Chú bé Chose bị ốm; chú bé Chose chết mất... Trước lối đi Saumon, một cái giường khiêng rộng, bằng rơm mà người ta thay mới cứ hai ngày một lần, ý nói với người hàng phố: Trên kia có một lão giàu sụ đang sắp chết...
Không phải một ông lão giàu sụ đang sắp chết, mà đó là chú bé Chose... Tất cả những thày thuốc đã không chữa được cậu. Hai bệnh thương hàn trong hai năm, thật là quá nhiều đối với cái óc nhỏ của con chim ruồi! Nào, mau lên, hãy đóng một cái xe màu đen! Con cào cào lớn hãy chuẩn bị chiếc gậy gỗ mun và nụ cười đau buồn đi! Chú bé Chose bị ốm; chú bé Chose sắp chết.
Phải thấy một cảnh rụng rời ra sao trong ngôi nhà cũ Lalouette! Pierrotte không ngủ nữa; đôi mắt đen thất vọng.
Người đàn bà lắm tài hăng hái lật mở cuốn Raspail ([1]) của mình vừa cầu xin Thánh camphre ([2]) chân phúc làm một phép lạ mới chiếu cố đến con bệnh thân thương... Phòng khách màu vàng chanh bị bít lại, chiếc đàn chết dí, cây sáo treo lên đinh.
Nhưng, điều ngao ngán nhất, ôi, ngao ngán nhất, đó là một chiếc áo đen nhỏ ngồi trong xó nhà, mà đan suốt từ sáng đến tối chẳng nói năng gì, với những giọt nước mắt lớn lã chã.
Thế mà, trong khi ngôi nhà cũ Lalouette than khóc ngày đêm như vậy thì chú bé Chose nằm thật lặng lẽ trong một chiếc giường lồng lớn, không ngờ những giọt nước mắt mình làm rơi vãi xung quanh. Mắt cậu trân trân nhưng cậu chẳng thấy gì; đồ vật không vào được đến hồn cậu. Cậu cũng chẳng nghe thấy gì, chỉ có một tiếng vo ve ngầm, một tiếng lăn ngầm như thể tai cậu là hai con sò biển, những con sò lớn có lưỡi màu hồng, ở đó người ta nghe thấy biển phì phò. Cậu không nói, cậu không nghĩ: Bạn sẽ bảo đó là một bông hoa ốm... Mặc dù người ta giữ một miếng gạc nước mát cho cậu trên đầu và một miếng đá trong miệng, đó là tất cả những gì cậu cần. Khi đá tan, khi miếng gạc bị khô đi dưới cái nóng của vầng trán, cậu thốt lên một tiếng làu nhàu: Đấy là tất cả cuộc trò chuyện của cậu.
Nhiều ngày trôi qua như vậy - ngày không có giờ, ngày hỗn độn - rồi bỗng, một buổi sáng kia, chú bé Chose thấy một cảm giác đặc biệt. Cứ như là người ta vừa mới kéo cậu ra khỏi đáy biển ấy. Mắt cậu nhìn thấy, tai cậu nghe thấy. Cậu hít thở; cậu lại vững chân... Cái máy suy nghĩ nằm im trong một góc của bộ não với bộ bánh xe tinh vi như tóc tiên tỉnh lại, và bắt đầu chuyển động; lúc đầu từ từ rồi nhanh hơn một chút, rồi với một tốc độ điên cuồng, - Tic, tic, tic! Những ý nghĩ đan chéo nhau, chằng chịt với nhau như những sợi tơ:
- Trời ơi, ta ở đâu thế này?... Cái giường lớn này là gì thế? Và ba người đàn bà ở đằng kia, gần cửa sổ, họ đang làm gì? Cái áo đen nhỏ quay lưng lại ta, chẳng phải xa lạ với ta?... Người ta bảo là...
