Tháng Sáu năm Kiến An thứ hai mươi ba (năm 218 sau Công nguyên), mùa hè nóng nực lại đến. Đã nhiều ngày nay thời tiết oi bức, thi thoảng mới có cơn mưa xuất hiện nhưng chỉ nổi sấm chớp ầm ầm rồi thôi, chưa đến nửa canh giờ sau lại trở về nguyên dạng. Xung quanh không có lấy một ngọn gió, mặt trời tỏa ánh nắng chói chang như trong lò nung, mặt đất vàng khè, bỏng rát. Từ trên lầu thành Nghiệp Thành phóng tầm mắt nhìn ra ngoài, cỏ cây héo rũ, những chiếc lá rủ xuống không buồn đu đưa, bụi cát trên con đường cái quan rộng thênh thang quyện với hơi nước bốc lên vì nóng, tạo ra một khung cảnh mờ mịt.
Lúc này, trên lầu thành cửa Trung Dương đang chật kín người, có quan văn quan võ, thái tử Tào Phi và cả các vị vương tử khác, mọi người đều mặc y phục mỏng tang, cố nấp vào chỗ râm mà mồ hôi vẫn túa ra thấm ướt vạt áo, đầu người nào người nấy bóng nhẫy mồ hôi. Vào cái ngày nóng khủng khiếp thế này, chẳng ai dại gì tự dưng chạy lên lầu thành, họ đều phụng mệnh Ngụy Vương nên mới đến. Tào Tháo cũng thượng lầu giống chúng nhân, ngồi trên chiếc ghế mây, chỉ khác là dường như ông không cảm thấy nóng, mình khoác áo gấm dài lượt thượt, đầu đội mũ miện đính tua ngọc, sắc mặt nhợt nhạt, không đổ một giọt mồ hôi - Âm hư hỏa vượng, đó là biểu hiện của người không khỏe.
Hai năm trở lại đây, quần thần đã quen với biểu hiện nóng giận thất thường của Tào Tháo, nhưng hôm nay trông ông vô cùng trầm tĩnh, lại hơi có vẻ chậm chạp, lù đù của người già, khiến mọi người không khỏi lo lắng về bệnh tình của ông. Từ hôm đuổi Trọng Trường Thống đi, Tào Tháo nổi một trận lôi đình rồi như người mất hồn, tinh thần không phấn chấn lên được. Ông không đi gặp phương sĩ, tới thuốc do Lý Đương Chi kê cũng không buồn uống, xem chừng Tào Tháo đã lặng lẽ chấp nhận số phận.
Từ đầu đến cuối Tào Tháo không nói câu nào, chỉ chăm chú nhìn ra mé tây, thời tiết nóng nực thế này có gì đáng thưởng lãm đâu? Quần thần nín lặng suy nghĩ, cúi đầu nhìn những viên gạch lát dưới chân, không ai hiểu rốt cuộc ông cho gọi mọi người tới đây làm gì, nhưng không dám hỏi. Chúng thần vẫn chịu đựng được, trong khi đó các vị vương tử lại thiếu kiên nhẫn, nhất là bọn Tào Cổn, Tào Mậu còn nhỏ, sắp đứng không nổi nữa, muốn chui xuống dưới thành mà không dám hé miệng, cứ đưa mắt liếc trộm đại ca Tào Phi. Tào Phi phần vì không đoán ra tâm tư phụ thân, phần vì ngại thân phận thái tử, cũng không dám nói năng tùy tiện, bèn ra hiệu bằng nét mặt với Nghiêm Tuấn và Khổng Quế.
Hai người họ biết ý, đang định bước lên khuyên Tào Tháo hồi cung, bỗng ông mở miệng:
— Các khanh nhìn qua bên này. - Ông đưa tay chỉ về một ngọn đồi trơ trụi nằm mãi mé tây, - Chỗ đó cằn cỗi nhưng rộng rãi, sau khi quả nhân chết, hãy hạ táng ở đấy.
Tất cả sửng sốt, không ngờ ông đang chọn phần mộ cho mình - Tào Tháo cố nhiên ngày một già đi, nhưng cả đời ông ngang ngược bá đạo, chúng thần Tào doanh và bách tính phương Bắc đã quen với sự thống trị của ông từ lâu, giờ đột nhiên nghe ông nhắc tới chuyện hậu sự, ai cũng hốt hoảng, quỳ hết cả xuống:
— Đại vương, không nên nói những lời không tốt lành ấy!
Tào Thực run rẩy cúi xuống, tâu:
— Nhi thần cầu mong phụ vương sống lâu trăm tuổi, mãi được an khang!
Tào Phi lết gối đến trước ghế mây, níu vạt áo phụ thân:
— Thiên hạ chưa định, bốn biển chưa yên, lê dân khốn khổ còn phải trông vào bậc tôn quý, sao phụ vương có thể nói đến cái chết?
Tào Tháo không đếm xỉa tới hai nhi tử, vẫn chăm chú nhìn về mé tây, ánh mắt u ám như chứa đầy sự mệt mỏi và hoang hoải:
— Có sinh ắt có tử, từ xưa đến nay ai không phải chết, có gì mà tốt lành với không tốt lành? Quả nhân tự chọn lăng mộ cho mình cũng là để bớt một nỗi lo cho các khanh sau này.
Quần thần chưa khi nào thấy Tào Tháo nguội lòng đến thế này, ai nấy đều sụt sùi, bọn Đinh Nghi, Khổng Quế khóc không ra tiếng:
— Đại vương là thần tiên giáng thế cứu giúp thời loạn, người sẽ không chết, không chết… - Câu sau thì không thể thốt ra: Người chết rồi, chúng thần biết phải làm thế nào?
Tào Tháo thở dài một tiếng, lại nói:
— Mộ chôn thời xưa đều phải đặt ở chỗ đất cằn cỗi, ngọn đồi mé tây Nghiệp Thành tuy bạc màu, nhưng có đền Tây Môn Báo là nơi thờ các bậc tiên hiền đời trước. Có thể dựng lăng mộ của ta ở gần đó, không cần vây kín, cũng không cần trồng cây, lấy độ cao làm nền, hạ táng đơn giản. Chu lễ chép rằng, “Trũng nhân chưởng công mộ chi địa, phàm chư hầu cư tả hữu dĩ tiền, khanh đại phu cư hậu.”[1] Chế độ nhà Hán gọi là bồi lăng. Sau này những người có công với xã tắc Tào Ngụy ta đều có thể được chôn theo lăng mộ của quả nhân.
Tào Chương dường như coi sống chết là chuyện rất bình thường, y không rơi nước mắt, chỉ nói:
— Phụ vương có ý nguyện này, chúng nhi thần không dám không tuân theo. Có điều, phụ vương là người có công mở mang xã tắc, há lại không vây kín, không trồng cây, hạ táng sơ sài? Làm vậy không những không thể tỏ rõ ân đức của phụ vương, mà e là người đời còn chê cười huynh đệ chúng nhi thần bất hiếu.
— Bất hiếu? - Tào Tháo lừ mắt nhìn Tào Chương, - Ở đời có đại hiếu, cũng có tiểu hiếu. Phát dương cơ nghiệp của Tào Ngụy ta, thôn tính bốn biển truyền lại muôn đời mới là đại hiếu, còn sửa sang lăng mộ là cái gì chứ? Xưa, Hiếu Cảnh Đế noi theo di lệnh của Văn Đế, giản tiện việc mai táng cho tiên vương, tới nay sơn lăng vẫn yên đẹp. Còn Quang Vũ Đế đã là anh hùng một đời, thế mà Minh Đế còn cố ý mai táng long trọng nhằm khuếch trương ân đức của đế vương, kết quả không phải bị bọn đạo tặc đào mộ ư? Thánh nhân thời xưa coi thiên hạ là nhà, không phân biệt gần xa, không chia ra trong ngoài. Vua Thuấn nhà Ngu táng ở Thương Ngô, vua Vũ nhà Hạ táng ở Cối Kê, họ đi tuần các nước chư hầu khi tuổi đã cao, nên chết ở nơi xa xôi. Quả nhân không sánh được với đức của các bậc thánh vương, chỉ cần có một mảnh đất dựng lăng là đã quá đủ, còn mong gì hơn? Giờ thiên hạ chưa an định, không được tổ chức mai táng long trọng, phô trương lề thói xa hoa. - Tiết kiệm là một chuyện, từ thời Tân Mãng[2], quân Xích My, quân Lục Lâm đều từng đào trộm mộ, nghe đâu lúc Đổng Trác dời đô về Tây Kinh cũng đào hết lăng mộ những nhà giàu có vùng Tam Phụ. Bản thân Tào Tháo cũng không phải ngoại lệ, ông đã từng đào lăng mộ Lương Hiếu vương, sao có thể không đề phòng người khác quật mộ mình lên? Không vây kín, không trồng cây, mai táng sơ sài, chứng tỏ không có gì để trộm, cho nên sẽ loại bỏ được lòng tham của bọn đạo tặc.
Tào Chương rối rít vâng dạ, song trong lòng lại nghĩ: Phụ vương muốn thế, nhưng người chết không làm chủ được người sống, đến lúc đấy thể nào người cũng không được toại nguyện.
— Tử Hoàn, Tử Văn, Tử Kiến, cả Chu Hổ nữa, các con lại đây. - Tào Tháo chỉ tay gọi bốn nhi tử lớn tuổi nhất. Tào Phi, Tào Chương, Tào Thực và Tào Bưu tới quỳ trước ghế.
— Phụ vương lao tâm khổ tứ ba mươi năm, không dễ gì mới dựng được cơ nghiệp của Tào Ngụy ta. Công Dương truyện có câu, “Hà ngôn hô vương chính nguyệt? Đại nhất thống dã.”[3] Đế vương lấy chín châu bốn biển làm nhà, nếu không dập tắt khói lửa chiến tranh để thiên hạ quy về một mối thì không thể có được chính sóc. Phụ vương già rồi, không biết còn sống được mấy ngày, đại nghiệp thống nhất thiên hạ phải trông cậy vào các con! - Tới hôm nay, cuối cùng Tào Tháo cũng không còn ôm hy vọng thống nhất thiên hạ nữa, ông không thể không thừa nhận rằng mình không thể làm được việc này khi còn sống, mà phải để lại cho con cháu đời sau.
Tào Tháo có khi nào bất lực, nản chí đến vậy? Lần này tới cả Tào Chương cũng sa sầm mặt mày, có điều trong lòng Tào Phi lại hơi ấm ức: Phụ vương giao việc bình định thiên hạ cho một mình thái tử ta là được, còn kéo cả ba đệ ấy vào làm gì, thực chẳng ra sao!
— Bốn người các con tuy đã trưởng thành, nhưng các huynh đệ khác vẫn còn nhỏ, như Cán nhi mới được ba tuổi, sau này còn phải phiền các con giáo dưỡng. - Nói đến đây, Tào Tháo mới cầm tay Tào Phi, - Huynh đệ các con phải đồng tâm bảo vệ xã tắc, nhất nhất phải lấy huynh đệ Viên Đàm, Viên Thượng làm gương! - Tào Tháo hiểu tâm địa của Tào Phi, nên dặn dò hậu sự với cả bốn nhi tử cùng lúc, để quần thần làm chứng, đảm bảo sau này Tào Phi sẽ đối đãi tốt với huynh đệ của mình - Nhưng, liệu có thực sự hiệu quả không?
Tào Phi giơ ngay tay lên thề:
— Nhi thần nhất định sẽ ghi nhớ lời phụ vương căn dặn trong lòng!
— Được! Nghe thái tử nói vậy là ta yên tâm rồi. - Tào Tháo vỗ nhẹ vai Tào Phi. Đây là lần đầu tiên ông khen ngợi Tào Phi trước mặt mọi người kể từ khi y được tấn phong làm thái tử, và có lẽ cũng là lần cuối trong đời ông thực lòng khen ngợi Tào Phi.
Các tiểu vương tử như Tào Vũ, Tào Cổn òa lên khóc, quần thần cũng không ngừng sụt sùi. Nhưng Tào Tháo chỉ thở một hơi dài như thể vừa trút được gánh nặng trong lòng xuống, thế rồi ánh mắt u ám của ông chợt sáng lên, ông ngồi thẳng lưng nói:
— Một khi hậu sự đã được giao phó rõ ràng… Truyền lệnh trung quân chỉnh đốn binh mã, quả nhân muốn đích thân thống lĩnh đại quân tiến đánh Hán Trung một lần nữa!
Tất cả lại được một phen kinh ngạc. Tào Thực muốn can gián, nhưng Tào Tháo giơ tay lên ngăn cản:
— Lần trước Ngô Lan, Mã Siêu đã bị quân ta đánh bại ở Vũ Đô, nhưng tà tâm của Lưu Bị chưa chết, vẫn muốn cuốn đất tiến vào. Quả nhân được biết hắn đã điều động toàn bộ binh mã tại đất Xuyên Thục ồ ạt áp sát Hán Trung. Quả nhân không đội trời chung với tên giặc này, phải khiến cho hắn thua tâm phục khẩu phục. Nếu như có thể giữ được Hán Trung, nhân đó mà tiến vào đất Thục, việc bình định thiên hạ không còn xa nữa.
Điều này không sai, nhưng với tình hình sức khỏe hiện giờ, liệu ông có thể chinh chiến được nữa không? Nói lần này Tào Tháo cử binh vì nghĩ cho cục thế không chính xác bằng nói ông nóng lòng muốn quyết một trận sống mái. Chúng nhân vô cùng lo lắng, nhưng không thể nói toạc ra rằng ông tuổi cao sức yếu, không thể tham chiến được, nói vậy há chẳng tự chuốc họa vào thân? Hoàng môn thị lang Lưu Dực bước ra khỏi hàng bẩm tấu:
— Vi thần không dám ngăn cản đại vương viễn chinh, nhưng có lời này mong đại vương tiếp nhận.
