Thằng Nhóc

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Vi
Bọn Trẻ

❊ ❊ ❊

Bọn ấy chẳng ngỗ ngược gì; đó là những đứa khác cơ. Bọn chúng chẳng bao giờ khiến tôi khổ sở, còn tôi thì yêu chúng lắm, vì chúng chưa có vẻ trường Trung học nữa và người ta nhận biết được tất cả lòng dạ chúng trong khoé mắt.

Tôi chẳng bao giờ trừng phạt chúng cả. Để làm gì chứ? Trừng phạt những con chim làm gì?... Khi chúng chiêm chiếp quá to, tôi chỉ việc kêu lên: “Im lặng?” Thế là cái chuồng chim của tôi im tiếng ngay, - ít nhất được năm phút.

Đứa lớn nhất trong lớp học là mười một tuổi. Mười một tuổi, mười một tuổi, thế đấy! Còn Serrières to lớn lại huênh hoang là điều khiển chúng bằng gậy!...

Tôi thì tôi không điều khiển chúng bằng gậy. Tôi cố luôn luôn tốt bụng, thế thôi.

Đôi khi, khi chúng thật ngoan, tôi kể cho chúng một câu chuyện... Một câu chuyện!... Sung sướng làm sao! Nhanh, nhanh, người ta gấp vở, bọn trẻ đóng sách lại; lọ mực, thước kẻ, quản bút, bọn trẻ quăng lẫn lộn dưới hộc bàn; rồi, tay xếp trên bàn, các em mở to mắt và nghe. Tôi đã soạn cho chúng năm- sáu chuyện kể quái dị: Những bước đầu của một chú ve. Những nỗi bất hạnh của Jean Lapin, vv... Thế là, như ngày hôm nay, ông già La Fontaine ([1]) là một vị thánh được ưa thích hơn cả của tôi trong cuốn lịch văn học và truyện của tôi chỉ việc bình về những bài ngụ ngôn của ông; có điều tôi lồng vào đó câu chuyện riêng của mình. Luôn có một chú dế khốn khổ buộc phải kiếm sống như chú Nhóc, những con vật thuộc về Chúa vừa đóng bìa sách vừa khóc sụt sịt như Eyssette (Jacques). Điều đó khiến bọn trẻ của tôi vui thích lắm và cả tôi nữa, điều đó cũng khiến tôi vui thích lắm. Rủi thay, ông Viot không hiểu được người ta vui thích theo kiểu ấy. Ba - bốn lần mỗi tuần, con người khủng khiếp có chùm chìa khoá làm một chuyến thị sát vòng trong trường để xem mọi chuyện ở đó có diễn ra theo quy chế không... Thế mà, có một hôm, ông đến phòng học của chúng tôi đúng vào lúc bi thương nhất của câu chuyện Jean Lapin. Khi thấy ông Viot bước vào, cả phòng giật thót. Những đứa trẻ hoảng hốt nhìn nhau. Người kể dừng phắt lại. Jean Lapin sững sờ một chân vẫn đơ trên không, khiếp sợ dựng đứng nhưng chiếc tai to ([2]).

Đứng trước bục giảng của tôi, ông Viot tươi cười đảo một cái nhìn dài ngạc nhiên lên những bàn học trống trơ. Ông không nói gì, nhưng chùm chìa khoá của ông vung vẩy với một vẻ dữ tợn: “Lanh canh! Lanh canh! Lanh canh! Một đống vô lại vậy ra người ta không làm việc ở đây nữa ư?”

Tôi thử làm nguôi những chiếc chìa khoá mà cứ run hoài:

- Những vị này đã làm việc nhiều mấy hôm nay…tôi lắp bắp. Tôi muốn thưởng cho họ bằng cách kể họ nghe một câu chuyện.

Ông Viot không đáp gì cả. Ông vừa mỉm cười vừa nghiêng mình, làm cho những chiếc chìa khoá loảng xoảng một lần cuối rồi bước ra.

Buổi chiều, lúc ra chơi bốn giờ, ông đến gặp tôi, luôn mỉm cười, luôn im lặng, mà trao cho tôi tập nội quy mở ở trang mười hai: Những nhiệm vụ của thày đối với trò.

Tôi hiểu là không được kể chuyện nữa và tôi chẳng bao giờ còn kể nữa.

