Tess Xứ D'urbervilles: Một Người Phụ Nữ Trong Trắng

Lượt đọc: 1080 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 17

❊ ❊ ❊

Đàn bò vừa từ đồng cỏ về tới nơi, các cô gái cùng cánh đàn ông vắt sữa đã túa ra từ những nếp nhà tranh và gian nhà bơ sữa; mấy cô thôn nữ xỏ chân trong những đôi guốc gỗ đế cao, không phải vì thời tiết, mà để giữ cho giày khỏi lấm bùn phân nhão nhoét nơi sân trại. Mỗi cô ngồi ghé trên một chiếc ghế ba chân, đầu nghiêng nghiêng, má phải áp vào mạn sườn bò, vừa đăm chiêu nhìn dọc thân con vật vừa dõi mắt trông theo Tess đang bước lại gần. Cánh đàn ông vắt sữa thì sụp vành mũ che kín trán, mắt cắm gằm xuống đất, chẳng mảy may để ý đến cô.

Trong số họ có một người đàn ông vạm vỡ luống tuổi—chiếc tạp dề trắng dài của ông có phần tinh tươm và sạch sẽ hơn mảnh vải choàng của những người khác, còn chiếc áo khoác bên trong nom cũng tươm tất ra dáng lúc đi chợ—đó chính là chủ trại sữa mà cô đang tìm kiếm. Con người ông mang hai thân phận đối lập rõ rệt: suốt sáu ngày trong tuần là một tay vắt sữa kiêm thợ làm bơ thực thụ tại đây, nhưng đến ngày thứ bảy lại khoác lên mình bộ lễ phục dạ láng bóng, ngồi trang nghiêm nơi hàng ghế gia đình trong nhà thờ, đến mức người ta còn đặt cả một câu vè:

Dick vắt sữa suốt tuần,

Chủ nhật hoá ông Richard Crick.

Thấy Tess đứng nhìn trân trân, ông bèn bước lại phía cô.

Phần lớn những người làm nghề sữa đều hay gắt gỏng vào cữ vắt sữa, nhưng hiềm nỗi ông Crick lại đang mừng rỡ vì có thêm người phụ việc—bởi dạo này việc làm không xuể—nên ông đón tiếp cô rất đỗi ân cần; ông hỏi thăm mẹ cô cùng gia đình—(dẫu đây chỉ là chuyện đãi bôi theo phép lịch sự, bởi thực tình ông nào có hay biết đến sự tồn tại của bà Durbeyfield cho tới khi nhận được bức thư công việc ngắn ngủi báo tin về Tess).

“À—phải rồi, hồi trẻ ta biết rõ xứ của cháu lắm,” ông bảo với giọng dứt khoát. “Dù từ bấy đến nay ta chẳng hề quay lại đó. Hồi trước có một bà cụ chín mươi tuổi sống gần đây, cụ đã qua đời từ lâu lắm rồi, từng kể với ta rằng ở thung lũng Blackmoor có một dòng họ mang cái tên na ná như họ của cháu, vốn gốc gác từ chính vùng này, và đó là một dòng dõi cổ xưa danh giá nhưng gần như đã tuyệt diệt khỏi cõi đời—dẫu con cháu đời sau chẳng hề hay biết. Nhưng lạy Chúa, ta đâu có thèm để tâm đến mấy lời lẩm cẩm của bà già, hơi đâu mà nhớ.”

“Dạ không—chẳng có gì đâu ạ,” Tess đáp.

Đoạn, câu chuyện quay về với công việc thuần túy.

“Cháu vắt cạn bầu sữa được chứ, cô bé? Ta không muốn đàn bò bị cạn sữa non vào cái độ này trong năm đâu.”

Cô quả quyết trấn an ông, và ông đưa mắt nhìn cô từ đầu đến chân một lượt. Thời gian qua cô ru rú trong nhà suốt, nên nước da đã trở nên trắng trẻo, mảnh mai.

“Có chắc là chịu nổi không đấy? Ở đây thì đủ thoải mái cho hạng người thô mộc quen lao động; chứ chúng ta đâu phải thứ sống trong lồng kính ươm dưa chuột.”

Cô khẳng định mình kham được, và lòng nhiệt tình cùng sự sẵn sàng của cô dường như đã chiếm được cảm tình của ông.