Và để nhìn rõ hơn tấm áo đen mà cậu nghĩ là mình nhận ra, chú bé Chose tì khuỷu tay mệt nhọc nhổm dậy và ngó ra khỏi giường, rồi lập tức hoảng hốt ngã ngửa ra...Ở đó trước mắt cậu, giữa căn phòng, cậu vừa mới nhận ra một cái tủ bằng gỗ hồ đào với những nẹp sắt cũ phía trước. Cái tủ ấy, cậu nhận ra nó; cậu đã nhìn thấy nó trong một giấc mơ, trong một giấc mơ hãi hùng... Tic, tic, tic! Cái máy suy nghĩ chạy như gió...Ôi! Giờ đây, chú bé Chose nhớ lại. Khách sạn Pilois, cái chết của Jacques, việc chôn cất, việc đến nhà Pierrotte trong mưa, cậu thấy lại hết, cậu nhớ lại hết. Than ôi! Khi tái sinh trong cuộc sống, đứa trẻ khốn khổ vừa mới trở lại với nỗi đau; và lời nói đầu tiên của cậu là một tiếng rên...
Nghe tiếng rên đó, ba người đàn bà đang làm việc đằng kia, gần cửa sổ phải rùng mình. Một người trong bọn họ, người trẻ nhất, đứng dậy kêu:
- Lấy đá! Lấy đá!
Và cô nhanh chóng chạy đến lò sưởi, lấy một mẩu đá mà cô đưa cho chú bé Chose; nhưng chú bé Chose không muốn. Nhẹ nhàng, cậu đẩy bàn tay đi tìm môi mình; đó là một bàn tay thật thanh tú đối với một bàn tay chăm người ốm! Dù sao, bằng một giọng run run, cậu nói:
- Xin chào Camine!...
Camine Pierrotte khá sửng sốt khi nghe kẻ hấp hốt nói, đến nỗi cô cứ đứng thần người, cánh tay giơ ra, bàn tay có miếng đá trong suốt đang run rẩy ở đầu những ngón tay hồng vì lạnh của mình.
- Xin chào Camine - Chú bé Chose nhắc lại - Ôi! Tôi nhận rõ cô mà!... Bây giờ, tôi tỉnh táo lắm rồi... Còn cô? Cô có nhìn thấy tôi không?...
Camine Pierrotte mở lo mắt:
- Tôi nhìn thấy ông chứ, Daniel!... Tôi tin là tôi nhìn thấy ông rõ mà!...
Thế là với ý nghĩ rằng cái tủ đã dối lừa, rằng Camine Pierrotte không bị mù, rằng giấc mơ, giấc mơ hãi hùng không thật đến đầu đến đũa, chú bé Chose lấy lại can đảm và liều đặt những câu hỏi khác:
- Tôi đã ốm lắm phải không, Camine?
- Ồ! Phải, Daniel ạ, rất ốm...
- Có phải tôi đã nằm lâu lắm không?...
- Đến ngày mai là ba tuần rồi...
- Trời ơi! Ba tuần?... Đã ba tuần rồi mà “mẹ Jacques” tôi...
Cậu không nói trọn câu và giấu mặt vào gối mà nức nở.
Lúc đó, Pierrotte bước vào phòng; anh dẫn đến một ông thày thuốc mới. (Bệnh kéo dài hơi một tí đã có cả Viện Hàn lâm Y học đến đó). Ông này là bác sĩ nổi tiếng Broum-Broum, một người hoạt bát vào việc nhanh chóng chứ không nhởn nhơ cài khuy tất tay ở đầu giường người bệnh. Ông tiến lại gần chú bé Chose: bắt mạch cậu, nhìn mắt và lưỡi cậu, rồi quay về phía Pierrotte:
- Ông nói bậy bạ gì với tôi vậy?... Nhưng mà cái cậu ấy, nó khỏi rồi mà...
- Khỏi ư? Pierrotte tốt bụng vừa nói vừa đan tay lại với nhau.
- Khỏi hẳn rồi, nên anh vứt cho tôi ngay miếng đá này qua cửa sổ và cho người ốm của ông một con gà tơ nhồi nấm của tiệm Saint Emilion... Nào! Đừng đau buồn nữa, tiểu thư nhỏ bé của tôi, trong tám ngày nữa, anh chàng thoát sổ đoạn trường này sẽ khỏi, chính tôi bảo anh thế đấy... Từ nay đến đó, hãy giữ cho cậu ta thật yên ổn trên giường; tránh cho cậu ấy mọi xúc động, mọi choáng váng: đó là điểm chính... Còn lại thì cứ để tự nhiên: Nó biết rõ hơn là ông với tôi...
Nói vậy xong, ông bác sĩ nổi tiếng Broum-Broum búng cho anh chàng thoát sổ đoạn trường một cái, một nụ cười cho cô Camine và nhanh chóng rời xa, có Pierrotte tốt bụng phát khóc vì vui đi kèm và luôn mồm: “Ôi! Ngài bác sĩ, thật đúng là lúc để mà nói... thật đúng là dịp để mà nói...”