Trong vài hôm, bọn trẻ của tôi khó khuây được. Jean Lapin đã bỏ chúng và điều đó khiến tôi não lòng vì đã không thể trả lại cho chúng. Tôi yêu chúng lắm, nếu bạn biết, cái bọn trẻ ranh ấy! Chẳng bao giờ chúng tôi xa rời nhau cả…

Ngôi trường được chia làm ba khu rất cách biệt: Bọn lớn, bọn vừa và bọn bé; một khu có cái sân, phòng ngủ, phòng học của nó. Vậy là bọn bé thuộc về tôi, riêng của tôi. Hình như tôi có ba mươi lăm đứa trẻ.

Ngoài bọn chúng ra, chẳng có ai là bạn. Ông Viot cứ hoài công mỉm cười với tôi, nắm lấy cánh tay tôi lúc ra chơi, cho tôi những lời khuyên về nội quy, tôi không mến ông, tôi không thể mến ông được; những chiếc chìa khoá của ông làm tôi quá sợ.

Ông Hiệu trưởng, tôi không thấy ông ta bao giờ. Các thày giáo khinh rẻ chú Nhóc và nhìn chú từ trên cao chiếc mũ chức vị của họ. Còn những bạn đồng sự của tôi thì do cảm tình mà người đàn ông có chìa khoá đã tỏ ra với tôi đủ khiến họ xa lánh tôi; vả lại từ khi tôi ra mắt với những viên hạ sĩ, tôi không quay lại quán càphê Barbette nữa và những con người tử tế đó không tha thứ cho tôi đâu.

Cũng chẳng có đến ông canh cổng Cassagne và ông thày quân sự Roger, những người không chống đối tôi. Nhất là ông thày quân sự dường như giận tôi khủng khiếp. Khi tôi đi qua gần ông, ông vê ria mép với một vẻ dữ tợn, rồi đảo những con mắt to, như thể ông muốn chém cả trăm tên Arab vậy. Một lần, ông nói rất to với Cassagne mà vẫn nhìn tôi là ông không ưa bọn dò la. Cassagne không trả lời gì; nhưng, tôi thấy rõ qua dáng điệu là cả ông nữa, cũng không ưa chúng... ý nói đến bọn dò la nào vậy?... Điều đó khiến tôi suy nghĩ nhiều.

Trước mối ác cảm đều khắp ấy, tôi vẫn ngoan cường kiên định. Ông thày bọn trẻ cùng ở với tôi một căn phòng nhỏ, trên tầng ba, dưới mái nhà; chính ở đó tôi náu mình vào những giờ học. Vì ông bạn đồng sự của tôi lúc nào cũng ở quán cà phê Barbette, nên căn phòng thuộc về tôi; đó là căn phòng của tôi, ngôi nhà của tôi.

Trở về phòng là tôi giam mình lại hai lần khoá, tôi kéo chiếc hòm của mình ra - không có ghế trong phòng của tôi - trước một chiếc bàn cũ loang lổ vết mực và chữ khắc bằng dao con, tôi bày lên đó tất cả sách vở và bắt tay vào việc…

Lúc đó, trời đang tiết xuân... khi tôi ngẩng đầu lên, tôi thấy bầu trời xanh thắm và những cái cây to ngoài sân đã phủ đầy lá ở bên ngoài, không một tiếng động. Thỉnh thoảng, tiếng đều đều của một cậu học trò đọc bài, tiếng một thày giáo thốt lên giận dữ, một cuộc chí choé dưới vòm lá của bọn chim sẻ. Rồi, tất cả lại đi vào im lặng, ngôi trường có vẻ như đi ngủ vậy.

Chú Nhóc thì không ngủ. Chú cũng không mơ màng, cách tuyệt vời để ngủ. Chú làm việc, làm việc không ngơi nghỉ, nhồi nhét đến vỡ đầu tiếng Hy Lạp và La-tinh.

Đôi khi, giữa lúc công việc khô khan, một ngón tay bí hiểm gõ vào cửa.

- Ai đấy?

- Tôi đây, Nàng Thơ, người bạn cũ của cậu, người đàn bà trong quyển vở đỏ, mở cửa cho tôi mau, chú bé Chose.

Nhưng, chú bé Chose không mở. Quả vậy, đúng là Nàng Thơ!

Cái quyển vở đỏ chết tiệt! Điều quan trọng lúc này là làm nhiều bài dịch ngược tiếng Hy Lạp, đi thi cử nhân, được phong giáo viên và gây dựng lại thật nhanh một tổ ấm tươm tất hoàn toàn mới cho gia đình Eyssette.