“Ừm, chắc cháu muốn một tuần trà, hay miếng gì lót dạ chứ hả? Chưa sao? Ừ thì tuỳ cháu. Nhưng thú thực, nếu là ta thì đi đường xa ngần ấy ta đã khát khô cả cổ họng rồi.”

“Cháu xin vắt sữa ngay bây giờ, để cho quen tay ạ,” Tess nói.

Cô uống tạm một chút sữa tươi cho đỡ khát—khiến ông chủ trại Crick không khỏi ngạc nhiên, thậm chí có phần hơi khinh khỉnh—bởi trong đầu ông chưa bao giờ nghĩ rằng sữa lại có thể dùng làm thức uống giải khát.

“Ồ, nếu nuốt nổi thứ đó thì tuỳ cháu,” ông dửng dưng nói, tay đỡ lấy thùng sữa mà cô vừa nhấp môi. “Đó là thứ ta đã chẳng thèm đụng tới cả mấy năm trời—đời nào ta uống. Tổ cha cái giống của nợ; vào bụng thì nó nặng như chì cho coi. Cháu cứ thử tay với con này xem,” ông nói tiếp, hất đầu về phía con bò gần nhất. “Không khéo con này hơi cứng vú đấy. Bò nhà ta cũng con dễ con khó như người ta cả thôi. Dù sao thì cháu cũng sẽ sớm nhận ra thôi mà.”

Khi Tess đã đổi chiếc mũ đăng-ten lấy chiếc mũ trùm đầu thô mộc, ngồi yên vị trên chiếc ghế con dưới bụng bò, và những tia sữa bắt đầu xối xả từ nắm tay cô xuống thùng, cô dường như cảm thấy mình thực sự đã đặt một nền móng mới cho tương lai. Niềm tin ấy mang lại sự thanh thản, nhịp tim cô đập chậm rãi hơn, và cô có thể ngước nhìn quang cảnh chung quanh.

Đội ngũ vắt sữa làm thành cả một toán nhỏ gồm trai lẫn gái; cánh đàn ông phụ trách những con bò cứng vú khó vắt, còn các cô thôn nữ thì lãnh phần những con thuần tính hơn. Đây là một trại sữa quy mô lớn. Dưới quyền cai quản của Crick có thảy ngót nghét một trăm con bò sữa; và trong cả đàn, nếu không phải đi vắng, đích thân ông chủ trại sẽ tự tay vắt sáu đến tám con. Đó chính là những con bò khó vắt nhất; bởi đám thợ vắt sữa thời vụ chỉ là dân làm thuê bấp bênh, ông không dám giao nửa tá bò này cho họ vì sợ họ tắc trách vắt không cạn; ông cũng chẳng dám giao cho các cô gái, e rằng các cô đuối sức bấm tay không nổi; để rồi theo thời gian đàn bò sẽ bị “cạn sữa non”—nghĩa là mất hẳn sữa. Hậu quả của việc vắt dối không chỉ là sự hao hụt nhất thời, mà hễ lượng sữa vắt ra sụt giảm thì sản lượng tiết sữa cũng sẽ tụt dốc, và rốt cuộc là tịt hẳn.

Sau khi Tess đã bắt nhịp với con bò của mình, một khoảng lặng bao trùm khắp sân trại, không một âm thanh nào phá vỡ tiếng ràn rạt của những tia sữa xối vào vô số đáy thùng, ngoại trừ chốc chốc lại có tiếng quát giục con này con nọ quay mình lại hay đứng yên. Chuyển động duy nhất là những đôi bàn tay nâng lên hạ xuống của thợ vắt sữa và những chiếc đuôi bò phe phẩy đung đưa. Cứ thế mọi người mải miết làm việc, lọt thỏm giữa đồng cỏ thênh thang trải dài tít tắp đến tận hai sườn thung lũng—một bức tranh đồng quê phẳng lặng được bồi đắp từ những cảnh quan xưa cũ đã chìm sâu vào quên lãng, và chắc chắn sắc thái ngày xưa ấy phải khác xa ngút ngàn so với diện mạo của vùng đất ngày hôm nay.

