Khi Pierrotte hai mươi tuổi, nếu người ta nói một ngày kia anh sẽ nối nghiệp ông Balouetle trong việc buôn đồ sứ, là anh sẽ có hai trăm ngàn quan ở chỗ ông công chứng - Pierrotte, một ông công chứng ư? - Và một cái quán ở góc đường lối đi Saumon, người ta sẽ rất lấy làm lạ.
Pierrotte, lúc hai mươi tuổi, không bao giờ ra khỏi làng, đi đôi guốc gỗ thông vùng Cévennes to, chẳng biết một chữ Pháp nào và kiếm được một trăm êcu ([1]) mỗi năm về nuôi tằm; vả lại là một người bạn bền chắc, một người nhảy điệu burê ([2]) đẹp, thích cười và ca ngợi vinh quang, nhưng vẫn một vẻ chân thật và không làm thiệt chủ quán rượu. Cũng như mọi gã cùng tuổi, Pierrotte có một cô bạn tốt mà anh đến đợi lúc tan kinh chiều ngày chủ nhật để dẫn đi nhảy điệu gavotte ([3]) dưới những cây dâu.
Cô bạn tốt của Pierrotte tên là Roberte, cô Roberte to lớn. Đó là một chị nuôi tằm mười tám tuổi, mồ côi như anh, nghèo như anh, nhưng biết đọc và viết rất giỏi mà ở những làng vùng Cévennes còn hiếm hơn là một món hồi môn. Rất tự hào về cô Roberte của mình, Pierrotte tính cưới cô ngay khi rút thăm.
Nhưng đến ngày rút, chàng trai Cévennes khốn khổ - mặc dù anh đã ba lần nhúng bàn tay mình vào nước thánh trước khi đi đến hòm phiếu - đã đem về số 4... Phải ra đi. Thất vọng làm sao!... May mắn thay, bà Eyssette được mẹ Pierrotte nuôi, hầu như dạy dỗ nữa đã đến cứu cậu em cùng vú nuôi và cho anh mượn hai ngàn quan để mua cho mình một người. - Hồi ấy nhà Eyssette còn giàu! - Thế là, Pierrotte may mắn không phải đi và có thể cưới cô Roberle của mình; nhưng vì những con người tử tế đó tha thiết trước hết đến việc trả lại tiền cho bà Eyssette, và còn ở lại quê thì họ sẽ chẳng bao giờ đạt được, họ có can đảm rời quê và đi Paris để cầu may ở đó.
Trong vòng một năm, người ta không nghe nói đến những người dân mạn ngược của chúng ta nữa. Rồi, một buổi sáng đẹp, bà Eyssette nhận được một lá thư cảm động, ký tên “Pierrotte và vợ” có chứa ba trăm quan, kết quả tiết kiệm đầu tiên của họ. Năm thứ hai, một lá thư nữa của “Pierrotte và vợ” với món tiền gửi là năm trăm quan. Năm thứ ba, chẳng có gì. - Chắc hẳn công việc không chạy. - Năm thứ tư, lá thư thứ ba của “Pierrotte và vợ” với món gửi cuối cùng là một nghìn quan cùng những lời cầu chúc cho cả nhà Eyssette. Chẳng may, khi lá thư đó đến nhà chúng tôi thì chúng tôi đang lụn bại: Người ta vừa mới bán xưởng thợ và cả chúng tôi nữa, chúng tôi cũng sắp tha hương... Trong nỗi đau của mình, bà Eyssette quên trả lời “Pierrotte và vợ”. Từ đó, chúng tôi chẳng có tin gì nữa: cho đến cái ngày mà Jacques khi đến Paris, đã tìm anh Pierrotte tốt bụng - than ôi, Pierrotte không có vợ! - Dọn trong quầy hàng của ngôi nhà Lalouette cũ.
Chẳng có gì kém thơ mộng, chẳng còn gì cảm động hơn câu chuyện của vận mệnh ấy. Khi đến Paris, vợ Pierrotte bắt đầu làm ăn tằn tiện. Ngôi nhà đầu tiên đúng là nhà Lalouette.