— Nói đi.
Lưu Dực cung kính nói:
— Từ khi đại vương khởi binh đến nay đã hơn ba mươi năm, không kẻ địch nào không bị đánh bại, không kẻ mạnh nào không bị khuất phục. Nay Tôn Quyền ở đất Ngô ỷ vào địa thế hiểm yếu mà ngoan cố kháng cự, còn Lưu Bị ở đất Thục cũng không chịu quy thuận, nhưng đó đều là những nơi xa xôi, rừng thiêng nước độc, dẫu có giữ quân tự vệ cũng chẳng thể trở thành đại họa. Xưa, Chu Văn Vương thảo phạt nước Sùng, ba lần cất quân thân chinh đều không thành, bèn trở về tu sửa đức chính, sau đó đã khiến nước Sùng phải thần phục. Theo kế sách hiện nay, chẳng gì bằng chúng ta liệu trước những nơi xung yếu ở bốn phương, nhắm vào trọng trấn mà canh phòng, đồng thời tuyển chọn binh sĩ trong thiên hạ, hằng năm luân đổi đồn trú cùng với trưởng quan địa phương. Từ đấy, đại vương có thể kê cao gối ngủ trong nhà rộng, chuyên tâm suy nghĩ xem làm thế nào trị lý quốc gia, đẩy mạnh nghề nông, thực hành tiết kiệm, cứ như vậy độ mươi năm, nước giàu dân an, dù không chinh phạt thiên hạ cũng tự an định! - Thứ nhất, Lưu Dực là người đọc sách, coi trọng việc lấy đức thu phục nhân tâm; thứ hai, đây là một cách nói vòng, không trực tiếp đề cập tới bệnh tình của Tào Tháo, nhưng chung quy vẫn khuyên ông từ bỏ việc xuất chinh. Lấy người khác làm ví dụ chắc chắn Tào Tháo sẽ không nghe, nhưng lấy Chu Văn Vương mà ông tôn sùng ra để nói, liệu ông có nghe theo không?
Tào Tháo cười khà khà, vỗ ngực nói:
— Không phải chỉ nhà vua mới cần hiểu bề tôi, mà bề tôi cũng cần hiểu nhà vua. Giờ khanh còn muốn khuyên quả nhân noi theo đức của Chu Văn Vương, nhưng e là ta không phải người như thế! - Ông muốn ta noi theo Chu Văn Vương, ta là người kiểu đó sao? Coi như là một câu nói thẳng thắn. Mỗi lần dâng biểu, Tào Tháo luôn tỏ vẻ khiêm tốn, nói mình ngưỡng mộ đức của Chu Văn Vương, nào là “Văn Vương đã có được hai phần ba thiên hạ mà vẫn phụng sự nhà Ân”, nào là “Văn Vương rất ôn hòa khi ở trong cung, rất cung kính khi ở trong tông miếu; tại những chỗ u ẩn, Văn Vương thường xem như có thần linh soi xét, Văn Vương không nản việc tu thân vẫn giữ gìn, thận trọng mãi”. Nhưng thực ra, trong mắt ông thực sự coi Chu Văn Vương là gì? Ông dựng nghiệp từ những chiến công trên sa trường, dùng vũ lực xưng bá, để đạt được mục đích mà không từ thủ đoạn nào, thử hỏi làm sao có thể tin vào đạo đức? Những câu nói khiêm tốn trước kia chẳng qua là để dát vàng lên mặt, chứ bảo ông lấy đức thu phục nhân tâm, há chẳng phải chuyện nực cười?
Lưu Dực lặng lẽ lui xuống, Tào Phi thấy ông ta cố ý nói tránh, đành nói trắng ra:
— Phụ vương thực sự muốn đi, chỉ e là…
— Con yên tâm, lần này phụ vương dẫn theo mẫu thân con cùng với các cơ thiếp, tiện việc chăm sóc ta, hơn nữa còn có y lại theo quân hầu hạ thuốc men, không có gì đáng ngại!
— Lý Đương Chi đi thì được, nhưng còn đám phương sĩ… - Tào Thực muốn nhắc lại chuyện này, nhưng không nỡ làm mất hứng của phụ thân, nói nửa chừng lại thôi.
Anh mắt Tào Tháo toát lên vẻ cay độc:
— Các con tưởng rằng phụ vương già rồi nên hồ đồ? Mánh khóe của bọn chúng làm sao lừa được ta! Bọn Khích Kiệm, Tả Từ trước đây còn có thể tin được, có điều quả nhân tuổi đã cao, dẫu có tu hành cũng khó thu được hiệu quả, còn một lũ tà đạo sau này đều là quả nhân tương kế tựu kế, cố ý lừa bọn chúng tới đây thôi. Những tà thuyết ấy không lung lạc được người chính trực, nhưng có thể lừa gạt bách tính, mượn bọn gian trá để lừa dối chúng nhân, đưa tà thuyết vào để mê hoặc dân đen. Năm xưa Trương Giác cũng dùng cách này tạo phản, nghĩ đến mối họa của xã tắc không thể không thận trọng. Cho nên, quả nhân mới triệu tất cả bọn chúng vào cung, nếu thật sự có bản lĩnh thì cho làm cố vấn đạo dưỡng sinh, còn nếu chỉ có tài mê hoặc kẻ khác, thì tạm giam chân ở Nghiệp Thành, để bọn chúng không thể phiêu bạt nhân gian. Phàm là bọn thuật sĩ mà dám rời khỏi Nghiệp Thành nửa bước sẽ giết ngay tức khắc không cần luận tội! - Tào Phi và Tào Thực đều giật mình, không ngờ phụ thân che giấu tâm cơ sâu xa đến vậy. Nhưng việc Tào Tháo ngồi xếp bằng nạp khí, lại còn ca ngợi thần tiên, lẽ nào không có một chút sùng tín? E rằng chỉ có bản thân ông mới biết.
Tào Tháo bước ra khỏi sự thở than giữa phụ tử, lại trở về dáng vẻ ngang ngược trước đây, ông đưa ánh mắt u ám nhìn khắp một lượt quần thần:
— Chuyện tây chinh ý quả nhân đã quyết, không cần can gián nữa! - Nói xong, ông lại hướng mắt ra ngọn đồi cằn cỗi là nơi an nghỉ cuối cùng của mình.
Thực ra, Tào Tháo biết sức khỏe của mình không tốt, ông cũng lường trước được rất có thể mình sẽ chết bên ngoài, nhưng ông đã quyết tâm huyết chiến một trận - Trên thế gian không có nơi nào hợp với Tào Tháo hơn chiến trường, mặc cho lý tưởng của ông đã mất, nhưng ở trên chiến trường ông vẫn là thống soái đệ nhất thiên hạ, vẫn có khả năng dụng binh đánh cho quân địch tan tác, và đó cũng chính là nơi mà sự kiêu ngạo của ông được đẩy lên cao nhất. Một khi sinh mạng không còn giữ được bao lâu nữa, ông muốn dành những giờ khắc cuối cùng ở trên sa trường, dẫu chỉ đoạt được một mảnh đất bé tẹo cũng là tạo phúc cho xã tắc của tử tôn sau này.
Tháng Bảy năm Kiến An thứ hai mươi ba, Tào Tháo chỉnh đốn binh mã phát động cuộc tây chinh lần thứ ba, mục đích của lần xuất chinh này là chống lại đội quân chủ lực của Lưu Bị, hiệp trợ Hạ Hầu Uyên bảo vệ Hán Trung. Nếu tình hình trận chiến diễn biến thuận lợi, ông dự định đánh một tiếng trống tiến thẳng vào đất Thục, diệt trừ đại họa là Lưu Bị nhân lúc mình còn sống. Trước khi xuất chinh, Tào Tháo ban một đạo sắc lệnh, ra ơn với dân:
Mùa đông năm ngoái trời giáng bệnh dịch, trong dân đều có người tử thương, quân lính lại chinh chiến bên ngoài, nên ít khai khẩn ruộng đất. Quả nhân rất lo lắng vì việc này, nay lệnh cho quan lại và bách tính: nữ nhân từ bảy mươi tuổi trở lên mà không có chồng, con hoặc dưới mười hai tuổi mà không có cha mẹ, anh em, cùng với những nam nhân mắt không nhìn được, tay không làm được, chân không đi được, mà không có thê tử, phụ mẫu, huynh đệ và sản nghiệp, sẽ được quan phủ phát lương thực cho đến hết đời. Trẻ nhỏ được cung dưỡng đến năm mười hai tuổi thì thôi. Người nghèo không thể duy trì cuộc sống được cho vay lương thực theo khẩu phần. Người già tất phải sống dựa vào người khác, nếu trên chín mươi tuổi thì miễn lao dịch cho một người trong nhà.
Sắc lệnh chiếu cố đến người cô đơn góa bụa và người tàn tật, nhưng lại giới hạn độ tuổi được miễn thuế khóa và lao dịch là từ bảy mươi, chín mươi tuổi trở lên, kể cũng hơi “hẹp hòi”. Có điều, chiến tranh liên miên, ôn dịch lại hoành hành, khiến nhân khẩu giảm mạnh, trong khi đó, nước Ngụy luôn muốn xây dựng một đội quân lớn mạnh, nên phải vắt kiệt sức người đến mức này đối với Tào Tháo mà nói thực cũng không dễ gì. Còn chuyện sau này giang sơn sẽ thay đổi ra sao và phải giải quyết vấn đề danh gia vọng tộc chấp chính thế nào, Tào Tháo không muốn nghĩ, cũng không có sức đâu mà nghĩ tới nữa, con cháu tự có phúc của con cháu, cứ để cho hậu nhân lo.
Ngày phát binh thời tiết rất đẹp, gió mát thổi từng cơn, vạn dặm không có một bóng mây, sĩ khí ba quân dâng cao. Tào Tháo sáu mươi tư tuổi đăng đài điểm danh tướng sĩ, từ biệt Nghiệp Thành trong tiếng hô vạn tuế. Nhưng, khoảnh khắc leo lên lưng ngựa chiến, ông thấy toàn thân tê dại, mồ hôi túa ra, nhờ Nghiêm Tuấn và Khổng Quế giúp, ông mới cố cưỡi ngựa đi được ba dặm rồi đổi sang ngồi xe ngựa…
Tào Tháo dường như đã hạ quyết tâm đánh một trận cuối cùng, hoặc ít nhất vào lúc này ông cũng nghĩ như vậy. Nhưng, liệu ý chí kiên định của ông có thắng được bệnh tật và tuổi già không?
Nảy sinh rắc rối
Đường hành quân tây chinh không mấy thuận lợi, tháng Bảy bắt đầu xuất binh, mà mãi đến tháng Chín vẫn chưa tới được Trường An. Theo lý mà nói, lúc này đang là mùa thu, không khí thoáng đãng, thời tiết không nóng cũng không lạnh, rất thuận lợi cho việc hành quân, nhưng không hiểu sao quân Tào lại đi chậm rì rì, trễ mất tận hai tháng như vậy. Tào Phi ở lại trấn giữ Nghiệp Thành cũng rất lạ, giờ chính là cơ hội tốt để y thể hiện tài trí, song mọi người lại không nhận thấy điều này - Tào Phi giao hết chính vụ cho Tướng quốc Chung Do và các vị Thượng thư xử lý, còn mình ra vẻ “khoanh tay mà trị”, nếu không quấn lấy chúng huynh đệ thì suốt ngày ở lỳ trong phủ Thái phó Lương Mậu đang bệnh nặng, còn lại việc y làm nhiều nhất là cưỡi ngựa đi săn.
Đã qua tết Trung thu - thời điểm tốt để đi săn, nhưng thái tử gia dường quá ham thích việc săn bắn, cứ cách hai ngày dân chúng Nghiệp Thành lại thấy Tào Phi mình mặc khôi giáp, lưng đeo túi cung dẫn theo một đám thân binh đi vào rừng. Mỗi chuyến kéo dài hơn nửa ngày, tới khi trời nhá nhem tối y mới đưa những tướng sĩ uy vũ khiêng vô số trĩ, hươu trở về. Có lần còn bắt được cả hổ, tướng sĩ khiêng vòng quanh Nghiệp Thành, diễu võ dương oai. Lão bách tính ưa náo nhiệt, thấy thái tử uy phong lẫm liệt thì rối rít khen hay, còn trong mắt đa số quan viên, Tào Phi có phần sao lãng việc chính.
Cứ mải mê săn bắn được hai tháng, một hôm Tào Phi lại dẫn thân binh tới Tây Sơn đi săn, nhưng lần này không săn được nhiều thú rừng, khi bóng tối đổ xuống mới trở về. Chưa đến cửa thành phía tây mọi người đã thấy Nghiệp Thành lệnh Sạn Tiềm cầm gián thư, đứng chặn trước cửa.
Chu Thước nói:
— Một Huyện lệnh nhỏ bé mà cũng đòi tới gây rối, để tại hạ đuổi hắn đi.
— Không được! - Tào Phi giơ tay ngăn lại, - Cứ để ta gặp hắn một lát. - Kỳ thực, Tào Phi cũng thấy phiền, nhưng y đang ở ngôi thái tử, cũng không nên cư xử lạnh nhạt với hạ quan, liền cởi khôi xuống ngựa tương kiến. Sạn Tiềm dùng đại lễ tham bái, dâng gián thư bằng cả hai tay. Lúc này trời đã tối, nhưng để tỏ ý khiêm tốn và chân thành, Tào Phi vẫn đứng dưới thành, kiên nhẫn xem hết tờ sớ:
Vương công bố trí phòng ngự tại những nơi xung yếu để củng cố quốc gia của mình, cấm quân đô thành được dùng đề phòng việc bất trắc. Đại nhã có câu: “Đích tử của Chu vương tựa như bức tường thành, chớ để cho thành hư đổ.” Lại nói: “Mưu kế chưa có tầm nhìn xa, vì vậy mới dùng lời này cực lực khuyên can.” Nếu thái tử cứ buông thả bản thân vào việc săn bắn, sáng đi tối về, cả ngày vui thú chim muông, thì sẽ quên mất những mối nguy hại khôn cùng. Ngu thần thực không sao hiểu nổi.