Đằng sau họ, Camine muốn bảo người ốm ngủ; nhưng, cậu mạnh mẽ từ chối:
- Cô đừng bỏ đi, Camine, tôi xin cô... Đừng để tôi một mình...
Làm sao cô lại muốn tôi ngủ với mối đau khổ lớn của mình?
- Có chứ, Daniel ạ, cần phải... ông cần ngủ, ông phải nghỉ ngơi; thày thuốc đã nói... Nào! Hãy biết điều, hãy nhắm mắt lại và đừng nghĩ gì cả... Thỉnh thoảng, tôi lại đến thăm ông, còn nếu ông ngủ rồi thì tôi sẽ ở lại thật lâu.
- Tôi ngủ... Tôi ngủ...chú bé Chose vừa nói vừa nhắm mắt.
Rồi mừng rỡ:
- Một câu nữa, này Camine! Cái áo nhỏ màu đen mà tôi thấy ở đây lúc nãy là áo nào vậy?
- Một cái áo đen ư?....
- Đúng mà! Cô biết rõ! Cái áo nhỏ màu đen làm việc với cô ở kia, gần cửa sổ... Bây giờ, nó không còn đấy nữa... Nhưng, lúc nãy, tôi thấy nó, tôi dám chắc mà...
- Ô! Không! Daniel ạ, ông nhầm đấy. Tôi đã làm việc ở đây suốt buổi sáng với bà Tribou, bà bạn già của ông ấy, ông biết chứ! Người mà ông vẫn gọi là bà lắm tài ấy. Nhưng, bà Tribou không mặc đồ đen...bà lúc nào cũng mặc chiếc áo màu lục. Không, chắc chắn là trong nhà không có áo màu đen... Hẳn ông đã mơ thấy điều đó... Nào! Tôi đi đây... Ngủ ngon nhé...
Nói vậy, Camine Pierrotte chạy đi cho nhanh, cứ lúng túng và bừng bừng ở má như thể cô vừa mới nói dối.
Chú bé Chose ở lại một mình; nhưng, cậu chẳng ngủ được ngon hơn. Cái máy có bộ bánh xe tinh xảo gây mất trật tự bên trong đầu cậu. Những sợi tơ đan chéo nhau, chằng chịt... Cậu nghĩ đến người thân yêu của mình ngủ trong cỏ ở Montmartre; cậu cũng nghĩ đến đôi mắt đen, đến những luồng sáng đẹp xẫm tối mà Thượng đế dường như đã cố ý thắp lên cho mình và giờ đây...
Đến đây, cửa phòng nhẹ nhàng hé mở, nhẹ nhàng như thể có ai đó muốn vào; nhưng hầu như tức thì, người ta nghe thấy tiếng Camine Pierrotte khẽ nói:
- Đừng vào đó... Sự xúc động sẽ giết chết anh ấy, nhỡ anh ấy dậy...
Và thế là cửa đóng lại nhẹ nhàng, nhẹ nhàng như nó đã mở ra. Rủi thay, một vạt áo đen vướng vào rãnh cửa; và vạt áo ấy đi qua, từ cái giường của mình, chú bé Chose nhận ra nó...
Chính vì thế trái tim cậu nảy lên; đôi mắt bừng sáng và tì dậy trên khuỷu tay, cậu cất tiếng kêu thật to:
- Mẹ ơi! Mẹ ơi! Tại sao không lại hôn con?...
Bỗng cửa mở. Cái áo đen nhỏ - không thể giữ được nữa - ào vào trong phòng; nhưng đáng lẽ đi đến cái giường, nó đi thẳng về đầu kia căn phòng, cánh tay dang ra mà gọi: “Daniel! Daniel!”
- Đây cơ mà, mẹ... - Chú Nhóc vừa kêu vừa dang cánh tay mà cười - Đây cơ mà; mẹ không nhìn thấy con ư?...
Thế là lúc đó, bà Eyssette mới hơi quay về phía giường, hai tay run rẩy lần khoảng không xung quanh mình mà trả lời bằng một giọng ngao ngán:
- Than ôi! Không? Báu vật thân yêu của mẹ, mẹ không nhìn thấy con... Chẳng bao giờ, mẹ còn nhìn thấy con nữa... mẹ bị mù.