“Theo bụng ta nghĩ,” người chủ trại bỗng đứng phắt dậy khỏi con bò vừa vắt xong, một tay xách chiếc ghế ba chân, một tay nhấc thùng sữa, rồi bước sang con bò cứng vú tiếp theo ở gần đó, “theo bụng ta nghĩ thì hôm nay đàn bò không chịu xuống sữa như mọi bận. Thề có Chúa, con Winker mà cứ ỉm sữa kiểu này thì đến giữa mùa hè chẳng bõ công chui vào gầm nó nữa.”

“Ấy là tại có người mới đến đấy bác,” Jonathan Kail lên tiếng. “Cháu đã thấy mấy chuyện thế này trước đây rồi.”

“Phải đấy. Có khi thế thật. Ta không nghĩ ra đấy.”

“Cháu nghe người ta bảo những lúc như thế sữa nó chạy ngược hết lên sừng ấy ạ,” một cô thôn nữ vắt sữa góp chuyện.

“Chà, vụ chạy ngược lên sừng,” ông chủ Crick đáp giọng hoài nghi, như thể ngay cả thuật phù thủy cũng phải chịu bó tay trước cấu tạo giải phẫu, “ta thì ta chịu, chẳng dám đoan chắc. Nhưng lũ bò cụt sừng cũng ỉm sữa y như lũ có sừng thôi, nên ta không tin lắm. Chú mày có biết câu đố về lũ bò cụt không hở Jonathan? Vì sao bò cụt sừng lại cho ít sữa trong một năm hơn bò có sừng?”

“Cháu chịu!” cô thôn nữ nhanh nhảu chen ngang, “Vì sao thế bác?”

“Vì số lượng chúng nó ít hơn chứ sao,” ông chủ trại cười đáp. “Cơ mà hôm nay lũ ranh ma này nhất định giữ sữa thật đấy. Bà con ơi, ta phải cất lên một đôi điệu hát thôi—chỉ có nước ấy mới chữa được bệnh này.”

Ở các trại sữa quanh vùng này, hát xướng thường được dùng như một ngón nghề dỗ dành lũ bò mỗi khi chúng có biểu hiện tiếc sữa; và nghe lời yêu cầu ấy, cả toán thợ vắt sữa liền đồng thanh cất giọng—nghe thuần túy như giải quyết công việc, quả thực là thế, và cũng chẳng mấy phần hào hứng tự nhiên; dẫu vậy họ vẫn đinh ninh tin rằng hiệu quả sẽ cải thiện rõ rệt trong lúc bài hát còn vang lên. Khi họ đã ngân nga hết mười bốn hay mười lăm khổ của một khúc ballad vui tươi kể về một kẻ sát nhân không dám đi ngủ trong bóng tối vì nhìn thấy ngọn lửa lưu huỳnh bao vây quanh mình, một anh thợ vắt sữa bèn nói—

“Ước gì vừa khom lưng vừa hát không làm người ta hao hơi tổn sức đến thế! Đáng ra bác nên vác cây đàn hạc ra mới phải, thưa cậu; dẫu rằng đàn vĩ cầm vẫn là nhất.”

Tess vểnh tai nghe thấy, ngỡ lời đó nói với ông chủ trại, nhưng cô đã nhầm. Một câu đáp lại ngắn gọn: “Sao cơ?” vọng ra tựa hồ phát ra từ chính bụng một con bò vàng lông sẫm trong chuồng; đó là tiếng của một người vắt sữa ngồi khuất sau thân con vật mà nãy giờ cô chưa hề nhìn thấy.