Phụ thân xuất chinh bên ngoài, nhi tử ở lại trong nước lưu thủ không nên vui chơi vô độ. Đạo lý này tất nhiên không sai, nhưng Sạn Tiềm thực sự không biết được rằng Tào Phi làm vậy cũng có nỗi khổ tâm. Tào Phi biết Sạn Tiềm cũng là người bảo thủ giống bọn Bào Huân, Tư Mã Phù, không muốn phí lời với ông ta, chỉ ậm ừ qua loa:
— Huyện lệnh nói rất đúng, ta biết mình sai rồi, sau này không đi săn nữa.
— Biết lỗi mà sửa, thực không gì quý hơn. - Sạn Tiềm tưởng Tào Phi nói thật, mừng mở cờ trong bụng, - Thần kính mong thái tử mở rộng việc tu dưỡng đức hạnh, để dựng nên cơ nghiệp như của vua Nghiêu, vua Thuấn.
Tào Phi tìm lời khen ông ta vài câu, sau đó dẫn thân binh vào thành. Lỡ mất một lúc, trời đã tối mịt, cổng thành cũng sắp đóng, người trong phủ thái tử nóng ruột, bọn Vương Sưởng, Lưu Thiệu, Nhan Phỉ cầm đèn đứng đợi cả ở bên ngoài. Tào Phi vào tới cửa phủ, chưa kịp xuống ngựa đã hỏi:
— Hôm nay có quân báo gửi tới không?
Xá nhân Lưu Thiệu vừa đỡ y xuống ngựa vừa nói:
— Nửa canh giờ trước, Tướng quốc vừa sai người đưa tới, hình như Kinh Châu xảy ra hỗn loạn, lát nữa thái tử vào xem sẽ rõ. - Lưu Thiệu không còn trẻ, so với bọn Vương Sưởng có thể được coi là bậc trưởng bối, nhưng do ông ta vốn được Tuân Úc cất nhắc, lại từng được Hy Lự thu nạp, phải vòng qua “khúc cong” trên đường sĩ hoạn, được điều đến Nghiệp Thành khá muộn, nên đành chấp nhận ở vị trí Xá nhân của thái tử. Lưu Thiệu đã có nhiều năm từng trải, kinh nghiệm dạn dày, nhất là ở mặt khảo xét quan lại, để ông ta lo việc công văn giấy tờ đúng là lãng phí nhân tài.
Tào Phi ngáp một hơi dài:
— Xem ra, tối nay ta lại phải chong đèn thâu đêm. - Y không được ung dung như những gì mọi người nhìn thấy. Lần xuất chinh này Tào Tháo nhận mệnh cho y lưu thủ Nghiệp Thành, nhưng đổi lại có một vài sự sắp đặt khiến y không thoải mái: Tư Mã Ý tạm thời được bổ nhiệm làm Chủ bạ, theo quân tham mưu; còn Trần Quần thân là Thượng thư cũng được điều đi xử lý chính vụ. Hai cố vấn bên cạnh Tào Phi đều bị phụ thân “tịch thu”, trong khi kẻ thù số một của y là Đinh Nghi vẫn yên trí ngồi ở trung đài, còn có cả Hiệu sự mới nhận chức là Lưu Từ cũng ở đó nữa. Hai tên “ton hót” ấy đều dòm ngó bên cạnh, y làm sao dám hành động khinh suất? Bởi vậy, y ở trong cung xử lý công chuyện vô cùng thận trọng, không tỏ ra quá cần mẫn, chỉ e có sơ sảy gì lại bị người ta nắm được chuôi, rồi gợi lên sự đố kỵ trong lòng phụ thân, săn bắn thực ra là một cách giấu tài. Vả lại, Tào Chương lập được kỳ công, thanh thế lớn mạnh, Tào Phi thân là thái tử không thể thống lĩnh binh mã ra trận, nếu không mượn việc đi săn mà thể hiện bản lĩnh, ai biết được y cũng có võ lược? Mà không có võ lược, làm sao thu phục được chúng nhân?
Cho nên, Tào Phi ngày thì phân cao thấp với chim thú trong rừng, tối về phủ mới ngâm cứu chính sự, quân báo sau lưng bọn Đinh Nghi, lại còn phải gửi thư qua lại với trong quân để hỏi thăm sức khỏe phụ thân, tỏ lòng hiếu thuận. Ai cũng nghĩ thái tử ung dung nhàn rỗi, nào biết được những nỗi khổ đằng sau?
Chu Thước nhận lấy dây cương, dắt ngựa ra phía sau, Nhan Phỉ sắp xếp thân binh mang thú săn đi. Nhưng Tào Phi nói:
— Không cần khiêng ra sau đâu, cứ để cả ở cửa. Sáng mai chọn những con ngon mang cho Tướng quốc, Thái phó, Thiếu phó và Tử Văn, Tử Kiến, còn lại giao tất cho Chu Thước để hắn đánh xe tới quân doanh cho Hạ Hầu Thượng tùy ý xử lý. - Tào Phi dùng Hạ Hầu Thượng để áp chế Tào Chương trong cuộc dẹp loạn Ô Hoàn, tuy không được như ý muốn, nhưng cũng không phải hoàn toàn không có thu hoạch. Sau trận đó, Hạ Hầu Thượng được điều vào trong quân, giờ thống lĩnh một đội trung quân, lần này ở lại đồn trú. Tào Phi săn được bao nhiêu thú rừng đều mang hết cho Hạ Hầu Thượng, để chia cho tướng lĩnh các doanh, hoặc thưởng cho binh sĩ, đó cũng là một cách lấy lòng quân.
Tào Phi bận rộn cả ngày, về đến khách đường mệt rũ, nhưng nhìn văn thư quân báo vẫn xếp đầy trên thư án chờ mình, y đành cởi áo bào, khôi giáp, rửa mặt rồi xem qua thư tín - Quận Nam Dương tạo phản, chả trách tiến quân chậm trễ!
Thế lực của Lưu Bị hiện bao trùm cả hai châu Kinh, Ích, Tôn Quyền cố nhiên đã thỏa hiệp với Tào Tháo, nhưng Quan Vũ trấn giữ Kinh Châu cũng là hậu hoạn. Lần này Tào Tháo cố ý chọc phá Lưu Bị nên không thể tấn công từ một phía, trong lúc khởi hành ông lệnh cho Tào Nhân đồn trú Tương Dương chỉnh đốn binh mã, cùng dụng võ với Nam Quận, dù cho binh lực có hạn, không thể đánh bại Quan Vũ thì cũng phải kìm chặt bọn chúng, để không tăng viện được cho Thục quốc. Tào Nhân vâng mệnh mà làm, không ngờ ông ta còn chưa động binh với địch thì đã xảy ra một cuộc biến loạn. Hóa ra, hai năm qua ôn dịch hoành hành, quận Nam Dương là một trong những nơi chịu hậu quả nặng nề, Tào Nhân lên kế hoạch dụng binh với Nam Quận, không những tăng thuế khóa trong dân, còn thêm lao dịch vận chuyển quân lương. Sức dân Nam Dương đã hao tổn quá nhiều, những việc ấy chẳng khác nào giáng thêm tai họa cho dân, vì vậy hai tướng trấn giữ Uyển Thành là Hầu Âm và Vệ Khai tập hợp mấy ngàn bách tính đứng lên tạo phản, bắt Thái thú Nam Dương Đông Lý Cổn, muốn quay sang đầu hàng Quan Vũ. May là Đông Lý Cổn được thuộc hạ cứu giúp trốn khỏi Uyển Thành, tập hợp binh mã trong quận giao chiến với Hầu, Vệ, Tào Nhân khi ấy đang tiến quân xuống phía nam cũng phải quay lại dẹp loạn trước.
Tào Phi không lo lắng về cuộc phản loạn này, bởi đất Kinh, Tương đã có những tướng tài là Tào Nhân, Lã Thường và Mãn Sủng, đám phản quân tép riu sao chống được sóng dữ. Có điều sự việc lần này chắc sẽ ảnh hưởng tới tiến trình tây chinh, và e là còn ảnh hưởng tới cả y. Tào Phi cười gượng, nói:
— Không trừ được loạn Nam Dương, có lẽ phụ vương không yên tâm tiến quân. Ta không thể tiếp tục đi săn được nữa, vào thời khắc quan trọng này mà bị kẻ khác bẩm báo lên trên, thì đúng là đổ thêm dầu vào lửa. Phải hết sức cẩn thận mới được.
Nhan Phỉ nói thêm:
— E là đại vương lo xa không chỉ nghĩ đến chuyện ở Nam Dương. Hồi đầu năm bọn Cảnh Kỷ, Vi Hoảng tạo phản đều là nhân sĩ Quan Trung. Đại vương thể nào cũng muốn vỗ về chư bộ Quan Trung nhân dịp đóng quân ở Trường An.
— Đúng vậy. - Nụ cười trên mặt Tào Phi càng trở nên nhăn nhó, - Phụ vương muốn đánh một trận lớn, nhưng việc này phức tạp đâu phải cứ muốn đánh là đánh được? Ta thấy phiền não thay cho phụ vương… - Lời này chưa dứt, chợt nghe hậu đường có tiếng nữ nhân nói chen vào:
— Thái tử phiền não thay đại vương, thiếp há lại không phiền não thay thái tử? - Rồi vang lên tràng cười trong trẻo.
— Ái thiếp của Tào Phi là Quách thị bước ra từ phía sau bức bình phong.
Quách thị thân hình nở nang, dáng người cao ráo, mắt thanh mày tú. Lúc này, nàng ta búi tóc cao, cài nghiêng chiếc trâm ngọc bằng phỉ thúy, dưới ánh đèn lẻ loi, da dẻ nàng càng hiện lên vẻ mỡ màng, làm rung động lòng người. Tào Phi thích thú, lại thấy nàng ta bưng bát canh tới trước mặt mình, liền chòng ghẹo:
— Mấy việc vụn vặt này sai nha hoàn làm là được rồi, sao phải phiền nữ vương đại giá?
Tiểu danh của Quách thị là “nữ vương”, nghe Tào Phi giễu cợt cũng không nhịn được cười:
— Thái tử chớ coi là việc vụn vặt, giờ không giống trước kia, thái tử toàn bàn chuyện quốc gia đại sự với các vị đại nhân. Ai mà biết được nha hoàn nào đấy có phải là kẻ nhiều chuyện không? Nhỡ để bọn chúng vô tình nghe được rồi phao tin thì không hay. - Nàng ta không chỉ xinh đẹp mà còn thông minh lanh lợi, khá có tâm kế, từng hiến kế cho Tào Phi trong chuyện tranh giành ngôi vị, lại không có lòng ngen ghét đố kỵ, tiến cử những mỹ nữ khác với phu quân. Vì vậy, Tào Phi tin tưởng và cưng chiều nàng ta hơn cả thái tử phi Chân thị.
Nữ nhân không được tham dự vào việc bên ngoài, huống chi Quách thị chỉ là hàng cơ thiếp, nhưng Tào Phi không trách tội, người khác cũng không tiện nói, càng không tiện nghe những lời thân mật giữa hai người. Lưu Thiệu, Nhan Phỉ lẳng lặng lui xuống, tiện thể khép cửa lại. Tào Phi thấy không còn ai, càng trêu bạo:
— Nàng thật ranh mãnh, còn nói sợ nha hoàn không đáng tin, theo ta thấy không phải nàng phòng người ngoài, mà đang phòng ta thì có? Hay là nàng sợ nha hoàn xinh xắn nào đấy lọt vào mắt ta, lại tranh sủng với nàng chứ gì?
Quách thị múc một thìa canh, đút vào miệng Tào Phi, mỉm cười đáp:
— Thiếp sợ gì. Trong cung của Tề Hoàn Công có tất thảy bảy phố thị với bảy trăm nữ lư[4], chỉ cần thái tử không thấy phiền, thiếp nào có ngại?
— Đúng rồi. - Tào Phi chợt nhớ ra một chuyện, nắm lấy cổ tay nàng ta, - Sáng nay Tư Mã Phu nói, bệnh của Lương Thái phó e là không qua khỏi. Nam Dương lại vừa xảy ra loạn, giờ ta không muốn ra mặt cũng không được, chắc phải bận mất mấy ngày ở trung đài, không thể phân thân qua bên Thái phó được. Những lúc nàng rảnh rỗi hãy cùng Chân thị năng lui tới phủ Thái phó, bầu bạn với lão phu nhân, đừng để người ta nói thái tử ta không tôn kính thầy! Ôi! Việc gì cũng đến lượt, thật là mệt…
— Thiếp đâu phải thái tử phi, việc này há đến phận thiếp?
— Ai bảo nàng ta không dẻo miệng như nàng! - Tào Phi véo má Quách thị, - Nói đi, nàng vừa dâng canh ngon lại nói lời ngọt, có chuyện gì muốn cầu xin ta chăng? - Tào Phi rất tinh ý, thấy Quách thị tự nhiên dịu dàng, ân cần với mình, y đoán ngay là có chuyện.
Quách thị thấy Tào Phi đã đoán ra, cũng không giấu giếm làm gì:
— Thái tử hẳn đã biết, thiếp có một đệ đệ bên nhà để làm huyện lại huyện Khúc Chu. Việc này vất vả mà không thu được công lao, nay Bào Huân được điều ra làm đô úy, xin thái tử nói ông ta chiếu cố cho đệ đệ của thiếp. - Người tận kỳ tài, vật tận kỳ dụng, Bào Huân không giỏi tính toán mưu lược, lại suốt ngày càm ràm can gián, Tào Phi không chịu được sự phiền phức của ông ta, nên đã nhờ Chung Do điều Bào Huân ra làm Tây bộ đô úy của Ngụy Quận - Một là để đỡ rác tai, hai là người như ông ta làm quan bên ngoài ngược lại sẽ tăng thêm hào quang cho phủ thái tử, thực là một công đôi việc.
