Tess Xứ D'urbervilles: Một Người Phụ Nữ Trong Trắng

Lượt đọc: 1006 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 19

❊ ❊ ❊

Nhìn chung, lũ bò đến con nào thì vắt sữa con đó, chẳng kén chọn hay phân biệt gì. Nhưng một vài con lại tỏ ra quấn quýt với những bàn tay nhất định, thậm chí sự ưu ái này còn đi xa tới mức chúng nhất quyết không chịu đứng yên nếu không phải là người quen vắt, còn nếu là xô của người lạ thì chúng sẽ chẳng kiêng nể gì mà đá lật tung ngay.

Nguyên tắc của chủ trại Crick là nhất quyết phải xóa bỏ những sự thiên vị hay ghét bỏ này bằng cách liên tục luân chuyển người vắt sữa. Bởi lẽ nếu không làm vậy, trong trường hợp một anh thợ hay cô gái vắt sữa nào đó rời đi, ông sẽ rơi vào thế khó. Tuy nhiên, tâm tư riêng của các cô gái lại hoàn toàn trái ngược với quy định của chủ trại. Việc mỗi cô gái hằng ngày tự chọn ra tám đến mười con bò mà mình đã quen tay giúp cho thao tác trên những bầu sữa sẵn sàng của chúng trở nên vô cùng dễ dàng và nhẹ nhàng đến kinh ngạc.

Tess, cũng như bạn bè đồng lứa, chẳng mấy chốc đã nhận ra những con bò nào thích cách vắt của mình. Lại thêm ngón tay cô đã trở nên mềm mại, tinh tế sau những chuỗi ngày dài tự giam mình trong nhà suốt hai ba năm qua, nên cô rất đỗi vui lòng nếu đáp ứng được "ý nguyện" của lũ bò. Trong tổng số chín mươi lăm con, có tám con đặc biệt hợp với cô—Dumpling, Fancy, Lofty, Mist, Old Pretty, Young Pretty, Tidy và Loud. Dù núm vú của một hai con trong số đó cứng như củ cà rốt, chúng vẫn xuống sữa cho cô dễ dàng đến mức việc vắt sữa chẳng khác nào một chuyển động chạm nhẹ của các ngón tay. Tuy nhiên, biết được mong muốn của chủ trại, cô vẫn tận tụy cố gắng vắt từng con theo đúng thứ tự chúng đến, trừ những con khó vắt nhất mà cô chưa thể đảm đương.

Nhưng chẳng bao lâu sau, cô nhận ra một sự trùng hợp kỳ lạ giữa vị trí dường như ngẫu nhiên của lũ bò với mong muốn của cô, đến mức cô cảm thấy trật tự của chúng không thể nào là do tình cờ. Dạo gần đây, anh học trò của chủ trại vẫn hay phụ giúp lùa đàn bò lại với nhau, và đến lần thứ năm hay thứ sáu, khi đang tựa mình vào sườn bò, Tess đã quay sang nhìn anh với ánh mắt đầy vẻ ngờ vực ngầm hỏi.

“Cậu Clare, cậu đã sắp xếp lũ bò đúng không!” cô thốt lên, mặt ửng hồng; và dù cố nén, một nụ cười thoáng hiện làm bờ môi trên của cô hơi xếch lên để lộ đầu những chiếc răng trắng, trong khi môi dưới vẫn giữ vẻ nghiêm nghị.

“Thì cũng có sao đâu,” anh nói. “Đằng nào cô chẳng ở đây vắt sữa cho chúng mãi.”

“Cậu nghĩ vậy sao? Tôi cũng mong là thế! Nhưng tôi chẳng biết nữa.”

Sau đó, cô tự giận bản thân khi nghĩ rằng anh—vì không biết đến những lý do cay đắng khiến cô muốn sống ẩn dật nơi này—có thể đã hiểu lầm ý cô. Cô đã nói với anh bằng một giọng quá đỗi thiết tha, như thể sự hiện diện của anh bằng cách nào đó chính là một phần trong mong muốn của cô vậy. Mối hoài nghi ấy khiến cho đến lúc chạng vạng, khi công việc vắt sữa đã xong xuôi, cô một mình dạo bước trong vườn, tràn ngập niềm hối hận vì đã lỡ để lộ cho anh biết cô nhận ra sự chu đáo của anh.

