì chẳng khác nào tự vả vào mặt mình, thất tín với thiên hạ, đây là lý do thứ hai. Cả đời ông lập chí phò nguy cứu thế, tự coi mình là người “phụng mệnh thiên tử thảo phạt kẻ bất thần”, coi Tôn, Lưu chỉ là những thế lực cát cứ thời loạn. Một khi ông xưng đế, nhà Hán sụp đổ, Tôn, Lưu tất cũng sẽ tính lên ngôi cửu ngũ, thiên hạ rơi vào cục diện có ba hoàng đế, há ông lại chịu đứng cùng hàng với bọn họ, đây là lý do thứ ba. Hoa Hạ đã được thống nhất, nhưng hiện chưa quy về một mối, Tào Tháo làm hoàng đế có một nửa giang sơn, nói thế nào cũng không toàn vẹn, há có thể sánh được với các vị hoàng đế khai quốc của nhà Tần, Hán? So với việc để hậu thế coi thường, chi bằng ông không làm còn hơn, đây là lý do cuối cùng.

Những nỗi lo này đều có lý, nhưng Tào Tháo không tiện nói ra, dẫu vậy quần thần cũng lờ mờ đoán được - Nói đến mức này rồi mà ông vẫn không chịu đồng ý, chúng nhân dùng cả cuộc đời để theo đuổi sự hoàn hảo, nhưng cuối cùng vẫn chẳng có ai là hoàn hảo, vậy còn làm gì được nữa?

Quần thần không biết làm sao, lần lượt đứng dậy. Nhưng có một người vẫn quỳ gối không chịu đứng lên là Hạ Hầu Đôn, vô cùng thân cận với Tào thị:

— Đại vương! Thần thực sự có lời muốn nói. - Hơn nửa năm qua, ông ta lo việc thu quân ở Hán Trung, sắp xếp cuộc sống cho dân di dời cùng với Trương Ký, chiêu mộ tân binh sau thất bại của bảy đạo quân, bận không thở nổi, ngày đêm lao lực nên đã đổ bệnh, đến hôm nay vẫn còn chưa khỏi hẳn, sắc mặt tái nhợt, giọng nói khàn khàn.

— Nói đi…

Hạ Hầu Đôn bỗng cất cao giọng:

— Thiên hạ đều biết phúc phận của nhà Hán đã tận, điện hạ chinh chiến ba mươi năm, có công đức với lê dân, xưng đế là ứng với mệnh trời, thuận theo lòng người, còn gì phải nghĩ ngợi nữa?

Lời Hạ Hầu Đôn nói nghe có vẻ nhàm tai, nhưng thực ra lại chứa đựng ý tứ sâu xa - Những nỗi lo khiến ngài không xưng đế cố nhiên có lý, nhưng nói trắng ra là ngài không vượt qua được hai chữ “thể diện”, lo người khác nghĩ thế nào về mình, mà quên mất rằng điều quan trọng nhất chính là bản thân mình.

Trong nháy mắt, Tào Tháo gần như động lòng: Đúng vậy, bất cứ ai cũng nên sống vì bản thân mình, người khác nghĩ như thế nào thực sự quan trọng sao? Ta chinh chiến hơn ba mươi năm, hao kiệt tâm sức không phải đều vì muốn đi đến bước cuối cùng này ư? Vậy mà lúc còn sống còn không vượt qua được, liệu có xứng với bản thân mình không?

Đổng Chiêu thấy nét mặt của ông thay đổi, định thêm dầu vào lửa, nào ngờ chưa kịp mở miệng, Tào Tháo đã lắc đầu quầy quậy, biểu cảm vô cùng khổ tâm, nhưng không biết đó là vui hay buồn:

— Hiếu thảo với phụ mẫu, hòa thuận với huynh đệ là thi hành chính sự, cho nên hiếu đễ cũng được coi là làm chính sự. Nếu như thiên mệnh thuộc về ta… ta nguyện làm Chu Văn Vương.

Tiệc rượu vừa rộn ràng lên được chút, giờ lại trở nên im ắng, tất cả mọi người đều lặng lẽ suy ngẫm ý tứ sâu xa của câu nói này. Khổng Tử từng đánh giá Chu Văn Vương: “Đã có được hai phần ba thiên hạ mà vẫn phụng sự nhà Ân. Đức của nhà Chu có thể nói là đức rất cao.” Tào Tháo lấy Văn Vương để tự khen mình, nếu nói ông chỉ muốn làm việc tốt thì không cần phải hỏi đến tiền đồ, cho dù thiên mệnh hướng về, ông cũng chưa chắc đã muốn nắm lấy. “Hiếu thảo với phụ mẫu, hòa thuận với huynh đệ là thi hành chính sự, cho nên hiếu đễ cũng được coi là làm chính sự”, nắm quyền cả đời tạo phúc cho dân cũng đủ rồi, sao cứ phải có bằng được cái hư danh ấy? Tuy nhiên, quần thần lại thuận thế suy diễn thành ra thế này: Chu Văn Vương cúi mình phụng sự nhà Ân, song đến thời nhi tử của ông là Vũ Vương chẳng phải đã thay triều đổi đại đó sao? Ý của Tào Tháo là bản thân ông muốn làm Văn Vương, còn để cho thái tử Tào Phi làm Vũ Vương chăng?

Dù họ đoán thế nào, Tào Tháo cũng không có ý muốn nhắc đến chuyện này nữa. Ông từ từ khép mắt lại:

— Các khanh vừa nói muốn nghe quả nhân làm thơ, vậy ta sẽ làm một bài… - Sau khoảnh khắc im lặng, ông nhẹ nhàng ngâm rằng:

Tự xa xưa,

Tạo hóa sinh muôn vật,

Chẳng có gì còn mãi.

Chẳng có gì còn mãi.

Thánh nhân không tránh được,

Sao buồn mãi làm chi?

Ta muốn cưỡi ly long,

Bay tới núi Côn Luân.

Bay tới núi Côn Luân

Biết rằng thật cổ quái,

Chí đặt mãi Bồng Lai.

Chí đặt mãi Bồng Lai.

Đại thánh Chu Khổng mất,

Cối Kê thành mồ chôn.

Cối Kê thành mồ chôn.

Ai hớn hở cho được?

Người quân tử chớ lo.

Cuối đời làm thế nào?

Ngày tháng chẳng còn bao.[4]

Vạn vật trên thế gian cuối cùng rồi cũng trở về với đất, dù có “bay tới núi Côn Luân”, “chí đặt mãi Bồng Lai”, sớm muộn gì cũng phải đối mặt với cái chết. Những bậc thánh nhân như Chu Công, Khổng Tử còn không tránh khỏi chuyện sống chết, vậy ai làm khác được? Tào Tháo đã nghiệm ra điều này, nên ông không hùng hồn nghênh xướng “Ngựa già nằm chuồng, chí ở bốn phương”,[5] cũng không mơ mộng ngâm nga “Muốn lên núi Thái Hoa, thần người cùng du ngoạn”[6] như một tên ngốc nữa. Chuyện gì đến rồi cũng sẽ đến, chuyện gì đi rồi cũng sẽ đi, cho dù là thiên tử hay thứ dân, cho dù là người uy phong vô hạn hay nhỏ bé thấp hèn, hai chân đạp đất cũng đều giống nhau cả - Cuộc đời con người ta chính là như vậy, ngẫm lại có gì thua thiệt đâu?

Quần thần nghe tiếng ngâm buồn bã mà trầm ấm, ý tứ sâu kín mà câu từ uyển chuyển, dần dần khiến tâm hồn bọn họ xao động. Những lời tâm tình cảm khái về cuộc đời, lưu luyến với những gì đã qua và bất lực với thế sự vô thường này, dường như đã hóa thành nỗi buồn thương da diết quấn quanh mỗi người, theo giọng nói nhỏ dần của Tào Tháo… Trầm mặc một lúc mới có người nói được câu ca tụng:

— Thanh nhã thoát tục, ý tứ phi phàm, đại vương thực sự vẫn là đệ nhất thi nhân đương thời! - Những người khác cũng theo đó phụ họa, những lời ca tụng công đức nhàm tai lại bắt đầu tuôn ra ào ào.

— Suỵt… - Khổng Quế bỗng đứng lên, liên tục xua tay về phía mọi người.

Quần thần nín thở im lặng, nhìn kỹ mới biết đại vương đã ngả người ra ghế, hai mắt nhắm nghiền, chỉ có chòm râu dài trắng xóa phất phơ trong gió.

Khoảnh khắc ấy, chúng nhân chợt cảm thấy lo sợ, nhưng không ai dám lên tiếng, chỉ đưa mắt ra hiệu với cận vệ hai bên. Cận vệ cũng không dám tiến lên, một là vì sợ đắc tội làm kinh động thánh giá, hai là vì tấm gương của Nghiêm Tuấn vẫn còn đấy, ai dám lại gần chứ? Mọi người đưa mắt nhìn nhau, cuối cùng đánh bạo cùng rón rén bước lại, mới nghe thấy tiếng ngáy nhè nhẹ - Thì ra đại vương đã ngủ thiếp đi.

Lúc này chúng nhân mới cởi được khối đá trong lòng xuống. Lý Đương Chi vội vàng cởi áo lông cừu của mình ra đắp lên người Tào Tháo, ghé vào tai ông nói khẽ:

— Đại vương… Ngoài này lạnh, hãy vào trong trướng nghỉ.

— Ừ… - Tào Tháo khẽ đáp một tiếng, vẫn không buồn mở mắt, - Các khanh cũng về cả đi.

— Đại vương bảo trọng quý thể. - Quần thần nhỏ giọng, nhón chân lui xuống.

Lý Đương Chi nhẹ nhàng bóp vai cho ông, ngửi mùi rượu xộc lên, bất giác chau mày, cúi đầu lại nhìn vò rượu - Tào Tháo không nghe theo lời dặn của y lại lấy nước thay rượu nữa rồi.

Di mộng nơi cố đô

Sau thắng lợi trong trận Tương, Phàn, còn rất nhiều việc chưa giải quyết xong, hai nhà Tôn, Tào vẫn đang thương thảo chuyện xưng thần nạp cống, gần mười vạn quân Tào ở xung quanh Lạc Dương cũng vẫn chưa được chia khu vực đồn trú… Trong quân trướng, văn thư tấu báo đã chất cao như núi mà Tào Tháo lại mất hết hứng thú với mọi việc.

Nguy hiểm đã qua, nhưng Tào Tháo lại rơi vào tâm trạng hoang mang tột cùng, cõi lòng ông dường như trống rỗng, không còn để tâm vào bất cứ chuyện gì nữa. Già yếu là một quá trình diễn ra từ từ, mà chỉ khi bước qua tuổi năm mươi, con người ta mới ngày càng nhận thức rõ được sự bất lực của mình theo thời gian. Nhưng cuộc sống vẫn tiếp diễn, năm tháng vẫn cứ trôi đi trong mệt mỏi, mỗi giờ mỗi khắc đều cảm thấy sinh mệnh đang dần rời xa thế gian mà chẳng thể làm được gì.

Biện vương hậu, Hoàn phu nhân ở bên cạnh hầu hạ cũng không thể giúp ông thoát khỏi điều này, oanh ca yến vũ xem nhiều cũng buồn bực, thơ phú văn chương đọc nhiều cũng hoa mắt, sơn hào hải vị ăn nhiều cũng không tiêu hóa nổi, còn rượu vừa mới nhấp được một ngụm, Lý Đương Chi đã quỳ gối can ngăn - Sao cuộc sống ngày càng tẻ nhạt vậy?

Việc ông có thể làm được chỉ là thất thểu đi dạo trong quân doanh, cố chịu đựng sự nhàm chán hết ngày này qua ngày khác, để chờ đến khi tiết trời ấm lên, chờ đến khi mọi việc hoàn tất… Sau đó sẽ như thế nào đây? Ngay cả bản thân ông cũng không biết. Tào Tháo tự hỏi bản thân nhiều lần, liệu mình còn làm được những gì? Đánh trận thì không còn sức nữa; chăm lo việc nước, nhưng lý tưởng cai trị mà cả đời ông theo đuổi đã sụp đổ; muốn lên ngôi hoàng đế, nhưng lại không dám; còn muốn giúp nhi tử, nhi tử lại không màng đến lòng tốt của ông. Thậm chí ông còn không muốn trở về Nghiệp Thành, trở về đó có ý nghĩa gì không? Mà còn phải mất tâm sức duy trì mối quan hệ như gần như xa giữa các nhi tử, ông không còn lòng tin đối mặt với tương lai. Con người ta nếu như có thể sống đến lúc tuổi già lẩm cẩm, nhớ nhớ quên quên, sẽ không còn cảm thấy đau khổ nữa. Thế nhưng, khổ một nỗi Tào Tháo không lẩm cẩm, ông hiểu rõ tất cả mà không thể làm được gì…

Thân binh thị thần theo ông không rời nửa bước, Tào Tháo bực mình, nhưng lại không có lý do gì để cáu gắt với họ, hẩm hừ hỏi:

— Các ngươi đi theo ta làm gì? Chớ có khúm núm, xu nịnh như vậy nữa được không, quả nhân chán rồi! Chán lắm rồi! - Tất cả đều nhìn ông với ánh mắt sợ hãi, vâng vâng dạ dạ xin thứ tội, rồi lại càng khom lưng uốn gối đi theo sau. Nói xong, Tào Tháo cũng biết mình ầm ĩ vô cớ, nhưng ông thực sự cảm thấy buồn bực trong lòng. Cuối cùng thị vệ đưa ra chủ ý, - Nếu như đại vương cảm thấy tâm tình không tốt, có thể ra ngoài doanh trại cho khuây khỏa.