Tào Phi cười nhăn nhó:
— Việc này ta không giúp được.
Quách thị ôm cánh tay y, nũng nịu:
— Chẳng lẽ tới chút bản lĩnh này mà thái tử cũng không có ư?
— Bào Thúc Nghiệp là hạng người nào? Chớ nói là ta, cho dù phụ vương đích thân lệnh cho hắn chiếu cố kẻ khác vì tình riêng, e là hắn cũng không làm theo.
Quách thị lại quàng tay lên cổ y, nói tiếp:
— Dù sao ông ta cũng bước ra từ phủ chúng ta, lại theo thái tử nhiều năm như vậy, cũng phải nể mặt một chút chứ. Vả lại, đệ đệ của thiếp thông minh lanh lợi, không chỉ có tình thân, mà cũng nổi tiếng tài đức, thái tử căn dặn ông ta cất nhắc một chút cho đệ ấy hưởng thêm mấy hộc gạo bổng lộc cũng được mà! - Vừa nói vừa ngả vào lòng Tào Phi.
Tào Phi ôm tấm thân mịn màng như ngọc của nàng, mê mẩn thần hồn, không nỡ từ chối:
— Được rồi, được rồi, trông nàng đáng thương thế này cơ mà. Ta sẽ gửi thư cho hắn, nhưng có hiệu quả hay không thì phải xem ý Bào Huân, ta không làm chủ được.
Quách thị hôn chụt vào cổ Tào Phi:
— Thái tử còn không làm chủ được thần hạ hay sao?
Dục vọng của Tào Phi dâng lên, khó nén lại được:
— Ta làm chủ nàng là được… - Y vuốt ve cái eo nhỏ nhắn của nàng ta.
— Khải bẩm thái tử! Có khách tới thăm! - Ngoài cửa sổ bỗng nhiên vẳng vào giọng nói gấp gáp của Chu Thước.
— Đáng ghét! - Tào Phi vội chỉnh lại xiêm y, gắt gỏng quát lên:
— Đêm hôm thế này còn ai tới thăm? Tiểu tử nhà ngươi cố tình phá rối hả?
— Thuộc hạ nào có ý trêu đùa? - Chu Thước có vẻ rất hoang mang, - Lưu Triệu và Lưu Từ tới, hiện đang làm ầm ở cổng sau, nhất định đòi bái kiến thái tử, thuộc hạ nên làm thế nào ạ?
Tào Phi nghe thấy hai cái tên này, suýt nữa đẩy Quách thị đang nằm trong lòng ngã lăn xuống đất:
— Hai người bọn chúng tới làm gì? Chẳng lẽ phụng mệnh phụ vương? - Cú mèo vào nhà hẳn là có chuyện, Hiệu sự tìm tới cửa ắt chẳng phải điềm tốt lành gì.
— Hình như không phải vì việc của đại vương.
Quách thị định thần lại trước, vừa sửa lại xiêm y vừa nói:
— Hai người họ Lưu đảm nhậm việc giám sát quan lại sau khi Lư Hồng và Triệu Đạt bị giết, một người ở lại Nghiệp Thành, còn một người đi theo quân, hiếm khi ở cùng nhau. Nay hai người bọn họ cùng tới bái yết, lại đi vào ban đêm, theo thiếp thấy thì… là phúc chứ không phải họa.
— Dẫu là họa cũng không tránh được! - Tào Phi thở dài một tiếng, đứng dậy nói, - Cho họ vào.
Quách thị lui vào hậu đường, Tào Phi giấu hết quân báo, văn thư trên bàn vào hộp, lại châm thêm hai ngọn đèn, rồi mới mở cửa đón khách - Trời đã muộn, sương cũng đã xuống, cả sân tối đen như mực, một luồng gió lạnh thổi táp vào mặt. Nhìn hai tên Hiệu sự nham hiểm, xảo trá là Lưu Triệu và Lưu Từ bước ra từ bóng tối, tim Tào Phi đập thình thịch tưởng như kẻ sắp bước tới là ác quỷ!
— Đêm hôm khuya khoắt, hai vị đại nhân tới thăm không biết có việc gì quan trọng?
Không ngờ câu hỏi vừa dứt, hai người họ Lưu rảo bước tiến lên, quỳ sụp xuống trước mặt Tào Phi:
— Từ nay về sau, sự sống chết của bọn tại hạ đều gắn với thái tử! - Nói rồi liên tục dập đầu.
Tào Phi cảm thấy mông lung, ngây ra một lúc mới hiểu hai người bọn họ có ý nương theo mình, nhưng y không dám coi là thật:
— Đây là ý gì vậy? Hai vị đều là trọng thần trong mạc phủ, xin đứng lên.
— Ây dà! - Lưu Triệu đáp, - Chúng tại hạ tuy nhận mệnh làm ưng khuyển, nhưng thực ra lại một lòng trung thành với thái tử. Tại hạ có một mật tấu, xin thái tử chớ nghi ngờ.
Tào Phi thoắt nghĩ: Lưu Triệu vốn ở trong quân, chắc là tạm thời hồi kinh giải quyết công chuyện, chẳng lẽ mật tấu mà hắn đang cầm trong tay có điều gì gây bất lợi cho ta? Nghĩ vậy, y không còn nghi ngờ nữa, kéo hai người dậy:
— Vào trong rồi nói!
Việc cấp bách không cần quá đa lễ, Lưu Triệu rút từ trong ngực ra một quyển văn thư, dúi vào tay Tào Phi:
— Đây là thủ lệnh mấy ngày trước đại vương đích thân soạn ra, rất bất lợi cho thái tử, may là bọn Tân Tỵ, Hoàn Giai ra sức khuyên giải, chuyện này mới dừng lại. Tại hạ lén mang tới cho ngài xem!
Tào Phi cầm đến dưới ngọn đèn, quả đúng là bút tích của phụ thân:
Hiện nay trong nước có ba trọng trấn là Thọ Xuân, Hán Trung và Trường An, quả nhân tính điều mỗi nhi tử đồn trú, sửa trị một nơi. Quả nhân muốn dùng người lương thiện, hiếu thuận, không trái lệnh ta, mà chưa biết nên chọn ai. Hồi nhỏ các vương tử đều được quả nhân yêu mến, nhưng lớn lên người nào có đủ tài đức, nhất định sẽ được trọng dụng. Ta không nói hai lời, không những không nể tình riêng với bộ hạ của mình, mà cũng không muốn thiên vị các vương tử…
Thủ lệnh viết dở dang, nhưng chỉ cần nhìn mấy câu này thôi, cả người Tào Phi đã túa mồ hôi. Tào Tháo có ý phân phái các nhi tử nhận nhiệm vụ trấn giữ Thọ Xuân, Hán Trung và Trường An, nếu thực sự xảy ra chuyện này thì Tào Phi nguy rồi - Ba nơi trên đều là những trọng trấn công thủ, tiết chế một lượng lớn binh mã, nếu huynh đệ khác tiếp quản chức vụ quan trọng này, thế lực của họ tất sẽ tăng mạnh, và nếu lại rơi đúng vào Tào Thực và Tào Chương, hậu quả càng khó lường! Câu “không những không nể tình riêng với bộ hạ của mình, mà cũng không muốn thiên vị các vương tử” có ý gì đây? Ai có tài cao sẽ được trọng dụng, hay nói cách khác, người nào làm tốt người đó được kế vị ư? Ngôi thái tử còn có ý nghĩa gì không? Dẫu chuyện kế vị không xảy ra điều gì ngoài mong muốn, việc huynh đệ khác nắm quyền bên ngoài cũng sẽ mang lại nhiều rắc rối, nhẹ thì đuôi lớn khó vung, nặng thì họa từ trong tường vách!
Tào Phi như gặp phải ác mộng, ngã phịch xuống giường, lẩm bẩm một mình: “Chuyện gì thế này?… rốt cuộc là chuyện gì thế này?…” - Y không thể hiểu được, ba tháng trước phụ thân còn cầm tay mình ân cần dặn dò, vẻ mặt vô cùng ôn hòa. Vậy mà chỉ trong một thời gian ngắn đã thay đổi, rốt cuộc là vì đâu? Lẽ nào có kẻ gièm pha? Dẫu thế, Tào Tháo cũng sẽ không thể đưa ra chủ ý tồi tệ này, mỗi nhi tử lĩnh một trọng trấn há chẳng phải giẫm vào vết xe đổ năm người con của Tề Hoàn Công cùng tranh giành ngôi vị ư? Việc này không những nguy hại cho Tào Phi mà còn nguy hại cho xã tắc Tào Ngụy! Rốt cuộc Tào Tháo đang nghĩ gì?
Lưu Từ thấy y không nói gì, thở dài nói:
— Người già vui giận thất thường, không thể hiểu theo lẽ thường được.
— Câu này khách sáo, ẩn ý đằng sau là: Ngài đừng nghĩ nữa, có nghĩ cũng chẳng ích gì, lão gia nhà ngài hồ đồ rồi.
Lưu Triệu nói:
— Thứ cho tại hạ nói thẳng, đại vương đáng ra không nên thân chinh. Từ hôm xuất binh đại vương đã thấy trong người không khỏe, hai tháng nay hành quân chậm trễ cố nhiên là do loạn Nam Dương, nhưng phần khác cũng vì sức khỏe của đại vương không tốt, liên tục phải dừng lại nghỉ ngơi, quân đi qua Lạc Dương lại trễ thêm mười ngày. Đại vương mang bệnh mà không tương kiến thái tử, tuyệt nhiên không phải phúc của xã tắc. Hoàng môn thị lang Đinh Dực là đệ đệ của Đinh Nghi, theo hầu đại vương, lúc nào cũng ca tụng đức hạnh của Lâm Tri hầu, lại thêm Khổng Quế kẻ xướng người họa. Tuy rằng chúng thần trượng nghĩa ra sức can gián, nhưng vạn nhất ngày nào đó đại vương hồ đồ, e là thái tử có hối cũng không kịp! - Không phải Lưu Triệu cố ý nói những câu nguy hiểm dọa người, chuyện lần này rõ rành ra đấy, nếu không có quần thần ngăn cản, sắc lệnh được ban xuống hẳn là loạn rồi.
Lưu Từ nói thêm:
— Thái tử cho rằng chỉ cần ngài không quan tâm chính sự thì sẽ bảo toàn được ngôi vị mà không cần lo lắng gì sao? Tại hạ theo dõi Đinh Nghi ở Nghiệp Thành đã lâu, lúc nào ông ta cũng than trách thái tử vui chơi quá độ với hạ liêu, dăm ba ngày lại sai người đưa thư cho đệ đệ của mình đang ở trong quân, gần đây còn lén lút qua lại với Yên Lăng hầu nữa. Đây đều là việc bất lợi với thái tử!
Tào Phi càng thấy lo sợ: Tam đệ đã sợ rụt tay về, nhưng dã tâm của nhị đệ dường như không nhỏ, Đinh Nghi là kẻ thù không đội trời chung của mình, nếu để hắn làm mối, hai sợi dây cùng thít lại một chỗ, lại thêm bọn Khổng Quế, Đinh Dực dâng lời xàm ngôn, hãm hại bên trong thì khó mà chống đỡ được.
— Ta phải tới Trường An diện kiến phụ vương mới được! - Ruột gan Tào Phi rối bời.
— Không thể được! - Lưu Triệu nhìn vẻ mặt hốt hoảng của y, liền ném ra những lời mà mình đã trù tính từ lâu, - Thái tử qua hầu hạ đại vương, vứt bỏ trọng trách lưu thủ Nghiệp Thành cũng sẽ khiến người không hài lòng, huống hồ Lâm Tri hầu và Yên Lăng hầu ở lại kinh thành cũng là họa…
Lưu Từ lại nói:
— Nhưng nếu thái tử không gặp đại vương suốt một thời gian dài, để những kẻ nham hiểm ngấm ngầm dèm pha, e là cũng sẽ bị thất sủng! - Làm thế nào cũng không ổn.
Tào Phi dần lấy lại bình tĩnh, suy nghĩ một lúc rồi nói:
— Cũng may giờ ta đã là thái tử, dù sóng gió xô đẩy thế nào việc quan trọng nhất vẫn là phải giữ vững ngôi vị này.
Cục thế ổn định thì lợi cho ta, còn cục thế hỗn loạn thì lợi cho Tử Văn và Tử Kiến. Bên cạnh phụ thân có những kẻ tiểu nhân chọc ngoáy, nhưng những bề tôi lão thành mưu quốc[5] sẽ không để yên cho bọn chúng làm loạn. Điều đáng lo là ta và phụ vương cách nhau xa quá, một là tin tức không thông, hai là để lâu ngày e sẽ sinh biến, ta ở xa khó ứng phó kịp, đến lúc đó muốn ổn định cục thế cũng chưa chắc đã được.