Đó là một buổi tối mùa hè điển hình của tháng Sáu, không khí đạt đến một trạng thái cân bằng thanh tao và truyền dẫn tốt đến mức những vật vô phong vô giác dường như cũng được ban cho hai hay ba, nếu không muốn nói là cả ngũ quan. Ranh giới giữa xa và gần như mờ đi, khiến người ta có cảm giác như đang đứng sát bên mọi vật trong tầm mắt. Sự tĩnh lặng bao trùm không còn là khoảng trống thiếu vắng âm thanh, mà hiện hữu như một thực thể sống động. Rồi bầu không khí ấy bị phá tan bởi tiếng gảy đàn.

Tess từng nghe thấy những giai điệu ấy từ căn gác xép ngay trên đầu mình. Khi xưa, chúng mờ nhạt, tù túng và nghẹn ngào trong không gian chật hẹp, chưa bao giờ cuốn hút cô như lúc này—khi chúng tự do lượn bay trong làn không khí lặng ngắt với một nét trần trụi nguyên sơ. Nói một cách khách quan, cả nhạc cụ lẫn kỹ thuật người chơi đều xoàng xĩnh; nhưng mọi thứ trên đời đều mang tính tương đối, và khi lắng nghe, Tess như một chú chim bị mê hớp, chẳng thể nào rời bước khỏi nơi đó. Chẳng những không rời đi, cô còn tiến về phía người chơi đàn, giấu mình sau hàng rào dâm bụt để anh không phát hiện ra sự có mặt của cô.

Góc vườn nơi Tess đang đứng đã bỏ hoang nhiều năm, nay ẩm ướt và rậm rạp những chồi cỏ mọng nước bốc lên từng làn phấn hoa mỗi khi chạm phải; cùng những cành cỏ dại mọc cao trổ hoa tỏa ra mùi hương nồng hắc—những mảng cỏ dại mang sắc đỏ, vàng, tím kết hợp thành một bức tranh nhiều màu rực rỡ chẳng kém gì hoa trồng trong vườn. Cô rón rén bước đi như một chú mèo qua lớp cây cỏ tốt tươi ấy, váy cô dính đầy bọt sâu róm, chân giẫm vỡ những vỏ ốc sên dưới đất, tay dính bết nhựa cây kế và nhớt sên, còn trên cánh tay trần thì cọ phải những con rệp muội bám chặt—tuy trắng như tuyết trên thân cây táo, nhưng khi dập ra lại để lại những vệt màu đỏ sẫm trên da cô; cứ thế, cô tiến lại thật gần Clare mà anh vẫn không hề hay biết.

Tess không còn ý thức về thời gian hay không gian nữa. Trạng thái thăng hoa mà cô từng mô tả là có thể tự tạo ra bằng cách ngắm nhìn một ngôi sao, giờ đây lại đến tự nhiên mà chẳng cần cô phải cố gắng; cô bồng bềnh theo những nốt nhạc mỏng manh phát ra từ cây hạc cầm cũ kỹ, và những giai điệu hài hòa ấy như những làn gió nhẹ vần vũ qua tâm hồn cô, khiến nước mắt cô chực trào. Lớp phấn hoa lơ lửng trong không trung dường như chính là những nốt nhạc của anh được hữu hình hóa, còn hơi ẩm của khu vườn lại như dòng nước mắt xúc động của thiên nhiên. Dù trời đã gần sập tối, những bông hoa dại rậm rạp nồng nực vẫn bừng sáng như thể nhất quyết không chịu khép cánh vì mải mê thưởng thức, và những làn sóng màu sắc hòa quyện vào những làn sóng âm thanh.