Tháng Giêng năm Kiến An thứ hai mươi lăm (năm 220 sau Công nguyên) ấm hơn năm trước nhiều, bởi có thêm một tháng Mười nhuận, mấy ngày nay nắng ấm chan hòa, gió xuân dìu dịu, thực không giống với thời tiết tháng Giêng. Tuy nói là ngồi xe ngựa ra ngoài, nhưng Lý Đương Chi vẫn bắt ông khoác áo lông cừu, nhiều lần khuyên ông không nên để thân thể bị nhiễm lạnh. Tào Tháo thực không chịu được cảnh ông ta cứ lải nhải suốt, lại thêm các vương phi cũng nói vào, nên ông cũng đành phải miễn cưỡng khoác lên người. Ông không dẫn nhiều người theo, nhưng trong cỗ xe nhỏ vẫn có mấy tùy tòng như Khổng Quế, Điển Mãn, mục đích của ông không phải chỉ ra ngoài ngắm cảnh, mà muốn đến thẳng thành Lạc Dương.

Cố đô của Đại Hán vẫn sừng sững giữa một vùng đất rộng lớn ở Trung Nguyên, nhưng nay gần như chỉ còn là một tòa thành hoang phế. Năm xưa, Đổng Trác đốt thành Lạc Dương, biến chốn phồn hoa đô hội này thành một bãi hoang tàn đổ nát, trong vòng hai trăm dặm không có một bóng nhà, vận số của nhà Hán cũng từ đó mà suy. Tào Tháo dời đô đến huyện Hứa, ngoài miệng thì nói là một ngày nào đó sẽ dựng lại cố đô, nhưng chỉ cho tu bổ qua những chỗ tường thành đổ nát, có thể miễn cưỡng dùng để phòng ngự, chứ còn tự xá trong hoàng cung vẫn hoang phế như xưa. Tám năm trước, Tào Thực theo ông tiến quân về phía tây dẹp Quan Trung đã từng làm một bài thơ bi ai, tả cảnh Lạc Dương:

Chân đi mà chẳng thấy đường,

Đất hoang bỏ đó nắng sương dãi dầu.

Người đi đi đã bao lâu,

Lối ngang bờ dọc biết đâu mà lần.

Ngoại thành xơ xác muôn phần,

Ngàn dặm tan tác tha nhân chốn nào?[7]

Xe ngựa chầm chậm chạy theo hướng bắc, Tào Tháo sai người vén hết rèm lên. Nhà Thái học biến thành đống gạch ngói rêu phong, bia đá Lục kinh[8] do Sái Ưng viết vùi giữa bãi cỏ um tùm, những công trình như Minh đường, Tích ung, Linh đài là nơi trước đây Quang Vũ Đế dùng để nối thiên nhân, treo sách sấm cũng đã sụp đổ tan tành, chỉ còn giữ lại được cái nền bị xói mòn. Tào Tháo thầm xót xa - Tình cảm của ông dành cho Lạc Dương rất phức tạp, đây là cố đô của nhà Hán, tượng trưng cho sự thịnh vượng của Đại Hán, đứng ở góc độ này Tào Tháo không muốn dựng lại, giờ mọi việc đều do ông quyết định, càng loại bỏ được hoàn toàn dấu tích của Đại Hán càng tốt. Song, đây cũng là nơi lưu giữ cuộc đời ông từ năm ba mươi tuổi trở về trước, với những ký ức thời tráng niên và những thăng trầm trước kia. Nơi đây chôn giấu tuổi thanh xuân từng một lòng trung trinh không đổi, muốn cống hiến cho vương triều cũ của ông.

Nay Quan Trung đã ổn định, thành Lạc Dương không có nhiều binh lính, tướng tá đồn vệ đều phụng chức trong doanh, chỉ để lại hơn trăm sĩ tốt trấn thủ, mà cũng toàn là những kẻ già yếu. Đám tạp binh tầm thường ấy được tin Ngụy Vương giá đáo, không biết làm thế nào, quỳ hết xuống trước cửa thành, tới những câu cần nói khi tiếp giá cũng chẳng biết đường mà nói. Tào Tháo không có tâm tình bắt bẻ bọn họ, vịn vào vai Khổng Quế từ từ xuống xe, lảo đảo bước vào trong, dường như muốn tìm lại những ký ức đã qua.

Nhưng, ông có thể tìm được gì trong đó? Đường lớn Bình Dương ngựa xe tấp nập, giờ chỉ còn là lối đi phủ đầy đất cát, những dinh quan phủ đệ san sát nhau đều đã bị hủy trong đám lửa, công trình xuất hiện nhiều nhất trong thành là những cái chòi rách do binh lính mới dựng lên, ngay cả những căn nhà cũ chưa bị phá hỏng hoàn toàn cũng tường xiêu vách đổ, được đắp bằng những hòn đá, mảnh gỗ, trông chẳng khác nào chiếc áo cũ được vá lại. Nam cung, Trường Lạc cung đã bị san bằng, vườn ngự uyển cỏ mọc bìm leo rậm rạp, ao Trạc Long đã cạn khô. Bắc cung phía xa xa vẫn còn đó, nhưng cũng là một mảng xám ngoét, còn điện Dương An do Trương Dương tu sửa là công trình không ra thể thống gì, cung uyển quá nhỏ, trong khi tự xá lại quá rộng, vừa trơ trọi vừa khó coi. Mấy thân cây cổ thụ đứng hiên ngang giữa đống hoang tàn, đã chứng kiến sự hưng vong của nhà Hán hàng trăm năm qua, may mắn không chết, bị ngọn lửa thiêu trụi chỉ còn trơ lại những chạc cây khô, cành lá chằng chịt mọc ra sau này tựa như một bầy quái thú dữ tợn.

Tào Tháo lặng lẽ đi lên phía trước, không bỏ qua một cảnh vật nào hiện ra trước mắt mình, cố tìm lại hình bóng của ngày xưa, nhưng chỉ vô ích. Ông bực bội, thành Lạc Dương giống như cuộc đời ngoài kia, đều không thể nào quay trở lại dáng vẻ trước đây được nữa. Với tất cả mọi thứ hiện giờ, Tào Tháo không hề hối hận, nhưng khi hồi tưởng lại những ký ức đã qua, ông vẫn không nén được tiếng thở dài, đôi khi ngay cả bản thân ông cũng cảm thấy ngạc nhiên: Ba mươi năm, chớp mắt đã tan thành mây khói, làm thế nào mà ta đi tới được ngày hôm nay?

Vòng qua con ngõ nhỏ mọc đầy cỏ, Tào Tháo bỗng dừng bước, nhìn chếch về một sân viện đã bị phá mà đứng ngây ra thất thần.

— Đại vương. - Khổng Quế tiến lại, - Người có nhận ra chỗ này không?

Tào Tháo vẫn cứ đứng im, dường như không nghe thấy tiếng hắn hỏi. Khổng Quế không hiểu, lại quay sang hỏi những binh sĩ đi cùng. Binh sĩ nói:

— Đây vốn thuộc chỗ nào tiểu nhân cũng không biết, chỉ thấy tường viện cao, nên đã sửa sang lại một chút làm nhà kho.

— Nhà kho? Ha ha ha!… - Tào Tháo bất giác cười nhăn nhó.

Bốn bức tường của sân viện đã đổ mất hai bức, những chỗ bị thủng được vá lại bằng gạch mộc; lầu trên cổng lớn vẫn còn, nhưng bị lửa thui đen sì, không nhận ra được hình dáng ban đầu, tấm biển ngói xanh cũng không thấy đâu nữa. Cổng lớn sơn đen chỉ còn lại một bên cánh trái, tả tơi loang lổ, bám đầy bụi bẩn, còn bên cánh phải được thay bằng một tấm cửa liếp. Trên dây xích sắt cũ có treo chiếc chìa khóa lớn. Tuy sân viện này không còn ra hình dáng gì nữa, nhưng Tào Tháo vẫn nhận ra khi vừa nhìn thấy nó - Đó chính là phủ Thái úy!

Năm xưa, lão thần Kiều Huyền nhận chức Thái thú đã dốc sức cất nhắc vãn sinh tiếp bước, Tào Tháo bắt đầu đi lên từ đây. Về sau phụ thân ông là Tào Tung dùng một ức tiền mua được chức quan này, thời gian ấy oai phong vô cùng. Ông quá quen thuộc với nơi này. Phủ đệ của tam công ở Lạc Dương đều nằm xung quanh hoàng cung, đến nay Nam cung đã không còn, tường thành mới được tu bổ lại chệch khoảng một dặm về phía bắc so với vị trí cũ, nên phủ Thái úy giờ đã biến thành kho để đồ giáp với tường thành bên trái.

— Quả nhân muốn vào trong xem, mở cửa ra.

— Dạ. - Binh sĩ rất ngạc nhiên, nhưng không dám trái lời.

Khổng Quế muốn dìu Tào Tháo, nhưng bị ông đẩy ra:

— Các ngươi đợi cả ở ngoài này, không ai được làm phiền ta. - Tào Tháo khập khiễng bước qua bậc cửa.

Đại viện rộng lớn đã thành bãi đất hoang cỏ mọc um tùm; mấy chục gian phòng hai bên chái là nơi làm việc của duyện thuộc trước kia, thế mà chỉ một mồi lửa đã thiêu rụi tất cả, giờ chỉ còn sót lại vài gian được lợp lại bằng cỏ tranh, bên trong chất đống đao kiếm đã rỉ sét. Chính đường phủ Thái úy vẫn còn, nhưng nóc nhà đã sụt hết, hai cột trụ lớn nằm chỏng gọng dưới nền, mạng nhện giăng đầy, trong góc còn có một chiếc xe ngựa bị gãy trục. Tào Tháo nhếch miệng cười lạnh lùng - Năm xưa phủ Thái úy vinh hiển nhường nào? Chớ nói các lão tể phụ tiền bối dòm ngó chức tam công, chủ trì quốc chính, theo phép dùng người coi trọng trưng vời của nhà Hán, còn có biết bao nhiêu kẻ trong đám duyện thuộc sau này sẽ trở thành danh thần? Nhưng phủ Thái úy ngày nay đã biến thành nhà kho dột nát!

Ông đi đi lại lại trong sân, sờ song cửa mục nát, xoa thân cây chết khô, cuối cùng thở dài một tiếng, ngồi bệt xuống thềm đá trước chính đường, nhìn đám cỏ hoang, trong lòng hoang hoải - Mảnh đất phú quý năm xưa, giờ chỉ còn lại căn phòng rách rưới, thế sự vô thường nào ai có thể bước qua được đây? Chưa bàn đến xã tắc nhà Hán, thánh nhân nói đức của nhà Chu là đức rất cao, nhưng cũng chỉ hưởng phúc được tám trăm năm, tám trăm năm sau vẫn là hoa rụng xuân qua đó thôi. Từ cổ chí kim không có triều đại nào bất diệt, Tào Ngụy hôm nay dù là một ngôi sao mới nhú, cũng không biết tỏa sáng được đến lúc nào, trăm ngàn năm sau, lầu gác cung điện của Tào thị sẽ ra sao? Ba tòa Đồng Tước đài lộng lẫy lúc bấy giờ sẽ là tường đổ ngói nát, hay là đầm lầy hoang vu?

Nghĩ đến đây, ông lại thấy kết quả thế nào cũng được, bởi dù gì đến lúc đó ông cũng đã nhắm mắt xuôi tay, há còn lo được an nguy, phúc họa? Nhưng, sớm biết chẳng thể mang đi được thứ gì, sao cứ phải liều mạng theo đuổi mãi làm chi? Con người rốt cuộc sống vì điều gì? Đúng là một câu hỏi khó mà cả đời ta không thể hiểu thấu được. Ông thấm mệt, dứt khoát không nghĩ ngợi nữa, dựa vào khung cửa loang lổ, khẽ chợp mắt…

— Cót két… Cót két…

Tiếng gì vậy? Quen thuộc mà xa xăm, Tào Tháo choàng mở mắt, thấy mình đang nằm trên giường. Đó là một căn phòng bằng gỗ phác theo lối xưa, song cửa mở toang đu đưa theo gió nhẹ, ánh nắng ấm áp chiếu nghiêng trên đất, hắt vào người ông.

Tào Tháo cảm thấy tất cả cảnh vật đều vô cùng quen thuộc, nhưng lại không nghĩ ra được là ở đâu, chỉ thấy ánh nắng chiếu lên người vô cùng dễ chịu, mãi một lúc sau không muốn đứng dậy, ông lại mơ hồ nhắm mắt lại.

— Cót két… Cót két… Cót két…

Âm thanh nặng trĩu vẫn vang lên, là tiếng kêu phát ra từ phía cửa sổ sao? Không phải, nhưng chắc chắn ông đã từng nghe qua, âm thanh rất thân thuộc, đây là… Tào Tháo ngồi bật dậy, quả nhiên nhìn thấy gần chỗ chân mình có chiếc khung cửi, một người phụ nữ tóc bạc đang quay lưng về phía ông, đưa thoi dệt vải, bóng hình ấy cả đời ông cũng không quên được.