Khi nghe thấy điều đó, chú Nhóc thốt lên một tiếng kêu to và ngã ngửa trên gối...
Chắc là sau hai mươi lăm năm khốn khổ và đau đớn, hai đứa con bị chết, mái ấm gia đình bị tàn phá, chồng đi xa, bà mẹ Eyssette khốn khổ có đôi mắt tuyệt trần đã bị hỏng hết vì nước mắt như vậy đấy, trong đó chẳng có gì là thật lạ cả...Nhưng, đối với chú bé Chose thì trùng hợp biết bao với giấc mơ của mình. Số phận thật là đã dành cho cậu ngón đòn khủng khiếp cuối cùng! Lẽ nào cậu lại chẳng vì thế mà chết?...
Chao ôi! Không!...Chú Nhóc sẽ không chết. Chú không thể chết. Sau chú thì người mẹ mù khốn khổ sẽ ra sao? Bà sẽ tìm đâu ra nước mắt để khóc đứa con thứ ba? Ông bố Eyssette, người bị nạn của niềm danh dự buôn bán ấy, người Do Thái lang thang([3]) của ngành chế rượu vang ấy, chẳng có cả thời gian để đến ôm hôn đứa con bị ốm cũng như mang một bông hoa đến cho đứa con bị chết, sẽ ra sao? Ai sẽ dựng lại mái ấm gia đình, cái lò sưởi đẹp mà bố mẹ già sẽ đến một ngày kia sưởi đôi bàn tay khốn khổ giá lạnh?... Không! Không! Chú Nhóc không muốn chết. Cậu bám chắc vào cuộc sống, ngược lại và với hết sức mình... Người ta đã nói với cậu rằng: Để mau khỏi hơn, không được nghĩ ngợi, chú không nghĩ ngợi; không được khóc, chú không khóc; không được nói, chú không nói...
Thật thích thú thấy chú trong giường, vẻ bình thản, mắt thao láo, để giải trí thì nghịch những quả tua của chiếc khăn lông.
Một kỳ dưỡng bệnh thật sự của kẻ an nhàn.
Xung quanh cậu, cả nhà Lalouette lặng lẽ xăng xái. Bà Eyssette để hết buổi ngồi ở chân giường đan áo; người đàn bà mù thân thiết quen với đôi kim đan đến mức bà đan cũng thạo như thời còn sáng mắt vậy. Người đàn bà lắm tài, bà cũng thế, ngồi kia rồi, lúc nào người ta cũng thấy hiện ra ở cửa gương mặt phúc hậu của Pierrotte. Và chàng chơi sáo lên lấy tin bốn năm lần trong ngày. Duy có điều, rất nên nói là anh ta không đến vì người ốm; chính cái bà lắm tài lôi kéo anh ta hơn cả...
Từ khi Camine Pierrotte chính thức tuyên bố với anh là mình không muốn cả anh lẫn sáo của anh thì anh chàng nhạc công hăng say đã chuyển sang bà goá Tribou, dù kém giàu và kém xinh hơn cô con gái ông người Cévennes, tuy vậy hoàn toàn chẳng kém duyên và tiền tiết kiệm. Với bà mệnh phụ mộng mơ đó anh chàng thổi sáo chẳng mất thời gián; đến buổi thứ ba thì đã có đám cưới và người ta nói xa xôi về việc xây dựng một cửa hàng bán cây thuốc phố Lombards với tiền tiết kiệm của phu nhân. Để khỏi vứt xó những dự kiến tốt đẹp đó mà chàng danh cầm rất thường đến lấy tin.