Ánh sáng ít ỏi còn sót lại chủ yếu phát ra từ một khoảng trống lớn giữa đám mây phía tây; nó giống như một mảnh ban ngày bị bỏ quên lại do vô tình, trong khi màn đêm đã bao phủ khắp những nơi khác. Anh kết thúc bản nhạc trầm buồn của mình, một màn trình diễn rất đỗi đơn sơ, chẳng đòi hỏi kỹ thuật gì cao siêu; còn cô thì đứng đợi, nghĩ rằng anh sẽ bắt đầu một bản nhạc khác. Nhưng vì đã chán chơi, anh lơ đãng đi vòng qua hàng rào và dạo bước lên phía sau lưng cô. Tess, hai má nóng bừng, lén lút lùi lại, di chuyển êm ru như thể không hề nhúc nhích.

Tuy nhiên, Angel đã nhìn thấy chiếc áo váy mùa hè mỏng nhẹ của cô, và anh cất tiếng; giọng nói trầm thấp của anh truyền đến chỗ cô dù anh đang đứng cách một khoảng.

“Sao cô lại lùi lại như thế, Tess?” anh hỏi. “Cô sợ tôi à?”

“Ôi không, thưa cậu—tôi không sợ những chuyện ngoài trời; nhất là lúc này khi hoa táo đang rụng và mọi thứ đều xanh tươi thế này.”

“Thế nhưng cô lại có những nỗi sợ trong lòng—đúng không?”

“Vâng... đúng vậy, thưa cậu.”

“Nỗi sợ về điều gì?”

“Tôi không biết diễn tả sao nữa.”

“Sữa bị chua ư?”

“Không ạ.”

“Về cuộc đời nói chung?”

“Vâng, thưa cậu.”

“À—tôi cũng vậy, rất thường xuyên. Việc phải sống trên đời này là một gánh nặng khá gay go, cô có nghĩ thế không?”

“Đúng vậy ạ—khi cậu nói ra như thế.”

“Dù sao thì tôi cũng không ngờ một cô gái trẻ như cô lại sớm nhận ra điều đó. Sao cô lại thấy như vậy?”

Cô giữ một sự im lặng ngập ngừng.

“Nào, Tess, hãy tin tưởng mà tâm sự với tôi xem.”

Cô nghĩ anh muốn hỏi cô nhìn nhận vạn vật xung quanh ra sao, liền rụt rè đáp—

“Cây cối dường như có những đôi mắt đầy tò mò, phải không cậu?—nghĩa là trông chúng như thể có mắt vậy. Rồi dòng sông lại như lên tiếng: ‘Sao các người lại dòm ngó làm phiền ta?’ Và dường như cậu có thể thấy vô số những ngày mai xếp thành một hàng dài, ngày đầu tiên thì to nhất và rõ nhất, những ngày sau cứ nhỏ dần, nhỏ dần khi đứng xa hơn; nhưng tất cả trông đều rất dữ tợn, tàn nhẫn, như thể chúng đang gào lên: ‘Ta đang đến đây! Hãy liệu chừng ta! Hãy liệu chừng ta!’ ... Nhưng còn cậu, thưa cậu, cậu có thể dệt nên những giấc mơ bằng tiếng đàn của mình và xua tan đi tất cả những tưởng tượng đáng sợ ấy!”

Anh ngạc nhiên khi thấy cô gái trẻ này—người mà dù chỉ là một cô thợ vắt sữa nhưng lại có một nét khác biệt hiếm có khiến những người cùng làm phải ghen tị—lại dệt nên những tưởng tượng buồn thảm đến vậy. Cô đang diễn đạt bằng chính những câu từ tự nhiên của mình—có sự giúp sức đôi chút từ vốn học vấn Chuẩn Lớp Sáu—những cảm xúc gần như có thể gọi là tinh thần của thời đại: nỗi đau đớn của chủ nghĩa hiện đại. Sự nhận thức ấy khiến anh thêm chú ý, nhưng rồi anh ngẫm lại rằng cái gọi là tư tưởng tiến bộ thực chất phần lớn chỉ là thời thượng mới nhất trong cách định nghĩa—một sự diễn đạt chính xác hơn, bằng những từ ngữ có đuôi "học" và "thuyết", cho những cảm giác mà con người đã mơ hồ nắm bắt được qua nhiều thế kỷ.