Lưu Triệu, Lưu Từ chỉ chờ Tào Phi nói ra những lời này, lập tức quỳ xuống lần nữa:
— Thái tử đã không từ bỏ, chúng tại hạ nguyện nghe ngóng việc trong quân, mật báo với thái tử, để ngài có thể đưa ra những quyết định kịp thời! - Hai người họ đã rút ra được bài học từ chuyện của Lư Hồng và Triệu Đạt, muốn có kết cục tốt đẹp, không những không được có tranh chấp nội bộ, còn phải nhìn rõ đường đi nước bước sau này. Hiệu sự đắc tội với quá nhiều người, nay Ngụy Vương đã già, dù có dốc sức trung thành với ông cũng chỉ chuốc lấy nhơ nhuốc, chi bằng đặt sự an nguy của bản thân vào người kế vị. Trước mắt thái tử đang gặp khó khăn, nếu có thể giúp y vượt qua cửa ải này, chưa nói tới việc mưu cầu danh lợi, chỉ cần đảm bảo tân vương lên ngôi không chặt đầu bọn họ lập uy là đã đủ lắm rồi - Chủ nhân của ưng khuyển không phải một cá nhân nào, mà đó là quyền lực, cho nên một khi quyền lực bắt đầu được chuyển giao, bọn ưng khuyển cũng đổi hướng theo, dẫu là nhân vật cường thế như Tào Tháo cũng không kiểm soát được việc này.
Tào Phi há lại không nhận ra ý đồ của bọn họ, chỉ là lúc này y đang cần bọn họ tương trợ, nên vội nhận lời:
— Được! Hai vị làm việc cho ta, sau này sẽ trở thành lão thần có công phò tá thái tử lên ngôi! - Đoạn đứng dậy thi lễ.
— Chúng thần không dám nhận, không dám nhận. - Lưu Triệu vội xua tay, - Thái tử yên tâm, tại hạ sẽ dốc hết sức gánh vác việc trong quân, nếu đại vương và Đinh Dực có mảy may động tĩnh, tại hạ sẽ mau chóng truyền thư báo với ngài.
Lưu Từ cũng bày tỏ thiện ý:
— Còn việc của Đinh Nghi với Lâm Tri hầu và Yên Lăng hầu cứ giao cho tại hạ. Tại hạ nhất định sẽ tra ra toàn bộ âm mưu của họ!
— Được, ta tin hai vị. - Tào Phi đi ra cửa lớn tiếng gọi, - Chu Thước, mang mười đĩnh vàng lên đây! - Tiền bạc có thể mua chuộc lòng người, đi lại với hạng tiểu nhân, không phải cứ đảm bảo tiền đồ của bọn chúng là được, ít nhiều cũng phải bỏ ra một chút của cải, để tránh bọn chúng thấy cái lợi nhỏ trước mắt mà thay đổi lập trường.
Chu Thước không biết hai người họ tới đây là phúc hay họa, cũng đã chuẩn bị trước vàng bạc, nghe tiếng gọi lập tức mang vào. Lưu Triệu tỏ vẻ khép nép, còn Lưu Từ đang không mấy vui vẻ, vừa nhìn thấy mấy đĩnh vàng sáng chói đã tươi tỉnh lại ngay:
— Phụng sự cho thái tử, há có thể nhận của cải? Việc này… không thích hợp cho lắm thì phải? - Hắn nói như vậy, nhưng vẫn dán mắt vào mấy đĩnh vàng.
— Có công được thưởng là lẽ đương nhiên. - Tào Phi không nói nhiều, nhét vàng vào tay bọn họ, - Ta muốn thưởng nhiều vàng bạc, châu báu hơn cho hai vị, nhưng đêm hôm hai vị đi từ phủ ta ra, vạn nhất để người ngoài trông thấy thì không hay. Hãy tạm nhận lấy, nhận lấy!
— Đa tạ… thái tử! - Lưu Từ mừng quýnh, suýt nữa gọi nhầm thành “đại vương”.
— Vậy tại hạ đa tạ thái tử ban thưởng. - Lưu Triệu cũng nhận lễ vật, thi lễ nói, - Tại hạ phụng mệnh về kinh, sáng sớm mai còn phải trở lại Trường An, xin được cáo từ. Thái tử xin cứ yên tâm.
Tào Phi đích thân tiễn hai Hiệu sự ra ngoài cửa phủ, sợ người khác trông thấy nên không dám châm đèn, nhìn bọn họ len lén biến mất trong đêm tối, y không nén được tiếng thở dài - Hoàn cảnh của y hiện giờ cũng giống như màn đêm mênh mông này, đến khi nào mới sáng sủa được đây? Hơn mười năm qua, y từ một vương tử trở thành Ngũ quan tướng, rồi lên làm thái tử, địa vị được nâng lên, nhưng hoàn cảnh chưa hề thay đổi, vẫn cứ phải lo lắng thấp thỏm như người đi trên băng mỏng. Nhìn tờ thủ lệnh vô lý kia, y không dám tưởng tượng ra tình hình hiện giờ của phụ vương như thế nào. Đôi lúc, trong đầu y chợt lóe lên một ý nghĩ ác độc rằng, phụ thân mau sớm chết đi thì hơn!
Lý do không phải y oán hận phụ thân, mà chỉ vì làm nhi tử của Tào Mạnh Đức thật khổ…
Lặp lại sai lầm
Già yếu là một quá trình diễn ra từ từ suốt thời gian dài, chỉ khi bước qua tuổi năm mươi, con người ta mới bắt đầu nhận ra sức khỏe của mình đang kém dần, năm sau không bằng năm trước, tiếp đến tháng sau không bằng tháng trước, hôm sau không bằng hôm trước. Tào Tháo ngày càng ý thức rõ về điều này, dù có Lý Đương Chi thường xuyên túc trực bên cạnh giúp ông điều dưỡng, nhưng cũng chỉ chữa được thân bệnh chứ không chữa được mệnh trời, già yếu là điều không ai có thể tránh được. Sáng sớm, vừa mở mắt ra ông đã thấy tức ngực hụt hơi, bờ vai mỏi nhừ, hai chân nặng như chì, những sự khó chịu ấy cứ lặp đi lặp lại mỗi ngày. Ở Nghiệp Thành, ông còn dễ xoay xở, bởi cứ khi nào cảm thấy trong người không khỏe, ông sẽ qua Đồng Tước đài nghỉ ngơi, nhưng còn ở trong quân thì chẳng thể nghỉ được.
Tào Tháo cố chịu đựng, nhưng cũng buộc phải thừa nhận rằng, mình không còn hợp với việc chinh chiến nữa. Trước lúc xuất quân, ông chủ định đánh một trận cuối cùng, mấy tháng sau, quyết tâm ấy dần bị dao động. Sức khỏe của Tào Tháo kém đi, hôm khởi binh ông chỉ đánh vài hồi trống đã mệt lử, ông biết mình còn cả một con đường gian nan từ Hán Trung vào đất Thục cần phải vượt qua, mà dựa vào tấm thân bệnh tật hiện giờ, việc trèo đèo lội suối với ông đúng là có chút lực bất tòng tâm. Hơn nữa, ông tuy ở xa Nghiệp Thành nhưng tâm trí không lúc nào ngơi nghĩ về nơi đó, những lời ông nói hôm chọn lăng mộ dường như vẫn văng vẳng bên tai. Có điều, Tào Tháo đã sớm quên mất rằng, ông sợ trong nước lại xảy ra biến cố, nhưng cũng không muốn Tào Phi nắm giữ quá nhiều quyền bính.
Dưới tâm trạng mâu thuẫn này, mấy vạn quân Tào hệt như một con sâu khổng lồ, chậm chạp và lười biếng, nhích từng tý trên con đường tiến lên phương bắc, mất gần ba tháng trời mới bò đến được Trường An, hội họp với Đỗ Tập. Mà đến Trường An cũng mới được nửa đường viễn chinh, Tào Tháo muốn nghỉ ngơi ít ngày lấy sức đi nốt chặng đường còn lại, đúng lúc ấy Nam Dương lại xảy ra loạn. May là mặt trận phía tây coi như thuận lợi, Lưu Bị lập mưu vòng ra phía sau quân Tào cắt đứt con đường huyết mạch nối Quan Trung với Hán Trung, không ngờ bị Từ Hoảng phục kích tại sạn đạo[6] Mã Minh, quân Thục tổn thất nặng nề gần một vạn, Hán Trung tạm thời không có nguy hiểm gì. Tào Tháo lại một lần nữa lỡ việc tiến quân, ông phái Lập Nghĩa Tướng quân Bàng Đức dẫn bản bộ binh mã qua Uyển Thành giúp dẹp loạn, còn mình đồn trú Trường An, đề phòng chuyện dẹp loạn gặp trắc trở.
Cuộc phản loạn ở Nam Dương đáng lo hơn so với dự đoán, bách tính khốn khổ bởi lao dịch đã lâu, nên khi Hầu Âm dựng cờ tạo phản tại Uyển Thành, các huyện khác cũng lũ lượt hưởng ứng, chỉ trong một thời gian ngắn phản loạn nổi lên khắp nơi. Tào Nhân, Bàng Đức, Đông Lý Cổn thống lĩnh binh mã đánh đông dẹp tây mất hai tháng, mãi đến tháng Giêng năm Kiến An thứ hai mươi tư (năm 219 sau Công nguyên) mới phá được Uyển Thành, bắt sống Hầu Âm, cuộc phản loạn mới lắng xuống. Nhưng khi tin thắng trận của Tào Nhân truyền đến Nghiệp Thành, quần thần lại giật mình kinh hãi…
— Phá thành? Tào Nhân giết sạch quân dân Uyển Thành!
Phá thành luôn được coi là việc tàn bạo, nhưng vừa mới khởi binh đã giết người lập uy thì đúng là một liều thuốc mạnh. Tuy nhiên, tình hình hiện giờ không giống hai chục năm trước. Cục thế đổi thay, Hầu Âm và Vệ Khai tuy là phản tướng, song hành động dựng cờ tạo phản của họ cũng xuất phát từ nỗi khổ lao dịch của dân chúng mà ra, vả lại không phải tất cả người trong thành đều là phản đảng. Quan bức dân phản, chưa phân rõ trắng đen đã giết người hàng loạt, không những làm ảnh hưởng đến hình tượng của nước Ngụy mà cũng gây ra tổn thất to lớn - Suy cho cùng dân nhà Hán cũng là dân nước Ngụy, mấy vạn mạng người đồng nghĩa với mấy vạn nông phu, mấy vạn người nộp thuế ruộng!
Tào Tháo tỏ ý thờ ơ, ông ngồi nghiêng người bên soái án, xoa vầng trán đang đau râm ran:
— Thời loạn thi hành pháp lệnh hà khắc là lẽ thường, bọn chúng đều liên quan đến phản đảng có gì đáng khoan thứ? Đáng giết, giết là đúng.
Quần thần thầm chặc lưỡi: Trong các quận Kinh Châu, duy có Nam Dương thuộc quyền cai quản của Tào Ngụy là vùng đất quan trọng hàng đầu trong việc đối chọi với Tôn, Lưu, thời gian này muốn vỗ về bách tính nơi đây còn chưa được, thế mà lại vung đao tàn sát, hẳn là không tốt cho việc ổn định Tương, Phàn. Nhưng đứng trước vị đại vương nóng nảy phức tạp này, chẳng ai dám làm con ngựa biết hí trong đội nghi trượng[7], mãi lúc lâu sau Trưởng sử Trần Kiều mới nói:
— Loạn Nam Dương đã được dẹp, quân ta phải cân nhắc đến việc mau chóng tăng viện binh cho Hán Trung.
Nhưng Tào Tháo lại nói:
— Dư đảng của quân phản loạn tại các huyện còn chưa được thanh trừng, quả nhân lệnh cho các bộ Quan Trung hội họp ở Trường An đợi lệnh sai khiến, còn mấy đội quân nữa vẫn chưa đến, chuyện xuất binh phải gác lại ít ngày. - Năm xưa, Tào thị bình định Quan Trung không chỉ dựa vào vũ lực, mà phần lớn nhờ công chiêu hòa của bọn Chung Do, Bùi Mậu. Tuy sự phản bội của Mã Siêu và Hàn Toại sau này đã khiến Quan Trung bị xé lẻ thành các vùng cát cứ, nhưng hầu hết những thế lực nhỏ đó đều chủ động đầu hàng, Tào Tháo không tước mất binh mã của họ. Lần này, ông triệu tập các bộ quân không chỉ để tăng viện cho Hán Trung mà còn vỗ về những người lĩnh binh, bởi ông đã giết quá nhiều nhân sĩ Quan Trung từ sau cuộc tạo phản của Cảnh Kỷ, Vi Hoảng lần trước. Trong những ngày đốc thúc dẹp loạn, Tào Tháo đã tiếp kiến các bộ quân như Khương Tự, Dương Thu, Lương Khoan, còn lại là những đầu mục nhỏ, rõ là ông mượn cớ trì hoãn xuất binh. Kỳ thực, hai tháng nghỉ ngơi ở Trường An, trong lòng Tào Tháo manh nha xuất hiện ý nghĩ cầu may, ông không còn hy vọng tiêu diệt được Lưu Bị, chỉ cần bọn Hạ Hầu Uyên đánh lui Lưu Bị, bảo vệ được Hán Trung, ông sẽ không phải vất vả bôn ba mà cứ tọa trấn tại Trường An, đợi địch lui rồi thu quân trở về. Tin Từ Hoảng thắng lợi trong trận sạn đạo Mã Minh càng khiến suy nghĩ của ông thêm chắc chắn.
Trần Kiều nhìn ra tâm tư của Tào Tháo, kiên trì nói:
— Hán Trung vốn liền một dải với Thục Quốc, là nơi có địa thế hiểm yếu do tự nhiên tạo nên. Lưu Bị ở trong đất Thục, không lấy được Hán Trung thì không chịu yên, ngược lại quân ta không phá được Thục, thì Hán Trung không thể thoát khỏi sự quấy nhiễu của chúng. Tình hình đối địch giống như sao Sâm với sao Thương, không thể xuất hiện cục thế dung hòa hai nhà cùng dựng, mong đại vương sớm định đoạt.
Lời này thực sự chí lý, phân tích thấu đáo tình thế giữa quân Tào và quân Thục, nhưng Tào Tháo nhìn xung quanh, chỉ bảo:
— Đợi thêm ít ngày nữa, tướng lĩnh các bộ Quan Trung còn ai chưa tới?