Họ Lalouette là những nhà buôn giàu có keo kiệt và gàn dở, chẳng bao giờ muốn thuê một người chào hàng cũng như một cô sen, tất cả đều tự làm lấy (“Ông ạ, đến năm mươi tuổi, tôi vẫn may lấy quần đùi.” Bác Lalouette tự phụ nói như vậy.) và chỉ về già mới tự cho mình xa hoa lộng lẫy bằng việc thuê một bà nội trợ mười hai quan mỗi tháng. Có Trời mới biết được là mười hai quan đó, công việc có xứng lắm không! Cửa hàng, phần sau cửa hàng, một phòng ở tầng bốn, hai thùng nước phải đổ đầy cho nhà bếp mỗi sáng. Phải từ vùng Cévennes tới để mà chấp nhận những điều kiện như vậy. Nhưng, chao ôi! Cô gái Cévennes trẻ trung, nhanh nhẹn, hùng hục trong công việc và cái lưng vững vàng như một con bò cái tơ; thoắt một cái, cô đã xoay xong mớ công việc bề bộn ấy và trên hết, lúc nào cũng phô ra với hai người già bằng nụ cười tươi xinh của mình mà chỉ riêng nó cũng đáng giá hơn mười hai quan... Chỉ có vui tính và dũng mãnh, cô gái vùng cao đảm đang ấy cuối cùng đã lôi cuốn nhà chủ. Người ta quan tâm đến cô; người ta bảo cô nói chuyện; rồi, một ngày đẹp trời, tự nhiên, - Những tấm lòng khô khan nhất đôi khi cũng có những sự nảy nở không ngờ của lòng tốt, - ông già Lalouette bảo với Pierrotte cho vay một ít tiền để anh có thể mở một hiệu buôn theo ý mình.
Đây là ý nghĩ của Pierrotte: Anh kiếm một con ngựa già, một chiếc xe, rồi đi suốt từ đầu nọ đến đầu kia mà hết sức kêu:
- Hãy vứt bỏ những gì làm bạn vướng víu!
Cái anh chàng láu lỉnh vùng Cévennes của chúng ta không bán mà anh ta mua... cái gì?... tất cả... Bình vỡ, sắt cũ, giấy vụn, mảnh chai, đồ đạc thải bỏ chẳng bõ đem bán, những đồ cũ mà những nhà buôn không thèm, tất cả những thứ gì chẳng còn giá trị và người ta giữ trong nhà vì thói quen, vì chểnh mảng, bởi vì người ta chẳng biết làm gì với nó, tất cả những thứ gì làm vướng!... Pierrotte chẳng chê gì hết, anh mua tất hoặc ít nhất là chấp nhận tất; vì thường, người ta không bán, người ta cho anh, người ta rũ bỏ. Hãy vứt bỏ những gì làm bạn vướng víu!
Trong khu Montmartre, anh chàng Cévennes rất được biết tới.
Cũng như mọi nhà buôn nhỏ đi rong không muốn gây địa vị trong cảnh ồn ào đường phố, anh đã chấp nhận một khúc ngâm riêng và lạ mà những bà nội trợ biết rõ...
Trước hết, đó là gào to cái câu nổi tiếng:
- Vứt bỏ những gì làm bạn vư-ư-ớng!
Rồi, bằng một giọng chậm và rên rỉ, những bài nói dài gắn với con lừa cái của mình, con Ahastagille như anh gọi nó. Anh tưởng là nói Anastasi.
- Nào? Lại đây, Anastagille; nào! Lại đây, con ta...
Và con Anastagille ngoan ngoãn đi theo, đầu cúi thấp, men theo vỉa hè với một vẻ buồn bã; và từ tất cả những ngôi nhà, người ta kêu lên:
- Xịt! Xịt! Anastagille!...
Cái xe được xếp đầy, cẩn thận đấy! Khi nó thật đầy, Anastagille và Pierrotte đi đến Montmartre đổ chuyến hàng ở nhà người mua buôn đồng nát đã trả tiền ra trò tất cả những thứ,vất bỏ những gì làm bạn “vướng” ấy mà người ta chẳng mất gì hoặc hầu như chẳng mất gì để có.