— Phu nhân! - Tào Tháo không chần chừ, vội đứng dậy. Kể cũng lạ, cả người ông lúc này nhẹ bẫng, không hề cảm thấy đau đớn chút nào, đã lâu lắm rồi ông mới có được cảm giác nhẹ nhõm như vậy.

Đinh thị dường như không nghe thấy tiếng ông gọi, vẫn chăm chú cúi đầu đưa thoi dệt vải, bỏ ngoài tai những gì ông nói. Tào Tháo nản lòng, từ trước đến nay thê tử vẫn không chịu tha thứ cho ông, ông ngơ ngẩn lùi lại hai bước, đang định ngồi xuống giường, thì ngoài cửa có hai thị vệ cùng cúi người thi lễ:

— Đại vương sao vẫn còn ở đây vậy, các vị công khanh đều đang đợi người ở bên ngoài.

— Ừ. - Tào Tháo đáp lấy lệ, nhưng khi quay người nhìn lại, ông không khỏi kinh hãi - Hai tùy tòng người cao ngựa lớn, dũng mãnh tráng kiện ấy chính là Lâu Dị và Vương Tất!

— Các ngươi… - Tào Tháo hoài nghi, nhưng chưa kịp mở miệng đã được bọn họ dìu ra ngoài.

Cảnh vật trong sân càng trở nên ly kỳ, không có hoa viên đầm ao, cũng không có tường xiêu vách đổ, mà là một sân viện rộng lớn với những cối xay, đụn thóc, mé đông bắc đằng xa còn có cây hòe già cành lá sum suê. Tào Tháo nhớ ra rồi, đây chính là nhà ông! Trang viên cũ của nhà họ Tào ở huyện Tiều! Không đúng, chẳng phải chỗ này đã sửa thành hành cung rồi sao? Đang lúc suy nghĩ, ông lại trông thấy dưới hiên nhà mé đông có một võ nhân đang quệt mồ hôi túa ra do luyện võ. Người này mặt mũi dữ tợn, đầu như đấu đựng thóc, vai rộng eo tròn, bụng lớn mười vi[9], có thể vung hai ngọn đại kích cùng một lúc, đó không phải Điển Vi thì là ai? Mé tây có hai vị văn sĩ chuyên tâm đánh cờ trên chiếc bàn đá màu xanh, một người mắt hổ râu rồng, tướng mạo tuấn dật, còn người kia râu ngắn dung dị, thần sắc chăm chú, đó chẳng phải là Thôi Diễm, Mao Giới từng được ông coi là cánh tay đắc lực ư? Còn một người nữa đang kéo ống tay áo lau kiếm, là kỳ sĩ một đời Hà Bá Cầu thật sao? Ông già quắc thước vỗ về cây dâu, không phải là ẩn sĩ Quách Cảnh Đồ ư? Người nằm dưới mái che hóng mát, tự rót rượu uống mình, chính là bạn cũ Đinh Xung - Đinh Ấu Dương; người mình mặc áo vải thô, chân xỏ giày cỏ, lưng cõng bó củi, là ân nhân cứu mạng Tần Thiệu - Tần Bá Nam; người ngồi gảy đàn, một mình say sưa, hình như là tiền bối Sái Ung - Sái Bá Giai; còn có ông cụ dáng vẻ phú quý ngồi bên cạnh nghe đàn, rất giống với lão thường bá Lưu Mạc…

Chuyện gì đây? Bọn họ vẫn còn sống sao? Tào Tháo lú lẫn rồi, nhưng Lâu Dị và Vương Tất đều không trả lời, cứ dìu ông đi về phía trước. Cũng không hiểu là chuyện gì, phía trước đột nhiên xuất hiện một cánh cửa như là cửa Tư Mã trong Ngụy cung, hai bên cửa lớn mở rộng, quan viên chắp tay cung kính, có người còn nhanh chân bước tới thi lễ:

— Chúc mừng đại vương!

— Quế nhi à, sao lại… - Chưa nói hết lời, Tào Tháo đã ngẩn người ra. Người này đâu phải là Khổng Quế? Thần thái phấn chấn, nhìn xa trông rộng, chính là Quách Phụng Hiếu mà ông ngày đêm mong nhớ!

Quách Gia vẻ mặt hớn hở:

— Đại vương chưa biết tin gì sao? Lưu Bị phẫn hận sau thất bại tại Kinh Châu, liền dốc quân trong đất Thục khởi binh đông chinh, ác chiến một phen với quân Giang Đông ở Di Lăng. Lưu Bị bại binh, chết giữa trận, một loạt thân tín như bọn Trương Phi, Hoàng Trung đều bị tiêu diệt, còn Lưu Ba, Lưu Chương dâng đất mà quay về thiên triều ta. Tôn Quyền may mắn thắng trận cũng mất mấy vạn binh, dũng tướng dưới trướng kẻ thì chết trận kẻ thì trốn chạy, bị bốn đại tộc vùng Giang Đông là Cố thị, Lục thị, Ngu thị, Ngụy thị truy đuổi, cũng muốn quy thuận phương Bắc. Thiên hạ sắp quy về một mối, thiên tử nhà Hán cảm động trước công lao an dân cứu thế của đại vương, muốn noi theo Nghiêu, Thuấn nhường xã tắc, đã dựng xong Thụ Thiền đài ở Hứa Đô, chỉ còn đợi đại vương đến tiếp nhận ngọc tỷ truyền quốc, lên ngôi cửu ngũ. Vi thần xin chúc mừng đại vương… À không! Chúc mừng vạn tuế gia!

Tào Tháo không ngờ mọi việc đến thật đột ngột, bán tín bán nghi, nhưng nhìn quần thần rầm rầm bái phục dưới đất, hô cao câu hiệu:

— Nhà Ngụy kế thừa ngai vàng, vâng theo mệnh trời. Vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế! - Hai vị đại thần đứng đầu mũ cao áo dài, nghiêm chỉnh nho nhã, là hai thúc điệt Tuân Úc, Tuân Du.

— Lệnh quân… Quân sư… hai người cũng ở đây à! - Tào Tháo vui mừng lên hẳn.

Hai thúc điệt họ Tuân kính cẩn hành lễ cũng không đáp lời, ông lại nhìn tiếp phía sau: Viên Hoán cầm cờ tiết mao trắng, Lương Mậu bưng ngọc tỷ Ngụy Vương, Vạn Tiềm ôm binh phù lệnh tiễn, Trần Lâm bê văn thư thẻ tre; các lão thần như Tuân Duyệt, Bính Nguyên, Trương Phạm vuốt râu mỉm cười; bọn Vương Xán, Lưu Trinh, Nguyễn Vũ ngâm nga đọc thơ, phía dưới còn có một đám thần tử như Quốc Uyên, Lưu Phức, Tuân Diễn, Khoái Việt, Sái Mạo, Dương Tu, Lộ Túy, Đậu Phụ, Tư Mã Lãng, nụ cười lộ rõ trên mặt, đến cả Lư Hồng, Triệu Đạt cũng ở giữa bọn họ. Trong đó còn có một trưởng lão áo vải, lắc lư đầu:

Lã lãm có câu: “thiên tử bất khả cường vi, tất tiên trị đạo. Đạo giả chỉ bĩ tại kỷ, kỷ thành nhi thiên tử thành, thiên tử thành tắc chí vị cụ”[10] Kính mong bệ hạ ngộ đạo tu đức, để mở ra một triều đại hưng thịnh hơn cả nhà Tần, Hán.

Tào Tháo vô cùng kinh ngạc:

— Hí Chí Tài, ông cũng đến đây ư? Quả nhân thật nhớ ông!

— Mời bệ hạ mau lên ngựa, thiên tử nhà Hán đang đợi người ở Thụ Thiền đài. - Tiểu thái giám Nghiêm Tuấn vui vẻ dắt ngựa quý đến - Chính là con ngựa Bạch Hộc năm xưa đã từng cứu Tào Tháo ở Biện Thủy.

Con người ta gặp chuyện vui, tinh thần cũng sảng khoái, chân Tào Tháo nhanh nhẹn hơn, không mất nhiều sức đã tung người lên ngựa. Chốc lát, trống nhạc nổi lên, mé đông các tướng lĩnh như Nhạc Tiến, Tôn Quan, Cao Lãm, Bàng Đức mặc giáp trụ sáng loáng; mé tây bọn Lý Điển, Lý Thông, Sử Hoán, Hàn Hạo múa cờ lệnh chỉ huy đội nghi trượng; Tào Thuần mình khoác kim giáp, dẫn đội hổ báo kỵ hộ giá; Trương Tú làm tiên phong, đi trước mở đường, ba quân phía sau gõ trống mà tiến, đi sau cùng là Hạ Hầu Diệu Tài. Tào Tháo nhìn trái ngó phải, dương dương đắc ý, đúng là lên ngôi hoàng đế rồi, đời này ông chưa từng trải qua thời khắc nào uy phong như ngày hôm nay. Bỗng nhiên ông nhận ra ba kỵ sĩ theo sát bên mình, người bên tả là tiểu nhi Tào Xung, người bên hữu là điệt nhi Tào An Dân, còn người đi giữa văn võ song toàn, trung hiếu tiết nghĩa là đích trưởng tử Tào Ngang.

— Con trai của ta! Con làm ta nhớ mong mòn mỏi, ta muốn truyền ngôi cho con! - Tào Tháo chưa nói dứt câu, một trận gió mạnh ào tới, cuốn đất đá bay mù trời, không nhìn được gì, ông cố mở mắt ra: Không thấy nhi tử, quần thần, các tướng sĩ cũng không thấy đâu nữa, chỉ còn một mình ông cưỡi ngựa giữa cánh đồng hoang.

Tất thảy đều tĩnh lặng không một thanh âm, cả thế gian chỉ còn lại một mình ông, Tào Tháo bi ai ngửa mặt lên trời kêu lớn:

— Tại sao, tại sao các ngươi đều bỏ ta mà đi? - Ông vất vả bôn ba cả một đời, dù cho ước mơ là gì, cuối cùng cũng hóa thành tro bụi, nước mắt của ông trào ra.

Một lát sau lại thấy bụi cát mịt mù, trống trận ầm ầm, có hai đội binh mã xông đến trước mặt ông: Bên trái là một đội phương thiên họa kích rầm rập, tướng dẫn đầu mình mặc giáp trụ màu vàng, mặt to trán rộng, chính là Viên Thiệu đã thất bại trong trận Quan Độ. Còn bên phải là một đội ngựa khỏe móng sắt vùn vụt, người thống lĩnh đầu đội mũ tử kim, phóng khoáng anh tuấn, đó chính là Lã Bố đã bị bắt sống tại lầu Bạch Môn.

Viên Thiệu vẻ mặt khinh thường:

— Tào A Man, ngươi thật không biết xấu hổ, nói cái gì mà “dùng trí lực của thiên hạ, lấy đạo nghĩa mà chế ngự, chẳng gì là không thể”. Giờ phép tuyển quan chỉ cử người tài có thể làm được mọi chuyện không? Rốt cuộc vẫn phải bắt chước lối cũ của ta, thế mà còn vờ vĩnh, ngươi không biết xấu hổ nữa sao?

Lã Bố lửa hận xung thiên, lớn tiếng chất vấn:

— Xưa ngươi trách tội ta tráo trở, tàn bạo, bất nhân, mà sự gian trá, tráo trở, đồ sát sinh linh của ngươi há chẳng còn hơn ta gấp bội? Hôm nay không phanh thây ngươi thành vạn mảnh, sao có thể trút hết được nỗi hận trong lòng ta? - Nói xong, hắn múa cây phương thiên họa kích, mấy vạn đại quân cùng xông lên.

Tào Tháo quất ngựa tháo chạy, phía sau binh mã đuổi theo sát nút, rất có thể ông sẽ bị bắt. Đúng lúc này, ở phía đông lại xuất hiện một kỵ sĩ cưỡi trên lưng ngựa, mình mặc áo giáp, lưng khoác hồng bào, tay múa đại giáo, mặt mũi đen sì, nhưng mắt sắc như dao, thét lên một tiếng:

— Mạnh Đức chạy mau đi, để ta cản bọn chúng!

Tào Tháo vừa nhìn thấy liền thầm cảm kích, người cứu giá chính là Bào Tín, truy binh đang ở rất gần, ông chỉ kịp dặn dò một câu:

— Nhị Lang cẩn thận! - Rồi đổi ngựa tiếp tục tháo chạy.

Số mệnh vô thường, ác quỷ đuổi đến cùng, Tào Tháo đến quay lại nhìn cũng không dám, phục người trên lưng ngựa, sống chết bỏ chạy, mồ hôi đầm đìa. Ông cũng không biết mình đã chạy được bao xa và đang đi về hướng nào, cảnh vật xung quanh vô cùng kỳ lạ, lúc thì núi cao đội lên, sóng to gió lớn tựa như núi Kiệt Thạch, lúc lại bụi cát mù mịt, khe rãnh sâu hút giống như đất Quan Tây, lúc thì mênh mông nước chảy, sóng lớn trời chiếu tựa như sông Trường Giang, lúc lại kỳ thạch trập trùng, hang sâu rừng rậm giống như đường vào đất Thục… Dần dần, tiếng truy sát không còn nữa, nhưng Tào Tháo cũng hết đường chạy, bốn mặt đều là núi cao sừng sững, bụi gai chắn đường không thể đi tiếp.