Còn cô Pierrotte? Người ta không nói đến? Phải chăng cô ta không còn ở trong nhà?... Có chứ, luôn luôn; duy có điều, từ khi người ốm khỏi cơn nguy hiểm, hầu như chẳng bao giờ cô bước vào phòng cậu. Khi cô đến đó là để tạt qua đón bà mù và dẫn đến bàn ăn; nhưng, chú Nhóc thì chẳng một lời... Ôi! Đã xa cái thời bông hồng đỏ, cái thời mà để nói: “Tôi yêu anh”, đôi mắt đen phải mở ra như những bông hoa nhung! Trong giường mình, người ốm thở dài khi nghĩ đến những niềm hạnh phúc đã bay đi mất. Chú thấy rõ là người ta không yêu mình nữa; là người ta tránh mình, là mình làm người ta sợ; nhưng, chính cậu đã muốn thế. Chú không có quyền kêu ca; và dù sao, điều đó cũng khá tốt, giữa bao tang tóc và buồn phiền, nếu có chút tình để sưởi ấm con tim! Được khóc trên một bờ vai bạn bè thì cũng khá hay!.. “Đành vậy!”...nỗi đau đã xong, cậu bé khốn khổ tự nhủ, ta đừng nghĩ đến chuyện đó nữa và thôi đừng mộng mơ nữa. Đối với ta, chẳng còn có chuyện được sung sướng ở đời nữa; phải nói đến chuyện làm nhiệm vụ của ta. Ngày mai, ta sẽ nói chuyện với Pierrotte.
Quả thực, ngày hôm sau, vào lúc mà ông người Cévennes đi ngang căn phòng rón rén để xuống cửa hàng, chú Nhóc đã ở đó từ rạng sáng để rình đằng sau những tấm rèm, khe khẽ gọi:
- Ông Pierrotte! Ông Pierrotte!
Pierrotte lại gần giường; và lúc đó, người ốm, rất xúc động, chẳng ngước mắt lên:
- Thế là tôi đã sắp khỏi, ông Pierrotte tốt bụng và tôi cần nói chuyện nghiêm túc với ông. Tôi không muốn cám ơn về những điều mà ông đã làm cho tôi và cho mẹ tôi...
Ông người Cévennes vội ngắt lời:
- Đừng nói một lời nào về chuyện ấy, ông Daniel ạ. Tất cả những điều gì tôi làm là tôi phải làm. Điều đó hợp với ông Jacques.
- Phải, tôi biết, Pierrotte ạ, tôi biết tất cả những điều gì người ta nói với ông về vấn đề đó, ông đều luôn nói một câu trả lời như vậy... Vì thế, đâu phải vì chuyện ấy mà tôi sắp nói với ông. Ngược lại, nếu tôi gọi ông, đó là để nhờ ông một việc. Chẳng bao lâu nữa, viên chào hàng sẽ rời bỏ ông; ông có muốn tôi thay chỗ anh ta không? Ôi, Pierrotte, tôi xin ông, hãy nghe tôi đến cùng; đừng bảo tôi là không và tôi chẳng có quyền sống giữa các vị. Trong nhà có một người mà sự có mặt của tôi làm cho đau khổ, mà việc nhìn thấy tôi là bỉ ổi và điều đó chỉ là công bằng mà thôi… Nhưng, nếu tôi thu xếp để người ta chẳng bao giờ thấy tôi nữa, nếu tôi cam kết là không bao giờ lên đây nữa, nếu tôi chỉ ở dưới cửa hàng, nếu tôi thuộc về nhà ông mà không phải là người trong nhà, như những con chó to của sân gà vịt chẳng bao giờ vào trong nhà ở, liệu với những điều kiện như vậy, ông có thể chấp nhận tôi chăng?
Pierrotte chỉ những muốn lấy đôi bàn tay lo của mình túm lấy cái mái đầu xoăn của chú bé Chose và hôn cậu thật mạnh, nhưng ông kìm mình và lặng lẽ trả lời:
- Thế chứ! Hãy nghe đây, ông Daniel, trước khi có nói gì thì tôi cũng cần tham khảo con bé... Tôi thì đề nghị của ông hợp với tôi lắm; nhưng tôi không biết liệu con bé... Vả lại, chúng ta sẽ xem. Chắc nó dậy rồi... Camine! Camine!
Camine Pierrotte, dậy sớm như một con ong, đang tưới cây hồng đỏ trên lò sưởi phòng khách. Cô đi vào, mình mặc áo choàng, tóc chải ngược như người Trung Hoa, tươi tắn, vui vẻ, toả mùi hoa.
- Này! Cô bé, ông người Cévennes nói, kìa ông Daniel muốn vào làm ở nhà ta thay viên chào hàng... Chỉ có điều ông ấy nghĩ là sự có mặt của mình sẽ làm con quá khó chịu...
- Quá khó chịu ư? - Camine Pierrotte vừa ngắt lời vừa biến sắc mặt.