Bằng cái nghề đặc biệt ấy, Pierrotte không làm nên giàu có, nhưng anh ta kiếm sống mà lại dồi dào nữa. Ngay năm đầu, người ta trả tiền nợ nhà Lalouette và người ta gửi ba trăm quan cho Cô, - Pierrotte gọi Bà Eyssette như vậy vào thời bà ta còn con gái mà từ đây, anh không bao giờ có thể quyết định gọi bà khác đi. - Năm thứ ba chẳng hạn, không được may mắn. Đó là giữa cái năm 1830([4]). Pierrotte kêu hoài: “Vứt bỏ những thứ làm bạn vướng!” Những người dân Paris đang bận vứt bỏ một ông vua già làm mình vướng, nên không nghe thấy những tiếng kêu của Pierrotte và để cho anh chàng Cévennes gào rát họng ngoài phố; và cứ chiều chiều, chiếc xe nhỏ trở về rỗng không. Khổ thêm là Anastagille lại chết. Chính lúc ấy, vợ chồng Lalouette già bắt đầu không còn tự làm lấy tất cả được nữa, bèn đề nghị Pierrotte đến nhà họ làm phụ cửa hàng. Pierrotte chấp nhận, nhưng anh không giữ lâu các chức vụ khiêm nhường đó. Từ khi đến Paris, cứ tối tối, vợ anh dạy anh đọc và viết; anh đã biết xoay sở lấy một bức thư và diễn đạt bằng tiếng Pháp một cách dễ hiểu. Khi vào nhà Lalouette, anh càng cố gắng, đi theo một lớp người lớn học tính và học khá đến nỗi sau vài tháng, anh có thể phụ quầy ông Lalouette gần như hoá mù và việc bán của Bà Lalouette mà những bắp chân già đã phản lại tấm lòng cao thượng. Lúc đó, cô Pierrotte ra đời và từ đó, vận may của anh chàng Cévennes cứ tăng tiến mãi. Lúc đầu tham gia vào việc buôn bán với nhà Lalouette, về sau anh trở thành người chung vốn; rồi một ngày kia, lão Lalouette, sau khi đã mù hẳn, thôi việc buôn bán và nhường vốn cho Pierrotte, anh trả lão bằng niên kim. Khi đã rảnh tay anh chàng Cévennes mở mang công việc như vậy nên trong ba năm, anh đã trả hết nhà Lalouette và thoát khỏi mọi khoản trả góp, thấy mình đứng đầu một cửa hàng đẹp, đầy ắp hàng... Đúng vào lúc đó, như thể cô đợi để chết vì chồng mình không cần đến mình nữa, cô Roberte to lớn lâm bệnh và kiệt sức mà chết.
Đó là câu chuyện về Pierrotte như Jacques kể cho tôi tối cái hôm chúng tôi đi đến lối đi Saumon; và vì con đường dài - người ta đã chọn con đường dài nhất để khoe với những người dân Paris cái jaket mới của tôi, - Tôi biết anh chàng Cévennes của mình cặn kẽ trước khi đến nhà anh. Tôi biết là Pierrotte tốt bụng có hai thần tượng không được đụng đến: Con gái anh và ông Lalouette. Tôi cũng biết là anh hơi bẻm mép và nghe anh thì mệt vì anh nói chậm, tìm câu mình nói, lắp bắp và không thể nói ba tiếng liền mà không nói thêm vào: “Thật là đúng lúc để mà nói...”. Điều này gắn với một chuyện: Dân Cévennes không bao giờ quên được tiếng chúng ta. Tất cả những điều anh nghĩ đến đầu môi bằng thổ ngữ Languedoc, anh bị buộc phải chuyển dần tiếng Languedoc đó sang tiếng Pháp và những tiếng “Thật là đúng lúc để mà nói...”, mà anh điểm vào những câu chuyện của mình tạo cho anh thời gian làm trọn trong đầu cái công việc nhỏ ấy. Như Jacques nói, Pierrotte không nói mà anh dịch... Còn về cô Pierrotte, tất cả những gì tôi có thể biết, đó là cô mười sáu tuổi và tên cô là Camine, chẳng có gì hơn; về cái khoản ấy, Jacques của tôi cứ im như thóc ([5]).