Đây là đâu? Tào Tháo chầm chậm đưa mắt nhìn xung quanh, chợt phát hiện ra ở trên một ngọn núi mây mù che phủ có hai vị ẩn sĩ mặc áo trắng, nhưng vẫn lờ mờ nhận ra được diện mạo của họ, đó là Hứa Du và Lâu Khuê. Tào Tháo vội hỏi:

— Nhị vị hiền đệ, đây là đâu vậy? Muốn quay về Nghiệp Thành thì đi đường nào? - Nào ngờ hai người họ ngồi xếp bằng, không thèm quan tâm. Trong lòng Tào Tháo lo lắng, khổ sở cầu cứu:

— Xin nhị vị hiền đệ hãy niệm tình xưa, mà giúp ta vượt qua cơn hoạn nạn!

Hứa Du tựa như thân cây khô, không hề đáp lại, chỉ nhìn về phía trước niệm rằng:

— Có của cải mà không chịu chia cho người khác, thì không đáng để làm bằng hữu. - Còn Lâu Khuê ngồi bên cạnh không có biểu hiện gì, chỉ lẩm bẩm:

— Sống ở trên đời, phải tự mình làm lấy, sao lại chỉ biết trông theo kẻ khác?

Tào Tháo nhìn thấy cảnh này, cơn giận bốc lên, liền chửi rằng:

— Nhãi ranh vô tình! Hai người các ngươi đến giờ vẫn còn nói những lời phỉ báng ấy, hận ta giết… - Mới nói được một nửa, ông bỗng tỉnh ngộ: Hai người họ đều đã bị ta giết, sao có thể sống lại được? Đúng vậy, tất cả những người ta gặp hôm nay đều là vong hồn!

Ông hoảng sợ, đang không biết làm sao, bên tai bỗng vẳng lại tiếng bánh xe, quay đầu lại nhìn, bỗng có một chiếc xe ngựa tiến lại, người đánh xe ăn mặc chỉnh tề, còn có mười mấy nô bộc theo hầu hai bên, dường như là người phú quý. Tào Tháo lúng túng, không dám làm bộ làm tịch, chắp tay cung kính nói:

— Tại hạ bị lạc đường ở đây, xin tôn giá chỉ đường giúp đỡ.

Người đánh xe ghì dây cương, xoay người vén rèm xe, bên trong có một ông cụ ngồi xếp bằng, mặc áo trắng dài tay, mang phong thái của một tiên nhân, mắt phượng sáng ngời, chòm râu dưới cằm khá dài, vừa nhìn thấy Tào Tháo đã lắc đầu:

— Mạnh Đức sao lại lưu lạc đến đây?

— Là lão nhân gia sao! - Tào Tháo suýt rơi lệ - Đây không phải là Thái úy Kiều Huyền của tiên triều, ân trọng như núi đối với ông đây sao?

Kiều Huyền thở vắn than dài:

— Năm xưa lão hủ cho rằng ngươi là một kỳ tài, thường xuyên giáo huấn, dốc lòng vun vén, hy vọng ngươi có thể phục hưng Hán thất, làm bề tôi trị thế một đời. Nào ngờ sự việc khác hẳn với mong muốn, ngược lại còn tạo ra một kẻ gian hùng loạn thế. Ây dà… Bốn đời Tào thị nhà ngươi hưởng quốc ân, phong hầu bái tướng, thê vinh tử quý, triều Hán chỗ nào phụ ngươi chứ? Ngươi trên thì dối thiên tử, dưới thì ép quần thần, giết hại bậc trung lương, lạm sát người vô tội, muốn dời tất cả đỉnh rùa về nhà mình, sao còn mặt mũi đến gặp ta?

— Việc này, việc này… - Những lời này khiến lưng Tào Tháo túa mồ hôi, không biết giấu mặt vào đâu, ấp úng mãi mới phân bua được rằng, - Ân sư đã vất vả dạy dỗ, học trò nào dám cãi lại. Thế nhưng nhà Hán băng hoại, tam quang[11] không sáng, bách tính oán thán, sĩ nhân khác lòng, băng dày ba thước đâu phải do lạnh một ngày. Học trò nắm được đại quyền, đã cưỡi trên lưng cọp, thân tòng trong phủ doanh theo đó cũng muốn vin rồng núp phượng nên nhiều lần khuyến tiến. Nếu như học trò từ bỏ quyền bính, không những nhân tâm tan rã, thiên hạ lại loạn, mà e rằng Tào thị muốn cứu dân thường ở Trường An thôi cũng không thể làm được. Mong ân sư khoan thứ…

— Hừ! Đến lúc này rồi mà ngươi còn xảo biện, lánh nặng tìm nhẹ, đổ lỗi cho thế sự, lẽ nào chỉ có mình ngươi trong sạch? Ngươi tự hỏi lòng mình xem, lẽ nào chưa từng dòm ngó kim loan[12], chưa từng muốn làm hoàng đế? - Lời chất vấn này khiến Tào Tháo tỉnh ngộ - Tất nhiên có hàng ngàn cái cớ, nhưng không thể phủ nhận ông đã từng mơ làm hoàng đế.

Tào Tháo run lập cập, không còn lời nào chối cãi, lại nghe Kiều Huyền nói tiếp:

— Kẻ ngốc nhà ngươi vẫn chưa tỉnh ngộ ư? Ngươi xem kỹ ta là ai. - Khuôn mặt Kiều Huyền bỗng chốc thay đổi, hóa thành một vị lão nhân khác, mình mặc y phục vải thô, trên trán có nhiều nếp nhăn, thì ra là Lã Bá Sa, người đầu tiên bị chết oan kể từ khi ông cử binh!

— Lã bá phụ!… A Man, A Man sai rồi…

Hai mắt Lã Bá Sa ngấn lệ, nghiến răng nói:

— Ta có tình giao hữu với phụ thân ngươi, không màng vương pháp mà chứa chấp ngươi! Ngờ đâu một kẻ ngông cuồng như ngươi lại lấy oán báo ơn, không có tâm can, hại cả nhà ta từ nhỏ đến lớn đều phải mất mạng! Lão hủ chỉ hận không ăn thịt được nhà ngươi, lột da nhà ngươi, nay chạy đến đây rồi còn muốn sống nữa sao?

Người phu xe ở bên cạnh cũng thay hình đổi dạng, trắng trẻo nhẵn nhụi, mắt đẹp mi dài, là Vương tử Phục, bỗng nhiên quát:

— Tặc tử loạn quốc! Ngươi hãm hại tông thất nhà Hán ta, đào trộm lăng mộ tiên vương, chiếu đai ngọc ở đây, mau giết chết tên ngông cuồng này! - Nô bộc hai bên rút kiếm ra, đó là bọn Đổng Thừa, Cảnh Kỷ, Vi Hoảng, Cát Bản, Trần Cung, Biên Nhượng, Viên Trung…

Tào Tháo kinh hãi biến sắc, quay ngựa muốn lui, chợt có người đứng chặn phía trước - Đó là Viên Thuật đang ôm ngọc tỷ truyền quốc, cười lớn:

— Ha ha!… Tào Mạnh Đức ngươi luôn miệng mắng ta là ngụy đế, nhưng ta tốt xấu gì cũng bộc lộ dã tâm rõ ràng, không đánh mất uy phong của một đấng nam nhi. Còn ngươi già mồm che đậy, dám làm không dám nhận, còn mặt mũi nào cười ta? Chúng ta là rắn chuột cùng hang. Lại đây, lão huynh thành toàn cho đệ! - Viên Thuật ném ngọc tỷ kim tương ngọc lại, bay trúng vào người khiến ông đau điếng, ngã lăn quay.

Tào Tháo toàn thân lấm lem, lăn dưới nền đất, ngẩng đầu lên lại nhìn thấy hai người phụ nữ đầu tóc lòa xòa, người đầy vết máu. Phục hoàng hậu bị giam cầm mà chết, sắc mặt xanh xao, lưỡi đỏ thè ra dài hơn bốn tấc, cười khanh khách:

— Phục thị ta ở Đông Hải không tranh giành gì với đời, ngươi vì muốn đưa con gái mình lên làm hoàng hậu, mà nhẫn tâm hại chết hơn trăm nhân mạng nhà họ Phục ta, ngay cả hai hoàng nhi của ta cũng không bỏ qua. Trả lại mạng con ta! - Rồi đưa tay bóp cổ Tào Tháo.

Nữ nhân phía sau bụng hơi nhô lên, là người đang mang thai, chính là Đổng quý nhân, than khóc thảm thiết:

— Cẩu gian tặc, vì sao ngươi giết ta? Ngay cả đứa con ta đang mang cũng chết trong bụng mẹ … - Dứt lời liền lấy con dao cầm trong tay đâm vào bụng, rạch một đường, móc hài nhi đầm đìa máu trong bụng ra, ném về phía Tào Tháo.

— Cứu ta! Cứu ta! - Tào Tháo nhìn đứa bé đó đầu mọc sừng dài, ngón tay như móc câu, răng nanh sắc nhọn, cái miệng to như chậu máu lao về phía mình…

Khổng Quế đang ở ngoài nói chuyện với thân binh, chợt nghe bên trong liên tục kêu cứu, còn tưởng rằng có thích khách. Tất cả cùng vội vã xông vào, nhưng chỉ nhìn thấy Tào Tháo ngồi ngây ra dưới hiên nhà chính, lưng dựa vào khung cửa, hai mắt nhắm nghiền.

Khổng Quế thở phào, khẽ gọi:

— Đại vương, sao người lại ngủ ở đây? Cẩn thận lại sinh bệnh.

Tào Tháo lờ đờ mở mắt, mới biết đó là giấc mộng Nam Kha[13]. Giấc mộng này thật đáng sợ, khiến cho ông toàn thân ướt đẫm mồ hôi, thấm cả sang chiếc áo lông dày khoác bên ngoài, khiến nó dính chặt vào người, thật khó chịu. Ông run rẩy cởi dây áo, chiếc áo lông rơi xuống đất, mồ hôi thoát ra được, cảm giác dễ chịu hơn nhiều, rồi lại dựa vào khung cửa nhắm mắt mà thở.

Bọn Khổng Quế đưa mắt nhìn nhau - Đại vương tỉnh rồi hay vẫn chưa tỉnh? Theo lý mà nói, bọn họ phải chạy qua đỡ, nhưng ai cũng biết đại vương “hay giết người trong lúc ngủ mê”, tấm gương của Nghiêm Tuấn vẫn còn đó, ai dám tại gần?

Tào Tháo thở dốc hồi lâu mới ổn định được tâm tình, run rẩy đứng lên:

— Phụng Hiếu… À không, Quế nhi qua đây dìu ta.

— Vâng. - Khổng Quế lúc này mới dám tiến lại, nào ngờ chưa chạm được vào cánh tay của ông, bỗng một trận gió lạnh ào đến. Tào Tháo khựng lại, mắt liếc xéo kỳ dị, khóe miệng lệch sang bên trái, rồi cả người lảo đảo ngã xuống nền đất bụi…

Tiếng kêu bi ai

Đổng Chiêu thêm một lần khuyến tiến lại thêm một lần bị cự tuyệt, hơn nữa còn bị phái về Hứa Đô báo tin thắng trận. Có ai không biết đại quyền đều nằm trong tay Tào thị? Đây chẳng qua là chuyện hình thức, nên ông ta không nán lại mà từ Hứa Đô quay trở về ngay. Có điều ông ta không lường trước được rằng, chỉ trong năm ba ngày đi về ấy, Lạc Dương đã có không ít thay đổi.

Gần tám vạn binh mã thuộc các bộ vốn đồn trú ở Đô Đình, không ngờ Tào Tháo lại đi hạ lệnh di chuyển hết đến phía nam thành Lạc Dương. Đổng Chiêu ngu ngơ trở về phục mệnh, thiếu chút nữa không tìm thấy quân ngũ đâu, loanh quanh mấy vòng trong liên trại mới tìm được đại trại của trung quân, nhưng Tào Tháo lại không có ở đó, mọi việc trong trung quân đều do Tào Chân và Hạ Hầu Thượng tạm thời xử lý. Ông ta hỏi lý do dời quân, Tào Chân nói đại vương thấy ở trong quân nhàm chán, muốn đến thành Lạc Dương cho khuây khỏa, đồng thời hồi tưởng lại chuyện cũ, nên đã chuyển vào trong thành ở tạm, quan viên theo hầu cũng đi theo xử lý công chuyện, còn lệnh cho ba quân đóng ở bên ngoài hộ vệ.