“Ồ phải rồi; chẳng gì bì được vĩ cầm,” ông chủ trại tiếp lời. “Dù ta thấy bò đực mới là giống dễ mủi lòng trước âm nhạc hơn bò cái—ít ra kinh nghiệm của ta là thế. Hồi xưa ở mạn Mellstock có một ông lão—tên là William Dewy—thuộc một gia đình chuyên làm nghề đánh xe chở hàng có tiếng bên ấy—chú mày còn nhớ không Jonathan?—Ta biết mặt ông ấy rõ như anh em ruột thịt vậy, nói thế cho vuông. Số là, một đêm trăng thanh nọ, ông này đang trên đường cuốc bộ về nhà sau đám cưới mà ông tới kéo đàn, để đi tắt cho gần, ông bèn băng qua cánh đồng Bốn Mươi Mẫu, nơi đang thả một con bò đực ăn cỏ. Con bò đực trông thấy William liền lao thốc tới, sừng chĩa thẳng xuống đất, lạy Chúa tôi; dẫu William đã co cẳng chạy hết bình sinh, lại chẳng hề say sưa mấy (dẫu đi ăn cưới nhà giàu sang), nhưng ông nhận ra mình chẳng tài nào kịp chạy tới bờ rào để nhảy qua thoát thân. Cùng đường bí lối, đang chạy thục mạng ông bèn rút cây vĩ cầm ra, kéo réo rắt một điệu nhảy vui tươi, vừa quay mặt về phía con bò vừa thụt lùi vào góc hàng rào. Con bò đực dịu hẳn xuống rồi đứng sững lại, trố mắt nhìn William Dewy, trong khi ông cứ miết đàn không ngơi tay; cho tới khi một nét như nụ cười lướt qua mặt con bò. Nhưng hễ William vừa ngơi tay định quay người vượt rào thì con bò lại tắt nụ cười và hạ sừng nhắm thẳng vào đũng quần William. Thế là William đành phải quay lại kéo đàn tiếp, chẳng đặng đừng; mà lúc ấy mới có ba giờ sáng, ông biết thừa hàng tiếng đồng hồ nữa cũng chẳng có ma nào đi qua lối ấy, trong khi bụng dạ đói lả, người mệt rã rời chẳng biết tính sao. Kéo đàn đến tầm bốn giờ sáng, ông cảm thấy mình sắp sửa kiệt sức buông xuôi đến nơi, ông tự nhủ: ‘Chỉ còn khúc nhạc cuối cùng này ngăn ta với cõi vĩnh hằng! Cầu Trời cứu con, không thì con xong đời mất.’ Thế rồi ông chợt nhớ ra chuyện người ta kể rằng gia súc vẫn quỳ gối vào lúc nửa đêm Đêm Thánh Vô Cùng. Lúc đó đâu phải Đêm Giáng Sinh, nhưng ông bỗng nảy ra ý chơi khăm con bò một vố. Thế là ông chuyển phắt sang tấu bài thánh ca Mừng Chúa Giáng Sinh, y hệt như lúc đi hát thánh ca ngày lễ; thế rồi, kìa xem, con bò đực u mê bèn quỳ sụp hai chân trước xuống, cứ như thể đang đúng vào đêm và giờ phút Chúa Giáng Sinh thật vậy. Vừa thấy bạn sừng cong quỳ mọp, William liền quay ngoắt người, co giò phóng như chó săn, nhảy tót qua bờ rào an toàn trước khi con bò ngoan đạo kịp đứng dậy đuổi theo. William vẫn thường bảo đời ông từng thấy người ta bẽ mặt thành thằng ngốc bao phen, nhưng chưa thấy ai trông ngớ ngẩn như con bò ấy lúc nhận ra lòng mộ đạo của mình bị đem ra xỏ mũi, mà hôm đó lại chẳng phải Giáng Sinh. Phải, William Dewy, tên ông ấy đấy; và ta có thể chỉ đích xác từng tấc đất nơi ông ấy đang yên nghỉ ngoài nghĩa địa Mellstock lúc này đây—ngay giữa cây thủy tùng thứ hai và gian cánh phía bắc.”

“Một câu chuyện thật kỳ thú; nó đưa chúng ta trở về với thời Trung Cổ, cái thời mà đức tin còn là một thực thể sống động!”

Lời nhận xét nghe thật lạ lẫm chốn sân trại sữa thốt ra từ giọng nói sau lưng con bò vàng; nhưng vì chẳng ai hiểu được ý tứ sâu xa ấy nên cũng không ai bận tâm, chỉ có người kể chuyện là dường như cho rằng câu nói ấy ngụ ý hoài nghi câu chuyện của mình.

“Chà, dù sao đi nữa thì đó là chuyện có thật trăm phần trăm đấy, thưa cậu. Ta biết rõ ông ấy mà.”

“Ồ vâng; tôi không hề nghi ngờ điều đó,” người phía sau con bò vàng đáp.