Vào khoảng chín giờ thì chúng tôi bước vào ngôi nhà của Lalouette. Người ta sắp đóng cửa. Đinh ốc, cánh chớp, thanh sắt, cả một bộ đồ rào, chắn nằm thành đống trên vỉa hè, trước cánh cửa mở hé... Đèn khí đã tắt và cả cửa hàng chìm trong bóng tối trừ cái quầy, trên đó đặt một ngọn đèn bằng sứ rọi sáng những cọc đồng ê quy và một gương mặt đỏ to đang cười.
Trong cùng, ở buồng sau quầy, ai đó đang chơi sáo.
- Xin chào, Pierrotte!... - Jacques đứng ngạo nghễ trước quầy kêu lên - (Tôi ở bên cạnh anh, chỗ ánh sáng đèn...) Xin chào Pierrotte!
Pierrotte, đang kiểm tiền, ngước mắt theo tiếng nói của Jacques; rồi, vừa nhận ra tôi, anh thốt lên một tiếng, chắp tay lại và thẫn thờ đứng đó, miệng há hốc mà nhìn tôi.
- Thế nào - Jacques nói bằng một giọng đắc thắng - em đã bảo với anh thế nào?
- Ôi! Lạy Chúa! Lạy Chúa! - Pierrotte tốt bụng lẩm bẩm - Hình như là tôi... Thật là đúng lúc để mà nói... Hình như là tôi được gặp cô.
- Nhất là đôi mắt - Jacques tiếp lời - Anh hãy nhìn đôi mắt ấy, Pierrotte ạ.
- Cái cằm nữa, ông Jacques ạ, cằm có cai lúm - Pierrotte trả lời - mà để nhìn cho rõ hơn, đã nhấc cái chụp ra khỏi đèn.
Tôi thì tôi chẳng hiểu gì cả. Cả hai người đang đứng kia mà nhìn tôi, mà nháy mắt, mà ra hiệu với nhau... Bỗng, Pierrotte đứng dậy, ra khỏi quầy và dang tay đến với tôi:
- Xin phép ông, ông Daniel, tôi phải hôn ông mới được...Thật đúng là dịp để mà nói. Tôi cứ nghĩ là được hôn cô đấy.
Câu sau cùng này đã cắt nghĩa cho tôi tất cả. Vào độ tuổi này, tôi giống Bà Eyssette lắm và đối với Pierrotte, người đã không gặp cô từ khoảng hai mươi năm nay thì sự giống này còn lạ lùng hơn. Con người tử tế không thể ngơi tay siết lấy tôi, hôn tôi, nhìn tôi mà cười bằng đôi mắt đẫm lệ; anh bắt đầu nói tiếp về mẹ chúng tôi, về hai ngàn quan, về Roberte của mình, về Camine, về Anastagille và điều đó với biết bao dài dòng, nhiều giai đoạn, - Thật đúng là dịp để mà nói, - Đến nỗi chúng tôi sẽ cứ phải đứng trong cửa hàng mà nghe anh, nếu Jacques không nói với anh bằng một giọng sốt ruột:
- Anh kiểm tiền đi, Pierrotte!
Pierrotte dừng ngay lại. Anh hơi ngượng nghịu vì đã nói nhiều:
- Ông có lý đấy, ông Jacques ạ, tôi bẻm mép... tôi bẻm mép... Và rồi con bé... thật là đúng dịp để mà nói... con bé sẽ cằn nhằn tôi vì lên muộn.
- Camine có ở trên ấy không ạ? - Jacques hỏi với một vẻ hơi lãnh đạm.
- Có đấy, có đấy, ông Jacques ạ... con bé ở trên ấy đấy...Nó mong mỏi... Thật đúng là dịp để mà nói... Nó mong mỏi được biết ông Daniel lắm đấy. Các cậu lên thăm nó đi... Tôi kiểm tiền đây, rồi tôi sẽ lên theo các cậu... thật đúng là dịp để mà nói - chẳng còn nghe gì thêm nữa. Jacques cầm lấy cánh tay tôi và vội kéo tôi vào phía trong cùng, nơi người ta đang chơi sáo...
Cửa hàng của Pierrotte rộng lớn và ngồn ngộn. Trong bóng tối.