Đổng Chiêu năm đó từng theo thiên tử về đông, đối với cố đô không gắn bó cho lắm, trong suy nghĩ của ông ta, Lạc Dương chỉ là một tòa thành hoang phế, Tào Tháo đang yên đang lành vào ở trong thành làm gì? Huống chi với sức khỏe hiện giờ của Tào Tháo, nếu muốn ở lại Lạc Dương thì phải nằm giường cũ trong hoàng cung, như vậy càng dễ nhiễm bệnh. Một đằng Tào Tháo sai người đi báo tin thắng trận cho thiên tử, đằng khác lại ở trong cung điện của hoàng thất, thực chẳng hợp đạo lý chút nào! Đổng Chiêu liên tục truy hỏi, nhưng bọn Tào Chân cũng không hiểu nội tình - Đã ba ngày nay chúng tướng không thấy mặt đại vương.

Đổng Chiêu thân mang trọng trách không dám chậm trễ, nhanh chóng ra khỏi doanh vào thành, nhưng lại bị binh lính giữ thành tra hỏi. Thì ra binh lính giữ thành đã được thay bằng hổ báo kỵ, quan viên ra vào đều phải xuất trình công văn, đến cả tướng tá các bộ cũng không được phép vào thành quấy rầy. Đổng Chiêu đi chuyến này là phục mệnh, cũng không xin được chiếu thư gì của thiên tử, nên bị chặn lại. Ông ta nhẫn nại giải thích mãi, may mà gặp được một viên tướng quen biết, lúc đó lính canh mới cho vào.

Đến điện Dương An càng thấy náo nhiệt. Quan viên theo quân và mạc phủ duyện thuộc đều chuyển vào đây. Tòa đại điện này năm xưa được dựng trên nền cũ của Nam cung để tạm làm nơi triều hội, ngoài chính điện trống trơn ra, ngay cả điện bên cũng chỉ có một hai gian. Quan viên Ngụy đình chuyển cả vào đây, còn mang theo một lượng lớn công văn thư tịch, nên căn bản không thể chứa nổi. Trong sân chăng đầy lán trại, mấy vị trọng thần tham dự việc quân cơ ở trong điện, ban ngày cùng nhau duyệt công văn, tối đến trải chăn nệm nằm đất, thực không ra thể thống gì.

Đổng Chiêu nhìn bên trái ngó bên phải, trông thấy Trưởng sử Trần Kiều đang ngồi ở góc điện, bên cạnh thư tín chất cao như núi, vội chạy qua hỏi:

— Rốt cuộc xảy ra chuyện gì vậy?

Ánh mắt Trần Kiều chợt hiện lên một tia lo lắng, nhưng rồi ngay lập tức được thu lại, chỉ nói:

— Cũng không có gì, sức khỏe đại vương không tốt, muốn ở trong thành vài ngày.

Đổng Chiêu là người thông minh, vừa nghe đã biết là bệnh tình không nhẹ, nhưng Trần Kiều không chịu nói, tức là đã có lệnh của đại vương không được truyền ra ngoài, bèn nói thẳng vào việc:

— Trần công biết rõ mà không nói, ta chỉ hỏi một câu, có thể cho ta gặp đại vương một lát được không?

Trần Kiều có vẻ khó xử, nghĩ mãi mới nói:

— Đại vương cùng với vương hậu và các vị phu nhân đang ở trong hậu điện Bắc cung, nếu ta không có việc gì gấp cũng không được vào. Ngài muốn yết kiến thì có thể thỉnh tấu, nhưng đại vương có chịu gặp hay không thì ta không dám nói chắc.

Đổng Chiêu liên tục chắp tay:

— Vậy xin đa tạ.

Thực ra Trần Kiều chỉ đi có một lúc, nhưng Đổng Chiêu nóng ruột nên tưởng như thời gian dài tựa một năm. Sự việc trái lại rất thuận lợi, đại vương nghe nói ông ta cầu kiến, lập tức cho gặp, còn phái một tiểu thái giám dẫn vào.

Do năm xưa thiên tử về đông không có chỗ nghỉ ngơi, Bắc cung mới được sửa lại, nhưng cũng chỉ có thể miễn cưỡng ở tạm, tường cung cũ nát cáu đen, những viên gạch xanh lát ở phục đạo bị cạy lên để vá vào tường, làm trơ nền đất bên dưới, nhiều năm không có người quét dọn nên đã mọc đầy cỏ dại. Đổng Chiêu bước theo thái giám, qua hai lần thị vệ kiểm tra, đi thẳng qua nghi môn chỉ còn hai cột trụ mới đến trước chính điện của Bắc cung.

Đây vốn là nơi ở của đế vương nhà Hán, nhưng giờ đổ nát thê lương, dần trở thành chỗ cho chim chóc côn trùng trú ngụ, cỏ hoang mọc ở chân tường cao ngang người. Đổng Chiêu cũng không rảnh rỗi mà nghĩ nhiều, vội nhấc vạt áo bước lên điện, nhìn trong tòa điện trống trải ấy có một hàng ghế bốn người ngồi - Hạ Hầu Đôn, Hứa Chử, Khổng Quế và Điển Mãn. Bốn người nét mặt bơ phờ, dáng vẻ uể oải, mấy ngày nay bọn họ liên tục phải chầu chực ở đây, xem ra những hộ vệ tâm phúc nhất của Ngụy Vương cũng đã rất mệt mỏi.

Sắc mặt của Hạ Hầu Đôn rất khó coi, thấy Đổng Chiêu đi đến, chỉ gật đầu:

— Đại vương ở hậu điện nghỉ ngơi, ngài vào đi. - Đổng Chiêu cũng không khách khí, vội đi vào phía sau.

Đại điện của hoàng gia đều nằm ở hướng bắc quay mặt về hướng nam, có đặt ngự tọa, bình phong, nhưng nay tất cả những thứ ấy đều không còn nữa, cửa hậu thất lộ ra ngoài, chỉ treo một tấm màn màu đen để che cảnh bên trong. Bước đến đây, Đổng Chiêu không dám đường đột nữa, cất cao giọng bẩm tấu:

— Thần Gián nghị đại phu Đổng Chiêu cầu kiến. - Lời nói vừa dứt, màn che được vén lên, Biện vương hậu dẫn theo các nữ quyến như Hoàn phu nhân, Tống cơ đi ra, Đổng Chiêu vội làm đại lễ tham kiến, nhưng bọn họ không có tâm trí nào mà để ý, chỉ quay đi che mặt khóc.

Người đưa tay vén màn che không phải là hoạn quan, mà là một sĩ nhân dáng người không cao, tóc đốm bạc. Đổng Chiêu vừa nhìn thấy cũng vội vàng thi lễ - Chính là quốc cữu Biện Bỉnh.

Biện Bỉnh nét mặt u ám, nói:

— Ngài vào đi. Nói nhỏ một chút, đại vương vừa mới tỉnh lại. - Đổng Chiêu cụp mày bước vào, định thần nhìn rõ tình hình bên trong. Hậu điện không rộng lắm mà đốt đến tận sáu chậu than, ấm hơn bên ngoài rất nhiều; Tào Tháo nằm ngửa trên giường, không rõ thần sắc; Lý Đương Chi đang quỳ bên giường chẩn bệnh cho ông.

Lúc này Tào Tháo mới mở miệng:

— Công Nhân tới rồi à… Quả nhân có lời muốn nói với khanh, mau đỡ ta ngồi dậy. - Giọng thiếu hơi, rất yếu ớt, mà dường như nói còn không rõ.

Nói là ngồi dậy, nhưng lúc này Tào Tháo đã không thể rời khỏi chiếc giường được nữa, nửa người bên trái hoàn toàn bị liệt. Lý Đương Chi và Biện Bỉnh một người ôm eo, một người nhét gối tựa mới giúp ông ngồi lên được. Đổng Chiêu đã sớm đoán ra bệnh tình của ông không hề nhẹ, nhưng khi ngẩng mặt lên nhìn vẫn không khỏi sợ hãi - Tào Tháo đầu chít khăn, mặt trắng bệch như không còn giọt máu, đáng sợ nhất là mắt của ông không như bình thường mà bị lệch sang bên trái, khóe miệng bên trái cũng gần như bị kéo lệch xuống dưới!

— Đại vương! Người, người… - Đổng Chiêu phục xuống đất, nước mắt lã chã rơi. Từ khi Tào Tháo xưng vương vào năm Kiến An thứ hai mươi mốt, nhật thực và hạn hán xảy ra, ôn dịch hoành hành, Nghiêm Tài tạo phản, Hứa Đô tạo phản, Ô Hoàn tạo phản, Uyển Thành tạo phản, Hán Trung bại trận, nước ngập bảy đạo quân, Ngụy Phúng tác loạn, suốt bốn năm không có lấy một chuyện tốt đẹp. Đến nay có thể thấy được những ngày sóng yên bể lặng thì đại vương lại trở bệnh nặng. Ông trời sao lại đùa cợt con người như vậy?

Biện Bỉnh vội khuyên giải:

— Đổng công chớ khóc, đại vương thấy ngài như thế này trong lòng càng không vui. - Lý Đương Chi chỉ là một y lại, không dám nghe bọn họ nói chuyện, liền lui ra ngoài.

Tào Tháo tuy mắt miệng bị méo, không cử động được, nhưng thần trí còn minh mẫn, nhẹ nhàng nói:

— Bộ dạng này của quả nhân khiến khanh sợ rồi phải không?

Đổng Chiêu cố gạt nước mắt, bò đến trước mặt ông:

— Thần không được diện kiến đại vương, trong lòng luôn cảm thấy không yên!

— Ây dà… Quả nhân sắp không trụ nổi nữa rồi.

Đổng Chiêu chính tai nghe con người mạnh mẽ tung hoành một đời này nói rằng “không trụ nổi nữa rồi”, ngỡ như đang ở trong giấc mộng, vội khấu đầu nói:

— Đường lên trời gian nan nối tiếp gian nan, người muốn thành tiên còn phải trải qua nhiều khổ nạn. Đại vương phúc lớn hơn người thường, đây chẳng qua là chút bệnh nhỏ, dốc tâm điều dưỡng nhất định sẽ khỏi thôi ạ.

— Không cần phải nói những lời an ủi nữa, quả nhân biết rất rõ… - Tào Tháo khó thở, môi miệng lại không khép lại được, nên nói không rõ tiếng. Lần này đến Lý Đương Chi cũng không nắm được bệnh tình, e là ông không còn trụ được mấy ngày nữa.

Biện Bỉnh thấy ông nói chuyện khó khăn, thay ông kể lại sự tình: Thì ra hôm trước Tào Tháo ở trong thành đột nhiên bị trúng gió, Khổng Quế gọi nhưng ông không tỉnh, cuống hết cả chân tay, chỉ biết sai người mau chóng quay về doanh trại triệu Lý Đương Chi và mấy vị trọng thần như Hạ Hầu Đôn đến. Lý Đương Chi châm vài mũi kim thì ông tỉnh lại, nhưng mắt miệng bị méo, nửa người bị liệt, bắt mạch lại càng lo sợ hơn, đó là điềm báo cho đại hạn sắp đến! Vương giá ở bên ngoài, binh mã tập trung lại một chỗ, thái tử lại không có ở đây, chuyện này nếu như truyền ra ngoài lòng quân sẽ dao động, huống hồ trong doanh còn có sứ giả Giang Đông, tuyệt đối không thể để lộ bệnh tình ra ngoài được. Theo kiến nghị của Hạ Hầu Đôn và Trần Kiều, Tào Tháo cố lấy tinh thần truyền lệnh cho các hậu phi, quan viên cùng chuyển vào trong thành, phong tỏa tin tức với bên ngoài; các bộ binh mã dời trại đến gần thành, do chư tướng trung quân thay mặt cai quản; lại tấn phong Tôn Quyền làm Phiêu Kỵ Tướng quân, lĩnh chức Kinh Châu mục, Nam Xương hầu, lệnh cho sứ giả Lương Ngụ lập tức mang ấn tín về Giang Đông phục mệnh. Sắp xếp xong đâu đấy, Tào Tháo lại lịm đi, được thị vệ đưa vào Bắc cung.

Đổng Chiêu nghe vậy, tim đập chân run, hoảng hốt nói:

— Nay xa giá ở ngoài, lòng quân mong ngóng, bệnh tình của đại vương tất nhiên có thể che giấu được một thời gian, nhưng vạn nhất có gì sơ sảy thì phải xử lý thế nào? - Lời này uyển chuyển nhưng ý tứ rất rõ ràng: Người đã tính lo hậu sự thế nào chưa?