Ý nghĩ làm việc cho gia đình ấy tạo cho tôi lòng can đảm lớn và khiến cuộc sống của tôi êm ả hơn. Chính căn phòng của tôi cũng vì thế mà đẹp thêm...Ôi! Cái căn hầm mái, hầm mái thân yêu, ta đã trải qua biết bao giờ phút êm đẹp giữa bốn bức tường của mi! Ở đó, ta đã làm việc tốt. Ở đó, ta cảm thấy can đảm lên!...

Nếu tôi có một vài giờ phút tốt đẹp thì tôi cũng có cả những giờ phút xấu nữa. Hai lần mỗi tuần, chủ nhật và thứ năm, phải dẫn bọn trẻ đi dạo. Cuộc đi dạo đó là một khổ hình cho tôi.

Thường thì chúng tôi đi đến Đồng cỏ, một thảm cỏ lớn trải ra như một tấm thảm ở chân núi, cách thành phố nửa dặm. Một vài cây dẻ lớn, ba bốn cái quán ngoài trời sơn màu vàng, một con suối chảy trong cỏ xanh khiến cho chốn đó thú vị và vui mắt... Ba lớp học đến đó cách biệt nhau; một khi ở đó rồi, người ta tập hợp chúng dưới sự trông coi của mỗi một thày mà luôn luôn là tôi. Hai đồng nghiệp đi để được bọn lớn chiêu đãi ở những quán bên cạnh vì người ta không bao giờ mời tôi, tôi ở lại trông học trò... Một cái nghề khó nhọc ở cái nơi xinh đẹp ấy!

Nhưng, còn khủng khiếp hơn, không phải là trông coi bọn học trò ở Đồng cỏ mà là đi ngang thành phố với cái nhóm học trò, cái nhóm bọn nhỏ của tôi. Những nhóm khác theo gót nhau răm rắp và nện gót như những người lính cận vệ già! Điều đó toát vẻ kỷ luật và tiếng trống đánh. Bọn nhỏ của tôi, chúng chẳng hiểu gì về tất cả những điều đẹp đẽ đó. Chúng không đi theo hàng, cầm tay nhau và liến thoắng suốt dọc đường. Tôi cứ kêu chúng hoài: “Các em giữ cự ly!” chúng không hiểu tôi và đi xiên xẹo hết.

Tôi khá hài lòng về đầu hàng của tôi. Tôi xếp ở đó những đứa lớn nhất, nghiêm túc nhất, những đứa mặc áo thụng; nhưng ở đằng đuôi thì rối ren làm sao? Lộn xộn làm sao! Một đám trẻ ngốc, đầu tóc bờm xờm. tay chân bẩn thỉu. những cái quần cộc rách bươm…Tôi không dám nhìn chúng nữa.

Đầu voi đuôi chuột ([3]), ông Viot tươi cười bảo tôi về đề tài ấy, thỉnh thoảng ông là con người dí dỏm mà.

Số là cái đuôi hàng của tôi có một cái vẻ buồn thảm. Bạn có hiểu nỗi thất vọng của tôi khi phải chường mặt mình ra ngoài phố Sarlande với bầu đoàn như vậy, nhất là ngày chủ nhật không! Chuông chùm rung lên, đường phố đầy người. Người ta gặp các cô đi cầu kinh chiều, những người hàng mũ đội chụp màu hồng, những người lịch sự mặc quần màu ngọc trai. Phải đi qua tất cả những thứ đó với một tấm áo sờn và một cái nhóm kỳ cục. Xấu hổ làm sao!...

Trong số tất cả bọn quỷ con bờm xờm mà tôi dẫn đi chơi hai lần mỗi tuần ấy trong thành phố, có một đứa, một đứa bán trú, khiến tôi thất vọng hơn cả vì vẻ xấu xí và việc ăn mặc tồi tàn của nó. Bạn hãy hình dung một đứa bé èo ọt, bẩn thỉu, kém chải chuốt, ăn mặc tồi, xông mùi nhớp nhúa, lại còn vì ở nó thiếu đủ thứ, khập khễnh gớm ghê.

Chẳng bao giờ có học sinh như thế, tuy vậy nếu được phép gán cho nó một cái danh nghĩa học sinh lại hiện lên trên những tờ giấy ghi tên của Giáo giới nữa chứ. Thật là làm hổ danh một trường học.

Về phần tôi tự nhiên tôi thấy ghét cay ghét đắng nó; còn khi tôi nhìn thấy nó, những ngày đi dạo lạch bạch ở đuôi hàng với cái dáng của một con vịt non, bỗng lôi những muốn đạp nó ra khỏi hàng vì danh dự cái nhóm của tôi.