Người ta thấy lấp lánh cái bụng của bình, bầu mắt mèo, ánh vàng hung của những chiếc cốc Bohême ([6]). Cốc lớn có chân bằng pha lê, những cái liễn tròn trĩnh. Rồi bên phải bên trái, từng chồng dài đĩa cao lên đến trần. Cung điện nàng tiên đồ Sứ nhìn về đêm. Ở phòng sau cửa hàng một cái đèn khí mở nửa đời vẫn còn leo lét, để nhú lên một cái đầu lưỡi nhỏ xíu với một vẻ uể oải. Chúng ta cứ việc đi qua. Ở đấy có một anh chàng to lớn tóc vàng ngồi trên mép một cái ghế làm giường, đang chơi sáo một cách buồn bã. Khi đi qua, Jacques nói một tiếng “Xin chào” khô khốc mà chàng trai tóc vàng cũng trả lời bằng hai tiếng sáo cộc lốc, điều đó hẳn là cách chào nhau giữa những cây sáo đang giận nhau.
- Đó là anh chào hàng... Jacques bảo tôi khi chúng tôi lên cầu thang. Anh ta quấy rầy bọn mình, cái anh chàng to lớn tóc vàng ấy, bằng cách chơi sáo hoài như vậy... Em có thích sáo không, Daniel?
Tôi cứ muốn hỏi anh: “Thế còn cô bé, cô ấy có thích không?” Nhưng, tôi sợ làm phiền anh, nên tôi trả lời anh rất nghiêm túc:
- Không. Jacques ạ, em không thích sáo.
Căn phòng của Pierrotte ở tầng bốn, trong cùng một ngôi nhà với cửa hàng. Cô Camine, rất quý phái khó mà ló mặt dưới cửa hàng, nên cứ ở trên gác và chỉ gặp bố mình lúc ăn cơm.
- Ô em sẽ thấy! Vừa leo lên Jacques vừa bảo tôi, thật hoàn toàn ngang với một dòng họ lớn. Camine có một bà bạn kèm; bà goá Tribou chẳng bao giờ rời cô... Anh không biết lắm cái bà Tribou ấy ở đâu đến, nhưng Pierrotte biết bà và khoe rằng đó là một bà rất có tài... Giật chuông đi, Daniel, chúng ta đến rồi đó!
Tôi kéo chuông; một bà Cévennes đội mũ lớn đến mở cửa, mỉm cười với Jacques như một người quen cũ mà dẫn chúng tôi vào phòng khách.
Khi chúng tôi vào: cô Pierrotte đang chơi dương cầm. Hai bà già hơi đẫy người, bà Lalouette và bà goá Tribou, người đàn bà rất có tài, đang chơi bài trong một góc. Khi thấy chúng tôi, mọi người đứng dậy. Có một lúc bối rối và xôn xao; rồi trao đổi những câu chào, những lời giới thiệu. Jacques mời Camine - anh gọi Camine cộc lốc- cứ ngồi vào đàn; còn người đàn bà rất có tài thì tranh thủ lời mời để tiếp tục ván bài của mình với bà Lalouette. Chúng tôi đã ngồi xuống, Jacques và tôi, mỗi người một bên cô Pierrotte vừa làm nhảy nhót những ngón tay trên cây đàn vừa nói cười với chúng tôi. Tôi nhìn cô trong khi cô nói. Cô không xinh. Trắng hồng, cái tai nhỏ, tóc mảnh nhưng má đầy và đồi dào sức vóc; dù thế nào, tay cũng đỏ và những vẻ duyên dáng của một cô học sinh nội trú nghỉ hè hơi lạnh lùng. Đúng là con gái của Pierrotte, một bông hoa núi lớn lên trong tủ kính của đoạn đường đi Saumon.
Ít nhất, đó là ấn tượng ban đầu của tôi; nhưng bỗng nghe một câu mà tôi nói với cô, cô Pierrotte mà đến lúc đó đôi mắt vẫn cúi thấp, từ từ ngước lên nhìn tôi, và như có ma thuật, cái cô thị dân biến mất; tôi chỉ nhìn thấy đôi mắt của cô: đôi mắt to đen ngời sáng mà tôi nhận ra ngay.