Tuy nhiên, thật kỳ lạ khi những suy nghĩ ấy lại đến với cô khi tuổi đời còn quá trẻ; không chỉ kỳ lạ, nó còn gây ấn tượng sâu sắc, thú vị và đầy xót xa. Không đoán được nguyên do, anh chẳng có gì để nhắc nhở bản thân rằng trải nghiệm được đo bằng cường độ chứ không phải thời gian. Sự sụp đổ thể xác thoáng qua của Tess chính là mùa gặt gánh nặng tâm trí của cô.

Về phần mình, Tess không thể hiểu nổi tại sao một người nam nhi xuất thân từ gia đình mục sư, được giáo dục đàng hoàng và không phải lo đến chuyện cơm áo gạo tiền, lại coi việc sống trên đời là một sự không may. Đối với chính người hành hương bất hạnh như cô thì có lý do quá rõ ràng. Nhưng làm sao một người đàn ông đáng kính và đầy chất thơ như thế lại có thể bước xuống Thung lũng Hạ mình, lại có thể cảm nhận như người nam nhân vùng Uz—như chính cô từng cảm thấy cách đây hai ba năm—rằng: “Hồn tôi thà chịu ngạt thở và chết đi còn hơn phải sống tiếp. Tôi ghê tởm cuộc đời; tôi chẳng muốn sống mãi.”

Đúng là hiện tại anh đang sống ngoài tầng lớp của mình. Nhưng cô biết đó chỉ là vì, giống như Đại đế Peter trong xưởng đóng tàu, anh đang tìm hiểu những gì mình muốn biết. Anh không vắt sữa bò vì bắt buộc phải làm việc đó, mà vì anh đang học để trở thành một chủ trại sữa, một điền chủ, một nhà nông và một nhà chăn nuôi gia súc giàu có, thịnh vượng. Anh sẽ trở thành một Abraham của châu Mỹ hay châu Úc, thống trị như một vị vua đối với những đàn cừu, đàn bò, những con vật đốm và vằn, cùng những tôi tớ nam nữ của mình. Dù vậy, đôi khi cô vẫn thấy thật khó hiểu khi một thanh niên rõ ràng là mọt sách, yêu âm nhạc và hay suy ngẫm lại cố tình chọn trở thành một nông dân thay vì một mục sư như cha và các anh trai mình.

Cứ thế, do không ai có manh mớ về bí mật của đối phương, cả hai đều băn khoăn trước những gì người kia bộc lộ, và chờ đợi những hiểu biết mới về tính cách cũng như tâm trạng của nhau mà không tìm cách dòm ngó vào quá khứ của đối phương.

Mỗi ngày, mỗi giờ trôi qua lại mang đến cho anh thêm một nét chấm phá nhỏ về bản chất của cô, và cho cô thêm một hiểu biết về anh. Tess đang cố gắng sống một cuộc đời kìm nén, nhưng cô chẳng thể lường hết được sức sống mãnh liệt bên trong chính mình.

Mới đầu, Tess dường như coi Angel Clare là một trí tuệ kiệt xuất hơn là một người đàn ông thuần túy. Với tư cách đó, cô so sánh anh với bản thân mình; và mỗi khi khám phá ra sự phong phú trong tri thức của anh, nhận ra khoảng cách giữa tầm vóc trí tuệ khiêm tốn của cô và độ cao sừng sững như dãy Andes của anh, cô lại trở nên vô cùng chán nản, nản lòng trước mọi nỗ lực của chính mình.

Một ngày nọ, anh nhận ra sự chán nản của cô khi tình cờ đề cập đến cuộc sống điền viên ở Hy Lạp cổ đại. Cô đang hái những búp cây gọi là “chủ và tớ” trên bờ rào trong lúc anh trò chuyện.

“Sao tự nhiên trông cô lại sầu não thế?” anh hỏi.

“Ôi, chỉ là... chuyện bản thân tôi thôi ạ,” cô nói, kèm theo một nụ cười gượng gạo đượm buồn, trong khi ngón tay ngập ngừng bắt đầu bóc vảy một búp “tớ”. “Chỉ là cảm giác về những gì lẽ ra đã có thể đến với mình! Cuộc đời tôi trông như thể đã bị lãng phí vì thiếu cơ hội! Khi tôi thấy những gì cậu biết, những gì cậu đã đọc, đã thấy và đã suy ngẫm, tôi cảm thấy mình chẳng là gì cả! Tôi giống như nữ hoàng Sheba đáng thương trong Kinh Thánh vậy. Chẳng còn chút khí lực nào trong tôi nữa.”