Cô không nói thêm nữa; nhưng, đôi mắt đen thì đã nói hết câu. Phải chính đôi mắt đen biểu hiện trước mặt chú bé Chose sâu thẳm như đêm tối, long lanh như những vì sao mà nói:“Tình yêu! Tình yêu!” với biết bao say đắm và nồng nàn mà kẻ ốm khốn khổ thì có con tim rạo rực.
Thế là Pierrotte vừa nói vừa cười thầm:
- Thế ư? Cả hai hãy bày tỏ với nhau xem... có điều gì khó hiểu trong ấy đấy.
Rồi, ông ta đi gõ nhịp một điệu burê vùng Cévennes vào kính; rồi, khi ông nghĩ là bọn trẻ đã diễn giải đủ với nhau - Ôi! Lạy Chúa! Chỉ vừa đủ họ có thời gian nói với nhau ba câu, ông tiến lại gần họ và nhìn họ:
- Thế nào?
- Ôi! Pierrotte - Chú Nhóc vừa nói vừa chìa hai tay bàn cho ông, cô ấy cũng tốt như ông... Cô ấy đã tha thứ cho tôi!
Kể từ lúc ấy, kỳ dưỡng bệnh của người ốm tiến triển với đôi hài bảy dặm... Tôi nghĩ đúng! Đôi mắt đen không nhúc nhích khỏi phòng nữa. Người ta dành hàng buổi để xây dựng dự án tương lai. Người ta nói đến lễ cưới, đến tổ ấm cần dựng lại.
Người ta cũng nói đến “mẹ Jacques” thân yêu và tên anh còn làm nhỏ ra biết bao nước mắt. Nhưng, thôi mặc! Có tình yêu trong ngôi nhà cũ Lalouette. Điều đó tự nhận thấy được. Và nếu có ai sửng sốt về việc tình yêu có thể nở hoa như vậy trong tang tóc và những giọt nước mắt thì tôi xin nói với họ là đi mà xem ở các nghĩa địa tất cả những bông hoa nhỏ xinh kia đang mọc giữa khe nứt của những nấm mồ.
Vả lại xin đừng tin là nỗi đam mê làm chú bé Chose quên mất nghĩa vụ của mình. Dù cho cậu khá dễ chịu trong cái giường lớn, giữa bà Eyssette và đôi mắt đen, cậu hấp tấp khỏi bệnh, trở dậy, xuống cửa hàng. Không, chắc là đồ sứ cám dỗ cậu nhiều; nhưng, cậu mong mỏi bắt đầu cuộc sống tận tuỵ và làm việc mà “mẹ Jacques” đã cho mình tấm gương ấy. Sau hết, thà bán đĩa trong một lối đi còn hơn, như cô diễn viên kịch múa nói, là quét dọn trường Ouly hoặc bị huýt sáo ở Montparnasse. Còn về Nàng thơ, người ta không nói đến nữa.
Daniel Eyssette vẫn yêu thơ, nhưng không phải là thơ của mình: Và cái ngày mà nhà in, mỏi mệt, giữ ở nhà mình chín trăm chín mươi chín tập Hài kịch Đồng nội, thì chuyển chúng về lối đi Saumon, nhà thơ khốn khổ xưa có can đảm nói:
- Phải đốt tất cả đi.
Về chuyện đó, Pierrotte chín chắn hơn, trả lời:
- Đốt tất cả đi ư? Xin thú thực là không!... Tôi thích giữ lại ở cửa hàng thì hơn. Tôi sẽ tìm được cách dùng chúng... Đúng là dịp để mà nói... Đúng lúc, tôi sắp có một chuyến gửi cốc ăn trứng đi Madagascar. Hình như ở cái xứ ấy, từ khi người ta thấy bà vợ một giáo sĩ người Anh ăn trứng chần người ta không muốn ăn trứng cách khác nữa... Được phép ông, ông Daniel ạ, sách của ông sẽ dùng bọc những cái cốc ăn trứng của lôi.
Và quả thực, mười lăm ngày sau, vở Hài kịch đồng nội lên đường đến xứ sở của Raba-Volo nổi tiếng ([4]). Liệu ở đó nó có thể thành công hơn ở Paris.