Tào Tháo chậm rãi nói:

— Tối qua ta đã phái người bẩm lại Hứa Đô, và triệu thái tử đến… Sớm muộn gì cũng không giấu được Tôn Quyền, sáng sớm nay ta đã phái Trương Liêu dẫn quân đóng tại Trần Quận, đề phòng bất trắc, giờ hắn và Lưu Bị đang bất hòa, chắc cũng không dám gây chuyện vào lúc này… - Tào Tháo chỉ nói được vài câu, nước dãi theo khóe miệng chảy xuống, Biện Bỉnh vội vàng lau cho ông. Tào Tháo lấy lại sức, rồi lại nói, - Tây Lương gần đây có động tĩnh lạ, người Hồ di cư và thế gia vọng tộc mâu thuẫn với nhau, may có bọn Tào Hồng, Trương Cáp ở đó, có lẽ sẽ không xảy ra đại loạn. Còn binh mã đồn trú ở đây… Ây dà! Đại chiến vừa kết thúc, dân chúng mỏi mệt, mà mới vào đầu mùa xuân lương thực các nơi cũng chưa trù liệu được, không tiện cho bọn họ giải tán. Ta giờ lại thế này, cũng không có cách nào dẫn bọn họ về Hà Bắc được, chỉ có thể duy trì hiện trạng… Nếu như quả nhân không trụ được nữa thì gọi Tử Hoàn đến, e là phải phiền các khanh vỗ về quân tâm… Hai kẻ thù lớn tại phía bắc Tào Ngụy là Ngô, Thục ở nơi xa xôi hẻo lánh, để lâu tất thành đại nghiệp, nhưng dù Tôn, Lưu có năng thần dũng tướng cũng không thể bình định nước ta trong một sớm một chiều, phải nhớ rằng: mặt đông giữ Hợp Phì, mặt tây giữ Trần Thương, ở giữa giữ Tương, Phàn, ba nơi này không bị phá vỡ thì có thể đứng vững, không bại. - Xem ra, Tào Tháo đã suy nghĩ rất lâu, không những chuẩn bị hết cho hậu sự mà còn phỏng đoán rất rõ về đại thế của thiên hạ sau này.

Việc đã đến nước này, Đổng Chiêu cũng không biết làm sao nữa, chỉ có thể nói những lời tốt lành:

— Đại vương không cần lo lắng, nước có hiền thần, quân có dũng tướng, tất cả đều sẽ yên ổn.

Tào Tháo cố lắc đầu nói:

— Bậc trí giả lo ngàn việc cũng có một việc lầm. Khanh luôn suy nghĩ cẩn thận, hãy thay quả nhân nghĩ xem còn có việc gì chưa ổn thỏa.

Đổng Chiêu cúi đầu suy tư, chợt nhớ ra một việc quan trọng:

— Có câu này vốn không phải điều bề tôi nên nói, nhưng đại vương đã hỏi, thần đâu dám không trả lời…

— Nói đi.

— Yên Lăng hầu là ái tử của đại vương, kiêu dũng hiếu chiến, tâm chí mạnh mẽ, hiện cũng đang đóng quân ở Trường An, nếu như… nếu như… - Đổng Chiêu cuối cùng cũng không dám nói trắng ra: Nếu như đại vương qua đời, người con thứ hai này của người không phục huynh trưởng, chiếm giữ binh lực Trường An, thậm chí còn dẫn quân đến đoạt ngôi trước, vậy phải làm thế nào?

Việc nhà còn khó hơn nhiều so với việc nước, Tào Tháo cơ trí như vậy, nhưng nếu sắp xếp không tốt mối quan hệ giữa các nhi tử, thì dù tính toán thế nào cũng thất thủ. Ẩn họa từ Tào Chương kỳ thực do bản thân ông gây ra, nghe Đổng Chiêu nhắc nhở, trong lòng ông vô cùng đau đớn, ông vốn tiếc cái dũng của Tào Chương, nhưng để bảo toàn đại cục cũng đành phải vứt bỏ:

— Lập tức phái người đi Trường An truyền lệnh… Tử Văn chuyển giao binh quyền cho Đỗ Tập, rồi đến Lạc Dương đợi lệnh.

Đổng Chiêu nghĩ đi nghĩ lại vẫn cảm thấy không ổn:

— Thần xin mạo phạm nói bừa. Thái tử mau chóng đến được đây là tốt nhất, ngộ nhỡ sự việc có gì sơ sảy, chi bằng… - Ông lết lên hai bước, ghé miệng vào tai Tào Tháo, sẽ nói kế sách ứng phó.

— Ừ, vẫn là khanh suy nghĩ chu đáo. - Tào Tháo gật đầu đồng ý, - Vậy khanh quay về Hứa Đô đi.

Biện Bỉnh ở bên cạnh nghe được, vô cùng kinh ngạc - Đổng Chiêu mới từ Hứa Đô về, sao lại phải đi Hứa Đô nữa? Nhưng do hai người họ nói riêng với nhau, ông ta cũng không dám hỏi.

Tất cả đều được sắp xếp ổn thỏa rồi, Tào Tháo dường như sức lực đã kiệt, khó nhọc thở một hơi, nhìn Đổng Chiêu vẻ mặt đầy lo lắng, không khỏi thương xót:

— Công Nhân, quả nhân có lỗi với ông…

Đổng Chiêu ngẩn người, cố nở nụ cười nói:

— Thần gặp được minh chủ đã là may mắn trong đời, đại vương sao lại nói như vậy? - Thực ra trong lòng ông hiểu rõ ý của Tào Tháo. Tuân Úc, Mao Giới đều đã chết, Trình Dục cáo lão lui về ở ẩn, luận về tư cách, kinh lịch không có ai vượt qua được Đổng Chiêu. Nhưng đến nay ông ta vẫn không có duyên với ngôi công khanh, chỉ là một Gián nghị đại phu không có thực quyền, lại thường xuyên ở Hứa Đô cách xa triều Ngụy. Tào Tháo đối với ông đúng là hơi bạc.

— Không phải quả nhân cố ý đối đãi bạc bẽo với khanh, mà ta thực sự có ẩn tình khó nói. - Tào Tháo thở dài nói, - Công lao của khanh, quả nhân đều nhớ hết, khanh thay ta thuyết phục Trương Dương, tán tụng thiên tử; trong trận Hà Nội, đơn thương độc mã vào thành khuyên hàng tướng địch; khi viễn chinh U Châu đã sửa đường vận lương; và còn giúp ta xưng công, xưng vương… Nỗi khổ tâm của khanh, ta cũng hiểu được, hết lần này lần khác khanh khuyến tiến, người ngoài không hiểu, lại cho rằng khanh xu nịnh… Kỳ thực, người trong thiên hạ phải lo chuyện của thiên hạ, người muốn thế đạo hỗn loạn sẽ luôn làm khuấy đảo càn khôn, còn kẻ muốn thế đạo an định cũng phải dựng một chủ nhân mạnh mẽ, mới có thể cai quản quan dân, sớm dập tắt chiến loạn… Khanh không phải người xu nịnh, mà là người chỉ biết đến cái trước mắt, muốn thiên hạ sớm ngày thống nhất… - Tào Tháo khẳng định những chuyện mà Đổng Chiêu đã làm, nhưng cũng là thêm một bước khẳng định bản thân mình.

Đổng Chiêu bị ông chọc đúng vào vết thương lòng, nước mắt lại trào ra, bạo gan nắm lấy tay ông:

— Đại vương chớ nói nữa, thần hiểu nỗi khổ trong lòng người…

Tào Tháo vẫn muốn nói hết những gì mình muốn nói:

— Ta không cho khanh làm tới bậc công khanh, một là để tránh những lời đàm tiếu của người đời, hai là cũng muốn khanh chú tâm rèn luyện sức khỏe, để còn dốc sức cho hậu thế. Khanh nhất định phải bảo trọng, sau này gắng phò tá cho tử tôn của ta…

— Thần hiểu rồi, thần hiểu hết rồi… - Đổng Chiêu mím chặt môi, nhưng vẫn không ngăn được dòng nước mắt rơi lã chã. Biện Bỉnh chỉ biết khuyên ngăn, an ủi.

— Đi đi. - Tào Tháo ầng ậng nước mắt, - Thiên hạ không có bữa tiệc nào không tàn, việc ở Hứa Đô phải phó thác cho khanh rồi.

Đổng Chiêu lảo đảo đứng dậy, lau nước mắt lui xuống gần cửa, nhưng không kìm được lại quay đầu nhìn Tào Tháo lần nữa. Ông hiểu rằng đây chính là lần gặp mặt cuối, từ nay trở về sau sinh tử cách biệt, nên lại vén vạt áo quỳ xuống:

— Thần xin phục lạy đại vương một lễ nữa. - Nói rồi dập đầu bái lạy. Ông dập đầu ba cái sát đất, hơi đứng dậy rồi lại quỳ xuống, cứ như vậy thực hiện đại lễ ba quỳ chín dập đầu với Tào Tháo, chắp tay nói, - Thần từ biệt vạn tuế! - Tiếng “vạn tuế” vừa vang lại vừa trầm. Đời này Tào Tháo không có duyên làm bậc chí tôn, có thể lấy tiếng gọi riêng tư ấy làm niềm an ủi cuối cùng vậy…

Đổng Chiêu gạt nước mắt mà đi, Tào Tháo thương cảm xót xa, ngồi thất thần một lúc lâu, mới thều thào nói:

— A Bỉnh, khanh còn ở đó không? Quả nhân sao không nhìn thấy ngươi?

Biện Bỉnh cười nhăn nhó:

— Mắt đại vương nhìn lệch sang bên đấy, sao trông thấy thần được?

— Khà khà… - Tào Tháo tự cười nhạo mình hai tiếng.

Biện Bỉnh vòng sang bên trái, tiếp chuyện với ông:

— Ây dà! Đại vương cả đời có thành kiến với thần, thần cũng sớm quen rồi. - Câu này tuy là nói đùa, nhưng trong đó ẩn chứa lời trách móc. Biện Bỉnh là quốc cữu, lại là người có công lớn với Tào doanh, nhưng đến nay vẫn chỉ làm chức Biệt bộ tư mã nhỏ bé, tước vị cũng rất thấp. Tào Tháo xem gương nhà Hán vì ngoại thích mà suy vong, cho nên cố ý áp chế họ Biện, khiến ông ta uổng phí tài trí, không thể thi triển, giờ cũng sắp sáu mươi tuổi, đời này còn có hy vọng gì nữa? Nhưng ông ta vẫn không thể căm hận, bởi dù sao Tào Tháo cũng là tỷ phu của ông ta, ngoài miệng thì oán giận chứ vẫn hầu hạ rất ân cần, đấm bóp cho Tào Tháo.

Tào Tháo ngần ngại nhìn cữu gia, bỗng phát hiện ra trong tay áo của ông ta có một vật đội lên:

— Khanh giấu cái gì vậy?

— Ôi chao! Nhãn lực của người vẫn còn tinh tường thế này, thần phục rồi. - Nói xong ông ta móc từ trong tay áo ra một ống sáo trúc màu đen. Tỷ đệ Biện thị xuất thân là người hát rong, thuở nhỏ Biện Bỉnh dựa vào việc thổi sáo mà mưu sinh.

— Khanh có thể thổi sáo không?

Biện Bỉnh buồn bã nói:

— Thần đã nhiều năm không diễn tấu nữa, mang nó bên mình chỉ để chơi thôi. Làm người không được quên gốc, chí ít nó cũng là người bạn cũ theo thần kiếm kế sinh nhai.

— Ây dà. - Tào Tháo cười gượng, - Nghe khanh nói quả nhân thấy thật hổ thẹn, xem ra đời này ta đã lo hão rồi, khanh cơ bản không thể trở thành người như bọn Đậu Hiến, Lương Ký… Thổi một khúc sáo đi, ta muốn nghe.

— Đại vương đã muốn nghe, thần sẽ suy nghĩ xem nên thổi khúc gì. - Biện Bỉnh chau mày tư lự, nhớ lại những khúc nhạc mà mình đã từng diễn tấu, mãi một lâu sau, ông ta mới bắt đầu thổi. Tiếng sáo trong trẻo vui tai, kỹ thuật thổi sáo cũng điêu luyện, dường như có thể nhìn thấy thần thái năm xưa.

Tào Tháo nhắm mắt lắng nghe, thấy người dễ chịu hơn đôi chút, tiếng sáo du dương tựa như tiếng suối chảy rót vào tâm tưởng của ông, mỗi đoạn khởi, thừa, chuyển, hợp đều làm ông thư thái như được trở về thời trẻ. Hồi đó bầu trời trong vắt, cây xanh tỏa bóng, lời phụ thân nói mãi mãi là đúng, lời trong sách nói mãi mãi là thật, bằng hữu thân thiết gắn bó, Tào A Man thật tiêu sái! Hồi đó không có quân binh, cũng không có chiến tranh, càng không có nước Tào Ngụy, mà chỉ có một thiếu niên đơn thuần…

— Khụ, khụ, khụ… - Tiếng sáo du dương, véo von bỗng ngưng lại, Biện Bỉnh ho sặc sụa.

— Sao thế? - Tào Tháo từ từ mở mắt.

Biện Bỉnh ôm ngực, thở hổn hển:

— Thần già rồi, không thổi được nữa.

— Ôi… Cái miệng của khanh năm đó khôn ngoan lanh lợi, biết thổi sáo, lại giỏi ăn nói, mắng người cũng rất ghê gớm.

— Đại vương còn lấy thần ra đùa nữa à? - Biện Bỉnh vừa nói vừa cất cây sáo vào trong tay áo, lau nước dãi chảy ra ở khóe miệng Tào Tháo.

— Không phải là cười nhạo khanh. - Tào Tháo liếc mắt về phía ông ta, - Đạo trị nước quý ở thuật dùng người, con người trên thế gian muôn hình đủ loại, nhưng đều có chỗ hữu dụng. Sáo khanh không thổi được nữa, nhưng mắng người thì chắc vẫn làm được chứ?

Biện Bỉnh nghệt mặt ra:

— Đại vương nói vậy là có ý gì?

Tào Tháo mệt mỏi nhắm hai mắt lại, định thần lại một lúc mới ngập ngừng nói:

— Ta muốn khanh mắng một người.