“Chúa tôi ơi, đừng có bận lòng về chuyện đó! Kìa,” anh hăng hái nói, “tôi sẽ rất đỗi vui lòng, Tess thân mến ạ, được giúp cô bất cứ điều gì về lịch sử, hay bất kỳ mảng sách nào cô muốn đọc—”

“Lại là một búp tớ nữa này,” cô ngắt lời, giơ ra búp cây vừa bóc vảy.

“Gì cơ?”

“Ý tôi là lúc nào bóc ra cũng thấy nhiều tớ hơn chủ.”

“Đừng bận tâm đến chuyện chủ với tớ nữa. Cô có muốn học một môn nào đó không—chẳng hạn như lịch sử?”

“Đôi khi tôi cảm thấy mình chẳng muốn biết thêm điều gì nữa ngoài những gì tôi đã biết.”

“Tại sao lại không?”

“Bởi vì học để làm gì khi chỉ nhận ra mình cũng chỉ là một người trong cả một dãy dài—phát hiện ra trong cuốn sách cũ nào đó có người giống hệt mình, và biết rằng mình cũng chỉ đang diễn lại vai của cô ta; điều đó chỉ làm tôi thêm buồn mà thôi. Tốt nhất là đừng nhớ rằng bản chất và những việc mình làm trong quá khứ cũng giống hệt như hàng ngàn hàng vạn người khác, và cuộc đời cùng những việc làm sắp tới của mình cũng sẽ chẳng khác gì hàng ngàn hàng vạn người khác.”

“Thật sao, vậy là cô không muốn học bất cứ điều gì ư?”

“Tôi sẽ không phiền nếu được học hiểu vì sao—vì sao mặt trời lại chiếu sáng cho cả người đường hoàng lẫn kẻ bất lương như nhau,” cô trả lời, giọng hơi run run. “Nhưng đó lại là điều mà sách vở sẽ không bao giờ nói cho tôi biết.”

“Tess này, gạt đi những cay đắng đó đi chứ!” Dĩ nhiên anh nói vậy chỉ vì chút tinh thần trách nhiệm xã giao, bởi bản thân anh trong những ngày đã qua cũng chẳng xa lạ gì với những băn khoăn kiểu đó. Và khi nhìn ngắm bờ môi cùng khuôn miệng ngây thơ ấy, anh nghĩ rằng một người con gái của đồng ruộng như cô chắc hẳn chỉ học mót được tâm sự ấy mà thôi. Cô tiếp tục bóc vảy những búp “chủ và tớ” cho đến khi Clare, sau một hồi ngắm nhìn làn mi cong vút của cô rủ xuống gò má mềm mại theo ánh nhìn cúi thấp, đành luyến tiếc bước đi. Khi anh đã đi khỏi, cô đứng lại một lúc, lơ đãng bóc vảy búp cây cuối cùng; rồi bừng tỉnh khỏi cơn mộng mị, cô bất bình ném mạnh búp cây đó cùng cả đám "quý tộc hoa cỏ" xuống đất, trong một bùng nổ tức giận với bản thân vì sự ngốc ngếch của mình, và với một nỗi ấm áp trỗi dậy mãnh liệt trong sâu thẳm trái tim.

Chắc anh phải nghĩ cô ngốc ngếch lắm! Trong sự khao khát cào xé muốn có được sự coi trọng của anh, cô chợt nhớ đến điều mà dạo gần đây cô đã cố sức quên đi do những hậu quả chẳng mấy dễ chịu của nó—gốc tích gia đình cô chính là dòng họ hiệp sĩ d’Urberville. Dù đó là một tước hiệu suông, và dù việc phát hiện ra nó từng mang lại cho cô bao tai họa, biết đâu cậu Clare, với tư cách là một quý ông và là một người nghiên cứu lịch sử, sẽ tôn trọng cô đủ để quên đi hành động trẻ con của cô với những búp “chủ và tớ”, nếu anh biết rằng những con người bằng đá cẩm thạch Purbeck và thạch cao trong nhà thờ Kingsbere kia thực sự là tổ tiên trực hệ của cô; rằng cô không phải là kẻ d’Urberville mạo danh, được nhào nặn từ tiền bạc và tham vọng như gia đình ở Trantridge, mà là một d’Urberville xịn tới tận xương tủy.