Còn bây giờ, trước khi kết câu chuyện này, thưa bạn đọc, tôi muốn một lần nữa đưa bạn vào phòng khách màu vàng chanh. Đó là vào một buổi chiều chủ nhật, một chủ nhật đẹp mùa đông - lạnh khô và nắng to. Cả nhà Lalouette hớn hở. Chú Chose khỏi bệnh hoàn toàn và mới trở dậy lần đầu. Buổi sáng, để mừng sự kiện may mắn này, người ta đã hiến cho thần Esculape vài tá sò tưới một thứ rượu trắng ngon vùng Touraine. Giờ đây, người ta đang ở trong phòng khách, mọi người họp mặt. Thật là dễ chịu; lò sưởi bập bùng cháy. Trên các cửa kính chất đầy sương giá, ánh nắng làm nên những phong cảnh óng ánh.
Trước lò sưởi, chú Nhóc ngồi trên một cái ghế đẩu dưới chân người đàn bà mù khốn khổ ngồi xổm, nói chuyện thầm với cô Pierrotte mặt còn đỏ hơn bông hoa hồng nhỏ mà cô gài trên tóc. Điều đó thì hiểu được, cô ngồi khá gần lửa!... Thỉnh thoảng có tiếng chuột nhí nhắt- Đó là cái đầu chim đang mổ ăn trong một góc; hoặc một tiếng kêu khốn quẫn, - Đó là phu nhân lắm tài đang thua tiền trong ván bài bêzi. Tôi xin bạn lưu ý cái vẻ đắc thắng của bà Lalouette thắng cuộc và nụ cười bồn chồn của chàng chơi sáo bị thua.
Còn ông Pierrotte?...Ồ! ông Pierrotte không ở xa...Ông ở kia, trong khuôn cửa sổ, thập thò bởi tấm màn cửa lớn màu vàng chanh và vùi đầu vào một công việc lặng lẽ thu hút ông và khiến ông toát mồ hôi. Trên một chiếc bàn một chân, trước mắt mình, ông có compa, bút chì, thước kẻ, thước góc, mực tàu, bút lông và cuối cùng, một tấm biển dài bằng giấy vẽ mà ông viết kín những dấu đặc biệt... Công việc có vẻ khiến ông thích thú. Cứ năm phút, ông lại ngẩng đầu, nghiêng một chút sang bên và mỉm cười về việc mình bôi nguệch ngoạc với một vẻ hài lòng.
Vậy, công việc bí hiểm ấy là gì?...
Bạn hãy chờ; chúng ta sẽ biết điều đó... Pierrotte đã xong. Ông ra khỏi chỗ ẩn, nhẹ nhàng bước đến đằng sau Camine và chú bé Chose; rồi, bỗng ông trải cho họ xem tấm biển lớn của mình mà nói:
- Này, những kẻ yêu nhau, các bạn nghĩ gì về cái này?
Hai cô cậu reo lên trả lời ông:
- Ô! Cha!...
- Ồ? Ông Pierrotte!
- Cái gì thế? Thế nghĩa là thế nào?... - Bà mù khốn khổ bị đánh thức bật dậy nói.
Còn Pierrotte thì vui mừng:
- Là gì ư, bà Eyssette?... Đó là... thật là đúng dịp để mà nói... Đó là một dự án về tấm biển mới mà chúng ta sẽ đặt trên cửa hàng trong vài tháng nữa... Nào! Ông Daniel, hãy đọc thật to lên cho chúng tôi nghe để người ta xét đoán một chút về hiệu quả.
Tự đáy lòng mình, chú Nhóc nhỏ một giọt nước mắt cuối cùng cho những con bướm xanh của mình; rồi cầm tấm biển trong hai tay: “Nào!... hãy làm người lớn, chú bé Chose!...”
Cậu đọc thật to, bằng một giọng chắc nịch, tấm biển cửa hàng ấy, nơi tương lai của cậu được viết bằng chữ lớn cỡ một bộ:
ĐỒ SỨ VÀ PHA LÊ
NHÀ CŨ LALOUETTE
EYSSETTE VÀ PIERROTTE
KẾ NGHIỆP.
HẾT
❀ ❀ ❀
[1] Francois Raspail (1794-1878) nhà hoá học Pháp, người phổ cập y học dân gian.
[2] Tiếng Pháp nghĩa là long não.
[3] Nhân vật truyền thuyết bị kết tội không ngừng đi lang thang đến tận thế vì đã lăng nhục chúa Giêsu trên thập tự.
[4] Ý nói Ranavalona III (1888-1917). Nữ hoàng Madagascar.