Chủ bạ Dương Tu vội lấy ra một bản danh sách, vừa lật xem vừa nói:
— Các bộ của Triệu Cù, Diêu Quỳnh, Bàng Cung đều đang trên đường đi, không quá một hai ngày nữa sẽ đến nơi, nhưng còn một đô úy ở phía tây Vân Dương, sứ giả đã giục hai lần mà vẫn không chịu tới.
— Thật to gan, quả nhân cho gọi mà dám không đến. Hắn có bao nhiêu quân?
— Tính cả gia quyến, đàn bà và trẻ nhỏ cũng chưa đến một vạn. - Dương Tu cười nói, - Người này tám phần chưa từng yết kiến đại vương nên có phần sợ hãi, lo đại vương đoạt mất binh quyền. - Những đầu mục Quan Trung này nhân lúc thiên hạ đại loạn mà chiếm lấy một mẫu ba phân đất, thuộc hạ đều là bộ khúc riêng và đa phần là đồng hương, cho nên họ sợ Tào Tháo tiếp quản binh mã của mình cũng là lẽ đương nhiên.
— Hắn tên là gì?
— Hứa Du ạ.
— Sao? - Tào Tháo ngỡ mình nghe lầm.
Dương Tu cũng ngạc nhiên, xem kỹ lại danh sách, thấy mình không hề nhìn nhầm:
— Thật trùng hợp, đô úy này đúng là cũng tên Hứa Du.
Hứa Du này không giống Hứa Du kia, hai người họ không liên quan gì đến nhau, nhưng Tào Tháo vừa nghe thấy cái tên này hai mắt liền đỏ sọng - Ông bất mãn chuyện cố hữu Hứa Tử Viễn cậy mình có công cao mà ngạo mạn nên đã giết chết ông ta, một năm trước lại giết cả Lâu Tử Bá, hình ảnh về cái chết của hai người họ vẫn thường lởn vởn trong đầu ông. Bỗng nhiên nghe đến cái tên này, Tào Tháo chợt xuất hiện một ý nghĩ quái dị, đô úy Hứa Du đó phải chăng là Hứa Tử Viễn sống lại để về sỉ nhục, coi khinh ta?
— To gan! - Tào Tháo đập soái án, - Đúng là bọn ngông cuồng không coi ý trên ra gì, quả nhân phải đích thân dẫn quân tiêu diệt hắn! Người đâu, chuẩn bị binh mã! Chuẩn bị ngay tức khắc!
Quần thần nhìn nhau dò xét: Đại vương bỏ mặc Hán Trung không đi đánh Lưu Bị, lại muốn liều với một tên đầu mục nhỏ bé, mang bát vàng chọi với vại sành, liệu có đáng không?
Trần Kiều can gián:
— Người này tuy có tội, nhưng không đến mức phải xuống đao giết hại. Chi bằng đại vương sai người phủ dụ, lệnh cho hắn cùng đi dẹp Lưu Bị, lấy công chuộc tội…
— Im miệng! Kháng lệnh có chém chết cũng chưa hết tội, há lại làm lợi cho hắn? - Tào Tháo nổi giận với nhân vật này, - Ta muốn giết hắn xem ai còn dám xem thường ý trên, xem thường quả nhân! - Lúc này ngay cả bản thân ông cũng hơi mông lung, không biết rốt cuộc mình tức giận với Hứa Du nào, - Ý quả nhân đã quyết, người nào còn can ngăn ta sẽ không bỏ qua! - Rồi rút thanh bội kiếm cầm ngang người.
Quần thần trông thấy vậy đều khiếp sợ, không ngờ chút chuyện vụn vặt lại ầm ĩ thành ra thế này, thấy bên ngoài nhận được lệnh do thân binh truyền đạt đã bắt đầu điều động binh mã, trong lòng mọi người không khỏi lo lắng: Chưa đến Hán Trung đã xảy ra phản loạn, giờ lại gây chiến nội bộ, lòng quân càng bất an. Đại vương đã phải mất rất nhiều tâm sức vỗ về chư tướng Quan Trung, nếu thực sự giết tên Hứa Du kia thì kiểu gì cũng bị quy là giết tướng đoạt binh, bao nhiêu cố gắng trước đó đều uổng phí hết.
Đốc quân Đỗ Tập không nhịn được nữa, ỷ mình được Tào Tháo sủng tín, bước ra khỏi hàng thi lễ, nhưng chưa kịp mở miệng, Tào Tháo đã lạnh lùng nói:
— Quả nhân đã bàn tính đâu đấy, chẳng lẽ khanh không nghe thấy những lời ta vừa nói?
Đỗ Tập nuốt nước miếng, bạo gan nói:
— Nếu chủ ý của đại vương là đúng đắn, chúng thần tất sẽ giúp người hoàn thành, nhưng nếu chủ ý của đại vương không thỏa đáng, chúng thần há lại không can gián?
Câu này của ông ta chỉ thẳng chủ ý của Tào Tháo là không đúng đắn, đổi lại là người khác thì đã gặp rủi. Nhưng Tào Tháo mến tài của Đỗ Tập, mấy năm nay còn bổ nhiệm ông ta làm Đốc quân Trường An, biết ông ta nắm rõ tình hình các bộ quân Quan Trung nên không muốn nổi giận với ông ta, mà chỉ nói vẻ không hài lòng:
— Hứa Du coi thường quả nhân, nếu không trừng trị nghiêm khắc sao dựng được uy nghi? Khanh nói chủ ý của quả nhân không thỏa đáng, vậy theo ý khanh nên xử trí thế nào?
Đỗ Tập không trả lời ngay mà hỏi ngược lại:
— Đại vương cho rằng Hứa Du này là người thế nào?
Tào Tháo lừ mắt nhìn ông ta:
— Chỉ là một tên tầm thường.
— Đại vương nói rất đúng. - Đỗ Tập mỉm cười, - Chỉ hiền nhân mới hiểu được hiền nhân, chỉ thánh nhân mới hiểu được thánh nhân, một kẻ tầm thường như Hứa Du làm sao hiểu được sự anh minh thần vũ của đại vương?
Lời này nói đúng chỗ khó chịu của Tào Tháo: Dù là Hứa Tử Viễn năm xưa hay Hứa Du bây giờ, việc Tào Tháo không thể tha thứ được là bọn họ dám cả gan coi thường quyền uy của ông. Thực ra không chỉ riêng chuyện này, trăm ngàn nỗi phiền muộn của Tào Tháo cũng đều bắt nguồn từ đây. Do con đường trị lý xã tắc thay đổi, do thế gia đại tộc lấn dần vào sĩ đồ, càng do bản thân ông không thể lên ngôi thiên tử, nên ông luôn cảm thấy một Ngụy Vương như mình chưa đủ oai phong, lại thêm bệnh tật đeo bám, phản loạn liên tiếp xảy ra, ông một mực nghĩ rằng nhiều người không thuần phục mình, giấu giếm mình, vì vậy mới phẫn nộ, muốn giết người lập uy, thậm chí còn tìm đủ cách gây khó dễ cho Tào Phi. Đỗ Tập không vội giải thích, mà mượn lời này để lấy lòng Tào Tháo, hạ thấp người kháng lệnh thành kẻ tầm thường, ngu dốt không lĩnh hội được ý trên, đúng là nói phải củ cải cũng nghe, thỏa mãn lòng hư vinh đang tan vỡ của Tào Tháo. Quả nhiên, sắc mặt Tào Tháo dịu dần đi.
Đỗ Tập thấy có hiệu quả, vội rèn sắt trong lúc còn nóng:
— Hiện giờ sài lang đang cản đường, mà ta lại đi trừ khử hồ ly trước, người ngoài sẽ nói đại vương né mạnh đánh yếu, như vậy tiến quân không được coi là dũng mãnh, lui quân không được coi là nhân từ. Thần nghe nói: “Thiên quân chi nỏ bất vi hề thử phát cơ, vạn thạch chi chung bất dĩ đình chàng khởi âm.”[8] Một tên Hứa Du tép riu sao phải phiền đến thần uy của đại vương? - Đỗ Tập vốn là người ngay thẳng, nay cũng dần dần biết cách xu nịnh, dẫn dắt. Biết làm sao được, ai bảo ông ta đi theo lão chủ nhân như thế, đành phải nhập gia tùy tục.
Tào Tháo chậm rãi nói:
— Cũng có lý… Vậy việc này giao cho các khanh giải quyết.
Trần Kiều tiếp lời:
— Xin đại vương yên tâm, vi thần nhất định sẽ trừng trị nghiêm khắc hắn ta.
Đỗ Tập đưa mắt nhìn binh sĩ xếp hàng ngoài doanh, lại nói:
— Binh mã đã được chuẩn bị, theo ý vi thần chớ ngại…
Tào Tháo biết ông ta định nói gì, tra lại bội kiếm vào vỏ, cắt ngang lời:
— Đã chuẩn bị xong binh mã rồi, quả nhân lệnh cho khanh dẫn năm ngàn quân tới Hán Trung trước, đôn đốc việc quân, khanh thấy sao?
Đỗ Tập thầm kêu khổ: Ta muốn khuyên đại vương phát binh đến Hán Trung, ai ngờ người lại phái ta đi trước, vừa nãy còn hồ đồ sao giờ lại sáng suốt thế? Ông ta định khuyên thêm vài câu, nhưng đã nói hợp tình hợp lý vậy, không thể đùn đẩy được nữa, đành nhíu mày lĩnh mệnh.
Tào Tháo giao cho ông ta một tấm lệnh tiễn, hùng hồn bảo:
— Khanh cứ yên tâm đi trước, quả nhân xử lý xong công việc ở đây sẽ điều quân theo sau… Nếu không còn việc gì khác, các khanh đều lui xuống cả đi.
Quần thần ấm ức cáo lui. Đỗ Tập đi thu dọn đồ đạc chuẩn bị lên đường, bỏ lại Trần Kiều đang khó xử, lẩm bẩm một mình:
— Ta đã nhận chuyện của Hứa Du, nhưng phải xử trí thế nào đây? Chẳng lẽ thực sự phải hỏi tội hắn?
— Có gì phiền phức đâu! - Dương Tu cười hì hì, - Ngài sai sứ giả đi chuyến nữa, nói rõ lợi hại, bảo hắn tới thỉnh tội với đại vương là được. Chẳng qua đại vương chỉ nhất thời tức giận thôi, không tin ngài cứ đợi mà xem, không đến hai ngày đại vương sẽ quên sạch chuyện này.
Bọn Hoàn Giai, Triệu Nghiễm gật gật đầu: Đại vương đúng là càng già càng giống tính nết trẻ con, khiến người ta chẳng biết đằng nào mà lần. Có điều, trẻ con ầm ĩ cũng chẳng sao, đằng này đại vương là vua một nước, bất cứ hành động nào của người cũng liên quan đến sự an nguy của xã tắc!
Thêm một vết thương
Tào Tháo không thực hiện lời hẹn của mình, Đỗ Tập đi được hơn chục ngày, trung quân vẫn đóng ở Trường An. Tào Tháo đã tiếp kiến hết lượt tướng tá Quan Trung, ngay cả tên Hứa Du kia cũng lật đật chạy đến thỉnh tội, nhưng ông vẫn chưa có ý xuất binh. Mỗi khi quần thần nhắc tới chuyện này, ông lại lấy lý do đợi sức khỏe chuyển biến tốt hơn, nhưng ngày đó chẳng bao giờ đến, ngược lại bệnh đau đầu của ông còn tái phát, trong tình hình đó quần thần cũng không tiện thúc giục, mà điều động các bộ Quan Trung lục tục qua Hán Trung trước.
Những ngày này người khác vẫn thoải mái, chỉ khổ nhất Trần Quần và Tư Mã Ý. Bọn họ theo quân xuất chinh vốn sợ gây chuyện thị phi, từ bữa xảy ra chuyện lần trước[9], hai người nhận thấy trọng trách trên vai mình không hề nhẹ, họ không những phải hành sự thận trọng mà lúc nào cũng phải nói tốt cho thái tử, nhất là càng phải lưu tâm đến Đinh Dực.
Tất nhiên, hiện giờ Tào Tháo không có ý phế truất thái tử, nhưng cũng không nhận qua được kế ly gián cốt nhục của Đinh Dực. Phiền phức ở chỗ Đinh Dực làm Hoàng môn thị lang, chức tước không cao nhưng là cận thần, bọn Tư Mã Ý không thể tùy tiện cầu kiến đại vương như hắn được. May là Hiệu sự Lưu Triệu đã ngầm thể hiện thiện ý, theo dõi nhất cử nhất động của Đinh Dực, hễ thấy Đinh Dực vào đại trướng, hắn lập tức báo với hai người, sau đó họ sẽ tìm lý do mà vào theo.
Một hôm tiết xuân ấm áp, cỏ cây nảy mầm, gió thổi hiu hiu. Tư Mã Ý dậy rất sớm, đang mải xem văn thư Nghiệp Thành mới gửi đến, bỗng Lưu Triệu xộc vào báo:
— Mới sáng ra Đinh Dực đã tới cầu kiến.
— Chẳng thể đề phòng được! - Tư Mã Ý khổ não, mới sáng sớm Đinh Dực đã tới cầu kiến, hẳn là muốn nói xấu sau lưng người khác, bản thân ông ta lại không tìm được lý do nào để xin cầu kiến, huống hồ Trần Quần lại không có ở đây, bên cạnh chẳng có ai cùng bàn bạc đối sách. Nhưng dù thế nào cũng phải nghĩ cách đối phó, Tư Mã Ý cuộn cuốn văn thư đang xem dở vào trong ống tay áo, nghiến răng nghiến lợi chạy tới đại trướng trung quân.