Ôi kỳ diệu! Đó cũng là những con mắt đen đã loé lên khá dịu dàng với tôi ở đằng kia trong những bức tường lạnh của ngôi trường cũ, những con mắt đen của bà tiên đeo kính, cuối cùng là những con mắt đen... Tôi cứ nghĩ mình mơ. Tôi muốn kêu lên với chúng: “Đôi mắt huyền đẹp xinh, có phải chính mi đấy không? Có phải chính mi mà ta thấy trên một khuôn mặt khác?”. Và nếu bạn biết được là chính chúng đấy! Không thể nhầm lẫn được. Cũng hàng mi ấy, cái ánh rạng ấy, ngọn lửa lòng màu đen và bị dằn lại. Có điên mới nghĩ là trên đời này có hai cặp mắt như vậy! Và vả lại, chứng cớ là đúng chính những con mắt đen ấy, chứ không phải những con mắt đen khác giống chúng, chính chúng cũng nhận ra tôi nữa và hẳn là chúng tôi sắp tiếp tục một trong những cuộc trò chuyện câm hay hay trước đây thì tôi nghe thấy sát gần mình, hầu như trong tai mình, tiếng nhấm nhắt của những răng chuột nhỏ. Nghe thấy cái tiếng ấy, tôi quay đầu lại và nhận ra ở góc cây dương cầm, trong một chiếc ghế bành, một nhân vật mà tôi không để ý đến... Đó là một ông già khô khan và nhợt nhạt với một cái đầu chim, trán hớt, mũi nhọn hoắt, những con mắt tròn và không sức sống, quá xa mũi, gần như ở thái dương... Không có miếng đường mà ông già cầm ở tay và thỉnh thoảng lại gậm thì người ta đã bảo là ông ngủ. Hơi lúng túng vì sự hiện hình ấy tôi bèn chào con ma già, nó không đáp lại...
- Ông ấy không trông thấy em... Jacques nói với tôi. Đó là một ông mù... đó là bác Lalouette...
“Ông ấy biết giữ thanh danh của mình...”, trong lòng tôi nghĩ vậy. Và để khỏi nhìn thấy ông già khủng khiếp có cái đầu chim, tôi quay thật mau về phía đôi mắt đen; nhưng than ôi! Nét duyên đã hỏng, đôi mắt đen đã biến mất, ở chỗ của chúng, chỉ có một cô thị dân nhỏ cứng đơ trên chiếc ghế đàn. Vào lúc đó cửa phòng khách mở ra và Pierrotte ồn ào bước vào. Anh chàng thổi sáo theo sau, tay cắp chiếc sáo. Khi nhìn thấy hắn Jacques trút lên hắn một cái nhìn choáng người có thể hạ thủ một con trâu; nhưng hẳn anh đã hụt: người chơi sáo không động đậy.
- Nào! Con ơi - Cévennes vừa nói vừa hôn khắp má đứa con gái - con có bằng lòng không? Vậy là người ta đã đưa cậu ấy đến, Daniel của con ấy... Con thấy cậu thế nào? Cậu ngoan lắm, phải không? Thật là đúng dịp để mà nói... cứ như Cô vậy.
Và thế là cái anh Pierrotte tốt bụng lại bắt đầu cái màn kịch ở cửa hàng và lôi tôi ra giữa phòng khách cho mọi người có thể thấy đôi mắt của Cô... cái mũi của Cô, cái cảm có lúm của Cô... Cuộc trưng bày đó làm tôi ngượng. Bà Lalouette và người đàn bà có tài thì ngưng ván bài của họ. ngả người trong chiếc ghế bành, ngắm tôi bình tĩnh hơn bao giờ hết, lớn tiếng bình phẩm hoặc ca tụng phần nọ hoặc phần kia con người tôi, hệt như thể tôi là con gà con nuôi bằng thóc đem bán ở chợ Vallee vậy. Nói riêng với nhau, chứ người đàn bà tài ba có vẻ khá thông thạo về gà vịt non. May mà Jacques đến chấm dứt cho nỗi khổ của tôi khi bảo với cô Pierrotte chơi cho chúng tôi một cái gì.
- Đúng thế, ta hãy chơi một cái gì đi. - Chàng chơi sáo ngớ người ra, chiếc sáo giơ lên, hăng hái nói.
Jacques kêu lên:
- Không... không... đừng song tấu, đừng chơi sáo!