Bamban - chúng tôi đã đặt tên cho nó Bamban, vì dáng đi còn không đều của nó nữa - Bamban không hề thuộc về một gia đình quý phái. Điều đó dễ dàng thấy được ở cung cách nói năng, cử chỉ và nhất là những mối quan hệ tốt đẹp mà nó có ở trong vùng.

Tất cả bọn trẻ ranh ở Sarlande là bạn bè của nó.

Vì nó mà khi chúng tôi ra ngoài phố, chúng tôi luôn có một đám ranh con theo đuôi, nhũng nhẵng đằng sau gọi Bamban bằng tên của nó, lấy ngón tay chỉ trỏ, ném nó bằng vỏ hạt dẻ cùng cả ngàn trò khỉ hay ho khác. Bọn trẻ của tôi lấy làm thích thú lắm, nhưng tôi, tôi không cười và mỗi tuần, tôi gửi cho Hiệu trưởng một bản báo cáo tường tận về học sinh Bamban cùng nhiều chuyện lộn xộn mà việc có mặt của nó kéo theo.

Không may, những báo cáo của tôi vẫn không có hồi âm và tôi vẫn bị buộc chường mặt ra ngoài phố, đi kèm Bamban, bẩn hơn và khập khiễng hơn bao giờ hết.

Một ngày chủ nhật như những ngày khác; một ngày chủ nhật vui tươi và nắng tô đẹp trời, nó đến với tôi để đi dạo trong một tình trạng ăn mặc đến nỗi tất cả chúng tôi đều thất kinh...Chúng tôi đã chẳng hề bao giờ nghĩ đến điều tương tự. Những bàn tay đen xì, giày không dây buộc, bùn bắn đến tận đầu, hầu như không còn quần cộc nữa... một con quái vậy.

Điều đáng nực cười là hẳn hôm ấy người ta đã làm cho nó rất đẹp trước khi giao nó cho tôi. Cái đầu nó được chải kỹ hơn ngày thường, vẫn còn cứng vì xáp, còn nút cravat thì có một cái gì đó toát lên bàn tay người mẹ. Nhưng có biết bao rãnh nước trước khi đến trường!... Bamban đã lăn vào tất cả.

Khi tôi thấy nó gia nhập hàng ngũ giữa những đứa khác, bình thản và tươi cười như chẳng hề có gì xảy ra, tôi có một động tác khiếp sợ và bất bình.

Tôi kêu với nó:

- Cút đi!

Bamban cho là tôi đùa và tiếp tục mỉm cười. Hôm ấy, nó nghĩ là mình rất đẹp!

Tôi lại kêu với nó:

- Cút đi! Cút đi!

Nó nhìn tôi với vẻ buồn bã và phục tùng, mắt nó cầu khẩn; nhưng tôi không động lòng và nhóm học sinh không xao động, để nó lại một mình, bất động giữa phố.

Tôi tưởng mình giũ được nó suốt buổi thì lúc ra khỏi thành phố, những tiếng cười và xì xào ở hàng cuối khiến tôi quay đầu lại. Cách chúng tôi đằng sau bốn năm bước, Bamban chậm rãi theo đuôi cuộc đi dạo.

- Gấp bước lên - Tôi bảo hai hàng đầu.

Bọn học trò hiểu ý nói là phải chơi khăm kẻ khập khiễng và nhóm học sinh bắt đầu đi nhanh dồn lên.

Thỉnh thoảng, người ta quay lại để xem nhỡ Bamban có thể theo sau và người ta cười khi thấy nó ở đằng kia, thật xa, to bàng quả đấm, nhảy nhót trong bụi đường giữa đám hàng bánh ngọt và nước chanh.

 Kẻ say đắm đó đến Đồng cỏ hầu như cùng lúc với chúng tôi Duy có điều, nó tái đi vì mệt và duỗi chân trông thương hại. Vì thế, lòng tôi xúc động và hơi xấu hổ về sự tàn ác của mình, tôi dịu dàng gọi nó lại gần tôi.

Nó có một cái áo choàng nhỏ bạc màu, kẻ ô màu đỏ, cái áo của chú bé Chose ở Trường Trung học Lyon.

Tôi nhận ra ngay chiếc áo ấy và trong lòng mình, tôi tự nhủ: “Khốn khổ, mi không xấu hổ ư? Thế mà chính mi, đó là chú bé Chose mà mi đùa hành hạ như vậy đấy”. Và nghẹn ngào những giọt nước mắt nội tâm, tôi bắt đầu yêu hết lòng kẻ thua thiệt khốn khổ ấy.