Thân binh thông báo một tiếng, cho phép ông ta vào. Tư Mã Ý hít một hơi sâu, chỉnh lại mũ áo, kính cẩn cúi đầu bước vào trướng. Tào Tháo đầu chít khăn, sắc mặt nhợt nhạt, dáng vẻ mệt mỏi, xem ra tối qua cơn đau đầu lại hành hạ ông, Lý Đương Chi và Nghiêm Tuấn người đứng bên trái kẻ đứng bên phải đấm lưng cho ông. Đinh Dực đang huyên thuyên chuyện gì đó, trông thấy Tư Mã Ý bước vào bỗng im bặt. Tư Mã Ý khom người thi lễ, lưng còn chưa đứng thẳng lên, Tào Tháo đã chất vấn:
— Khanh đã biết việc làm của thái tử ở Nghiệp Thành chưa?
Có ai không biết Tư Mã Ý là tâm phúc của Tào Phi, Tào Tháo hỏi thẳng như vậy ông ta biết phải trả lời thế nào đây? Tư Mã Ý mỉm cười đáp:
— Thần thân ở trong quân tham mưu việc cơ yếu, không biết rõ chuyện ở Nghiệp Thành, nhưng thân là Trung thứ tử của thái tử, nên cũng lưu tâm hơn đến những chuyện liên quan tới thái tử. Thần đã nghe phong phanh ít nhiều những điều người khác bàn luận.
Tào Tháo nói nghiêm túc:
— Mấy hôm trước, Thái phó Lương Mậu qua đời vì bệnh, khanh có biết không?
— Thần đã nghe nói, Lương Thái phó đức cao vọng trọng, thần vô cùng thương cảm. - Câu này Tư Mã Ý nói thật.
— Lương Mậu đúng là người đức cao vọng trọng. - Tào Tháo chuyển chủ đề, - Vậy khanh thấy việc thái tử không an ủi, không ban thưởng trước cái chết của Thái phó liệu có ổn thỏa không?
Tư Mã Ý liếc nhìn Đinh Dực một cái, trong lòng thầm chửi: Đúng là đồ gian xảo! Vội giải thích thay Tào Phi:
— Theo vi thần được biết thì không phải vậy ạ, hôm Lương công mất, thái tử đã đích thân qua phủ phúng viếng, còn tặng tiền bạc cho phu nhân Thái phó, đâu có khinh mạn?
Tào Tháo chưa kịp mở miệng, Đinh Dực đã nói chen vào:
— Trọng Đạt không hiểu ư? Hồi các bậc lão thần như Viên Hoán, Vạn Tiềm qua đời, đại vương xử trí như thế nào? Lương công từng đảm nhận chức Thượng thư phó xạ, được xếp ngang với các vị đại thần hàng công khanh, huống chi ông ấy còn là thầy của thái tử. Giờ thái tử thứ nhất không hoãn triều, thứ hai không lấy danh nghĩa của triều đình để an ủi mà lại tặng tiền riêng, há không phải coi thường vương pháp, xem trọng ơn riêng sao? - Những lời này thật độc địa, nhất là câu “coi thường vương pháp, xem trọng ơn riêng” càng khiến Tào Tháo không thể nào chấp nhận được.
Tư Mã Ý chợt thấy lo sợ, nhưng lại giả bộ ung dung:
— Đinh Hoàng môn nói sai rồi, thái tử làm thế là nghĩ tới lễ pháp đấy. Lương công là thầy của thái tử, lại là đại thần trong triều, chuyện hoãn triều, ban thưởng phải do đại vương định đoạt, nếu thái tử tự ý chủ trương há chẳng phải là kẻ cúng tế vượt quyền thay thế người đầu bếp? - Nói đến đây, ông ta khom lưng thi lễ với Tào Tháo, - Thái tử chưa hoãn triều, chưa ban ngân lượng vải vóc là để đợi đại vương, muốn lấy tiếng yêu mến người hiền cho đại vương. - Tào Phi đúng là có lý do như ông ta nói.
Đinh Dực thấy Tư Mã Ý mới nói mấy câu đã làm đảo lộn lý lẽ, nào chịu để yên, lại nói:
— Không phải, không phải vậy, gặp đại tang không thể chu toàn tiểu lễ, Lương công mất trong triều, không kẻ sĩ nào không đau buồn. Đáng lẽ triều đình phải ban thưởng, một là an ủi tang gia, hai là còn để trăm quan nhìn vào. Nghiệp Thành và Trường An cách nhau cả ngàn dặm, đợi bẩm báo qua lại người chết đã được hạ táng rồi, há không làm lạnh lòng nhân sĩ trong thiên hạ? Thái phó, Thượng công là thầy của đất nước. Chu quan chép rằng, “Thái sư, Thái phó, Thái bảo từ duy tam công, luận đạo kinh bang, tiếp lý âm dương.”[10] Một trọng thần như ông ấy vốn không nên lo liệu qua loa. - Đinh Dực lợi khẩu chẳng kém gì huynh trưởng của mình, Tào Phi chưa hoãn triều, ban thưởng còn nói được như thế, nếu thật sự làm rồi, e là lúc này ông ta sẽ tố Tào Phi vượt quyền. Làm một bài văn bàn về những chuyện như thế này là bới lông tìm vết, kiểu gì cũng tìm ra được ý để nói.
Tư Mã Ý đáp lại:
— Đinh huynh lại lầm rồi. Lương công là Thái phó của thái tử, không phải Thái phó của đất nước, thái tử dùng lễ đệ tử lo liệu chuyện này là thỏa đáng.
Đinh Dực nhếch miệng cười:
— Trọng Đạt là người đọc sách có lẽ không cần ta giải thích nhiều, từ thời thượng cổ đã đặt ra chức Thái phó, ban đầu chính là quan phò tá thiếu chủ. Xét các câu chuyện trong triều ta, người đầu tiên nhận chức Thái phó là An Quốc hầu Vương Lăng, phò tá thiếu chủ là Hiếu Huệ hoàng đế.
— Vương Lăng nhận chức Thái phó do Lã hậu bổ nhiệm, bề ngoài là thăng quan nhưng thực chất lại là giáng quyền, nhằm tước quyền Thừa tướng của ông ấy, sao có thể coi việc họ ngoại làm loạn triều cương là lệ thường được?
— Việc Hán Cao hậu đặt ra chế độ trong triều đã được chép vào sử sách, vì sao không được coi là chính pháp?
— Quang Vũ Đế có giáo huấn, Lã hậu làm loạn triều cương không được đưa vào Minh đường, từ thời trung hưng đến nay chỉ tôn Bạc thái hậu, mẫu thân Hiếu Văn đế là Cao hậu…
Hai người bắt bẻ lẫn nhau, mới đầu còn tùy việc mà xét, sau dần biến thành tranh cãi về quan chế lễ pháp, bỏ việc xử trí tang lễ của Lương Mậu như thế nào sang một bên. Bề ngoài họ tỏ vẻ ôn hòa nhã nhặn, có hỏi có đáp, nhưng thực ra trong lòng lại rất căm ghét đối phương. Tào Tháo đứng bên cạnh không nói gì, Lý Đương Chi thấy mình ở lại như vật cản, lẳng lặng lui xuống.
Cuối cùng Tư Mã Ý già dặn cũng hơn một bậc, thấy cứ tiếp tục tranh cãi thế này, dù có nói ba ngày ba đêm cũng không phân được đúng sai, mà Tào Tháo lại đang nhăn mày chau mi như thể sắp không còn nhẫn nại được nữa, ông ta biết mình không thể lôi thôi, vội chuyển luận điểm, chắp tay nói:
— Tạm không bàn về chế độ cũ của triều ta, năm xưa đại vương xuất nhập sĩ đồ được Thái phó Kiều Huyền hậu ái, có tình thầy trò. Năm Kiến An thứ bảy, đại vương đích thân đi Tuy Dương viếng mộ Kiều Huyền, dùng lễ thái lao bái tế xuất phát từ điển lễ của triều đình, còn dùng gà béo, rượu ngon thết khách thể hiện tình cảm của đệ tử. Việc làm của thái tử hiện nay giống hệt đại vương, chẳng qua là không ở chức vị nào thì không được mưu tính việc tại chức vị đó, tận nghĩa đệ tử mà lại nhường việc ban thưởng của triều đình cho nhà vua, có chỗ nào không đúng?
— Việc này… - Đinh Dực không dám tranh cãi nữa, nói tiếp thì đến cả Tào Tháo cũng làm sai!
— Ha ha ha! - Tào Tháo bỗng bật ra tiếng cười lạnh lùng, - Các khanh tranh cãi đủ chưa? Cả đêm qua quả nhân đau đầu không chợp mắt được, mới sáng ra các khanh đã lấy những chuyện vụn vặt như lông gà, vỏ tỏi ra để làm phiền ta sao? Các khanh ồn ào gì chứ? Cẩn thận ấn quan của mình! - Một câu nói của Tào Tháo khiến Đinh Dực và Tư Mã Ý đều phải cúi rụp đầu. Thực ra, chuyện này do Đinh Dực tâu riêng, Tào Tháo chủ động kéo Tư Mã Ý vào, giờ ông thấy mình bị làm phiền lại trở mặt, hai thần hạ không dám nói lý với ông, cúi gằm đầu nghe lệnh.
— Theo lệnh của quả nhân, ban thưởng tiền của và vải vóc cho gia quyến của Lương Mậu, vời nhi tử của ông ta vào triều làm Lang quan. Thái tử xử trí việc này có ổn thỏa hay không thì sự cũng đã rồi, không được phép nhắc lại nữa. - Tào Tháo nói dứt khoát, coi như lật sang chuyện khác.
Tư Mã Ý vừa thở phào, lại nghe Tào Tháo hỏi:
— Trọng Đạt cầu kiến có việc gì? - Tim ông ta lại như treo ngược, ông ta vốn chỉ vào canh chừng Đinh Dực chứ cũng không có việc gì, nhưng nghe đại vương hỏi vậy cái khó ló cái khôn, ông rút cuốn văn thư cuộn trong ống tay áo ra:
— Phản loạn Nam Dương mới được dẹp xong, trong triều có người kiến nghị nên chia đất Nam Dương làm một quận khác. Một là để thực hiện giáo hóa chăn dân, cai quản chặt chẽ hơn, hai là đề phòng quân địch ở Kinh Nam. Thần thấy có lý, xin đại vương xem qua tấu chương.
Không ngờ con dao này lại tra đúng vỏ, Tào Tháo vui vẻ gật đầu:
— Quả nhân đã xem qua bản tấu chương đó, cũng thấy có lý. Đêm qua ta trăn trở suy nghĩ, phía tây Nam Dương gần với Phòng Lăng, đất rộng người thưa mà núi non hiểm trở, nếu nằm hết trong quản hạt của Đông Lý Cổn thì thật khó chu toàn. Ta định chia phía tây Nam Dương thành các huyện nhỏ, lấy Nam Hương làm trị sở, đặt ra quận Nam Hương, các khanh thấy sao?
— Đại vương thánh minh. - Tư Mã Ý và Đinh Dực hiếm khi đồng thanh.
Tào Tháo lại nói:
— Ngoài ra, Nam Dương tạo phản cũng một phần do Thứ sử cai quản không hiệu quả. Lý Lập hiện tuổi cao lắm bệnh, phải thay luôn người mới. Quả nhân xét khắp quần liêu mạc phủ thấy Phó Phương và Hồ Tu cũng có tài cán, định phái Phó Phương làm Thái thú Nam Hương, còn Hồ Tu tiếp nhận vị trí Thứ sử Kinh Châu. - Hai người Phó, Hồ đều được nhận vào mạc phủ sau khi Tào Ngụy dựng nước, Tào Tháo cất nhắc bọn họ thể hiện ý trọng dụng người mới.
Tư Mã Ý nghe Tào Tháo muốn chọn hai người này thì bất giác nhíu mày, nói thẳng:
— Phó Phương làm việc hấp tấp, đối đãi khắc bạc ít đức với kẻ dưới, còn Hồ Tu tính tình kiêu ngạo, lại thích đưa ra những lập luận quái lạ. Hai người họ xử lý công việc trong mạc phủ còn được, chứ để họ giữ vùng biên ải thì không thích hợp, xin đại vương xem xét lại.
Tào Tháo nghĩ ông ta có tình riêng:
— Khanh nói hai người họ không có tài gánh vác việc này, sao quả nhân lại thấy họ thích hợp? Phải chăng vì khanh nghĩ bọn họ không thân với thái tử?
— Thần không dám. - Tư Mã Ý không ngờ một câu nói của mình lại gợi lên sự đố kỵ trong lòng Tào Tháo, ông ta không dám nhiều lời, - Tất cả xin nghe theo chủ ý của đại vương.
— Quyết định như thế đi. - Tào Tháo vẫy tay gọi Nghiêm Tuấn, - Báo với Dương Tu một tiếng, bảo hắn thảo sắc lệnh nhận mệnh cho Phó Phương và Hồ Tu.
Nghiêm Tuấn cười nói:
— Dương chủ bạ hiện không có ở đây, hôm qua ngài ấy đã xin đại vương cho nghỉ. - Phụ thân Dương Tu là Dương Bưu đã ngoài tám mươi tuổi, từ khi từ chức Thái úy, ông ta làm người nhàn rỗi, cáo bệnh không vào triều, sau cuộc tạo phản của Cảnh Kỷ thì cáo lão từ quan, giờ ẩn cư tại ngôi nhà cũ của Dương thị ở Trường An. Dương Tu làm bề tôi nước Ngụy nhận chức ở Nghiệp Thành, ít có dịp về đây, nên muốn tranh thủ đi thăm phụ thân.