Nhưng trước khi mạo hiểm tiết lộ, Tess đầy hoài nghi đã gián tiếp thăm dò chủ trại về phản ứng có thể có của cậu Clare, bằng cách hỏi ông xem cậu Clare có coi trọng những dòng họ cổ sang trọng trong vùng khi họ đã mất hết tiền bạc và đất đai hay không.

“Cậu Clare ấy à,” chủ trại nhấn mạnh, “là một trong những tay gàn gụi ngông nghênh nhất cô từng biết đấy—chẳng giống chút nào với phần còn lại của gia đình cậu ấy đâu; và nếu có một điều mà cậu ấy ghét hơn bất cứ thứ gì khác, thì đó chính là cái khái niệm gọi là ‘dòng họ lâu đời’. Cậu ấy bảo nghe qua là hiểu, các dòng họ lâu đời đã vắt cạn sức lực cống hiến từ thời xửa thời xưa rồi, giờ chẳng còn cái thỏi sắt nào trong người nữa đâu. Này nhé, những nhà Billet, Drenkhard, Grey, St Quintins, Hardy và Gould, những nhà từng sở hữu đất đai bạt ngàn hàng dặm dọc thung lũng này; giờ đây cô có thể mua đứt lại toàn bộ bọn họ với giá rẻ mờn như cho. Chà, ngay như cô bé Retty Priddle của chúng ta ở đây này, cô biết đấy, là một người thuộc nhà Paridelle—dòng họ lâu đời từng sở hữu bao nhiêu đất đai ngoài vùng King’s Hintock, giờ thuộc về Bá tước xứ Wessex, từ trước cả khi ông ta hay dòng họ ông ta được ai biết tới. Thế mà cậu Clare tìm ra chuyện này, rồi nói năng miệt thị cô gái đáng thương suốt mấy ngày liền. ‘Chà!’ cậu ấy bảo cô ta, ‘cô sẽ chẳng bao giờ làm nên trò trống gì ở cái nghề làm sữa này đâu! Mọi tài năng của cô đã bị xài sạch từ thời chinh phạt Palestine cách đây mấy kiếp rồi, giờ cô phải để đất nghỉ ngơi cả ngàn năm nữa mới mong có lại sức lực mà làm việc!’ Hôm nọ có một thằng bé đến xin việc, khai tên là Matt, khi chúng tôi hỏi họ của nó là gì thì nó bảo chưa từng nghe nói mình có họ bao giờ, hỏi tại sao thì nó bảo chắc tại nhà nó mới lập nghiệp chưa đủ lâu. ‘Ồ! Cậu chính là người tôi đang tìm!’ cậu Clare nhảy chổng ngược lên, bắt tay nó lia lịa; ‘Tôi đặt nhiều kỳ vọng vào cậu đấy;’ rồi thưởng cho nó hẳn nửa đồng crown. Ôi không! Cậu ấy không nuốt nổi mấy cái dòng họ lâu đời đâu!”

Sau khi nghe bức tranh biếm họa này về quan điểm của Clare, Tess đáng thương thầm mừng vì trong phút yếu lòng mình đã không hề hé răng nửa lời về dòng họ của mình—cho dù dòng họ cô đã cổ xưa tới mức gần như đi trọn một vòng quay để trở thành một dòng họ mới. Bên cạnh đó, dường như một cô gái làm sữa khác cũng chẳng kém cạnh gì cô về mặt đó. Cô giữ kín như in chuyện về hầm mộ nhà d’Urberville và vị Hiệp sĩ thời Chinh phạt mà cô mang tên. Sự hiểu biết sâu hơn về tính cách của Clare gợi cho cô thấy rằng, chính nhờ sự tươi mới, không vướng bận truyền thống mà anh gán cho cô, cô mới thu hút được sự chú ý trong mắt anh.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Thomas Hardy

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.