— Sao ạ? - Biện Bỉnh không hiểu ra làm sao.

— Ta cho khanh mắng thậm tệ một người.

— Mắng ai?

— Việc này làm sau khi quả nhân qua đời, nên phải tuyệt đối giữ bí mật. Nếu như ta vượt qua được mấy ngày tới, tất cả đều yên ổn, khanh có thể quên chuyện này đi. Nhưng nếu như ta thực sự không trụ được, khanh … - Tào Tháo nhắm chặt hai mắt, ông đang phải cố lấy sức, giọng nói càng lúc càng không rõ ràng.

Biện Bỉnh nghé sát tai lại gần miệng của ông để nghe, lúc này mới biết tỷ phu muốn mình làm gì, mắt ông nhìn trân trân không nói nên lời:

— Thần, thần sao có thể…

Tào Tháo không cho ông ta thoái thác, lầm rầm nói:

— Việc này là vì sự yên ổn của Tào thị, lớn hơn là vì sự yên ổn của thiên hạ. Huống chi chỉ có khanh làm được. Khanh không phải hận ta không thăng chức cho mình sao, việc này nếu thành sẽ giúp khanh trở nên phú quý vô lo, tử tôn cũng được nở mày… - Về cuối, giọng nói của ông nhỏ đến mức không thể nghe được gì nữa, ông dần dần chìm vào vô thức.

Bệnh tình tiến triển nhanh hơn dự đoán, từ lúc Tào Tháo gặp Đổng Chiêu, tính mệnh của ông đã đến thời khắc cuối cùng.

Chia hương bán giày

Canh ba Tào Tháo tỉnh lại, cảm thấy khó chịu không nói nên lời, trời đất quay cuồng, hoa mắt chóng mặt, người lúc nóng lúc lạnh, toàn thân tê liệt, chân tay dường như không thể cử động theo ý muốn, bụng cũng trướng lên. Vương hậu và thái giám hầu ông đi tiểu, nhưng không rặn ra được gì, nằm xuống lưng eo đau mỏi, châm cứu cũng không có hiệu quả gì. Cứ vật vã như vậy đến canh năm trời sáng, sắc mặt của ông đã trắng bệch, cả người lạnh toát, hít thở khó nhọc, mở mắt nhìn mọi vật đều thấy lờ mờ, nói chuyện cũng càng lúc càng không rõ tiếng. Người nhà bếp mang cháo lên, Hoàn phu nhân tự tay đút cho ông, nhưng dù cố gắng đến toát mồ hôi, ông cũng không nuốt xuống được, cháo lại chảy ra ngoài theo khóe miệng bị méo.

Lý Đương Chi phục xuống thỉnh tội. Cháo không thể nuốt, thuốc uống cũng không có tác dụng, đến nước này chớ nói là ông, mà Hoa Đà tái thế cũng chẳng thể cứu được nữa!

Đám nữ quyến như Hoàn thị, Doãn thị không kìm được khóc lóc nức nở, rốt cuộc chỉ có mình Biện vương hậu biết nghĩ cho đại cục, vội cho gọi bọn Hứa Chử, Khổng Quế vào, khuân cả người Tào Tháo lẫn giường ra tiền điện, truyền chư thần theo quân đến nhận di lệnh. Quần thần ở trong điện Dương An lúc nào cũng đứng ngồi không yên, người bên trong và người bên ngoài hậu điện không dám nhiều lời, cứ người nào biết việc người ấy, nhưng trong lòng đều ngầm hiểu, đại hạn của chúa thượng tám phần nằm trong mấy ngày này. Vì vậy, tất cả mọi người đều mặc sẵn quan phục đi ngủ, đến khi sự việc đột ngột xảy ra vào mờ sáng, họ đều áo mũ chỉnh tề mà đi. Đứng đầu là Vệ Tướng quân Tào Du, tiếp đến Trưởng sử Trần Kiều, Thị trung Tân Tỵ, Gián nghị đại phu Giả Quỳ, Thượng thư Hoàn Giai, Trần Quần, Nghị lang Triệu Nghiễm, Thái thú Ngụy Quận Từ Tuyên, Hoàng môn thị lang Đinh Dực, rồi cả bọn Tư Mã Ý, Lưu Triệu… tất cả đều quỳ trước giường - Đến lúc này không ai nhiều lời, bởi nói những điều tốt lành cũng không có ý nghĩa gì nữa, Bí thư lang Lưu Phóng trải giấy mài mực, Tôn Tư cầm bút chép thay, chúng nhân im lặng chờ di ngôn của Tào Tháo.

Tào Tháo dựa vào gối, hơi thở đứt quãng, mọi thứ trước mắt đều trở nên lờ mờ, chỉ biết các thần tử đều đến cả, nhưng không nhìn rõ được mặt của họ, tai chỉ nghe thấy tiếng khóc của thê thiếp. Ông tỏ ý muốn nhấc cánh tay phải lên theo thói quen, Biện vương hậu vừa nhìn thấy cảnh này vội vàng nắm lấy tay ông, nuốt nước mắt nghẹn ngào nói:

— Mọi người đều đến cả rồi, đại vương có gì muốn dặn dò?

Thần trí Tào Tháo có phần mơ hồ, nhưng ông đã tung hoành một đời, đến thời khắc cuối cũng phải tỏ ra có khí phách, cố nói:

— Thiên hạ không có ai không phải ra đi, đó là lẽ thường… - Thế nhưng, nữ quyến nghe thấy lời này lại càng thêm đau buồn. Biện vương hậu là mẫu nghi một nước, không lo đến tương lai, còn nữ nhân khác, nhất là những cơ thiếp chưa có con cái thì ngày tháng sau này biết trông vào ai?

Những nữ nhân đó đều được ông sủng ái, ít nhất bản thân ông cũng từng yêu thương họ thật lòng, nên không nỡ rời xa bọn họ, cũng như việc ông vô cùng coi trọng giang sơn mà mình tự tay gây dựng:

— Các ngươi chớ khóc nữa… Sau khi quả nhân chết, hãy táng ta ở ngọn đồi phía tây Nghiệp Thành, các ngươi có thể đứng trên Đồng Tước đài, từ đó ngoảnh mặt về mé tây sẽ thấy ta… Nước nhà mới lập, kho phủ chưa dư dả, không được phô trương hưởng lạc… Tất cả vật phẩm cùng với lụa là mà ta được thiên tử ban thưởng lúc còn sống… đều để ở trong kho, đủ cho các ngươi dùng đến hết đời…

Nói đến đây, Tào Tháo khó thở hơn, trong đầu ông hiện lên hình ảnh Đinh thị. Bà tuy không đẹp, nhưng tiết kiệm và chăm chỉ, thân là phu nhân của quan tể phụ mà hằng ngày vẫn dệt vải thêu thùa, chưa từng dùng đến hương phấn. Biện thị cũng học theo những đức tính ấy của bà, vì vậy sau này Tào Tháo truyền lệnh trong cung không được xông hương gây lãng phí. Nghĩ đến những điều này, ông ngơ ngẩn nói:

— Trong Băng Tỉnh đài còn rất nhiều hương phấn, trước đây không cho các ngươi dùng, sau khi ta chết các ngươi có thể chia nhau… Từ nhà cho đến nước đều phải cần kiệm, các ngươi có thể học dệt vải đan giày, bán đi để có thêm tiền chi dùng, không được phiền đến vương hậu…

Lúc lâm chung, Tào Tháo bịn rịn thê thiếp, dặn dò bọn họ chia hương bán giày, ở cương vị một quân vương, ông vẫn được coi là nam nhân có tình có nghĩa, nhưng quần thần đều cảm thấy lo lắng, sốt ruột. Vào khoảnh khắc quan trọng thế này, có bao nhiêu việc lớn cần ông xác nhận, thế mà còn dài dòng với nữ nhân, không phải đang rất cấp bách sao? Tuy vậy, mọi người không dám giục, chỉ có thể đợi ông nói hết. Tôn Tư, Lưu Phóng chép di lệnh, đã túa mồ hôi - Mỗi câu mỗi từ Tào Tháo nói lúc này đều phải chép lại, có điều văn chương kiểu cách coi trọng hình thức, những chuyện vụn vặt không thể xếp trước việc quân chính hệ trọng của đất nước được. Hai người chỉ có thể dừng bút mà đợi, thầm ghi nhớ ở trong đầu trước.

Hạ Hầu Đôn quỳ bên giường, nhìn ánh mắt của Tào Tháo lờ đờ, miệng ú a ú ớ nhưng vẫn muốn tự mình dặn dò việc nhà, thậm chí còn nhắc đến cả chuyện quần áo, màn trướng, nếu cứ làm lỡ thời gian như thế, liệu có kịp dặn dò phó thác điều gì cho quần thần không? Hạ Hầu Đôn thực sự không kiềm chế được nữa, cúi xuống bên tai ông, ngắt lời:

— Đại vương, các vị đại thần đều đang ở đây, đợi người căn dặn.

Câu nói ấy như thức tỉnh Tào Tháo, ông cố gắng nhìn về phía quần thần, trước mắt chỉ là một đống lộn xộn, dường như vạn vật trong trời đất đều đang xoay tròn, ông chỉ có thể nói với quần thần:

— Ta chấp pháp trong quân rất nghiêm, sau này các khanh phải theo phép tắc, không được làm trái, còn những sai lầm, nóng giận của ta thì chớ học theo… Thiên hạ chưa yên, phải giản tiện mọi việc, coi trọng thực tế, không được tuân theo chế độ xưa… - ông chỉ nói được hai câu rồi bỗng cảm thấy môi tê dại, lưỡi mềm oặt, không thể thở được, nói năng vô cùng khó khăn, - Ta lo lắng ong đầu, tự kéo vạt áo, bái tế đợi… - Những lời phía sau rời rạc, không thể luận ra được.

Quần thần không hiểu rõ, lo đến túa mồ hôi, đưa mắt nhìn nhau, Lý Đương Chi vội tiến lại gần, vuốt nhẹ ngực ông, nhưng vẫn không nói xuôi được. Đang lúc rối lên, Khổng Quế lại nói chen vào:

— Đại vương hình như nói “Ta vì có bệnh đau đầu, nên đã chít khăn từ trước, khi nhập liệm phải thay mũ miện đại phục.”

Mọi người ngạc nhiên, nhưng nhìn ánh mắt của Tào Tháo giống như là khẳng định - Khổng Quế theo hầu Tào Tháo nhiều năm, sớm đã thuộc làu những lời nói, thói quen của ông!

Lúc này quần thần không cần biết Khổng Quế là người như thế nào, vội đẩy hắn đến bên giường, dịch lại lời của Tào Tháo. Miệng Tào Tháo vốn đã bị méo, nói không rõ tiếng, giờ lại thêm khó thở, nên chỉ khẽ mấp máy môi. Khổng Quế gần như áp sát tai vào miệng ông:

— Đại vương nói “Bốn bể chưa định, phải bạc táng đúng như mệnh lệnh trước đây…

— Chép lại đi! Mau chép lại đi! - Tân Tỵ giục Tôn Tư ghi lại.

Khổng Quế nghiêng đầu, cố lắng tai nghe, lại nói:

— Sau khi hạ táng, tông thất và trăm quan lập tức cởi bỏ tang phục… Binh mã đồn trú các nơi không được rời khỏi vị trí đóng quân, còn nữa, còn nữa… Thần cũng không nghe rõ nữa, đại vương nói to lên chút…

Môi của Tào Tháo vẫn mấp máy, nhưng không thốt ra được một từ nào, cả thở cũng không ra hơi, như thể có một bàn tay vô hình bóp lấy yết hầu của ông. Ông không nghe rõ lời bản thân mình nói, cũng không nghe rõ Khổng Quế nói cái gì, đến tiếng khóc của cơ thiếp cũng không nghe thấy nữa, thế giới xung quanh dường như biến thành không gian im ắng, trong lòng ông ngoài nỗi lo lắng ra thì phần nhiều là nỗi sợ hãi … Ông tưởng rằng mình đã nghĩ thông, tưởng rằng mình có thể thản nhiên đối mặt với cái chết, nhưng đến lúc cận kề với cái chết, ông mới nhận ra bản thân mình đã lầm. Ông vẫn còn rất nhiều lời muốn nói, rất nhiều việc không nỡ từ bỏ, yêu cũng được mà hận cũng được, ông vẫn còn lưu luyến thế gian này. Ông chưa muốn chết.

Nhưng vào khoảnh khắc này, bản thân ông không thể làm được gì nữa, dần dần con ngươi cũng không thể chuyển động được, ánh mắt liếc xéo qua búi tóc của Khổng Quế, chỉ lờ mờ trông thấy ở góc giường đặt bát cháo mà ông còn chưa ăn. Dân dĩ thực vi thiên[14], người muốn sống thì phải ăn, ngay từ lúc mới sinh ra đã phải bú những giọt sữa đầu tiên mới nối dài được sự sống. Dù con người ta sống như thế nào, gặp khó khăn ra sao, chỉ cần no bụng là có thể tiếp tục sống. Tào Tháo đã thở không ra hơi, nhưng bản năng sống dường như mách bảo ông rằng, chỉ có ăn mới có thể sống tiếp.