Tess vì thế bị lôi cuốn sự chú ý về phía người đang trò chuyện với ông chủ trại, nhưng cô chỉ thấy được một mẩu người lờ mờ, bởi anh ta cứ vùi mãi đầu vào mạn sườn con bò sữa. Cô không sao hiểu nổi vì sao ngay cả ông chủ cũng gọi anh ta là “cậu” một cách kính cẩn như vậy. Nhưng chẳng có lời giải thích nào tỏ tường; anh ta nấn ná dưới bụng bò lâu đến mức đủ để vắt xong ba con, thỉnh thoảng lại buột miệng than thầm một tiếng, như thể công việc không được suôn sẻ cho lắm.

“Cứ từ từ thôi cậu; làm khéo tay chút,” người chủ trại nói. “Cái này cốt ở mẹo chứ không phải ở sức đâu.”

“Tôi thấy đúng là thế thật,” người kia nói, cuối cùng cũng đứng dậy và vươn vai duỗi cánh tay. “Dù sao thì tôi nghĩ mình cũng vắt xong con này rồi, có điều nó làm mỏi nhừ cả ngón tay.”

Lúc này Tess mới nhìn rõ toàn bộ vóc dáng của anh. Anh mặc chiếc tạp dề trắng bình thường và quấn xà cạp da của dân vắt sữa, đôi ủng bám đầy bùn đất nơi sân trại; nhưng đó là tất cả những gì thuộc về vẻ ngoài thôn dã của anh. Đằng sau lớp vỏ ấy toát lên một nét gì đó có học thức, kín đáo, tinh tế, đượm buồn và hoàn toàn khác biệt.

Thế nhưng những nét chi tiết về diện mạo của anh bỗng chốc bị gạt phắt sang một bên bởi phát hiện sững sờ: anh chính là người cô từng gặp trước đây. Tess đã trải qua biết bao thăng trầm dâu bể kể từ dạo ấy đến nỗi trong thoáng chốc cô không thể nhớ nổi mình đã gặp anh ở đâu; rồi bất chợt một tia sáng lóe lên trong tâm trí cô: anh chính là chàng lữ khách bộ hành từng ghé vào hội khiêu vũ ở Marlott—người khách lạ qua đường không rõ từ đâu tới, đã nhảy cùng những cô gái khác nhưng lại bỏ qua cô, rồi hờ hững bỏ mặc cô lại mà tiếp bước cùng chúng bạn.

Dòng ký ức ùa về từ biến cố xảy ra trước chuỗi ngày bi kịch khiến cô thoáng chút bàng hoàng sợ hãi, e rằng nếu anh cũng nhận ra cô, bằng cách nào đó anh sẽ lần ra câu chuyện đời mình. Nhưng nỗi lo ấy tan biến ngay khi cô thấy anh chẳng biểu lộ chút dấu hiệu nào của sự nhận biết. Cô dần dần nhận thấy kể từ lần gặp gỡ đầu tiên và duy nhất ấy, gương mặt linh hoạt của anh đã trở nên trầm tư hơn, và đã điểm thêm hàng ria mép cùng chòm râu quai nón cân đối của một người đàn ông trẻ tuổi—phần râu gần gò má mang sắc vàng rơm nhạt nhất, rồi sẫm dần thành màu nâu ấm áp khi cách xa chân râu. Dưới chiếc tạp dề vải lanh vắt sữa, anh mặc một chiếc áo khoác nhung kẻ sẫm màu, quần chẽn gối bằng vải thô gân cùng xà cạp, và chiếc áo sơ mi trắng hồ cứng cẩn thận. Nếu không có bộ đồ nghề vắt sữa, chẳng ai có thể đoán nổi thân phận của anh. Anh hoàn toàn có thể là một điền chủ lập dị, hoặc một chàng nông dân cày ruộng mang phong thái quý tộc. Rằng anh chỉ là tay mơ mới vào nghề sữa thì cô đã nhận ra ngay tắp lự, qua cái cách anh mất ngần ấy thời gian chỉ để vắt một con bò.