Tào Tháo thở dài:
— Ây dà, ta ngày càng đãng trí… Vậy thông báo thẳng cho Tôn Tư, Lưu Phóng để bọn họ viết sắc lệnh. - Từ khi Vương Xán, Ứng Sướng qua đời, chức Ký thất vẫn bỏ không, bọn Mậu Tập, Vương Tượng tuy cũng có tài văn chương hơn người, nhưng tuổi đời còn trẻ, lại thiếu kinh nghiệm nên Tào Tháo sai Lưu Phóng, Tôn Tư lo các việc thảo sắc lệnh. Hai người họ bước vào sĩ đồ từ chức tiểu lại trong quận huyện, sau đó làm đến duyện thuộc trong tướng phủ, ngoài thông thạo lối hành văn kiểu cách ra, bọn họ còn am hiểu chính sự nên làm rất tốt việc này. Tào Tháo đổi tên quan, gọi bọn họ là Bí thư lang, thuộc sự quản chế của Thiếu phủ, là cận thần của Ngụy Vương.
Nghiêm Tuấn lĩnh mệnh mà đi, Tào Tháo lại quay sang giáo huấn Tư Mã Ý:
— Khanh là con của Tư Mã Kiến Công, hậu duệ danh môn, phò tá thái tử thì phải dẫn dắt theo chính đạo của nhà danh giá, chớ có chệch đường… Lui xuống đi.
— Dạ. - Tư Mã Ý thi lễ cáo lui, Đinh Dực không còn lời nào để nói, cũng hậm hực lui xuống. Hai người ra ngoài đại trướng lừ nhau một cái, ai cũng mang sự tức giận nhưng vẫn cố mỉm cười, chắp tay từ biệt. Lần này không ai chiếm được ưu thế, coi như hòa, để xem lần sau thế nào.
Mới sáng ra đã ồn ào, mà đêm qua Tào Tháo lại không ngủ được, cũng thấy mệt mỏi, ông đặt tay lên trán, toan nằm nghỉ một lúc, nhưng lại có Tôn Tư và Lưu Phóng tới cầu kiến.
— Vi thần đã soạn xong sắc lệnh, xin đại vương xem qua. - Tôn Tư trình lên bằng hai tay.
— Nhanh vậy! - Tào Tháo khá ngạc nhiên, - Vẫn là những người như các khanh ở lâu trong chốn cửa công nên làm việc hiệu quả.
Tôn Tư nhận được lời khen, nói mấy câu khiêm tốn:
— Đại vương quá lời, thần chẳng qua chỉ là lão lại cửa công, còn không bằng sở trưởng…
— Cái gì thế này? - Tào Tháo mở sắc lệnh ra xem, mình thốt lên - Đó không phải sắc lệnh nhận mệnh cho Phó Phương, Hồ Tu, mà là mệnh lệnh tấn thăng Hà Quỳ làm Thái phó cho thái tử. Sau khi Lương Mậu chết, vị trí Thái phó bỏ không, Tào Tháo cũng có ý định cho Hà Quỳ ngồi vào chỗ trống này, nhưng ông chưa giao việc, sao Tôn Tư dám tự ý thảo lệnh?
Nghe Tào Tháo hỏi vậy, Tôn Tư cũng thấy lạ, tiến lên xem, vừa nhìn vào đã quỳ sụp xuống:
— Xin đại vương thứ tội, vi thần nhất thời sơ suất. - Rồi rút từ trong ống tay áo ra một quyển văn thư khác, - Đây mới là sắc lệnh bổ nhiệm Thứ sử…
— Sắc lệnh này là thế nào? - Tào Tháo đã đọc được, há lại không truy cứu?
— Thần… - Tôn Tư biết mình đã để lộ sơ suất, lắp ba lắp bắp không nói lên lời, - Không phải đại vương cũng có ý tấn thăng Hà Quỳ hay sao?
Tào Tháo càng nổi trận lôi đình, ném bó thẻ tre vào người Tôn Tư, mắng rằng:
— Tấn thăng hay không là việc của quả nhân, các ngươi chỉ được phép phụng mệnh thảo lệnh, sao dám chuyên quyền? - Dù có hợp ý ông hay không, thì việc Tôn Tư động vào miếng thịt cấm[11] chính là đại kỵ, bởi nó chạm vào chỗ nhạy cảm nhất trong lòng Tào Tháo.
Tôn Tư sợ đến mức mặt mũi tái mét, run rẩy dập đầu:
— Thần biết tội rồi ạ!
— Biết tội? Há chỉ cần biết tội là có thể bỏ qua việc ngươi chuyên quyền? Hôm nay ta không giết ngươi thì sao sửa chính được phép tắc? - Tào Tháo định gọi thân binh vào.
— Xin đại vương tha mạng! - Trông Tôn Tư co rúm dưới nền đất, sợ đến mất hồn, Lưu Phóng cũng quỳ xuống, - Chúng thần không dám chuyên quyền, là thụ ý mà làm ạ!
— Sao? - Tào Tháo giật mình, - Ai sai khiến các ngươi?
— Người đầu tiên ông nghĩ đến là Tào Phi.
Nhưng Lưu Phóng lại nói:
— Là chủ bạ Dương Tu ạ, ông ấy…
— Hắn nói gì? Hắn dám giả truyền mệnh lệnh của ta?
— Không phải, không phải vậy ạ! - Hằng ngày bọn họ cùng làm việc với nhau, có quan hệ gần gũi, Lưu Phóng không muốn hãm hại Dương Tu, vội giải thích, - Sáng hôm nay, trước lúc Dương Chủ bạ rời khỏi doanh đi thăm phụ thân, có căn dặn chúng thần bệnh đau đầu của đại vương tái phát, tâm trạng người bất an, dặn chúng thần hầu hạ đại vương cẩn thận. Ngoài ra còn có mấy công văn nữa, ông ấy nói đại vương có thể sẽ ban lệnh, bảo chúng thần tốt nhất nên sớm soạn sẵn ra, tránh để đến lúc cần dùng ngay mà lại rề rà làm người nổi giận. Thực ra, ông ấy cũng chỉ có ý tốt…
Tôn Tư lúc này mới dần lấy lại tinh thần, nói chen vào:
— Sắc lệnh tấn phong Hà công và nhận mệnh cho hai ông Phó, Hồ đều nằm trong suy nghĩ đó, thần bạo gan thảo trước, không ngờ ban nãy lại lấy nhầm.
Tào Tháo sửng sốt, lại gặng hỏi:
— Ngoài hai việc này ra, hắn còn nhắc tới việc gì nữa không?
Lưu Phóng không dám giấu, rút nốt mấy sắc lệnh đã soạn sẵn giấu trong ngực, trình hết lên.
Tào Tháo giật lấy, mở ra xem càng kinh ngạc hơn: Truy tôn Công tào Nam Dương Ứng Dư! Ứng Dư là Công tào, thuộc hạ của Thái thú Nam Dương Đông Lý Cổn, lúc Hầu Âm tạo phản muốn giết Đông Lý Cổn, Đông Lý Cổn hốt hoảng bỏ chạy, quân phản loạn truy đuổi bắn tên phía sau, trong lúc nguy cấp Ứng Dư đã xả thân bảo vệ chủ nhân, chắn trước người Đông Lý Cổn, trúng bảy mũi tên bị thương nặng mà chết. Mãi hai ngày trước, Tào Tháo mới nghe được tin này, thêm vào đó, việc đồ sát Uyển Thành tuy ngoài miệng ông nói là đúng, nhưng trong lòng hơi lo lắng, bất an, bởi vậy cũng có ý khen thưởng Ứng Dư để mua chuộc nhân tâm. Nhưng ông còn chưa ban lệnh, không ngờ Dương Tu đã đoán trước được, tới cách khen thưởng là ban một ngàn hộc ngũ cốc, tu sửa phần mộ cũng hoàn toàn trùng với suy nghĩ của ông.
Tào Tháo ném cuốn sắc lệnh đó sang một bên, xem tiếp cuốn khác, từ kinh ngạc chuyển sang sợ hãi: Nhận mệnh Hình Ngung làm Thiếu phó của thái tử! Hình Ngung xưa nay được xưng tụng là “Hình Tử Ngang đức hạnh vời vợi”, trước từng làm Gia thừa trong phủ Lâm Tri hầu, từ khi sắc lập Tào Phi làm thái tử, ông ta bị điều khỏi phủ Lâm Tri hầu. Sau khi Lương Mậu chết, nếu Hà Quỳ kế nhiệm chức Thái phó thì vị trí Thiếu phó mà ông ta để lại sẽ bị trống, Tào Tháo cũng ngầm định bổ nhiệm Hình Ngung vào vị trí này. Tuy ông không ít lần chỉ trích Tào Phi, thậm chí còn muốn chọn mấy nhi tử có công tích làm người cai quản những địa trấn quan trọng, nhưng đó chỉ là những suy nghĩ và hành động xuất phát từ lòng ưa hư vinh, muốn độc chiếm quyền lực và không mấy hài lòng về con đường vi chính gần gũi thân sĩ đại tộc của Tào Phi, nên ông mới muốn cất nhắc một số hậu bối là thân tộc để áp chế hào tộc, chứ thực ra ông vẫn muốn củng cố ngôi thái tử của Tào Phi. Những người có tiếng tăm lại không phải xuất thân là hào cường như Hình Ngung tất nhiên phải đi theo Tào Phi… Nếu nói truy thưởng cho Ứng Dư là một thủ đoạn lôi kéo nhân tâm, thì việc bổ nhiệm Hình Ngung lại liên quan đến kế hoạch cai trị xã tắc của Tào Ngụy, vậy mà tất cả đều bị Dương Tu đoán ra. Nghĩ lại ban đầu Dương Tu mách nước giúp Tào Thực trả lời bài khảo hạch, sau lại quay sang cung kính với Tào Phi, và giờ là chuyện của Hình Ngung, từ đầu đến cuối ông ta đều bắt được “mạch” của Tào Tháo. Thử hỏi làm sao Tào Tháo không sợ hãi khi biết trên đời này có một người hiểu mình như trong lòng bàn tay?
Trong lòng ông dậy sóng, nhưng vẻ mặt dần bình tĩnh trở lại, nhìn hai người Tôn, Lưu với ánh mắt sắc lạnh:
— Trước đây từng có chuyện như thế này chưa?
Tôn Tư sợ đến ngây người ra:
— Văn chương kiểu cách đều có một khuôn mẫu chung, không khác nhau là mấy, chúng thần thường thảo sẵn vài cái chừa lại phần danh tính, chức tước, để khi nào đại vương cần đến thì…
— Ta không hỏi cái đó! - Tào Tháo phất tay áo, - Ta hỏi trước đây Dương Tu đã từng tiết lộ với các ngươi chưa?
— Việc này… - Lưu Phóng muốn bao che cho Dương Tu, nhưng thấy Tào Tháo nhìn mình với ánh mắt nghiêm nghị, không dám giấu giếm, - Trước đây từng nói đôi lần.
— Hừ. - Tào Tháo im lặng, tư lự hồi lâu mới chậm rãi nói, - Tự ý soạn sẵn chiếu lệnh là tội không thể tha, nhưng niệm tình các ngươi thành thật khai báo, lại xuất phát từ ý tốt, quả nhân không truy cứu…
— Tạ ơn đại vương! - Hai người Tôn, Lưu dập đầu lia lịa.
❀ ❀ ❀
[1] Người coi mộ quản lý đất công mộ. Phàm là chư hầu đặt mộ ở phía trước, bên phải và bên trái, còn quan đại phu ở phía sau.
[2] Triều Tân (năm 8 - 23 sau Công nguyên) là triều đại nối tiếp sau nhà Tây Hán, do ngoại thích là Vương Mãng lập ra, nên được gọi là “Tân Mãng”. Tháng năm 8, Vương Mãng phế hoàng thái tử Lưu Anh làm Anh Định hầu, tự xưng làm hoàng đế, đổi quốc hiệu là Tân. Năm 23, nhà Tân bị Lục Lâm quân lật đổ, triều đại này chỉ có một đời hoàng đế và kéo dài mười sáu năm. Sau các cuộc khởi nghĩa nông dân, Lưu Tú (tức Quang Vũ Đế) lập nên nhà Đông Hán vào năm 25, và thống nhất thiên hạ năm 26.
[3] Vì sao nói lịch tháng Giêng do nhà Chu ban bố? Đó là vì tỏ ý đại thống nhất vậy.
[4] Chỉ nơi ăn chơi trụy lạc trong cung được dựng cho nữ nhân ở, về sau gọi là kỹ viện.
[5] Chỉ những lão thần đáng tin cậy, kinh nghiệm phong phú, có thể bàn bạc việc nước.
[6] Chỉ con đường được lát bằng ván gỗ bắc qua khe núi hiểm trở.
[7] Đội nghi trượng là đội quân cầm cờ lọng theo nhà vua khi đi tuần. Những con ngựa được dùng trong đội nghi trượng không được phép hí để giữ quy củ trật tự, cho nên người ta dùng cụm từ ngựa trong đội nghi trượng biết hí để nói về những hành vi đi ngược lại khuôn phép, dám nói ra những điều kiêng kỵ trong chế độ chính trị.
[8] Cung nặng trăm cân không bắn tên chỉ để giết chuột, chuông nặng vạn thạch không phát tiếng chỉ vì cọng cỏ quệt vào.
[9] Ở đây ý chỉ chuyện Tào Tháo viết sắc lệnh định phân phái các nhi tử trấn giữ ba trọng trấn Thọ Xuân, Hán Trung và Trường An, nhưng các quần thần đã ngăn lại được.
[10] Thái sư, Thái phó, Thái bảo là chức tam công. Họ giảng đạo vi chính, trị lý đất nước, điều hoà âm dương.
[11] Đầu thời Tấn Nguyên Đế, đời sống vật chất thiếu thốn, thịt lợn được coi là vật quý để dâng lên nhà vua, quần thần không dám ăn, nên người thời bấy giờ gọi là “thịt cấm”. Về sau “thịt cấm” được dùng để chỉ những thứ quý giá mà người khác không được đụng vào.