Có lẽ, trận chiến khó khăn nhất trong cuộc đời Tào Tháo không phải trận Quan Độ, cũng không phải trận Xích Bích, mà là trận chiến vì một bát cháo. Ông không nói được với chúng nhân, nên chỉ có thể dựa vào bản thân mình mà thôi. Ông run rẩy nhấc cánh tay phải - bộ phận duy nhất trên cơ thể còn cử động được, cố vươn ra để với lấy bát cháo, nhưng bát cháo ở quá xa, tay ông không với tới được. Ông tự nói với bản thân, đây chính là một trận chiến! Phải kiên trì! Cố thêm chút nữa! Ông cổ vũ bản thân, dồn hết sức bình sinh…

Khổng Quế phục bên cạnh ông, bỗng thấy người ông rung bần bật, vội vàng dịch ra, Tào Tháo cứ ưỡn người lên, tay phải nắm lại, người nghiêng sang một bên giường, rồi không thấy động đậy nữa.

— Đại vương! - Quần thần hoảng hốt, đồng loạt kêu lên.

Lý Đương Chi mặt tái mét, run run sờ lên cổ của ông, rồi nhìn về phía chúng nhân lắc lắc đầu.

Ngày Giáp Tý tháng Giêng năm Kiến An thứ hai mươi lăm (ngày 15 tháng 3 năm 220 sau Công nguyên), Tào Tháo - bậc thánh nhân gian hùng đã qua đời vì bệnh tại Lạc Dương, thọ sáu mươi sáu tuổi.

Tiếng khóc vang dậy như sấm rền. Mọi người đều chuẩn bị sẵn tinh thần, nhưng do đã quen với quyền uy của Tào Tháo, sự cai trị của Tào Tháo, thậm chí quen với cả những vui giận thất thường của ông, nay bỗng chốc cột chống trời sụp đổ nên chưa thể đối diện với hiện thực tàn nhẫn này. Họ đội ơn tri ngộ của ông, lo sợ cho tương lai chưa biết thế nào, hoặc giả cũng có thể chỉ đơn giản là thương tiếc một sinh mệnh vừa mất đi, tất cả những tình cảm ấy hòa vào tiếng khóc, nước mắt đua nhau tuôn rơi.

Nữ nhân thân thích ôm nhau mà khóc, quần thần phục dưới đất than khóc không ngừng, thị vệ há miệng như sói kêu thảm thiết. Bỗng nhiên Hứa Chử “ọc” lên một tiếng lớn, máu tươi phun ra từ miệng - viên tướng hộ vệ trung dũng này mất đi chủ nhân cả đời mình theo hầu, quá đau đớn nên thổ huyết.

— Hứa tướng quân!… - Chúng thần hoảng sợ, vội đỡ lấy ông ta. Lý Đương Chi đang đau buồn không thôi, thấy cảnh này vội tách mọi người ra để chẩn mạch. Nào ngờ, ông ta còn chưa đoán ra được bệnh gì, lại nghe thấy tiếng áo giáp đổ ụp xuống đất - Hạ Hầu Đôn ngất lịm!

Quần thần dáo dác, Lý Đương Chi cố lấy lại bình tĩnh:

— Hứa tướng quân quá đau buồn nên tổn thương đến phổi, cũng không có gì đáng ngại. - Nói xong lại chạy qua bên này chẩn bệnh cho Hạ Hầu Đôn, bắt mạch tay trái rồi lại xem mạch tay phải, nhăn mày chau mày - Không ổn rồi… mạch trái quá yếu, mạch phải vô lực, Hạ Hầu tướng quân vốn đã bị phong hàn, tích tụ lâu ngày, khiến bệnh ngấm vào ngũ tạng, lại thêm mệt mỏi quá độ, thương tổn đến kinh mạch, bệnh này không chữa được nữa. - Không cứu được người chết thì nên cứu người sống trước, ông nhanh chóng gọi mấy thân binh đưa Hạ Hầu Đôn đang mê man bất tỉnh sang điện bên cạnh. Còn chúng nhân ở lại càng lúc càng khóc to hơn, dốc tim dốc gan gọi đại vương.

Giữa tiếng khóc ấy, Trần Quần là người đầu tiên lấy lại được tinh thần, bò đến bên cạnh Tôn Tư, liếc trộm di lệnh. Tôn Tư chuyên viết công văn, nhưng lần đầu tiên trong đời gặp phải chiếu lệnh gấp rút như thế này, lại bị quần thần thúc giục, tim sắp bắn ra ngoài, may còn có Lưu Phóng nhắc nhở, nên mới không để sót chữ nào, giữa lúc lập cà lập cập, lời hay ý đẹp, bóng bẩy trau chuốt đều biến đi đâu hết, chỉ thấy vặn vẹo viết được:

Ta nửa đêm tỉnh giấc, thấy trong người khó chịu, sáng hôm sau ăn cháo, lại đổ mồ hôi, vì vậy đã uống canh đương quy để bồi bổ. Ta chấp pháp trong quân, nhìn chung đúng đắn, còn những lỗi nhỏ như nổi nóng, lỗi lớn như mắc sai thì các khanh không nên học theo. Thiên hạ chưa an định, không được chiếu theo tang lễ thời xưa. Ta vốn có bệnh đau đầu, phải chịt khăn ở đầu từ trước. Sau khi ta chết, hãy thay lễ phục giống lúc còn sống, chớ có trái lệnh. Bá quan văn võ vào điện khóc tang, chỉ cần khóc đủ mười lăm tiếng là được, táng xong cởi bỏ tang phục. Tướng sĩ đồn trú các nơi không được rời khỏi vị trí đóng quân. Quan viên các bộ đều phải làm tròn chức phận của mình. Khi nhập liệm, hãy thay y phục thường ngày cho ta, rồi táng ở ngọn đồi mé tây Nghiệp Thành, gần với đền Tây Môn Báo, không cần chôn theo vàng bạc, châu báu, ngọc ngà. Các tì thiếp và ca kỹ của ta đều đã chịu nhiều vất vả, hãy cho họ ở Đồng Tước đài, đối đãi tử tế. Ở chính đường Đồng Tước đài kê một chiếc giường dài sáu thước, phủ màn trướng bên trên, sớm tối dâng đồ cúng như thịt khô, lương khô. Vào ngày mồng một, mười lăm hằng tháng đều phải tấu nhạc, ca múa trước linh trướng từ sáng đến trưa. Mấy người các khanh phải thường xuyên ghé thăm Đồng Tước đài, bái tế lăng mộ ở mé tây. Hương phấn còn thừa thì chia cho các phu nhân, không cần dùng cúng tế. Chúng thiếp ở các phòng nếu rảnh rỗi có thể học dệt vải, đan giầy mà bán. Lụa là ta được ban trong thời gian làm quan có thể cất trong kho, còn y phục, áo lông của ta để lại có thể cất một nơi khác, nếu không huynh đệ các khanh có thể chia nhau…

Trần Quần thầm kêu thế này thì hỏng bét. Di lệnh có vẻ đủ ý, thậm chí còn nói tới cả những chuyện vụn vặt, nhưng việc quan trọng nhất thì Tào Tháo lại chẳng hề nhắc đến dù chỉ một chữ, thử hỏi Tào Phi sẽ phải kế vị như thế nào đây? Ông ta thực lòng muốn viết thêm một câu “thái tử không cần đợi nghênh tang[15] từ Lạc Dương, nhận được chiếu lệnh lập tức kế vị”. Nhưng có biết bao nhiêu con mắt đang dò xét, tự ý sửa đổi di lệnh là tội tày trời, người nào gánh nổi? Ông không cần đến cái mạng của mình nữa hay sao?

Trần Quần lấy tay áo quệt nước mắt, trong lòng thầm lo lắng, chợt cảm thấy có người kéo tay mình, ông ta liền ngoái lại nhìn - Tư Mã Ý tiến lại. Hai người dìu nhau giả như khóc lóc thảm thiết, rồi lẻn ra khỏi đám người. Tư Mã Ý cũng phát hiện vấn đề rất nghiêm trọng:

— Di lệnh còn thiết sót, mau triệu thái tử đến trước…

Lời này chưa nói xong, lại thấy Trưởng sử Trần Kiều lảo đảo đứng dậy, ánh mắt đẫm lệ, giọng nói nghẹn ngào:

— Đại vương đột ngột băng hà, mong các vị vâng theo chí nguyện của chúa thượng, lấy quốc sự làm trọng. Mau chép lại di lệnh, phái người mang chiếu phó đến Nghiệp Thành báo cho thái tử.

Tư Mã Ý không khỏi chau mày:

— Không biết bọn họ còn rối lên đến khi nào nữa, đợi đến khi bên ấy nhận được chiếu lệnh thì cũng lỡ mất rồi, mỗi giờ mỗi khắc lúc này đều phải tranh thủ. Chúng ta hãy sai tâm phúc tức tốc phi ngựa đến bẩm báo cho thái tử trước, càng nhanh càng tốt.

Trần Quần suy nghĩ chu toàn hơn:

— Thái tử bên ấy còn thiếu trợ thủ đắc lực, ông hãy sai thêm người đi Triều Ca báo cho Ngô Chất biết nữa, kêu ông ta mau chóng trở về Nghiệp Thành giúp sức.

— Ta sẽ làm ngay bây giờ. - Tư Mã Ý nhân lúc không ai để ý, lén lui ra khỏi điện quàn linh cữu. Còn Trần Quần len vào giữa đám người khóc tiếp, trong lòng vẫn thấy bất an. Tào Tháo chết rồi, nhưng không có nghĩa thời đại của Tào Phi bắt đầu mở ra, vẫn còn những cửa ải khó khăn chưa vượt qua được!

❀ ❀ ❀

[1] Tôn Vũ, tự Trường Khanh, được người đời sau tôn xưng là Tôn Tử hay Tôn Vũ Tử. Ông là một nhà quân sự kiệt xuất thời Xuân Thu, và cũng là tác giả của mười ba chương sách Binh pháp nổi tiếng, đã chỉ huy quân Ngô nhiều lần đánh bại nước Sở, tạo nên uy danh lừng lẫy thiên hạ.

[2] Điền Nhương Thư, là tướng nước Tề, thời Xuân Thu, được Tề Cảnh Công phong chức Tư mã, nên còn có một tên khác là Tư Mã Nhương Thư. Ông là một nhà quân sự nổi tiếng, từng thống lĩnh binh mã nước Tề đánh bại quân xâm lược của nước Tần, Yên. Về sau Tề Cảnh Công nghe lời gièm pha, ghét bỏ Nhương Thư, khiến ông uất ức mà chết.

[3] Đạo của nhà Hán đã tận, nhà vàng đang hưng thịnh.

[4] Tương hòa ca - Tinh liệt, Tào Tháo, bản dịch thơ của dịch giả Cổ Mộ đăng trên tạp chí Kiến thức ngày nay.

[5] Trích trong Quan thương hải, Tào Tháo.

[6] Trích trong Thu hồ hành, Tào Tháo.

[7] Tống Ứng thị, Tào Thực. Bản dịch thơ của dịch giả Đặng Thúy Thúy.

[8] Chỉ sáu bộ sách kinh điển của Nho gia, gồm Kinh dịch, Thượng thư, Kinh thi, Kinh lễ, Kinh nhạc, Kinh Xuân Thu.

[9] Từ “vi” chỉ một đơn vị đo lường. Một vi là độ dài vòng khép kín hai ngón tay cái với hai ngón tay trỏ. Mười vi ước chừng hơn một mét.

[10] Làm thiên tử không thể chỉ cậy vào sức mạnh được, trước hết phải thi hành đạo nghĩa. Đạo nghĩa không chỉ thể hiện với kẻ khác, mà còn ở chính mình. Mình thành tựu được đạo nghĩa cũng có nghĩa là làm được thiên tử. Như vậy ý vị khi trở thành thiên tử cũng mới đầy đủ.

[11] Chỉ mặt trời, mặt trăng và sao. Trương Hổ đời Đường nói: “Trời mà đánh mất lòng tin, tam quang không tỏa sáng; đất mà đánh mất lòng tin, bốn mùa không điều hòa; người mà đánh mất lòng tin, ngũ đức (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín) không hiệu dụng.”

[12] Đồ trang trí trên xa mã của hoàng đế, nó là hình một con chim loan được đúc bằng vàng, miệng ngậm chuông, nên thường được dùng để chỉ xa giá của nhà vua.

[13] Chỉ giấc mộng hão huyền. Cụm từ xuất phất từ điển tích đời Đường, một người tên là Thuần Vu Phân uống rượu say, nằm ngủ dưới gốc cây hòe, mơ thấy mình được lấy công chúa và được nhận mệnh làm Thái thú quận Nam Kha. Về sau, ông bị thất sủng, bị đuổi về quê, lúc ấy ông mới tỉnh giấc và phát hiện ra tất cả chỉ là một giấc mộng.

[14] Dân coi cái ăn bằng trời.

[15] Chỉ việc đón linh cữu hoặc hài cốt của người chết ở nơi khác trở về quê.

g Hộc, đều là những nét bút mà những kẻ đọc sách tranh nhau sưu tầm, học theo, những người bình thường tốn công nhọc kế cũng không xin được, hôm nay Chung Do lại chủ động đề tặng. Nhưng Đinh Nghi không những không vui, trái lại mặt mày thất
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Vương Hiểu Lỗi

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.