Bamban ngồi bệt xuống đất vì bắp chân khiến nó đau. Tôi ngồi bên nó. Tôi nói với nó...Tôi mua cho nó một quả cam...Tôi cứ muốn rửa chân cho nó.

Kể từ hôm đó, Bamban trở thành bạn của tôi. Tôi biết về nó những điều mủi lòng.

Đó là con một ông phó rèn, khi nghe tán tụng khắp nơi những điều tốt của giáo dục, con người khốn khổ ấy đã chịu thiếu thốn nhiều để gửi con bán trú vào trường học. Nhưng, than ôi, Bamban không quen với trường học và nó không tranh thủ được mấy.

Hôm nó đến, người ta cho nó một mẫu những nét xổ mà bảo:

- Tập nét xổ đi!

Và từ một năm nay, Bamban tập nét xổ. Và nét xổ nào, trời ơi! vặn vẹo, bẩn thỉu, què cụt, thất thểu, những nét sổ của Bamban…

Chẳng ai lo cho nó. Nó chẳng tham gia riêng vào một lớp nào cả; nói chung, nó bước vào lớp nào mà nó thấy mở cửa.

Một hôm, người ta thấy nó đang tập nét sổ trong lớp triết...

Thật là một trò ngốc, cái tên Bamban ấy! Đôi khi, tôi nhìn thấy nó trong phòng học, gập người làm hai trên giấy, toát mồ hôi, thở phì phò, lè lưỡi, cầm chắc cái bút trong tay và hết sức ấn như thể nó muốn băng ngang cái bàn vậy... Cứ mỗi nét xổ, nó lại chấm mực mà cuối mỗi dòng nó lại rụt lưỡi vào và xoa tay nghỉ.

Giờ đây, Bamban làm việc hết sức vui lòng vì chúng tôi là bạn bè.

Khi nó hết một trang, nó xăng xái leo lên giảng đài của tôi bằng bốn chân, rồi đặt tuyệt tác của nó trước mặt tôi, chẳng nói gì.

Tôi vỗ nhẹ nó, âu yếm bảo:

- Rất tốt đấy.

Thật là gớm guốc, nhưng tôi không muốn làm nó nhụt chí.

Quả thực dần dà những nét xổ bắt đầu đi thẳng hơn, ngòi bút kém xổ mực hơn và mực đỡ dây ra vở... tôi tin là mình sẽ dạy nó bằng được một điều gì; chẳng may, số phận lại chia lìa chúng tôi. Ông thày bọn trẻ rời khỏi trường. Vì đã gần cuối năm học. Hiệu trưởng không muốn nhận một thày mới. Người ta xếp một nhà tu từ có râu vào giảng đài bọn nhỏ, nên chính tôi phải đảm nhiệm lớp bọn trẻ.

Tôi coi chuyện đó như một thảm hoạ.

Lúc đầu bọn trẻ làm tôi phát sợ. Tôi đã nhìn thấy chúng hành xử những ngày ở Đồng cỏ và ý nghĩ là mình sẽ sống mãi với chúng khiến tôi đau lòng. Rồi, phải rời bọn nhỏ của tôi, bọn nhỏ thân thiết mà tôi rất yêu…Đối với chúng nhà tu từ có râu sẽ ra sao?... Bamban sẽ ra sao? Tôi thật sự khổ sở. Và cả bọn nhỏ của tôi nữa cũng đau buồn thấy tôi ra đi.

Cái ngày mà tôi dạy chúng buổi cuối cùng, có một lúc cảm động khi chuông reo... Tất cả chúng muốn ôm hôn tôi. Tôi xin cam đoan là có cả một số tìm những điều thú vị mà nói với tôi.

Còn Bamban?...

Bamban chẳng nói gì. Duy lúc tôi bước ra, nó xán lại gần tôi, mặt đỏ ửng và đặt vào tay tôi một cách trịnh trọng một quyển vở lộng lẫy những nét xổ mà nó đã vạch theo ý tôi.

Khổ thân Bamban!

❀ ❀ ❀

[1] Jean de la Fontaine (1621-1695) nhà viết truyện và ngụ ngôn bằng thơ nổi tiếng người Pháp.

[2] Tên Lapin danh từ chung có nghĩa là con thỏ.

[3] Nguyên văn tiếng Latinh: Desinit in piscem Nghĩa là tận cùng bằng cái đuôi cái đuôi cá.

Tác giả: Alphonse Daudet Thằng Nhóc Nguồn TVE 4U Thể loại: Thiếu Nhi, Kinh Điển Tạo eBook: Mot Sach VNTHUQUAN
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.