Trong khi đó, nhiều cô thôn nữ vắt sữa đã thì thầm với nhau về người mới đến: “Cô ấy xinh xắn làm sao!” với lòng hào hiệp và ngưỡng mộ chân thành, dẫu bụng vẫn thầm mong người nghe sẽ buông lời gờm bớt lại—điều mà, nói một cách khắt khe, họ hoàn toàn có quyền làm thế, bởi từ “xinh xắn” chưa lột tả được hết nét cuốn hút lạ kỳ đập vào mắt người ta ở Tess. Khi công việc vắt sữa buổi chiều kết thúc, họ lục tục kéo nhau vào nhà, nơi bà Crick, vợ chủ trại—một người phụ nữ quá mực đoan trang đài các để phải thân chinh đi vắt sữa, và diện một chiếc váy dạ dày cộm ngay giữa tiết trời ấm áp chỉ vì đám thợ vắt sữa mặc váy vải hoa tầm thường—đang để mắt trông coi những máng sữa bằng chì cùng đồ đạc trong nhà.

Tess được biết, ngoài cô ra chỉ có hai hay ba cô gái là ngủ lại tại gian nhà bơ sữa, còn phần lớn những người làm khác đều trở về nhà riêng. Suốt bữa tối cô không hề thấy bóng dáng anh thợ vắt sữa cao quý từng bình phẩm về câu chuyện ban chiều, và cô cũng chẳng dò hỏi gì về anh; thời gian còn lại của buổi tối dành cả cho việc thu xếp chỗ ngả lưng trong phòng ngủ. Đó là một căn phòng rộng chừng ba mươi bộ nằm ngay phía trên nhà chứa sữa; giường ngủ của ba cô thôn nữ khác ở nội trú cũng kê chung trong căn phòng này. Họ đều là những thiếu nữ đương độ xuân thì, và trừ một người ra, ai nấy đều nhiều tuổi hơn cô. Đến giờ đi ngủ, Tess đã mệt nhoài và chìm vào giấc ngủ ngay tức khắc.

Nhưng một trong những cô gái nằm ở giường bên cạnh lại khó ngủ hơn Tess, và cứ nằng nặc đòi kể cho cô nghe đủ thứ chuyện tường tận về trang trại mà cô vừa mới đặt chân tới. Những lời thì thầm của cô gái hòa lẫn vào màn đêm, và trong tâm trí mơ màng của Tess, dường như chúng được sinh ra từ chính bóng tối mịt mùng đang bồng bềnh trôi nổi.

“Cậu Angel Clare ấy mà—người đang học vắt sữa và biết chơi đàn hạc ấy—chẳng bao giờ nói nhiều với chúng tao đâu. Cậu ấy là con trai mục sư, đầu óc lúc nào cũng bận bịu với những suy nghĩ riêng nên chẳng đoái hoài gì đến đàn bà con gái. Cậu ấy là học trò của ông chủ—đang học nghề nông đủ mọi ngóc ngách đấy. Cậu ấy đã học xong nghề nuôi cừu ở một nơi khác, và giờ đang dùi mài nghề bơ sữa.... Phải, cậu ấy đúng là dòng dõi quý tộc sinh ra. Cha cậu ấy là Mục sư Clare ở Emminster—cách đây bộn dặm đường cơ.”

“Ồ—tôi có nghe danh ông ấy rồi,” người bạn cùng phòng đáp, lúc này đã tỉnh ngủ. “Một vị mục sư rất mực nhiệt thành, phải không?”

“Phải—đúng thế đấy—người sốt sắng mộ đạo nhất khắp xứ Wessex này, người ta bảo thế—họ bảo ông là người cuối cùng của phái Giáo hội Thấp xưa cũ—bởi quanh vùng này toàn là phái Giáo hội Cao thôi. Mấy người con trai của ông, trừ cậu Clare nhà mình ra, đều đi làm mục sư cả rồi.”

Vào giờ này Tess chẳng còn bụng dạ tò mò để hỏi xem vì sao cậu Clare ở đây lại không theo nghiệp mục sư như các anh em trai mình, rồi cô dần dần thiếp đi lần nữa; những lời kể của cô bạn cùng phòng văng vẳng bên tai cô, hòa quyện cùng mùi phô-mai từ căn gác xấy phô-mai kề bên đưa sang, và tiếng rỉ rả đều đặn của nước váng sữa tí tách nhỏ xuống từ những bàn ép bên dưới nhà.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Thomas Hardy

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.