Nghe vậy, chàng chơi sáo phóng một ánh mắt xanh sáng, có độc như một mũi tên của dân vùng Caribê vậy; nhưng, anh chàng kia điềm nhiên tiếp tục kêu lên:
- Đừng chơi sáo!...
Cuối cùng thì chính Jacques thắng hắn và cô Pierrotte chơi một trong những khúc láy rất quen thuộc mà người ta gọi là Giấc mộng của Rosellen... Trong khi cô chơi, Pierrotte phát khóc vì ngưỡng mộ. Jacques đắm mình ngây ngất; lặng im những tiếng sáo kề vào răng, chàng chơi sáo đánh nhịp bằng vai và thổi thầm.
Xong khúc Rosellen, cô Pierrotte quay mình về phía tôi:
- Còn ông, ông Daniel - Cô vừa bảo tôi vừa chúi mắt xuống- có phải chúng tôi không hiểu được ông không?... Ông là nhà thơ, tôi biết mà.
- Mà nhà thơ hay đấy..., Jacques nói.
Cái anh chàng Jacques hớ hênh này. Thôi thì bạn cứ cho là điều đó chẳng dụ được tôi đọc thơ trước tất cả những người Amélites này ([7]). Còn như nếu đôi mắt đen vẫn ở đó; nhưng không! Từ một giờ nay, đôi mắt đen đã tắt và tôi cứ tìm hoài xung quanh mình... Cũng còn phải thấy tôi đã trả lời cái cô Pierrotte ấy với cái giọng đĩnh đạc như thế nào:
- Thưa cô, xin thứ lỗi cho tôi chiều nay, tôi không đem theo chiếc thụ cầm của mình.
- Lần sau, cậu đừng quên đem nó theo - Anh Pierrotte tốt bụng bảo tôi - người cho lối ẩn dụ đó là đúng nghĩa.
Con người tội nghiệp tin rất thành thực rằng tôi có một chiếc thụ cầm và tôi chơi như tay chào hàng chơi sáo vậy... ôi! Jacques đã bảo trước tôi đúng là anh dẫn tôi đến một giới người thộn mà!
Quãng mười một giờ, người ta dọn nước chè. Cô Pierrotte đi lại trong phòng khách, đưa đường, rót sữa, nụ cười trên môi, ngón út hểnh lên. Chính vào lúc này của tối vui, tôi gặp lại đôi mắt đen. Chúng bỗng hiện ra trước tôi, rạng rỡ và ấm lòng, rồi lại khuất đi trước khi tôi nói được với chúng... Chỉ lúc đó, tôi mới nhận ra một điều. đó là cô Pierrotte, có hai con người rất khác nhau; trước hết, là cô Pierrotte, một cô thị dân nhỏ có mái tóc dẹt vấn quanh trán, rất hợp để nổi bật trong ngôi nhà cổ Lalouette; và rồi, đôi mắt đen, đôi mắt to thơ mộng ấy mở ra như hai bông hoa bằng nhung và chỉ có hiện ra để làm đổi dạng cái nội tâm của những người bán ngũ kim quá lố. Cô Pierrotte thì chẳng đời nào tôi muốn cả; nhưng. đôi mắt đen...Ôi! Đôi mắt đen!...
Cuối cùng, giờ ra về đã đến. Chính là bà Lalouette ra hiệu.
Bà cuộn ông chồng trong một chiếc khăn tactăng lớn và bê ông đi, cặp trong cánh tay như một cái xác ướp xưa quấn những dải băng. Đằng sau họ, Pierrotte còn giữ chúng tôi lâu trên thềm nghỉ để thuyết với chúng tôi những bài nói vô tận:
- À thế này, ông Daniel ạ, bây giờ ông biết nhà rồi, tôi mong là ông sẽ lại chơi. Chúng tôi không bao giờ có khách thượng lưu nhưng vẫn là khách chọn lọc... thật đúng là dịp để mà nói... Trước hết là ông và bà Lalouette, những vị chủ cũ của tôi; rồi bà Tribou, người đàn bà tài nhất mà ông có thể nói chuyện rồi anh chào hàng của tôi, một anh chàng tốt bụng thỉnh thoảng chơi sáo cho chúng tôi nghe... thật đúng là dịp để mà nói... Cả hai các ông sẽ chơi song tấu. Thế thì hay lắm.
Tôi rụt rè viện cớ là mình rất bận nên có lẽ tôi không thể đến luôn như mình muốn được.
Điều đó khiến anh ta cười:
- Thôi nào? Bận gì, ông Daniel... Người ta biết những chuyện bận của ông rồi, trong cái khu Latinh ấy... thật đúng là dịp để mà nói... chắc lại có cô thợ đỏm dáng nào đó rồi chứ gì.
Số là Jacques cũng vừa nói vừa cười, cô Coucou-Blanc...nào đâu kém phần lôi cuốn.
Cái tên Coucou-Blanc đó khiến Pierrotte cười ngất.
- Ông Jacques, ông bảo tên ấy thế nào?... Coucou-Blanc à? Cô la tên Coucou-Blanc... Hề! Hề! Hề! Ông có thấy cái cậu kia... vào tuổi cậu ta...
Anh ta im bặt khi nhận thấy là cô con gái nghe mình nói; nhưng chúng tôi ở dưới chân cầu thang mà chúng tôi vẫn còn nghe tiếng cười to của cô làm rung cái tay vịn...
- Thế nào? Em thấy họ thế nào? - Jacques bảo tôi, ngay khi chúng tôi ra ngoài.
- Anh ạ, ông Lalouette xấu quá, nhưng cô Pierrotte thì tuyệt.
- Thật không? - Chàng si tình khốn khổ hỏi tôi với một vẻ nhanh nhẹn mà tôi không nén được cười.
- Này! Jacques, anh bị lộ rồi - Tôi vừa cầm tay vừa nói với anh.
Tối hôm ấy, chúng tôi đi dạo thật muộn dọc các bến. Theo bước chân chúng tôi, con ngòi lặng lẽ và tối đen cuồn cuộn như những hạt ngọc của cả ngàn ngôi sao nhỏ. Dây buộc những con tàu lớn kêu ken két. Đi nhẹ nhẹ trong bóng tối mà nghe Jacques nói với mình về tình yêu thì thật là thú vị... Anh yêu với hết lòng mình; nhưng, người ta không yêu anh, anh rất biết là người ta không yêu anh.
- Thế thì, Jacques ạ, đó là vì chắc rằng cô ta yêu một người khác.
- Không, Daniel ạ, anh không cho là trước tối nay, cô ta lại yêu một ai được.
- Jacques, anh muốn nói gì? Trước tối nay ư!
- Chứ lại! Đó là vì mọi người yêu em, em ấy, Daniel ạ... và cô ta có thể cũng rất yêu em.
Jacques thân yêu khốn khổ! Phải thấy được anh nói điều đó với cái vẻ buồn bã và chịu nhịn như thế nào. Tôi thì để làm anh yên lòng, tôi cất tiếng cười ầm lên, to hơn cả lòng mình muốn.
- Ừ nhỉ? Anh thân mến, tuỳ anh thôi... Vậy mà, tôi rất khó cưỡng, hay cô Pierrotte rất dễ yêu... Không đâu! Anh cứ yên lòng, “mẹ Jacques” của tôi ạ. Cô Pierrotte cũng cách xa lòng tôi như tôi đối với cô vậy; chắc là không phải vì tôi mà anh phải sợ.
Khi nói như vậy là tôi nói thật lòng đấy. Cô Pierrotte không phải là sống để cho tôi... Nếu là đôi mắt đen thì lại khác.
❀ ❀ ❀
[1] Đồng tiền Pháp cổ bằng vàng rồi bằng bạc, một mặt có quốc huy.
[2] Điệu nhảy hay điệu nhạc có hai hoặc ba nhịp.
[3] Điệu nhảy cổ dân gian Pháp thế kỷ XVII-XVIII.
[4] Cuộc Cách mạng tháng Bảy 1830 lật đổ Charles và đưa Louis Phillipe I lên ngôi.
[5] Nguyên văn tiếng Pháp: Câm nnư nột con cá tầm.
[6] Tên một quốc gia cổ ở Trung Âu bao gồm phần phía tây Cộng hoà Séc, nổi tiếng với ghề làm pha lê.
[7] Những bộ lạc du mục phía Nam vùng Néguev, đối thủ của dân Do Thái xưa và bị David đánh bại hắn (Thế kỷ X trước CN).